Như vậy, nhìn chung, các công trình nghiên cứu nói trên mới chỉ đề cập đến quyết định hình phạt trong trường hợp phạm tội cụ thể hoặc những vấn đề chung, mà chưa có công trình nghiên cứu
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
HOÀNG VĂN TIẾN
CãN Cứ QUYếT địNH HìNH PHạT THEO LUậT HìNH Sự VIệT NAM Và THựC TIễN áP DụNG
TRÊN địA BàN TỉNH Hà GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
HOÀNG VĂN TIẾN
CãN Cứ QUYếT địNH HìNH PHạT THEO LUậT HìNH Sự VIệT NAM Và THựC TIễN áP DụNG
TRÊN địA BàN TỉNH Hà GIANG
Chuyờn ngành: Luật hỡnh sự và tố tụng hỡnh sự
Mó số: 60 38 01 04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS TRỊNH TIẾN VIỆT
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi
có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Hoàng Văn Tiến
Trang 4MỤC LỤC
Trang
- Trang phụ bìa
- Lời cam đoan
- Mục lục
- Danh mục các bảng
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÁC CĂN CỨ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 9
1.1 KHÁI NIỆM, Ý NGHĨA VÀ CÁC NGUYÊN TẮC QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 9
1.1.1 Khái niệm quyết định hình phạt 9
1.1.2 Ý nghĩa của quyết định hình phạt 16
1.1.3 Các nguyên tắc quyết định hình phạt 18
1.2 KHÁI NIỆM VÀ Ý NGHĨA CỦA CÁC CĂN CỨ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 24
1.2.1 Khái niệm các căn cứ quyết định hình phạt 24
1.2.2 Ý nghĩa của các căn cứ quyết định hình phạt 27
1.3 KHÁI QUÁT LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA QUY ĐỊNH VỀ CÁC CĂN CỨ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ SAU CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945 ĐẾN KHI BAN HÀNH BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 1999 29
1.3.1 Giai đoạn từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến pháp điển hóa lần thứ nhất - Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1985 29
1.3.2 Giai đoạn từ sau khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 đến pháp điển hóa lần thứ hai - Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 32
Chương 2: QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VÀ BỘ LUẬT HÌNH SỰ MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VỀ CÁC CĂN CỨ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT 35
2.1 QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ CÁC CĂN CỨ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT 35
2.1.1 Các quy định của Bộ luật hình sự 35
Trang 52.1.2 Khi quyết định hình phạt, Tòa án phải căn cứ vào tính chất và mức độ
nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội 41
2.1.3 Nhân thân người phạm tội 45
2.1.4 Khi quyết định hình phạt phải căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự 48
2.1.5 Khi quyết định hình phạt tòa án căn cứ vào các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự 54
2.2 QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VỀ CÁC CĂN CỨ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT 59
2.2.1 Bộ luật hình sự Nhật Bản 59
2.2.2 Bộ luật hình sự Cộng hòa Pháp 61
2.2.3 Bộ luật hình sự Liên bang Nga 62
2.2.4 Bộ luật hình sự Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa 63
2.2.5 Bộ luật hình sự Cộng hòa Liên bang Đức 64
Chương 3: THỰC TIỄN ÁP DỤNG CÁC CĂN CỨ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ GIANG VÀ NHỮNG KIẾN NGHỊ 65
3.1 THỰC TIỄN ÁP DỤNG CÁC CĂN CỨ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ GIANG 65
3.1.1 Khái quát đặc điểm kinh tế, xã hội của địa bàn tỉnh Hà Giang 65
3.1.2 Tình hình quyết định hình phạt và việc áp dụng các căn cứ quyết định hình phạt trên địa bàn tỉnh Hà Giang 66
3.1.3 Một số tồn tại, hạn chế của việc áp dụng các căn cứ quyết định hình phạt trên địa bàn tỉnh Hà giang và những nguyên nhân cơ bản 71
3.2 TIẾP TỤC HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT VÀ CÁC CĂN CỨ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT 81
3.3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ KHÁC NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CỦA VIỆC ÁP DỤNG CÁC CĂN CỨ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT 89
3.3.1 Kiện toàn đội ngũ cán bộ xét xử 89
3.3.2 Các giải pháp phối hợp khác 93
KẾT LUẬN 95
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 97
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Tổng số người bị kết án tại TAND cấp tỉnh Hà Giang từ
Bảng 3.2: Tổng số người bị kết án tại Tòa án nhân dân cấp huyện ở
Hà Giang từ 2010 - 2014 68 Bảng 3.3: Tổng hợp các hình phạt được áp dụng trên địa bàn tỉnh Hà
Giang từ 2010 - 2014 69 Bảng 3.4: Bảng tổng hợp nhân thân người phạm tội qua việc xét xử
của TAND tỉnh Hà Giang từ 2010 - 2014 70
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Tính nguy hiểm cho xã hội là lý do khiến cho tội phạm phải bị trừng phạt
Tội phạm luôn có tính nguy hiểm cho xã hội, bởi vì “tội phạm luôn chứa đựng
trong nó đặc tính chống đối lại Nhà nước, chống đối lại xã hội, đi ngược lại lợi ích chung của cộng đồng, trật tự xã hội, xâm phạm đến quyền, tự do và các lợi ích hợp pháp của con người” [43, tr 63] Tuy vậy, mặc dù tất cả tội phạm đều có tính nguy
hiểm cho xã hội nhưng mức độ nguy hiểm của các hành vi phạm tội là khác nhau,
do đó cần có biện pháp xử lý chính xác, phù hợp và công bằng Trên cơ sở đó, với
tư cách là một trong những công cụ sắc bén, hữu hiệu để đấu tranh phòng và chống tội phạm, Bộ luật hình sự Việt Nam đã quy định về tội phạm và hình phạt với mục
đích - “bảo vệ các quyền và tự do của con người với tư cách là những giá trị cao
quý nhất được thừa nhận chung của nền văn minh nhân loại tránh khỏi sự xâm hại
có tính chất tội phạm của công dân khác” [6, tr 672]
Quyết định hình phạt là một trong những giai đoạn cơ bản, một trong những nội dung của quá trình áp dụng pháp luật hình sự Giai đoạn này chiếm vị trí đặc biệt trong quá trình áp dụng pháp luật hình sự Điều đó thể hiện trước hết ở chỗ Tòa án mới có quyền áp dụng và quyết định hình phạt Hiến pháp nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 quy định:
1 Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp
2 Tòa án nhân dân gồm Tòa án nhân dân tối cao và các Tòa án khác do luật định
3 Tòa án nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân [29]
Tương tự, Điều 2 Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án nhân dân:
Trang 81 Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp
Tòa án nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân
Bằng hoạt động của mình, Tòa án góp phần giáo dục công dân trung thành với Tổ quốc, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, tôn trọng những quy tắc của cuộc sống xã hội, ý thức đấu tranh phòng, chống tội phạm, các vi phạm pháp luật khác [31, Điều 2]
Bên cạnh đó, Điều 26 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định: “Hình phạt là
biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội Hình phạt được quy định trong Bộ luật hình sự
và do Tòa án quyết định” [30, Điều 26] Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm
khắc về hình sự được Nhà nước giao cho Tòa án nhân dân nhân danh Nhà nước quyết định áp dụng với người phạm tội, không một cơ quan nhà nước nào khác ngoài Tòa án có quyền áp dụng hình phạt Tòa án lựa chọn loại hình phạt phù hợp với mức hình phạt cụ thể được quy định trong Bộ luật hình sự để áp dụng cho người phạm tội Do đó:
Tòa án “vốn là một cơ quan trong hoạt động của mình thể hiện những nguyên tắc pháp luật sâu xa được quyền đánh giá các quyền chủ thể của con người, phán quyết
ở cấp cuối cùng và phán quyết theo cách là các quyết định của nó dù chỉ liên quan đến một vụ việc cụ thể, nhưng nó có sức mạnh bắt buộc như chính là sức mạnh của bản thân pháp luật [48, tr 145]
Hay nói cách khác, để nâng cao vai trò của pháp luật, "một nguyên tắc khác của ý tưởng chế độ pháp trị là phải bảo đảm sự bảo vệ của pháp luật, mọi công dân phải được phép yêu cầu thực hiện các quyền của mình tại Tòa án” [19, tr 50]
Quyết định hình phạt là một giai đoạn rất quan trọng trong hoạt động xét xử Quyết định hình phạt đúng pháp luật, công bằng là tiền đề cho việc đạt được các mục đích của hình phạt: cải tạo và giáo dục người bị kết án trở thành người có ích
Trang 9cho xã hội, phòng ngừa riêng và phòng ngừa chung (Điều 27 Bộ luật hình sự năm 1999) Ngược lại, quyết định một hình phạt không đúng pháp luật, không công bằng và không hợp lý thì không thể có khả năng đạt được các mục đích đó Do đó, việc áp dụng hình phạt đối với người phạm tội có đạt được mục đích hay không, hiệu quả của hình phạt đạt được ở mức độ cao hay thấp phụ thuộc rất nhiều vào việc quyết định hình phạt Nếu Tòa án coi nhẹ mặt giáo dục, cải tạo, xem hình phạt như là phương tiện chủ yếu để trừng trị người phạm tội thì sẽ dẫn đến việc quyết định hình phạt quá nặng Trong trường hợp này, người phạm tội luôn luôn mang tư tưởng phải chịu một hình phạt không phù hợp với hậu quả do hành vi phạm tội của mình, gây ra oán hờn và không tin tưởng đối với các cơ quan xét xử và thi hành Một hình phạt như vậy không thể tạo ra tiền đề và điều kiện thuận lợi cho người phạm tội được cải tạo, giáo dục để hoàn lương trở thành công dân có ích cho xã hội Còn một hình phạt quá nhẹ, không tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm sẽ làm giảm ý nghĩa phòng ngừa riêng và phòng ngừa chung, đồng thời nảy sinh ở chính người phạm tội và những người khác có thái độ coi thường pháp luật; không tạo ra sự tin tưởng, đồng tình cần thiết để giáo dục quần chúng nhân dân tham gia tích cực vào cuộc đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm [13, tr 83-84]
