1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các biện pháp tư pháp áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội theo pháp luật hình sự việt nam ( trên cơ sở các số liệu thực tiễn của địa bàn tỉnh hà giang)

107 750 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 1,14 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các luận văn thạc sỹ luật học: 1 Lưu Ngọc Cảnh: Luận văn thạc sỹ luật học: “Các hình phạt và biện pháp tư pháp áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội theo luật hình sự Việt Nam

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: GS.TSKH Lê Văn Cảm

Hà Nội - 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn khoa học của Giáo sư, Tiến sỹ Khoa học Lê Văn Cảm Các số liệu, ví dụ và số liệu trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luận của luận văn chưa từng được ai công

bố trong bất kỳ công trình nào khác

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Đỗ Văn Hùng

Trang 4

1.1.2 Khái niệm người chưa thành niên phạm tội 20 1.1.3 Khái niệm các biện pháp tư pháp áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội 22

1.2 Nguyên tắc xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội 26

1.2.1 Đường lối và chính sách của Đảng và Nhà nước đối với người chưa thành niên phạm tội 26 1.2.2 Các nguyên tắc áp dụng các biện pháp tư pháp đối với người chưa thành niên phạm tội 28 1.3.2 Kinh nghiệm lập pháp về áp dụng các biện pháp thay thế cho hình phạt của một số nước trên thế giới 35

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 41 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ CÁC BIỆN PHÁP TƯ PHÁP ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI 43 2.1 Thực trạng các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam đối với người chưa thành niên phạm tội trước khi ban hành BLHS 1999 và sự ra đời của các biện pháp tư pháp 43

2.1.1 Theo pháp luật của nhà nước phong kiến 43

Trang 5

2.1.2 Theo pháp luật hình sự Việt Nam giai đoạn từ 1945 đến trước khi ban hành Bộ luật Hình sự 1985 44 2.1.3 Những quy định về các biện pháp tư pháp đối với người chưa thành niên phạm tội trong Bộ luật Hình sự 1985 46

2.2 Những quy định về các biện pháp tư pháp áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội theo Bộ luật hình sự 1999 49

2.2.1 Căn cứ áp dụng các biện pháp tư pháp đối với người chưa thành niên phạm tội 50 2.2.2 Thẩm quyền áp dụng các biện pháp tư pháp đối với người chưa thành niên phạm tội 53 2.2.3 Thủ tục thi hành các biện pháp tư pháp đối với người chưa thành niên phạm tội 53

pháp đối với người chưa thành niên phạm tội 56

2.3 Những hạn chế của pháp luật hình sự Việt Nam về các biện pháp tư pháp đối với người chưa thành niên phạm tội 58

2.3.1 Những hạn chế chung về mặt pháp luật đối với cả hai biện pháp tư pháp 59 2.3.2 Những hạn chế riêng về mặt pháp luật đối với từng biện pháp 60

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 68 CHƯƠNG 3: NHỮNG GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP TƯ PHÁP ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 70 3.1 Vài nét về vấn đề người chưa thành niên phạm tội trên địa bàn tỉnh

Hà Giang (giai đoạn 2009 - 2014) 70 3.2 Một số nhận xét về các biện pháp tư pháp đối với người chưa thành niên phạm tội theo pháp luật hình sự Việt Nam 73

Trang 6

3.2.1 Đối với việc áp dụng biện pháp tư pháp giáo dục tại xã, phường, thị

trấn 75

3.2.2 Đối với việc áp dụng biện pháp tư pháp đưa vào trường giáo dưỡng 76

3.2.3 Tồn tại, bất cập trong công tác giải quyết vụ việc về người chưa thành niên tại Tòa án nhân dân 78

3.3 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các biện pháp tư pháp đối với người dưới 18 tuổi phạm tội 80

3.3.1 Hoàn thiện chương XII của BLHS (sửa đổi 2015) về những quy định đối với người dưới 18 tuổi phạm tội 80

3.3.3 Tăng cường các biện pháp giúp người dưới 18 tuổi phạm tội tái hòa nhập cộng đồng 87

3.3.4 Công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật 88

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 90

KẾT LUẬN 92

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 94

Trang 8

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

BLTTHS : Bộ luật tố tụng hình sự LTHAHS : Luật Thi hành án hình sự

XHCN : Xã hội chủ nghĩa

XLVPHC : Xử lý vi phạm hành chính

Trang 9

Điều 37 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Trẻ em được Nhà nước, gia đình và xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục; được tham gia vào các vấn đề về trẻ em Nghiêm cấm xâm hại, hành hạ, ngược đãi, bỏ mặc, lạm dụng, bóc lột sức lao động và những hành vi khác vi phạm quyền trẻ em” [47,tr.3]