Do vậy, quyết định hình phạt là một trong những giai đoạn rất quan trọng, một trong những nội dung của quá trình áp dụng pháp luật hình sự do Thẩm phán
và Hội thẩm tiến hành đối với người thực hiện tội phạm theo một trật tự pháp lý nhất định Nó còn là một dạng hoạt động pháp lý tố tụng hình sự, bởi vì để quyết định hình phạt, Tòa án phải dựa vào kết quả của các giai đoạn tố tụng hình sự khác nhau như kết quả hoạt động điều tra, truy tố… và kết quả hoạt động của mình ở giai đoạn xét xử để xác định một loại và một mức hình phạt cụ thể tối ưu nhất trong việc cải tạo, giáo dục và phòng ngừa tội phạm Loại và mức hình phạt được quyết định áp dụng đối với bị cáo phải được thể hiện trong bản án buộc tội theo các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và được công bố một cách công khai khi tuyên án
Hình phạt do Tòa án quyết định tùy thuộc vào các tình tiết cụ thể của vụ án
Trang 10có thể là nghiêm khắc, ít nghiêm khắc hoặc nhẹ nhưng trong mọi trường hợp bao giờ cũng phải bảo đảm đúng pháp luật, công bằng và cá thể hóa Điều đó có nghĩa,
để bảo đảm sự tương xứng khi quyết định hình phạt phải cân nhắc tính chất và mức
độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm đã thực hiện, cân nhắc nhân thân người phạm tội, cân nhắc các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Ngoài
ra, hình phạt được quyết định đối với bị cáo phải bảo đảm tính xác định, tính lập
luận và bắt buộc có lý do Các căn cứ quyết định hình phạt đóng vai trò rất quan
trọng trong việc bảo đảm tính pháp chế, công bằng và nhân đạo của pháp luật
Tuy nhiên, bên cạnh đó, việc áp dụng chưa đúng, chưa chính xác các căn cứ quyết định hình phạt vẫn còn xảy ra, dẫn đến việc áp dụng mức và loại hình phạt quá nặng hoặc quá nhẹ, chưa bảo đảm yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm, cũng như hiệu quả của hình phạt Bên cạnh đó, trên phương diện lý luận, các căn cứ quyết định hình phạt vẫn chưa được đề cập sâu sắc và riêng rẽ Vì vậy, việc nghiên cứu sâu sắc hơn nữa để làm sáng tỏ về mặt khoa học những vấn đề lý luận cơ bản như khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa, nguyên tắc và nội dung các căn cứ quyết định hình phạt và thực tiễn áp dụng áp dụng các quy định pháp luật về vấn đề này để đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật, nâng cao chất lượng quyết định hình phạt không những có ý nghĩa lý luận - thực tiễn quan trọng, mà còn là vấn đề mang tính cấp thiết phục vụ yêu cầu cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 “Về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian
tới”, Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 “Về Chiến lược xây dựng và hoàn
thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020” và
Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị “Về Chiến lược cải
cách tư pháp đến năm 2020” Đây chính là lý do luận chứng cho việc học viên
công tác tại Tòa án nhân dân tỉnh Hà Giang quyết định lựa chọn đề tài luận văn
thạc sĩ luật học của mình với tên gọi: “Căn cứ quyết định hình phạt theo luật
hình sự Việt Nam và thực tiễn áp dung trên địa bàn tỉnh Hà Giang)”
2 Tình hình nghiên cứu
Như đã nêu trên, trong khoa học luật hình sự, quyết định hình phạt đã được đề
Trang 11cập nhiều, nhưng các căn cứ quyết định hình phạt còn ít được quan tâm nghiên cứu Vấn đề chủ yếu được đề cập đến bởi các nghiên cứu chung về quyết định hình phạt
mà thôi, trong đó phải kể đến các công trình ở những cấp độ khác nhau dưới đây:
* Ở cấp độ sách tham khảo, chuyên khảo ở nước ngoài: 1) C.L.Ten, Tội
phạm, lỗi và hình phạt, Oxford at the Clarendon Press, 1987; 2) P.J.Fizgerald, Luật hình sự và hình phạt, Oxford at the Clarendon Press, 1992; 3) Doman J Newman, Giới thiệu về Luật hình sự, McGraw-Hill, INC, 1993; 4) Larry K Gaines and
Roger LeRoy Miller, Luật hình sự: Những vấn đề cơ bản trọng tâm, Wadsworth
Publishing, USA, 2006; v.v
* Ở cấp độ giáo trình, sách tham khảo, chuyên khảo, đề tài trong nước: 1)
Đề tài nghiên cứu cấp Đại học Quốc gia Hà Nội: “Bảo vệ quyền con người bằng
các quy định của pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền” do GS TSKH Lê Văn Cảm, PGS TS
Nguyễn Ngọc Chí, PGS TS Trịnh Quốc Toản (đồng chủ trì), Hà Nội, 2004; 2)
PGS TS Trịnh Quốc Toản, Chương XVI - Quyết định hình phạt, Trong sách: Giáo
trình Luật hình sự Việt Nam (Phần chung), Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội,
2001, tái bản 2007, GS.TSKH Lê Văn Cảm chủ biên; 3) PGS TS Lê Văn Đệ,
Định tội danh và quyết định hình phạt trong luật hình sự Việt Nam, Nxb Công an
nhân dân, Hà Nội, 2005; 4) PGS.TS Dương Tuyết Miên, Định tội danh và quyết
định hình phạt, Nxb Lao động Xã hội, Hà Nội, 2007; 5) ThS Đinh Văn Quế, Tìm hiểu hình phạt và quyết định hình phạt trong Bộ luật hình sự năm 1999, Nxb
Chính trị Quốc gia Hà Nội, 2000; v.v…
* Ở cấp độ luận án, luận văn thạc sĩ luật học trong nước: 1) Dương Tuyết
Miên, Quyết định hình phạt trong luật hình sự Việt Nam, Luận án tiến sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2004; 2) Nguyễn Thị Bình, Quyết định hình phạt
trong đồng phạm, Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội,
2009; 3) Đào Thị Nga, Quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm
tội, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, 1997; 4) Nguyễn Minh
Khuê, Quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội, Luận văn thạc
Trang 12sĩ luật học, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2006; 5) Trịnh Thị Yến, Quyết
định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm nhiều tội, Luận văn thạc sĩ luật
học, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2014; v.v
* Còn về các công trình dưới dạng bài viết đăng trên các tạp chí khoa học
pháp lý có thể kể đến các công trình sau: 1) GS.TSKH Lê Cảm, Về bản chất pháp
lý của quy phạm nguyên tắc quyết định hình phạt quy định tại Điều 37 Bộ luật hình sự Việt Nam, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 1/1989; 2) TS Trần Văn Dũng, Quyết định hình phạt trong trường hợp người chưa thành niên phạm tội, Tạp chí
Luật học, số 5/2000; 3) PGS TS Dương Tuyết Miên, Quyết định hình phạt đối với
người chưa thành niên phạm tội, Tạp chí Luật học, số 4/2002; 4) ThS Đinh Văn
Quế, Quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội, Tạp chí Tòa án
nhân dân, số 6/2007; v.v
Như vậy, nhìn chung, các công trình nghiên cứu nói trên mới chỉ đề cập đến quyết định hình phạt trong trường hợp phạm tội cụ thể hoặc những vấn đề chung,
mà chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu và có hệ thống nào về vấn đề lý luận
cơ bản đồng thời đánh giá toàn diện quy định Bộ luật hình sự Việt Nam hiện hành
về các căn cứ quyết định hình phạt và thực tiễn áp dụng quy định đó trên một địa bàn cụ thể là tỉnh Hà Giang để làm cơ sở cho việc đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả quyết định hình phạt Nói một cách khác, các vấn đề lý luận và thực tiễn xung quanh việc áp dụng căn cứ quyết định hình phạt đòi hỏi phải được tiếp tục nghiên cứu một cách toàn diện và chuyên sâu hơn
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn có đối tượng nghiên cứu là: Căn cứ quyết định hình phạt theo luật hình sự Việt Nam và thực tiễn áp dụng trên địa bàn tỉnh Hà Giang
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Trên cơ sở đối tượng nghiên cứu trên, luận văn có phạm vi nghiên cứu như sau:
- Phân tích khái niệm, nội dung, các nguyên tắc quyết định hình phạt, từ đó, chỉ ra xây dựng khái niệm (các) căn cứ quyết định hình phạt (lưu ý, căn cứ quyết
Trang 13định hình phạt được học viên sử dụng ở đây là theo nghĩa rộng và đúng theo tên gọi trong Bộ luật hình sự và nội dung bao gồm cả bốn căn cứ quyết định hình phạt);
- Hệ thống hóa quy định về các căn cứ quyết định hình phạt trong lịch sử từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay, trong đó phân tích quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam hiện hành về vấn đề này để rút ra nhận xét;
- Nghiên cứu, so sánh quy định của Bộ luật hình sự một số nước trên thế giới
về các căn cứ quyết định hình phạt để rút ra đánh giá;
- Đánh giá thực tiễn áp dụng các căn cứ quyết định hình phạt trên địa bàn tỉnh Hà Giang, từ đó chỉ ra một số tồn tại, hạn chế và các nguyên nhân cơ bản;
- Luận chứng và đưa ra những kiến nghị tiếp tục hoàn thiện quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam về quyết định hình phạt và các căn cứ quyết định hình phạt
và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả và chất lượng của việc quyết định hình phạt
4 Cơ sở lý luận và các phương pháp nghiên cứu của luận văn
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng Mác-xít, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng Nhà nước pháp quyền, về chính sách hình sự, về vấn đề cải cách tư pháp được thể hiện trong các Nghị quyết Đại hội Đảng XI, XII và các Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày
02/01/2002 về “Một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới”, Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 26/5/2005 về “Chiến lược cải cách tư pháp đến
năm 2020” của Bộ Chính trị
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả luận văn đã sử dụng các phương pháp đặc thù của khoa học luật hình sự như: phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê, điều tra xã hội học để tổng hợp các tri thức khoa học và luận chứng các vấn đề tương ứng được nghiên cứu trong luận văn
5 Ý nghĩa lý luận, thực tiễn và điểm mới về khoa học của luận văn
Ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan trọng của luận văn là ở chỗ tác giả đã làm
rõ khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa và các căn cứ, những nguyên tắc của quyết định hình phạt; phân tích, đánh giá nội dung quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam hiện
Trang 14hành về các căn cứ quyết định hình phạt, đồng thời đưa ra những kiến nghị hoàn thiện các quy định này ở khía cạnh lập pháp hình sự và một số giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng từ khía cạnh thực tiễn
Bên cạnh đó, về điểm mới về khoa học của luận văn ở một chừng mực nhất định có thể khẳng định rằng, đây là nghiên cứu chuyên khảo đồng bộ đầu tiên ở cấp
độ một luận văn thạc sĩ đề cập riêng đến các căn cứ quyết định hình phạt trong luật hình sự Việt Nam Điều đó càng trở nên quan trọng hơn vì đây là một trường hợp phức tạp của các căn cứu quyết định hình phạt đòi hỏi phải có nhận thức thống nhất phục vụ cho thực tiễn xét xử, tránh vi phạm trong việc áp dụng Đặc biệt, nó còn có
ý nghĩa làm tài liệu tham khảo cần thiết cho các cán bộ nghiên cứu khoa học, cán bộ giảng dạy, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên thuộc chuyên ngành Tư pháp hình sự
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Đặt vấn đề, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu của luận văn gồm 3 chương như sau:
Chương 1: Những vấn đề chung về các căn cứ quyết định hình phạt theo
Luật hình sự Việt Nam
Chương 2: Quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam và Bộ luật hình sự một số
nước trên thế giới về các căn cứ quyết định hình phạt
Chương 3: Thực tiễn áp dụng các căn cứ quyết định hình phạt trên địa bàn
tỉnh Hà Giang và những kiến nghị
Trang 15Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÁC CĂN CỨ QUYẾT ĐỊNH HÌNH
PHẠT TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1 KHÁI NIỆM, Ý NGHĨA VÀ CÁC NGUYÊN TẮC QUYẾT ĐỊNH HÌNH
PHẠT TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1.1 Khái niệm quyết định hình phạt
Pháp luật là đại lượng công bằng áp dụng cho những trường hợp khác nhau
Do đó, pháp luật hình sự quy định những phạm vi chung đối với những người không giống nhau trong thực tế Ttrong phạm vi đó, làm thế nào để đưa ra một quyết định công bằng, hợp lý là nhiệm vụ rất quan trọng và đầy trách nhiệm của những cơ quan và người áp dụng pháp luật hình sự Ở đây, việc áp dụng đúng các quy định của pháp luật hình sự đã được ban hành liên quan chặt chẽ với việc áp dụng có căn cứ và đúng đắn các đòi hỏi của các quy phạm pháp luật hình sự với việc tuân thủ chính xác và nhất quán các quy định của pháp luật với việc xác định chân lý khách quan của vụ án hình sự
Lần đầu tiên, khái niệm hình phạt được quy định trong Điều 26 Bộ luật hình
sự năm 1999, đây là một điểm mới so với Bộ luật hình sự năm 1985 Việc quy định này không những bảo đảm nhận thức thống nhất về hình phạt trong khoa học, mà còn
có nhiều mục đích khác như: giáo dục, cải tạo người phạm tội, bảo đảm tính răn đe và nghiêm minh của pháp luật hình sự, cũng như yêu cầu đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm Bởi lẽ, đề cập tội phạm chúng ta không thể không nhắc đến hình phạt Tội phạm và hình phạt là hai nội dung cơ bản trong luật hình sự của mọi quốc gia Tội phạm và hình phạt luôn luôn đi liền với nhau, có nghĩa là giữa tội phạm và hình phạt luôn luôn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và không tách rời nhau [18, tr 93] Về nguyên tắc, khi đã thực hiện tội phạm thì phải chịu trách nhiệm hình sự và thông thường phải chịu hình phạt và ngược lại hình phạt không thể được áp dụng khi không
có tội phạm xảy ra và cũng không áp dụng đối với ai khác ngoài người đã phạm tội
Do đó, đúng như PGS.TS Trịnh Quốc Toản đã nhận định:
Trang 16Chừng nào, Nhà nước còn cần đến luật hình sự và hình phạt, thì hình phạt chỉ được áp dụng và chỉ cho phép được áp dụng với tính chất là sự phản ứng Nhà nước và xã hội đối với tội phạm; nó là sự phủ định công khai, quyết liệt của Nhà nước, là sự thể hiện không thể dung thứ của Nhà nước và xã hội đối với các hành vi phạm tội [35, tr 37]
Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nhà nước nghiêm khắc nhất được áp dụng theo trình tự riêng biệt cho người phạm tội, bảo đảm cho luật hình sự thực hiện được mục đích của mình Hình phạt với tư cách là sự hạn chế, tước bỏ những quyền, lợi ích quan trọng nhất của người phạm tội có những tác động nhất định đến bản thân người phạm tội cũng như tác động đến xã hội theo những hướng khác nhau tuỳ thuộc vào việc hình phạt đó được quyết định thế nào Luật hình sự đòi hỏi những tác động đó của hình phạt phải đạt được những kết quả trực tiếp hay nói cách khác là đạt được mục đích của hình phạt
Về mặt lập pháp, Bộ luật hình sự hiện hành không quy định cụ thể quyết định hình phạt là gì ? Dưới góc độ lý luận, quyết định hình phạt là một khái niệm hiện nay có nhiều quan điểm không giống nhau
ThS Đinh Văn Quế đưa ra định nghĩa mang tính khái quát về quyết định
hình phạt như sau "Quyết định hình phạt là việc Tòa án lựa chọn hình phạt buộc
người bị kết án phải chấp hành Tòa án lựa chọn loại hình phạt nào, mức hình phạt bao nhiêu, phải tuân theo những quy định của Bộ luật hình sự" [27, tr 3] Định
nghĩa này đã chỉ ra nội dung quan trọng của quyết định hình phạt là một hoạt động của Toà án đồng thời đó là việc toà án lựa chọn hình phạt đồng thời chỉ ra căn cứ pháp lý của quyết định hình phạt đó chính là các quy định của Bộ luật hình sự Tuy nhiên, định nghĩa này cho thấy chưa bao quát được hết hoạt động quyết định hình phạt Bởi lẽ, quyết định hình phạt là một hoạt động khá phức tạp bao gồm nhiều thao tác ngoài việc lựa chọn loại hình phạt còn xác định mức hình phạt.Bên cạnh
đó, tác giả cho rằng hình phạt áp dụng với “người bị kết án” là chưa chính xác Bởi
người bị kết là người đã có bản án kết tội của Tòa án
Trong khi đó, PGS.TS Lê Văn Đệ thì cho rằng: "Quyết định hình phạt là sự
Trang 17lựa chọn loại hình phạt và xác định mức hình phạt cụ thể trong phạm vi luật định
để áp dụng đối với người phạm tội cụ thể" [9, tr 161] Định nghĩa này đã chỉ ra cụ
thể hai thao tác quan trọng khi quyết định hình phạt là xác định loại hình phạt và xác định mức hình phạt đồng thời chỉ ra tính chất pháp lý của của hoạt động quyết định hình phạt, đối tượng bị áp dụng hình phạt là người phạm tội cụ thể Tuy nhiên,
ở đây chưa cho thấy chủ thể thực hiện hoạt động áp dụng hình phạt là toà án
Cũng có quan điểm tiếp cận khái niệm quyết định hình phạt còn được tiếp cận dưới góc độ của luật tố tụng hình sự Theo đó:
Quyết định hình phạt là một giai đoạn rất quan trọng trong hoạt động xét xử của Bộ luật hình sự, là việc Tòa án lựa chọn loại hình phạt và mức hình phạt cụ thể được quy định trong luật hình sự tương ứng với cấu thành tội phạm cụ thể để áp dụng với người phạm tội, thể hiện trong bản án buộc tội [40, tr 73]
Trong định nghĩa này coi quyết định hình phạt là một giai đoạn trong hoạt động xét xử là chưa chính xác Bởi lẽ nói đến giai đoạn trong tố tụng cũng như trong quá trình xét xử của toà án là nói đến một bước (một khoảng thời gian) độc lập để chủ thể thực hiện hoạt động tố tụng Tuy nhiên, trước khi lựa chọn loại hình phạt và xác định mức hình phạt cụ thể toà án còn phải dựa vào các căn cứ như tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, nhân thân bị cáo… Những hoạt động này được thực hiện xuyên suốt quá trình xét xử chứ không phải là một giai đoạn độc lập Định nghĩa này chỉ ra hình thức của việc quyết định hình phạt đó chính là bản án của Tòa án Tuy nhiên, trong tố tụng hình sự thì chỉ có bản án kết tội chứ không có bản án buộc tội nếu hiểu theo đúng nghĩa của hoạt động buộc tội trong mối quan hệ với hoạt động gỡ tội, xét xử thì nó thuộc về bên buộc tội thể hiện bằng cáo trạng của Viện kiểm sát
Ngoài ra, trong Giáo trình Luật hình sự Việt Nam của Khoa Luật thuộc Đại
học Quốc gia Hà Nội thì "quyết định hình phạt là việc Tòa án lựa chọn loại hình
phạt cụ thể (bao gồm hình phạt chính và có thể cả hình phạt bổ sung) với mức độ cụ thể trong phạm vi luật định để áp dụng đối với người phạm tội" [20, tr 317]
Bên cạnh đó, Giáo trình Luật hình sự Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà
Trang 18Nội thì định nghĩa: "Quyết định hình phạt là sự lựa chọn loại hình phạt và xác định
mức hình phạt cụ thể trong phạm vi luật định để áp dụng đối với người phạm tội cụ thể" [36, tr 211]; v.v
Do đó, để làm sáng tỏ một cách đầy đủ nội dung của khái niệm quyết định hình phạt, cần xác định vị trí của quyết định hình phạt trong quá trình áp dụng các quy phạm pháp luật hình sự
Trong lý luận luật hình sự, việc áp dụng pháp luật hình sự là một quá trình phức tạp gồm nhiều mặt được tiến hành thông qua các giai đoạn nhất định như: giải thích quy phạm pháp luật hình sự, xác định hiệu lực của đạo luật hình sự về không gian và thời gian, định tội danh và quyết định hình phạt, miễn trách nhiệm hình sự
và xoá án tích
Các quy phạm pháp luật hình sự cấm việc thực hiện các hành vi nguy hiểm cho xã hội trước hết bằng sự tuân thủ các quy phạm đó Bằng cách đó, mục đích của luật hình sự đã được và như vậy, quy phạm pháp luật hình sự được thực hiện được chức năng chính, cơ bản của mình