Như vậy, ngoài những định chế bảo vệ quyền trẻ em trong quan hệ lao động, quan hệ hôn nhân – gia đình, Hiến pháp năm 2013 còn xác lập lập cơ chế bảo hộ và bảo đảm hầu hết các quan hệ xã hội là các quyền của trẻ em phải được toàn thể xã hội chăm lo, bảo vệ; được sống trong môi trường phù hợp để phát triển, được học tập, rèn luyện

Tuy nhiên trong những năm gần đây, tình hình trẻ em phạm tội ngày càng diễn biến phức tạp, có chiều hướng gia tăng về số lượng và tính chất nguy hiểm của hành vi Chính vì vậy bảo vệ trẻ em đã trở thành vấn đề cấp thiết và được cả xã hội quan tâm Ở phương diện pháp lý, để tăng cường hiệu quả công tác đấu tranh phòng chống tội phạm người chưa thành niên, việc tổng kết thực tiễn và phát hiện những vướng mắc, bất cập trong các quy định của Bộ luật hình sự liên quan đến người chưa thành niên phạm tội là một yêu cầu đòi hỏi đang được đặt ra hiện nay Theo quy định của Bộ luật hình sự, mục đích của việc xử lý người chưa thành niên phạm tội chủ yếu nhằm giáo

Trang 10

Người chưa thành niên nói chung trong hầu hết các trường hợp đều chưa có đầy đủ quyền công dân tham gia vào những quan hệ xã hội được điều chỉnh bởi quy phạm pháp luật, nhưng tùy thuộc vào từng cấp độ tuổi, họ có thể được pháp luật thừa nhận năng lực hành vi trong một số quan hệ xã hội có điều kiện nhất định Nhưng các em lại dễ bị lợi dụng, xúi giục, hoặc bị lừa dối

để tham gia vào những việc làm trái pháp luật hoặc bị buộc trở thành nạn nhân của sự phân biết đối xử, ngược đãi, bóc lột, xúc phạm nhân phẩm và những hành vi trái pháp luật khác

Pháp luật nói chung và pháp luật hình sự nói riêng phải luôn coi người chưa thành niên là đối tượng đặc biệt cần được bảo vệ không chỉ trong cuộc sống hằng ngày mà ngay cả khi đối tượng này vi phạm pháp luật Luật hình

sự cần phải quy định những biện pháp chế tài riêng để xử lý, thủ tục tố tụng cũng phải phù hợp với lứa tuổi chưa thành niên nhằm thể hiện tính nhân đạo trong chính sách của Nhà nước Tuy nhiên, chế tài đó cũng cần đủ mạnh để có sức răn đe, phòng ngừa việc tội phạm chưa thành niên đó tái phạm cũng như có sức răn đe đối với cộng đồng Tuy không áp dụng hình phạt tù chung thân và tử hình đối với người chưa thành niên phạm tội nhưng một số chế tài cần thiết khác vẫn được áp dụng như: cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ và tù có thời hạn…

Trang 11

3

Tóm lại, mục tiêu hàng đầu của hệ thống tư pháp người chưa thành niên và của các hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội là nhằm: 1) phòng ngừa tội phạm là người chưa thành niên, đồng thời 2) phục hồi và tái hòa nhập cho họ Để làm được điều đó, việc xử lý đối với mỗi người chưa thành niên phạm tội phải phù hợp với hoàn cảnh riêng của từng người cũng như tương xứng với những thiệt hại cho hành vi vi phạm gây ra Trong trường hợp này, sự phù hợp có nghĩa là hình phạt phải phản ánh hoàn cảnh của người chưa thành niên và hoàn cảnh phạm tội cũng như tính chất của tội phạm chứ không chỉ cân nhắc mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội Khi cân nhắc cách thức xử lý một tội phạm hoặc một hành vi bị cho là tội phạm cũng cần cân nhắc vấn đề an sinh của người chưa thành niên đó ở mọi thời điểm, đặc biệt phải cân nhắc xem người đó có nhu cầu đặc biệt hay khả năng bị tổn thương nào không Bộ luật hình sự 1999 quy định nguyên tắc xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội tại Điều 69 đã khẳng định việc xử lý người chưa thành niên phạm tội chủ yếu nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội; điều này thể hiện sự nhân đạo của hệ thống pháp luật nước ta nói chung, chính sách hình sự nói riêng