Tuy nhiên, bản chất của các quy phạm pháp luật hình sự không bị hạn chế bởi việc công bố các điều cấm nhất định Mọi quy phạm pháp luật đều có tính chất bắt buộc và cho phép Quy phạm pháp luật hình sự ngoài việc đưa ra điều cấm đối với mọi người còn xác định cả quyền, nghĩa vụ của toà án trong việc áp dụng quy phạm pháp luật hình sự, tức là áp dụng hình phạt trong trường hợp một người thực hiện hành vi tội phạm Chức năng thứ hai của quy phạm pháp luật hình sự - quy định về hình phạt chỉ được áp dụng trong trường hợp Toà án áp dụng quy phạm pháp luật hình sự
Liên quan đến khái niệm quyết định hình phạt trong khoa học pháp lý hiện nay đang có nhiều quan điểm khác nhau về nội dung của quyết định hình phạt:
Đó là quyết định hình phạt được hiêu theo nghĩa nghĩa hẹp của khái niệm quyết định hình phạt, nghĩa rộng của khái niệm quyết định hình phạt Theo đó, quyết định hình phạt còn bao gồm cả các hoạt động: xác định người phạm tội có được miễn trách nhiệm hình sự hay miễn hình phạt hay không, xác định khung hình
Trang 19phạt, xác định loại và mức hình phạt cụ thể trong phạm vi khung hình phạt hoặc dưới khung đó [14, tr.65 - 66]
Theo PGS.TS Dương Tuyết Miên trong sách "Định tội danh và quyết định hình phạt" thì nên coi miễn hình phạt thuộc về giai đoạn quyết định hình phạt:
"Người phạm tội có thể được miễn hình phạt trong trường hợp phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 Bộ luật này, đáng được khoan hồng đặc biệt, nhưng chưa đến mức được miễn trách nhiệm hình sự" [21, tr 62] Như vậy, về
nội dung pháp lý thì miễn hình phạt là không buộc người phạm tội phải chịu hình phạt tức biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất về tội mà họ đã phạm Miễn hình phạt phải thuộc về giai đoạn quyết định hình phạt vì miễn hình phạt được thực hiện sau khi Tòa
án đã xác định xong tội danh và là bước đầu của quá trình xác định hình phạt
Tác giả Dương Tuyết Miên cho rằng, đối với trường hợp miễn trách nhiệm hình sự cũng nên coi thuộc về giai đoạn quyết định hình phạt, bởi những lý do sau:
Miễn trách nhiệm hình sự là không buộc người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự về tội họ đã thực hiện Miễn trách nhiệm hình sự được thực hiện sau khi Tòa án đã xác định xong tội danh cho bị cáo nên không thể thuộc giai đoạn định tội danh Trên cơ sở định tội danh bị cáo đã phạm, Tòa án sẽ xem xét, nếu thấy không cần thiết phải truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo mà vẫn đảm bảo được các yêu cầu của cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm thì Tòa án sẽ tuyên bố miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo [21, tr 62]
Tác giả chia sẽ với quan điểm coi miễn hình phạt là biện pháp xử lý trách nhiệm hình sự chỉ do Tòa án tiến hành trên cơ sở những căn cứ, quy định của Bộ luật hình sự Miễn hình phạt cũng chỉ được tiến hành sau khi Tòa án đã định tội danh xong đối với bị cáo Vì vậy, cần xác định miễn hình phạt phải thuộc về giai đoạn quyết định hình phạt
Còn đối với quan điểm cho rằng miễn trách nhiệm hình sự thuộc về giai đoạn quyết định hình phạt thì tác giả không đồng ý, bởi lẽ, miễn trách nhiệm hình sự là một biện pháp xử lý hình sự do nhiều chủ thể có thẩm quyền khác nhau tiến hành, tùy từng giai đoạn tố tụng khác nhau, như: Cơ quan điều tra ở giai đoạn điều tra,
Trang 20Viện kiểm sát ở giai đoạn truy tố, hay Tòa án ở giai đoạn xét xử Như vậy, người đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội có đủ các điều kiện được miễn trách nhiệm hình sự thì vẫn được các cơ quan có thẩm quyền áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự để miễn trách nhiệm hình sự cho người đó Hơn nữa, quyết định hình phạt
là hoạt động của Tòa án trong việc áp dụng pháp luật hình sự, do đó nếu cho rằng miễn trách nhiệm hình sự thuộc về giai đoạn quyết định hình phạt là chưa chính xác
ở cả khía cạnh nội dung lẫn khía cạnh chủ thể có thẩm quyền quyết định hình phạt
Một vấn đề nữa mà chúng ta cần làm rõ để hiểu chính xác nội hàm khái niệm quyết định hình phạt là việc xác định giai đoạn định khung hình phạt có thuộc về hoạt động quyết định hình phạt hay không? Tác giả cho rằng, cần coi giai đoạn định khung hình phạt là một trình tự của hoạt động quyết định hình phạt, thuộc về hoạt động quyết định hình phạt Bởi vì, định khung hình phạt là việc làm được thực hiện sau khi định tội danh xong và là hoạt động đầu tiên xác định giới hạn tối thiểu và tối đa của hình phạt theo khung hình phạt được phép áp dụng, trên
cơ sở giới hạn luật định, hình phạt cụ thể sẽ được quyết định Mặt khác, việc định tội danh phải được thực hiện trên cơ sở cấu thành tội phạm cơ bản chứ không phải
là các cấu thành tội phạm tăng nặng hoặc giảm nhẹ Chỉ trên cơ sở định tội danh xong các cơ quan tố tụng mới xác định khung hình phạt, trong trường hợp điều luật chỉ có một khung hình phạt thì Tòa án đương nhiên không phải xác định khung hình phạt Khi định khung hình phạt, Tòa án dựa vào các tình tiết giảm nhẹ
và tăng nặng định khung Vì vậy, theo tác giả nên coi định khung hình phạt thuộc
về hoạt động quyết định hình phạt
Từ những sự phân tích trên, kế thừa các quan điểm khoa học, học viên cho
rằng nên định nghĩa khái niệm này như sau: Quyết định hình phạt là hoạt động thực
tiễn áp dụng pháp luật của Tòa án do Hội đồng xét xử thực hiện, căn cứ vào các quy định của pháp luật hình sự và dựa trên những nguyên tắc nhất định, được thực hiện tùy thuộc vào từng trường hợp để xác định loại và mức hình phạt cụ thể áp dụng cho người phạm tội cụ thể hoặc miễn hình phạt cho người phạm tội theo quy định của Bộ luật hình sự phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của
Trang 21Tòa án là cơ quan xét xử duy nhất ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa việt Nam, tức là chỉ Tòa án mới có quyền tuyên một người có tội và áp dụng hình phạt với người đó Quyết định hình phạt là hoạt động tư duy của các thành viên Hội đồng xét xử cân nhắc đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội cũng như các yếu tố khác để đưa ra một quyết định hình phạt phù hợp, áp dụng hình phạt; nếu áp dụng hình phạt thì phải lựa chọn một hình phạt nào đó thể hiện sự lên
án của nhà nước đối với người phạm tội [29, Điều 102]
Ngoài ra, để nhận thức và áp dụng một cách thống nhất, chính xác, có hiệu quả, căn cứ quyết định hình phạt bắt buộc phải được quy định trong Bộ luật hình sự
và trở thành chuẩn mực chung cho việc quyết định hình phạt đối với mọi trường hợp phạm tội Đây là một yêu cầu quan trọng nhằm tránh tình trạng áp dụng một cách tuỳ tiện và nhằm đảm bảo giải quyết đúng đắn vấn đề trách nhiệm hình sự của
Trang 22Thứ ba, yêu cầu tuân thủ đúng căn cứ quyết định hình phạt là điều kiện quan trọng để hình phạt được tuyên có khả năng đạt được các mục đích của hình phạt ở mức cao nhất
Quyết định hình phạt đúng là cơ sở để đạt được các mục đích của hình phạt Điều đó cho thấy việc quyết định hình phạt không phải được thực hiện một cách ngẫu nhiên cũng có thể đạt được các mục đích của hình phạt mà nó phải được dựa trên các căn cứ quyết định hình phạt đã được Bộ luật hình sự quy định Đến lượt mình, với vị trí là cơ sở pháp lý của hoạt động quyết định hình phạt, chính sự tuân thủ căn cứ quyết định hình phạt mới đảm bảo cho hình phạt được quyết định đúng
và quan trọng hơn còn là điều kiện quyết định để hình phạt đó có khả năng đạt được các mục đích của hình phạt ở mức cao nhất
1.1.2 Ý nghĩa của quyết định hình phạt
Quyết định hình phạt được hiểu là việc Tòa án lựa chọn một loại và mức hình phạt cụ thể trong phạm vi luật định để áp dụng đối với người phạm tội
Quyết định hình phạt là một trong những giai đoạn, một nội dung quan trọng của quá trình áp dụng luật hình sự Hiến pháp năm 2013 và Bộ luật hình sự năm
1999 (sau là Bộ luật hình sự năm 2015) đều quy định chỉ có Tòa án mới có quyền quyết định hình phạt Theo đó, Tòa án nhân danh Nhà nước, căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự tuyên bố áp dụng hình phạt đối với người phạm tội Điều này thể hiện sự lên án của Nhà nước đối với người phạm tội về việc thực hiện tội phạm
Trang 23Quyết định hình phạt có vai trò vô cùng to lớn, bởi suy cho cùng, các hoạt động tố tụng hình sự trước đó (từ khởi tố, điều tra, truy tố, kể cả việc tranh tụng tại phiên tòa) sẽ không có nhiều ý nghĩa nếu Tòa án không làm tốt việc quyết định hình phạt Quyết định hình phạt đúng pháp luật, công bằng và hợp lý là tiền
đề, điều kiện để đạt mục đích hình phạt (cải tạo, giáo dục, phòng ngừa chung và phòng ngừa riêng)
- Quyết định hình phạt đúng là cơ sở pháp lý để đạt được mục đích của hình phạt Nói một cách khác, việc quy định các mục đích của hình phạt phải bảo đảm
để: “thứ nhất, mục đích phản ánh một cách tương xứng các lợi ích của nhân dân,
thứ hai, mục đích được quy định trong quy phạm pháp luật cần phải phản ánh tính
hiện thực; thứ ba, mục đích cần phải dựa trên những biện pháp mà việc áp dụng nó
được lập luận về mặt đạo đức ” [44, tr 221] Ngoài ra, mục đích của hình phạt là kết quả mà Nhà nước đặt ra và mong muốn đạt được khi áp dụng hình phạt đối với người phạm tội Tuy nhiên, mục đích của hình phạt có đạt được hay không lại phụ thuộc vào việc quyết định hình phạt của Hội đồng xét xử Quyết định hình phạt bảo đảm tính công minh, đúng pháp luật, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội là điều kiện bắt buộc để hình phạt được tuyên đạt được mục đích trừng trị và giáo dục, cải tạo người phạm tội Qua đó, hình phạt cũng phát huy tác dụng giáo dục, phòng ngừa chung đối với các thành viên khác trong xã hội
- Quyết định hình phạt đúng là cơ sở pháp lý đảm bảo và nâng cao hiệu quả của hình phạt [21, tr.64] Hiệu quả của hình phạt phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: xây dựng pháp luật hình sự; quyết định hình phạt; tổ chức thi hành án và tái hoà nhập cộng đồng; công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật cho công dân Trong tất
cả các yếu tố này thì quyết định hình phạt là yếu tố mang tính quyết định, quan trọng nhất vì suy cho cùng, quyết định hình phạt đúng là cơ sở để đảm bảo cho các yếu tố còn lại thực sự có ý nghĩa và phát huy được tác dụng trong thực tiễn
- Quyết định hình phạt đúng là điều kiện bảo đảm tính khả thi của hệ thống hình phạt Trong quyết định hình phạt, việc Hội đồng xét xử lựa chọn đúng loại và mức hình phạt đối với người phạm tội, kết hợp được giữa trừng trị với giáo dục
Trang 24người phạm tội, phù hợp với hoàn cảnh của người phạm tội chính là điều kiện bảo đảm tính khả thi của hệ thống hình phạt trong thực tiễn Quyết định hình phạt đúng
sẽ làm cho mỗi hình phạt nói riêng và hệ thống hình phạt nói chung thực sự là công
cụ hữu hiệu trong công tác đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm
- Quyết định hình phạt đúng góp phần bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa trong Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Quyết định hình phạt đúng sẽ tác động đến ý thức của mỗi cá nhân để họ thấy sợ hình phạt mà không dám phạm tội và quan trọng hơn là nhận thức được tính nghiêm minh của pháp luật để tự giác chấp hành pháp luật Từ đó xác định ý thức và trách nhiệm tham gia tích cực vào công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, góp phần bảo đảm pháp chế trong Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
1.1.3 Các nguyên tắc quyết định hình phạt
Các nguyên tắc quyết định hình phạt là một trong những vấn đề quan trọng của của chế định quyết định hình phạt, bởi vì, việc quyết định hình phạt đúng pháp luật, công bằng và hợp lý tuỳ thuộc vào nhận thức và áp dụng các nguyên tắc đó trong thực tiễn xét xử Nghiên cứu các nguyên tắc quyết định hình phạt có ý nghĩa lý luận và thực tiễn rất lớn Về mặt lý luận, việc làm sáng tỏ các nguyên tắc quyết định hình phạt góp phần vào việc nhận thức được bản chất, nội dung, nguồn gốc, ý nghĩa của chế định quyết định hình phạt, phân biệt chúng với các căn cứ quyết định hình phạt, đưa ra phương án tối ưu của việc thể hiện chúng trong các quy phạm pháp luật hình sự Về mặt thực tiễn, các nguyên tắc đó là quan điểm chỉ đạo, là kim chỉ nam cho hoạt động của Tòa án khi lựa chọn và quyết định loại, mức hình phạt đối với từng
bị cáo trong từng vụ án cụ thể, là điều kiện cho việc cải tạo và giáo dục người bị kết
án được tốt, góp phần vào việc phòng ngừa riêng và phòng ngừa chung
Các nguyên tắc quyết định hình phạt là những tư tưởng được thể hiện trong luật hoặc được làm sáng tỏ bắt nguồn từ việc giải thích luật F.Anghen viết: Nguyên tắc, không phải là được áp dụng vào thế giới tự nhiên và lịch sử loài người, mà là được rút ra trong giới tự nhiên và lịch sử loài người; không phải giới tự nhiên và lịch sử loài người thích ứng với các nguyên tắc mà trái ngược, nguyên tắc chỉ đúng
Trang 25nếu nó phù hợp với giới tự nhiên và lịch sử [3, tr 56] Như vậy, các nguyên tắc có tính khách quan, không thể được đặt ra bởi ý chí chủ quan của người
Quyết định hình phạt phải tuân thủ các nguyên tắc sau đây: (i) Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa; (ii) Nguyên tắc nhân đạo; (iii) Nguyên tắc cá thể hoá trách nhiệm hình sự; (iv) Nguyên tắc công bằng [47, tr 409], [22, tr 70], [10, tr 163]
- Nguyên tắc pháp chế
Tư tưởng của nguyên tắc pháp chế thể hiện ở chỗ, khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội, Tòa án phải tuân thủ nghiêm chỉnh các quy định của luật hình sự Đây là nguyên tắc rất quan trọng của quyết định hình phạt bởi lẽ chỉ khi tuân thủ nguyên tắc này thì mới đảm bảo được các nguyên tắc khác Vi phạm nguyên tắc pháp chế sẽ vi phạm các nguyê tắc khác và dẫn đến quyết định hình phạt không đúng và sẽ làm mất đi ý nghĩa của quyết định hình phạt Nội dung của nguyên tắc này thể hiện ở chỗ, chỉ áp dụng hình phạt đối với hành vi phạm tội đã được quy định cụ thể trong luật hình sự Điều 2 Bộ luật hình sự đã quy định: Chỉ người nào phạm một tội đã được luật này quy định mới phải chịu trách nhiệm hình
sự Điều này khẳng định cơ sở của trách nhiệm hình sự và áp dụng hình phạt là
hành vi nguy hiểm cho xã hội Nội dung của nguyên tắc pháp chế còn thể hiện ở việc quyết định hình phạt là thẩm quyền của Toà án Tại phiên toà sau khi xét hỏi, tranh luận Toà án sẽ đánh giá chứng cứ và đi đến kết luận hành vi của bị cáo có cấu thành tội phạm cụ thể hay không và quyết định một loại và mức hình phạt cụ thể Nguyên tắc pháp chế cũng đòi hỏi khi quyết định hình phạt, Tòa án phải tuân thủ các điều kiện áp dụng các loại hình phạt cụ thể chỉ tuyên những hình phạt được Bộ luật hình sự quy định
Nguyên tắc pháp chế cũng đòi hỏi khi tuyên một hình phạt phải có tính xác định, có căn cứ và lập luận Tính xác định của hình phạt trong bản án buộc tội thể hiện
ở chỗ, hình phạt quyết định đối với bị cáo phải cụ thể về loại hình phạt và thời hạn Về
vấn đề này C Mác viết: “Nếu như khái niệm phạm tội giả định phải có sự trừng phạt
thì tội phạm thực tế lại giải định phải có mức độ trừng phạt nhất định” [3, tr.169]
Tính có lập luận và căn cứ của bản án đòi hỏi Tòa án phải nghiên cứu kỹ và
Trang 26làm sáng tỏ các tình tiết có trong vụ án và làm căn cứ cho việc quyết định hình phạt Những tình tiết đó phải là những tình tiết được thẩm vấn, được kiểm tra lại trong quá trình xét xử đã được Hội đồng xét xử đánh giá, nhận xét Tính có căn cứ đòi hỏi phải chỉ rõ lý do của việc quyết định hình phạt Đòi hỏi khác của nguyên tắc pháp chế là tính hợp lý của việc quyết định hình phạt Tính hợp lý của quyết định hình phạt thể hiện ở chỗ trong các phương án giải quyết khác nhau mà luật cho phép, Tòa án phải lựa chọn loại và mức hình phạt, một mặt, phải đúng luật Mặt khác, phải phù hợp với các nguyên tắc khác, phù hợp với các tình tiết cụ thể của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
- Nguyên tắc nhân đạo
Nguyên tắc nhân đạo xã hội chủ nghĩa đòi hỏi Tòa án khi quyết định hình phạt phải xuất phát từ tư tưởng nhân đạo để áp dụng và tuân thủ triệt để các quy định của luật hình sự về hình phạt cũng như quyết định hình phạt Nguyên tắc nhân đạo của luật hình sự thể hiện trước hết thể hiện sự khoan hồng của Nhà nước, là việc đặt mục đích giáo dục, cải tạo người phạm tội lên mục đích hàng đầu, là việc xem xét tất cả các đặc điểm tốt về nhân thân của người phạm tội theo quy định của pháp luật hình sự, là việc xem xét kỹ lưỡng những đặc điểm tâm, sinh lý cũng như hoàn cảnh cụ thể của người phạm tội để quyết định một loại hình phạt ở mức độ cần thiết thấp nhất, vừa đủ đảm bảo mục đích phòng ngừa riêng và phòng ngừa chung, vừa đủ đảm bảo được mục đích giáo dục, cải tạo người phạm tội cũng như mục đích răn đe, ngăn chặn người khác phạm tội và mục đích khuyến khích, động viên, giáo dục quần chúng nhân dân tích cực tham gia vào cuộc đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm
Với tư cách là một nội dung quan trọng, không thể thiếu được của họat động xét xử, quyết định hình phạt có vai trò hết sức quan trọng trong việc biến mục đích hình phạt thành hiện thực Chỉ khi nào quyết định một hình phạt đúng pháp luật, công bằng, nhân đạo, đáp ứng được những yêu cầu, mong đợi của nhân dân và của bản thân người bị kết án thì khi đó nó mới có thể trở thành tiền đề, điều kiện để đạt
Trang 27được mục đích của hình phạt, đó là: Mục đích giáo dục, cải tạo người phạm tội, mục đích phòng ngừa riêng và phòng ngừa chung, răn đe, ngăn ngừa người khác phạm tội và khuyến khích, giáo dục, động viên quần chúng nhân dân tích cực tham gia vào cuộc đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm Ngược lại, quyết định một hình phạt không đúng pháp luật, không công bằng, không nhân đạo thì mục đích trên đây của hình phạt cũng không thể đạt được
Trong quyết định hình phạt, nguyên tắc nhân đạo thể hiện một cách tập trung nhất ở chỗ khi quyết dịnh hình phạt tòa án phải cân nhắc và có thái độ đúng đắn đối với cả lợi ích của Nhà nước, của cộng đồng lẫn với lợi ích của bị cáo trong một tổng thể thống nhất, biện chứng, hài hòa và hợp lý Không thể nói đến nhân đạo được khi
mà Tòa án quyết định hình phạt quá đề cao lợi ích của Nhà nước, của cộng đồng, rồi hạ thấp, xem thường lợi ích, vai trò, giá trị của bị cáo hoặc ngược lại Một hình phạt quá nhẹ sẽ làm giảm ý nghĩa phòng ngừa, bởi nó làm nảy sinh ở chính người phạm tội và những người khác, đặc biệt là những người đang có ý định phạm tội, thái độ, cảm giác vô trách nhiệm, coi thường pháp luật Một hình phạt như vậy chắc chắn không đảm bảo việc đạt được mục đích của hình phạt Ngược lại, một hình phạt quá nặng sẽ làm cho người bị kết án và những người khác cảm giác là không nhân đạo, không hợp lý, người phạm tội luôn luôn mang tư tưởng phải chịu một hình phạt không tương xứng với hành vi phạm tội của họ, dễ oán hờn, không tin tưởng chân lý của pháp luật và người áp dụng pháp luật hình sự Đến lượt mình, trong trường hợp này hình phạt cũng không đạt được mục đích của nó Nói cách khác, trong quyết định hình phạt, tòa án phải giải quyết một cách hợp lý mối tương quan giữa cưỡng chế và thuyết phục, giữa trừng trị và giáo dục, cải tạo của hình
phạt Lê-nin từng nói: “Tác dụng ngăn ngừa của hình phạt hoàn toàn không phải