Do đó, khi quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội phải tuân theo những nguyên tắc nhất định Người chưa thành niên phạm tội thì hình phạt được quyết định nhẹ hơn so với người đã thành niên phạm tội

có các tình tiết khác tương đương Khi quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên cần phải cân nhắc đến các đặc điểm về tâm sinh lý, các yếu tố gia đình và xã hội để đưa ra những phán quyết xác đáng nhằm bảo đảm quyền con người của người chưa thành niên phạm tội Ngay cả khi người chưa thành niên phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự thì họ vẫn có khả năng không

Trang 12

4

bị áp dụng hình phạt Như vậy, có thể nói việc truy cứu trách nhiệm hình sự

và áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên là biện pháp cuối cùng Thay vào đó là các biện pháp tư pháp nếu như các biện pháp này có đủ tác dụng cải tạo họ thành công dân có ích Các biện pháp tư pháp áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội được quy định tại Điều 70 Chương X Bộ luật hình sự năm 1999:

“1 Đối với người chưa thành niên phạm tội, Tòa án có thể quyết định áp dụng một trong các biện pháp tư pháp có tính giáo dục, phòng ngừa sau đây:

a) Giáo dục tại xã, phường, thị trấn;

b) Đưa vào trường giáo dưỡng”

Qua nghiên cứu trong những năm gần đây, tỷ lệ người chưa thành niên phạm tội được đưa ra xét xử ít hơn rất nhiều so với người chưa thành niên vi phạm pháp luật bị phát hiện Mặc dù vậy, hình phạt tù có thời hạn, dù là chế tài nghiêm khắc nhất vì liên quan đến việc tước quyền tự do của người chưa thành niên phạm tội, song lại là biện pháp được áp dụng nhiều nhất Các biện pháp không tước quyền tự do của người chưa thành niên phạm tội được áp dụng rất hạn chế; đặc biệt là hiệu quả áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn là thấp; thực tế áp dụng biện pháp này cho thấy hầu hết những người chưa thành niên vi phạm pháp luật đều thuộc các gia đình có hoàn cảnh đặc biệt hoặc đã bỏ học nên việc thực hiện biện pháp giáo dục tại cộng đồng đối với những người này gặp khó khăn vì không có gia đình hay nhà trường hỗ trợ trong quá trình thực hiện Cũng chính vì lý do này, nên trong quá trình xử lý người chưa thành niên phạm tội, có trường hợp Thẩm phán sử dụng biện pháp cảnh cáo thay vì áp dụng biện pháp này

Thêm vào đó, chưa có hướng dẫn chính thức nào về biện pháp giáo dục hay giám sát tại cộng đồng dẫn đến khó khăn trong việc xác định trách nhiệm

Trang 13

5

và phương thức giám sát giáo dục Các nguồn lực nói chung, kể cả nguồn nhân lực để thực hiện giám sát và giáo dục còn thiếu Do đó, có trường hợp việc giám sát chỉ bao gồm đến gặp người chưa thành niên phạm tội mỗi tháng một lần, yêu cầu viết tường trình thừa nhận hành vi phạm tội, ngoài ra không

có gì hơn Mặc dù biện pháp giáo dục hay giám sát cộng đồng là một biện pháp lý tưởng để khuyến khích sự phục hồi và tái hòa nhập vào cộng đồng, song nó sẽ không phải là một biện pháp có hiệu quả nếu không thực hiện tốt các chương trình và dịch vụ dành cho người chưa thành niên

Trên cơ sở thực tiễn xét xử các vụ án người chưa thành niên phạm tội trên địa bàn cả nước và trong địa bàn tỉnh Hà Giang (2009 - 2014), tác giả nghiên cứu một số vấn đề về các biện pháp tư pháp đối với người chưa thành niên phạm tội, tìm giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật hình sự và giải pháp

về mặt thực tiễn nhằm góp phần phòng, chống tội phạm người chưa thành niên, bảo đảm an ninh trật tự, an toàn xã hội Đây cũng là lý do để học viên

quyết định lựa chọn đề tài: "Các biện pháp tư pháp áp dụng đối với người

chưa thành niên phạm tội theo pháp luật hình sự Việt Nam (Trên cơ sở các

số liệu thực tiễn của địa bàn tỉnh Hà Giang)" làm đề tài luận văn của mình

2 Tình hình nghiên cứu

Vấn đề tư pháp người chưa thành niên đã được nghiên cứu ở những mức

độ khác nhau trong các công trình khoa học sau đây:

2.1 Các bài viết đăng trên Tạp chí và sách chuyên khảo:

1) TSKH-PGS Lê Cảm và ThS Đỗ Thị Phượng: Tư pháp hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội, những khía cạnh tội phạm học - Tạp chí Tòa án nhân dân, số 22/2004;

2) TS Phạm Hồng Hải: Các biện pháp tư pháp trong Bộ luật hình sự năm 1999 và vấn đề hoàn thiện Bộ luật tố tụng hình sự về trình tự, thủ tục áp

Trang 14

5) Chí Hiếu: Các biện pháp tư pháp đối với người chưa thành niên phạm tội - Tạp chí khoa học xét xử, số 3/2006;

6) Đỗ Thị Phượng và Bùi Đức Lợi: Đề tài nghiên cứu cấp Trường Đại học Quốc gia Hà Nội: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về tư pháp hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội, Hà Nội năm 2005;

7) Minh Quân: Thực tiễn xét xử vụ án hình sự đối với bị cáo là người chưa thành niên - Tạp chí khoa học xét xử, số 3/2006;

8) Hồ Sỹ Sơn: Thi hành các biện pháp tư pháp không phải là hình phạt - Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 4/2004;

9) Trịnh Đình Thể: Áp dụng chính sách hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội - Nxb Tư pháp, Hà Nội 2006;

10) Nguyễn Tùng: Trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội - Tạp chí khoa học xét xử, số 3/2006;

11) TS Trần Quang Tiệp: Vai trò của gia đình trong việc thi hành các hình phạt không tước tự do và các biện pháp tư pháp - Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 2/2004;

12) TS Trịnh Tiến Việt: Những khía cạnh pháp lý hình sự về các hình phạt và biện pháp tư pháp áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội - Tạp chí Tòa án nhân dân, số 13-14/2010

Trang 15

7

13) Viện khoa học pháp lý – Bộ tư pháp: Tăng cường năng lực hệ thống

tư pháp người chưa thành niên tại Việt Nam - Thông tin khoa học chuyên đề, năm 2000;

14) Tài liệu là sách tham khảo của tác giả PGS.TS Trịnh Quốc Toản: Tội

phạm do người chưa thành niên thực hiện trên địa bàn thành phố Hà Nội –

Thực trạng và giải pháp, Nxb Công an nhân dân, 2007;

Đặc biệt trong những năm gần đây (2010 – 2015), ở các mức độ nghiên cứu khác nhau về lĩnh vực tư pháp hình sự đã có các công trình, bài viết như:

1) Lưu Hoài Bảo, Một số giải pháp phòng chống tội phạm do người chưa

thành niên thực hiện, Tạp chí Kiểm sát, số 14/2014

2) Nguyễn Lai Bình, Vai trò của Nhà trường trong phòng ngừa tội phạm

do người chưa thành niên gây ra trên địa bàn tỉnh Điện Biên, Tạp chí Kiểm sát,

số 09/2012

3) Hồng Phong Minh, Thành lập “Tòa Gia đình và người chưa thành niên”-một phương thức thực hiện nguyên tắc hiến định và đáp ứng yêu cầu

thực tiễn, Tạp chí Tòa án nhân dân số 09/2014

4) Nguyễn Đức Mai, Các yêu cầu đặt ra đối với việc thành lập Tòa án

người chưa thành niên, Tạp chí Tòa án, số 16/2014

5) Phạm Thị Thanh Nga, Thực thi Công ước Quyền trẻ em ở Việt Nam:

Tuổi chịu trách nhiệm hình sự và chế tài đối với người chưa thành niên phạm tội, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 18 (274) T9/2014

6) Lại Viết Quang, Nâng cao hiệu quả hoạt động của Viện Kiểm sát trong giai đoạn điều tra vụ án cố ý gây thương tích do người chưa thành niên gây ra,