hình phạt đó phải nặng mà ở chỗ là đã phạm tội thì không thóat khỏi bị trừng phạt Điều quan trọng không phải ở chỗ là tội phạm phải bị trừng phạt nặng, mà ở chỗ không một tội phạm nào không bị phát hiện ra” [39, tr.120]
- Nguyên tắc cá thể hóa hình phạt
Đây là nguyên tắc quan trọng trong quyết định hình phạt thể hiện ở chỗ: khi quyết định hình phạt, Toà án phải căn cứ vào các quy định của Bộ luật hình sự, ý
Trang 28thức pháp luật, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định cho bị cáo một loại và một mức hình phạt cụ thể, phù hợp, tạo điều kiện cho việc đạt được mục đích của hình phạt Nguyên tắc này đòi hỏi, khi quyết định hình phạt, Toà án phải nhận thức rằng hình phạt được áp dụng đối với một con người cụ thể với hoàn cảnh sống cụ thể, một tâm sinh lý cụ thể Do đó, mọi
sự bình quân về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi và cào bằng về mặt nhân thân trong khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội đều biểu hiện của của sự
vi phạm nguyên tắc cá thể hoá hình phạt Nguyên tắc cá thể hoá hình phạt có liên quan đến nhiều chế định khác của Bộ luật hình sự, vì vậy, khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội cụ thể, Tòa án phải xem xét một cách đầy đủ tất cả các tình tiết liên quan đến các chế định khác mà Bộ luật hình sự quy định có liên quan đến việc quyết định hình phạt như: tái phạm, tái phạm nguy hiểm, chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt
Nguyên tắc cá thể hóa hình phạt được thể hiện trong những quy định của phần chung Bộ luật hình sự về phân loại tội phạm với các mức cao nhất của khung hình phạt dành cho tội đó Bên cạnh đó, nguyên tắc cá thể hoá hình phạt còn được thể hiện trong các quy định về các giai đoạn thực hiện tội phạm, đồng phạm, các loại hình phạt các điều kiện áp dụng chúng
Nguyên tắc cá thể hóa hình phạt còn thể hiện trong các chế tài của quy phạm pháp luật hình sự đối với các tội cụ thể Các quy định về hình phạt trong phần chung của Bộ luật hình sự không chỉ là cơ sở cho việc quyết định hình phạt mà là còn là cơ sở để để quy định phần chế tài ở phần các tội phạm cụ thể Đó là quy định chế tài ở phần các tội phạm cụ thể phải tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội Đối với các tội phạm cùng loại có tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội giống nhau thì quy định chế tài nghiêm khắc giống nhau Đối với các tội khác loại có tính chất, mức độ nguy hiểm khác nhau thì quy định chế tài có độ nghiêm khắc khác nhau
Ngoài ra, tư tưởng của nguyên tắc cá thể hoá hình phạt còn thể hiện ở việc quy
Trang 29định chế tài tương đối và chế tài tuỳ nghi Các chế tài của quy phạm phần tội phạm quy định khung hình phạt có hoảng cách khá rộng và với nhiều loại khác nhau cho phép toà án lựa chọn khi quyết định hình phạt đối với từng người phạm tội cụ thể
- Nguyên tắc công bằng
Nguyên tắc công bằng là nguyên tắc của luật hình sự và nó thể hiện trong việc Quyết định hình phạt Nguyên tắc công bằng đòi hỏi có sự tương xứng giữa hành vi phạm tội và trách nhiệm hình sự Nguyên tắc công bằng được hiểu ở các phương diện sau: Ở mức độ lập pháp hình sự, mức độ chế tài của quy phạm pháp luật và mức độ của việc quyết định hình phạt
Một hình phạt được coi là công bằng khi nó xác định được sự tương xứng giữa loại và mức hình phạt với mức độ nghiêm trọng của hành vi với nhân thân người phạm tội và tất cả các tình tiết khách quan và chủ quan liên quan đến trường hợp phạm tội này Hình phạt đã tuyên phải tương xứng với tội phạm đã thực hiện, nghĩa là tội phạm càng nghiêm trọng và trong những điều kiện khác tương tự nhau thì hình phạt càng nghiêm khắc và ngược lại Bên cạnh đó, khi quyết định hình phạt cần cân nhắc cả nhân thân người phạm tội bởi vì mục đích của hình phạt là để tác động đến ý thức người phạm tội cụ thể với những đặc điểm nhân cách khác nhau trong xã hội Tất cả các yếu tố tính chất mức độ nguy hiểm, nhân thân người phạm tội, các tình tiết khác đều phải được cân nhắc một cách biện chứng khi quyết định hình phạt Nếu khi quyết định hình phạt mà quá coi trọng yếu tố này mà bỏ qua yếu
tố kia thì không thể có một hình phạt công bằng
Như vậy, để làm căn cứ cho việc quyết định một hình phạt công bằng, Tòa
án cần phải cân nhắc tổng thể tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm của tội phạm đã thực hiện (trong đó có chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt), nhân thân người phạm tội; các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự;
ý thức pháp luật xã hội chủ nghĩa [46, tr 194]
Tóm lại, để áp dụng các nguyên tắc trong quyết định hình phạt đạt hiệu quả cao cần đáp ứng các yếu tố khách quan và chủ quan nêu trên Những đảm bảo đó càng tốt thì hiệu quả áp dụng chúng trên thực tế càng cao, góp phần vào quyết định hình phạt đúng pháp luật, công bằng và hợp lý
Trang 301.2 KHÁI NIỆM VÀ Ý NGHĨA CỦA CÁC CĂN CỨ QUYẾT ĐỊNH
HÌNH PHẠT TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.2.1 Khái niệm các căn cứ quyết định hình phạt
Căn cứ, nếu định nghĩa dưới góc độ triết học, đó là những hiện tượng thể hiện ra như một điều kiện cần thiết, một điều kiện để tồn tại một hiện tượng khác nào đó (kết quả) và dùng để giải thích hiện tượng này Như vậy, căn cứ quyết định hình phạt là điều kiện cần thiết, là tiền đề tồn tại của nguyên tắc quyết định hình phạt và được dùng để giải thích làm sáng tỏ các nguyên tắc quyết định hình phạt và
cả chế định quyết định hình phạt nói chung
Các căn cứ quyết định hình phạt là những đòi hỏi cơ bản có tính nguyên tắc
do luật hình sự quy định hoặc do giải thích pháp luật mà có, buộc Toà án phải tuân theo khi Quyết định hình phạt đối với người thực hiện tội phạm [42, tr.237]
Căn cứ quyết định hình phạt là những yêu cầu cơ bản buộc Tòa án phải tuân theo khi quyết định hình phạt đối với tội phạm Trước khi Bộ luật hình sự năm 1999 được ban hành, thuật ngữ “căn cứ quyết định hình phạt ” không được dùng trong các văn bản pháp luật hình sự mà nó chỉ được dùng trong các bài viết, các công trình khoa học của các tác giả hoặc các luật gia; các giáo trình trong các trường đại học, cao đẳng; các thông tư, chỉ thị, các báo cáo tổng kết hoặc sơ kết của Tòa án
nhân dân tối cao Bộ luật hình sự năm 1985 dùng thuật ngữ “nguyên tắc quyết định
hình phạt” để nêu các nội dung mà các nội dung đó chính là căn cứ quyết định hình
phạt Nhận rõ tính thiếu chính xác, không có cơ sở khoa học của việc đồng nhất hai khái niệm “nguyên tắc” và “căn cứ” quyết định hình phạt như quy định tại Bộ luật hình sự năm 1985, nên Bộ luật hình sự năm 1999 và Bộ luật hình sự 2015 đã dùng
thuật ngữ “căn cứ quyết định hình phạt” (Điều 45 Bộ luật hình sự năm 1999) thay cho thuật ngữ “nguyên tắc quyết định hình phạt” (Điều 37 Bộ luật hình sự năm
1985) Theo Điều 45 Bộ luật hình sự năm 1999 (Điều 50 Bộ luật hình sự 2015), thì khi quyết định hình phạt, Tòa án căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách hiệm hình sự
Trang 31Nếu các nguyên tắc quyết định hình phạt là những tư tưởng chỉ đạo mang tính chất chung thì các căn cứ quyết định hình phạt là những quy định cụ thể, được luật thực định ghi nhận một cách rõ ràng để Tòa án áp dụng trong quá trình áp dụng hình phạt Các căn cứ quyết định hình phạt chính là những biểu hiện cụ thể của các nguyên tắc quyết định hình phạt Quyết định hình phạt là hoạt động của Tòa án đối với người phạm tội, quyết định hình phạt đúng, công bằng và hợp lý là tiền đề, là điều kiện để đạt được mục đích của hình phạt Để quyết định hình phạt đúng pháp luật, công bằng và hợp lý đối với người phạm tội, Tòa án phải tuân theo các nguyên tắc quyết định hình phạt và các căn cứ quyết định hình phạt
Hiện nay, có quan điểm của GS.TS Võ Khánh Vinh về khái niệm này
tương đối hợp lý như sau: “Các căn cứ quyết định hình phạt là những đòi hỏi cơ
bản có tính nguyên tắc do luật hình sự quy định hoặc do giải thích pháp luật mà
có, buộc Tòa án phải tuân theo khi quyết định hình phạt đối với người thực hiện tội phạm” [45, tr.272-273] Trên cơ sở này, dưới góc độ khoa học, theo chúng tôi, khái
niệm đang nghiên cứu được định nghĩa như sau: Các căn cứ quyết định hình phạt là
những đòi hỏi cụ thể, có tính khách quan, do Bộ luật hình sự quy định mà Hội đồng xét xử bắt buộc phải tuân thủ để không chỉ đảm bảo cho hình phạt được quyết định một cách khách quan, đúng pháp luật mà còn nhằm đạt được các mục đích của hình phạt ở mức cao nhất khi áp dụng đối với người phạm tội
Các căn cứ quyết định hình phạt có các đặc điểm sau đây:
Thứ nhất, các căn cứ quyết định hình phạt là những đòi hỏi được luật hình sự
quy định một cách rõ ràng, đầy đủ Đó là những quy định tại Điều 45 Bộ luật hình
sự năm 1999 (nay là Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015) bao gồm các quy định của
Bộ luật hình sự; tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; nhân thân người phạm tội; các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
Để nhận thức và áp dụng một cách thống nhất, chính xác, có hiệu quả, căn cứ quyết định hình phạt bắt buộc phải được quy định trong Bộ luật hình sự và trở thành chuân mực chung cho việc quyết định hình phạt đối với mọi trường hợp phạm tội Đây là một yêu cầu quan trọng nhằm tránh tình trạng áp dụng một cách tuỳ tiện và
Trang 32nhằm đảm bảo giải quyết đúng đắn vấn đề trách nhiệm hình sự của người phạm tội
Thứ hai, các căn cứ quyết định hình phạt mang tính bắt buộc đối với Tòa án,
tức là trong mọi trường hợp, khi quyết định hình phạt, Toà án phải dựa vào các đòi hỏi đó của pháp luật hình sự để lựa chọn loại và ấn định mức hình phạt cụ thể
Trong mối quan hệ với quyết định hình phạt, căn cứ quyết định hình phạt chính là điều kiện tồn tại, là cơ sở pháp lý bảo đảm tính có căn cứ và đúng pháp luật của hoạt động quyết định hình phạt Vì vậy, khi quyết định hình phạt, bắt buộc Hội đồng xét xử phải tuân thủ triệt để các căn cứ đã được Bộ luật hình sự quy định nhằm đảm bảo cho hình phạt được quyết định một cách công bằng, đúng pháp luật, phù hợp với đòi hỏi và lợi ích chung của xã hội
Thứ ba, các căn cứ quyết định hình phạt là những đòi hỏi có tính nguyên tắc
vì đó là những biểu hiện, đòi hỏi của các nguyên tắc quyết định hình phạt Trên cơ
sở nguyên tắc quyết định hình phạt, nhà làm luật quy định những đòi hỏi cơ bản buộc Tòa án phải tuân theo Tính có nguyên tắc của các căn cứ quyết định hình phạt thể hiện tính thống nhất, mối quan hệ chặt chẽ của các nguyên tắc quyết định hình phạt và các căn cứ quyết định hình phạt Khi quyết định hình phạt, Tòa án một mặt phải tuân theo các tư tưởng chỉ đạo (nguyên tắc) nhất định và mặt khác, phải dựa vào những đòi hỏi (căn cứ) nhất định mới có đủ điều kiện để quyết định ở mức độ lớn nhất, một hình phạt có khả năng đạt được các mục đích của hình phạt
Thứ tư, tuân thủ căn cứ quyết định hình phạt là điều kiện quan trọng để hình
phạt được tuyên có khả năng đạt được các mục đích ở mức cao nhất
Quyết định hình phạt đúng là cơ sở để đạt được các mục đích của hình phạt Điều đó cho thấy việc quyết định hình phạt không phải được thực hiện một cách ngẫu nhiên cũng có thể đạt được các mục đích của hình phạt mà nó phải được dựa trên các căn cứ quyết định hình phạt đã được Bộ luật hình sự quy định Với vị trí là
cơ sở pháp lý của hoạt động quyết định hình phạt, chính sự tuân thủ căn cứ quyết định hình phạt mới đảm bảo cho hình phạt được quyết định đúng và quan trọng hơn còn là điều kiện quyết định để hình phạt đó có khả năng đạt được các mục đích của hình phạt ở mức cao nhất các nguyên tắc quyết định hình phạt
Trang 331.2.2 Ý nghĩa của các căn cứ quyết định hình phạt
Từ khái niệm trên cho thấy ý nghĩa của các căn cứ quyết định hình phạt như sau:
Một là, các căn cứ quyết định hình phạt là cơ sở pháp lý để Tòa án quyết
định hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội
Để đạt được các mục đích của hình phạt, Hội đồng xét xử phải lựa chọn và quyết định được loại hình phạt với mức độ cụ thể trong giới hạn luật định, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội Để làm được điều đó, việc quyết định hình phạt phải tuân thủ những quy định của pháp luật hình sự, trong đó, bắt buộc phải dựa vào căn cứ quyết định hình phạt Căn cứ quyết định hình phạt là chuẩn mực chung, là cơ sở pháp lý giúp cho Hội đồng xét xử xác định đúng loại và mức hình phạt cụ thể, phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội trong phạm vi giới hạn của khung hình phạt mà điều luật về tội phạm đã quy định
Hai là, các căn cứ quyết định hình phạt là điều kiện cần thiết để khắc phục
tình trạng tùy tiện, thiếu thống nhất khi quyết định hình phạt, đồng thời bảo đảm tính hợp pháp và có căn cứ pháp lý của hoạt động quyết định hình phạt
Căn cứ quyết định hình phạt được quy định trong Bộ luật hình sự và có tính bắt buộc tuân thủ khi quyết định hình phạt đã loại bỏ việc áp dụng tương tự pháp luật và hạn chế tình trạng áp dụng căn cứ quyết định hình phạt một cách tuỳ tiện Đồng thời, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử phải viện dẫn đầy đủ các căn
cứ quyết định hình phạt trong bản án hình sự Chỉ như vậy, bản án được tuyên mới được coi là hợp pháp và có căn cứ Đây cũng còn là cơ sở để Tòa án cấp trên kiểm tra, giám sát nhằm bảo đảm tính minh bạch, đúng pháp luật trong xét xử vụ án hình
sự của Tòa án cấp dưới
Ba là, việc tuân thủ đúng các căn cứ quyết định hình phạt là điều kiện tiên
quyết để đạt mục đích của hình phạt
Mục đích của hình phạt chỉ có thể đạt được trong thực tiễn khi người phạm tội bị kết án thừa nhận việc áp dụng loại và mức hình phạt đối với mình là đúng và
Trang 34tự giác thi hành hình phạt đó Một hình phạt với mức độ nghiêm khắc không cần thiết sẽ là yếu tố cản trở người phạm tội tự giác chấp hành hình phạt, làm nảy sinh thái độ chống đối pháp luật ở người phạm tội Ngược lại, một hình phạt nhẹ hơn mức độ cần thiết của nó sẽ làm cho người phạm tội không những không sợ mà còn coi thường pháp luật, không quyết tâm cải tạo để từ bỏ con đường phạm tội Vì vậy, để hình phạt vừa đạt được mục đích trừng trị, vừa giáo dục, cải tạo người phạm tội trở thành công dân có ích cho xã hội và đáp ứng được yêu cầu phòng ngừa chung thì hình phạt được tuyên phải tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, phù hợp với khả năng cải tạo, giáo dục và hoàn cảnh thực tế của người phạm tội Một hình phạt như vậy chỉ có thể có được khi hình phạt đó là sản phẩm của sự tuân thủ nghiêm chỉnh, chính xác, khoa học các căn cứ quyết định hình phạt
Tóm lại, quyết định hình phạt là hoạt động nhận thức và áp dụng pháp luật hình sự, do Tòa án có thẩm quyền (Hội đồng xét xử), nhân danh Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện sau khi đã định tội danh và tùy thuộc vào từng trường hợp để quyết định khung hình phạt, loại hình phạt (các hình phạt chính
và bổ sung), mức hình phạt cụ thể trong phạm vi giới hạn của khung hình phạt do luật định áp dụng cho chính cá nhân người phạm tội, phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; hoặc miễn hình phạt cho người phạm tội theo quy định của Bộ luật hình sự
Để bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa, hoạt động quyết định hình phạt phải được thực hiện dựa trên các căn cứ luật định Căn cứ quyết định hình phạt là những đòi hỏi cụ thể, có tính khách quan, do Bộ luật hình sự quy định mà Hội đồng xét xử bắt buộc phải tuân thủ để không chỉ đảm bảo cho hình phạt được quyết định một cách khách quan, đúng pháp luật mà còn nhằm đạt được các mục đích của hình phạt
ở mức cao nhất khi áp dụng đối với người phạm tội bị kết án Việc tuân thủ căn cứ quyết định hình phạt sẽ đảm bảo cho hình phạt được quyết định tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, đảm bảo tính hợp pháp và
có căn cứ pháp lý của hoạt động quyết định hình phạt, khắc phục tình trạng tuỳ tiện,
Trang 35thiếu thống nhất khi quyết định hình phạt Ngoài ra, việc tuân thủ căn cứ quyết định hình phạt là điều kiện tiên quyết để đạt được các mục đích của hình phạt
1.3 KHÁI QUÁT LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA QUY
ĐỊNH VỀ CÁC CĂN CỨ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ SAU CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945 ĐẾN KHI BAN HÀNH BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 1999
1.3.1 Giai đoạn từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến pháp điển hóa lần thứ nhất - Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1985
Sự kiện Cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công đánh dấu một bước quan trọng về mọi mặt của Nhà nước ta, trong đó pháp luật giai đoạn này cũng đánh dấu một thời kỳ mới Thời gian này, bước đầu Nhà nước mới thành lập đã cho ra đời các qui định, pháp luật nhằm bảo vệ và duy trì ổn định một Nhà nước còn non trẻ, mang tính sáng tạo, nhân văn và đậm đà bản sắc dân tộc
Bản tổng kết về thảo luận báo cáo công tác ngành Tòa án nhân dân năm 1959 của Tòa án nhân dân tối cao đã hướng dẫn: Định tội phải cho đúng chính sách, cho đúng pháp luật Trước hết, chúng ta phải căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hại của hành vi phạm pháp để phân biệt phạm pháp nặng hay phạm pháp nhẹ (Ví dụ: ăn cắp của công nguy hại hơn đụng đến quyền tư hữu, giết người nguy hại hơn đánh người ) Chúng ta cũng cần căn cứ vào người phạm pháp (tuổi, bản chất, có tiền án hay không, khả năng cải tạo, thành tích ) và trường hợp tăng hoặc giảm tội Chúng ta chưa có một bộ hình pháp đầy đủ, mà căn cứ vào pháp luật hiện có, vào đường lối chính sách chung vào án lệ, kinh nghiệm của chúng ta để xác định tính chất về mức độ nguy hại của pháp pháp cho đúng
Cân nhắc hình phạt phải cho đúng chính sách, pháp luật Hình phạt phải phù hợp với chính sách, phải có tính chính trị, sách lược Đây rõ ràng hông phải là vấn
đề nửa cân tám lạng nghĩa là không phải là có số mức hình phạt cố định tỉ mỉ có thể
áp dụng cho bất cứ mọi trường hợp nào xảy ra trong thực tế Trong thực tế, có rất nhiều tình tiết phức tạp Trong trường hợp đó, thì phải tùy tình hình cụ thể, tùy yêu cầu chính trị từng nơi, từng lúc mà xử lý cho có lợi về chính trị Kiên quyết xử nặng
Trang 36khi cần thiết và kiên quyết không bỏ tù khi cần thiết, hai cái đó không mâu thuẫn với nhau Trái lại đó chính là chính sách xử lý có phần phân biệt của chúng ta Có phân biệt xử lý thì quần chúng mới đồng tình mới có lợi về chính trị [33, tr.76]
Như vậy, có thể nói trong các hướng dẫn trên cho thấy các nguyên tắc pháp chế, cá thể hoá hình phạt, nhân đạo các căn cứ quyết định hình phạt đã được thể hiện và là đòi hỏi bắt buộc đối với hoạt động quyết định hình phạt
Các căn cứ quyết định hình phạt đã được ghi nhận rõ hơn trong Báo cáo tổng kết công tác năm 1962 của Tòa án nhân dân tối cao:
Khi xét xử các vụ án hình sự các Tòa án đã dựa vào ý thức pháp luật xã hội chủ nghĩa, chú trọng đến tính chất và mức độ nguy hiểm của tội phạm, đến nhân thân của bị cáo, đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đồng thời vận dụng đúng đắn chính sách trừng trị kết hợp với giáo dục [33, tr.76]
Có thể nói, hướng dẫn trong Báo cáo này là một bước tiến bộ về khoa học luật hình sự và là tiền đề cho việc quy định các căn cứ quyết định hình phạt trong
Bộ luật hình sự năm 1985 và Bộ luật hình sự năm 1999 sau này
Trong Báo cáo tổng kết công tác 4 năm (1965-1968) của Tòa án nhân dân tối cao (trang 35) trong đoạn nói về đường lỗi xét xử đối với các tội chống lại hoặc phá hoại việc thực hiện chính sách pháp luật của nhà nước, những sai lầm thiếu sót trong Quyết định hình phạt đã được chỉ ra, đặc biệt là việc vận dụng yếu tố nhân thân người phạm tội và tình hình thực tế đã được đề cập khi Quyết định hình phạt Báo cáo này viết: Nhưng trong lĩnh vực Quyết định hình phạt cần kiên quyết khắc phục các hiện tượng lệch lạc hoặc quá nhấn một chiều vào tình hình thời chiến và yêu cầu chính trị của địa phương để lên án một cách tuỳ tiện Cần thấy rằng nhân thân “tốt” hay “xấu” cũng chỉ là một căn cứ để lượng hình mà căn cứ chủ yếu là tính chất, mức độ nghiêm trọng nhiều hay ít của hành vi phạm pháp” [33, tr.77]
Mặc dù, chưa có văn bản quy phạm pháp luật hình sự nào quy định những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhưng sự ra đời của Công văn số 38-NCPL ngày 16/01/1976 của Tòa án nhân dân tối cao đã đánh dấu một bước tiến
bộ rõ rệt về việc việc áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trong công tác xét xử Công văn này là sự tổng kết việc áp dụng các tình tiết tăng
Trang 37nặng, giảm nhẹ trong thực tiễn xét xử, đã có tác dụng hạn chế sự tùy tiện trong vận dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các Tòa án và là tiền
đề cho việc xây dựng điều luật quy định về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trong Bộ luật hình sự năm 1985, Bộ luật hình sự năm 1999 sau này Nội dung chủ yếu trong Công văn này như sau:
a) Về các tình tiết tăng nặng:
Những tình tiết tăng nặng thuộc phương diện khách quan của tội phạm:
- Cộng phạm: cộng phạm có nhiều hình thức, với mức độ nguy hiểm khác nhau, do đó mà mức độ tăng nặng của tình tiết này cũng khác nhau Hình thức nguy hiểm ở mức độ thấp nhất là hình thức cộng phạm thông thường: có nhiều người cùng tham gia phạm tội, nhưng không có thông mưu trước, hay tuy có thông mưu trước, nhưng chỉ là việc bàn bạc thường có trong các vụ cộng phạm, và không có vai trò cầm đầu hoặc chủ chốt Hình thức nguy hiểm ở mức độ cao là hình thức cộng phạm có tổ chức
- Xúi giục, lôi kéo người chưa thành niên phạm tội Đây là một tội ác đối với lớp người còn non trẻ, trong trắng, đưa họ vào con đường lưu manh hóa, trụy lạc hóa, nên phải coi đây là một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự
- Lợi dụng một số hoàn cảnh, tình hình để phạm tội Đó là việc lợi dụng thiên tai, địch họa, hoàn cảnh chiến tranh, nơi có chiến sự, lợi dụng lũ lụt, hỏa hoạn; lợi dụng tình hình trật tự trị an diễn biến phức tạp, lợi dụng tình hình quản lý kinh tế thiếu chặt chẽ; lợi dụng chức vụ, quyền hạn, lợi dụng chuyên môn, nghề nghiệp để phạm tội
- Sử dụng những phương pháp, thủ đoạn phạm tội có tính chất táo bạo, xảo quyệt, bỉ ổi, tàn ác, nguy hiểm chung đến tính mạng, sức khỏe nhiều người
- Phạm tội đối với những người cần chú ý bảo vệ về lý do đạo đức, nhân đạo: trẻ em, người già, người ốm đau
- Phạm tội chống cán bộ đang thi hành công vụ
- Phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng
Những tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thuộc phương diện chủ quan
Trang 38của tội phạm: phạm tội với động cơ đê hèn; phạm tội với động cơ hưởng lạc; có quyết tâm thực hiện tội phạm cao; có lỗi vô ý nặng
Những tình tiết tăng nặng thuộc về nhân thân người phạm tội: người phạm tội là lưu manh chuyên nghiệp; tái phạm; người phạm tội là phần tử ngoan cố không chịu cải tạo; người phạm tội là phần tử xấu; người phạm tội đã có tiền án: đây là trường hợp trước kia đã bị kết án về một tội nay lại phạm tội nữa, mà không phải là tái phạm; phạm tội nhiều lần hoặc phạm nhiều tội; người phạm tội có thái độ xấu sau khi phạm tội
b) Các tình tiết giảm nhẹ:
- Những tình tiết giảm nhẹ thuộc về phương diện khách quan của tội phạm:
kẻ phạm tội đã có những hành động ngăn chặn hoặc làm giảm bớt tác hại của tội phạm; tự nguyện bồi thường hoặc sửa chữa thiệt hại đã gây ra; chưa gây tác hại hay tác hại không lớn; phạm tội do ảnh hưởng một phần của hoàn cảnh khách quan
- Những tình tiết giảm nhẹ thuộc về phương diện chủ quan của tội phạm: vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng trong khi ngăn ngừa một hành vi nguy hại cho xã hội; phạm tội vì bị kích động do hành vi bất hợp pháp của người bị hại gây ra; phạm tội vì bị ảnh hưởng của sự đe dọa hoặc sự cưỡng bức, vì bị phụ thuộc về mặt vật chất, công tác hay một mặt nào khác; phạm tội vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn của bản thân hay gia đình
- Những tình tiết giảm nhẹ thuộc về nhân thân người phạm tội: người phạm tội là người chưa thành niên; người phạm tội là phụ nữ có thai; trình độ lạc hậu của người phạm tội; trình độ nghiệp vụ tay nghề non kém; phạm tội nhẹ lần đầu; người phạm tội tự thú; người phạm tội thành khẩn khai báo; người phạm tội lập công chuộc tội hoặc cải tạo tốt; người phạm tội là người có quá trình tốt hoặc là người có công; hoàn cảnh khó khăn đáng kể hiện nay của bản thân người phạm tội hay gia đình họ; gia đình người phạm tội là gia đình tốt, gia đình có công
1.3.2 Giai đoạn từ sau khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 đến pháp điển hóa lần thứ hai - Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999
Trong quá trình thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IV, V, nhân dân
Trang 39ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, đã giành được những thành tựu quan trọng trên một
số lĩnh vực, cải biến được một phần cơ cấu của nền kinh tế - xã hội, tạo ra những cơ
sở đầu tiên cho sự phát triển mới
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đó, chúng ta đã gặp phải nhiều khó khăn và khuyết điểm như chủ quan duy ý chí, duy trì quá lâu mô hình kinh tế quan liêu, bao cấp nên không thực hiện được mục tiêu đã đề ra là ổn định một cách cơ bản tình hình kinh tế - xã hội và đời sống nhân dân Pháp chế xã hội chủ nghĩa chậm được tăng cường; pháp luật, kỷ cương bị buông lỏng Mặt khác, các văn bản quy phạm pháp luật hình sự đơn hành không thể hiện được toàn diện, đầy đủ chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước ta Vì vậy, việc ban hành Bộ luật hình sự là vấn đề có tính tất yếu khách quan và cấp thiết, có ý nghĩa góp phần thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Đáp ứng yêu cầu đó, ngày 27/6/1985, tại kỳ họp thứ 9, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa VII, đã thông qua Bộ luật hình
sự, có hiệu lực từ ngày 01/01/1986 (sau đây gọi tắt là Bộ luật hình sự năm 1985)
Bộ luật hình sự năm 1985 đã kế thừa và phát triển những thành tựu của luật hình
sự Việt Nam, nhất là từ Cách mạng tháng Tám, tổng kết kinh nghiệm đấu tranh phòng, chống tội phạm trong thời gian trước năm 1985 và dự báo được tình hình tội phạm trong thời gian tới
Với sự ra đời của Bộ luật hình sự năm 1985, lần đầu tiên, các căn cứ quyết định hình phạt đã được chính thức quy định Điều 37 bao gồm: các quy định của
Bộ luật này, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ hoặc tăng nặng Trách nhiệm hình
sự Có thể nói, nội dung của Điều 37 chính là sự kế thừa trên cơ sở hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về căn cứ quyết định hình phạt từ năm
1945 đến giai đoạn này Việc quy định căn cứ quyết định hình phạt trong Bộ luật hình sự sẽ đảm bảo cho quyết định hình phạt được thực hiện một cách chính xác
và thống nhất trong cả nước Tuy nhiên, việc nhà làm luật đồng nhất tiêu đề của Điều 37 Bộ luật hình sự năm 1985 “Nguyên tắc quyết định hình phạt” với nội
Trang 40dung của Điều luật “Căn cứ quyết định hình phạt” là chưa thực sự khoa học và chưa chính xác Vì vậy, trong Bộ luật hình sự năm 1999, tiêu đề của Điều 37 Bộ
luật hình sự năm 1985 đã được sửa thành “Căn cứ quyết định hình phạt” cho phù
hợp với nội dung của điều luật
Bộ luật hình sự năm 1985 đã hoàn thiện một số quy định phần chung về hình phạt để các quy định này phù hợp hơn với tình hình tội phạm cũng như tình hình áp dụng luật hình sự, hoàn thiện quy định về tội phạm và hình phạt ở một số tội danh theo hướng định lượng hoá dấu hiệu định tội, phân hoá trách nhiệm hình sự qua việc tách tội danh hoặc cụ thể hoá hơn các tình tiết định khung hình phạt tăng nặng… Những thay đổi này tập trung chủ yếu ở chương các tội xâm phạm sở hữu, chương các tội phạm về kinh tế và chương các tội phạm về chức vụ là các chương tội phạm chịu ảnh hưởng nhiều bởi mặt trái của nền kinh tế thị trường Trong điều kiện của nền kinh tế thị trường, tình hình tội phạm của một số tội thuộc ba nhóm tội này có nhiều thay đổi về mức độ nghiêm trọng Do vậy, việc thay đổi chính sách xử
lí theo hướng tăng nặng là điều cần thiết để đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm Theo đó mức cao nhất của các khung hình phạt ở một số tội thuộc các chương này đã được tăng lên và hình phạt tử hình đã được quy định thêm ở một số tội Sự thay đổi có tính phát triển trên đây của luật hình sự Việt Nam trong giai đoạn
từ 1986 đến 1999 một mặt thể sự hoàn thiện pháp luật hiện hành theo các chuẩn mực của khoa học luật hình sự, mặt khác cũng thể hiện sự vận động phù hợp với tình hình phát triển của xã hội cũng như diễn biến thực tế của tình hình tội phạm Sự thay đổi có tính phát triển này tuy chưa có tính đồng bộ nhưng là hướng phát triển đúng và tiếp tục được duy trì trong giai đoạn tiếp theo