Tạp chí Kiểm sát, số 05/2015

7) Lương Ngọc Trâm, Hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự về hình phạt áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội, Tạp chí Tòa án, số

19/2014

Trang 16

8

8) ThS Phạm Anh Tuyên, Các biện pháp thay thế xử lý hình sự đối với

người chưa thành niên phạm tội, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Số chuyên đề,

2.2 Các luận văn thạc sỹ luật học:

1) Lưu Ngọc Cảnh: Luận văn thạc sỹ luật học: “Các hình phạt và biện pháp tư pháp áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội theo luật hình sự Việt Nam (Trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn địa bàn thành phố Hà Nội)”, Khoa Luật-Trường Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2010;

2) Lê Ngọc Duy: Luận văn Thạc sỹ luật học: “Miễn trách nhiệm hình

sự đối với người chưa thành niên phạm tội theo luật hình sự Việt Nam”, Khoa Luật-Trường Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2012;

3) Nguyễn Thị Tố Nga: Luận văn Thạc sỹ luật học: “Các biện pháp tư pháp áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội theo quy định của pháp luật hình sự”, Khoa Luật-Trường Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2011;

Qua nghiên cứu danh mục đề tài luận văn thạc sỹ của Trường Đại học Quốc gia Hà Nội, có các đề tài liên quan đến người chưa thành niên phạm tội như: 1) Các hình phạt và biện pháp tư pháp áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội theo luật hình sự Việt Nam (Trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn địa bàn thành phố Hà Nội); 2) Tội vi phạm các quy định về sử dụng lao động trẻ

Trang 17

9

em trong luật hình sự Việt Nam; 3)Các hình phạt áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội trên địa bàn tỉnh Hà Nam; 4) Các nguyên tắc xử lý người chưa thành niên phạm tội trong Luật hình sự Việt Nam; 5) Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội; 6) Xét xử vụ

án có bị cáo là người chưa thành niên theo luật tố tụng hình sự Việt Nam; 7) Đối tượng chứng minh trong vụ án hình sự mà bị can, bị cáo là người chưa thành niên; 8) Chứng minh trong vụ án hình sự mà bị can, bị cáo là người chưa thành niên (trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn địa bàn tỉnh Cao Bằng); 9) Các biện pháp ngăn chặn đối với người chưa thành niên phạm tội (trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn địa bàn tỉnh Hải Dương); 10) Hoàn thiện địa vị pháp lý của bị can, bị cáo là người chưa thành niên trong tố tụng hình sự Việt Nam; 11) Các biện pháp ngăn chặn đối với bị can, bị cáo là người chưa thành niên phạm tội trong luật tố tụng hình sự Việt Nam (Trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Đắk Lắk); 12) Quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội theo luật hình sự Việt Nam (Trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Đắk Lắk)

Tác giải nhận thấy: Do phạm vi và mục đích, các công trình trên chưa đi sâu vào các biện pháp tư pháp áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội, về phương diện nghiên cứu lý luận chuyên sâu và thực tiễn áp dụng trên một địa bàn

cụ thể thì vẫn chưa được quan tâm một cách đúng mức và không trùng với đề tài

mà học viên nghiên cứu Tình hình nghiên cứu và các công trình tiêu biểu trên là tư liệu quan trọng để học viên kế thừa nghiên cứu trong luận văn của mình

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:

3.1 Mục đích nghiên cứu: làm sang tỏ về mặt lý luận và những nội

dung cơ bản của hệ thống biện pháp tư pháp áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội theo pháp luật hình sự Việt Nam trên cơ sở đó đề xuất, kiến nghị hoàn thiện các quy định về biện pháp tư pháp đối với người chưa thành niên phạm tội và những giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các biện

Trang 18

10

pháp tư pháp đối với người chưa thành niên phạm tội theo pháp luật hình sự Việt Nam

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu: làm rõ khái niệm, dấu hiệu (đặc điểm) cơ

bản của biện pháp tư pháp áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội;

so sánh với một số biện pháp xử lý chuyển hướng đối với người chưa thành niên phạm tội của một số nước trên thế giới

Phân tích về trình tự, thủ tục, thẩm quyền áp dụng các biện pháp tư đối với người chưa thành niên phạm tội, làm rõ những hạn chế chung của các biện pháp tư pháp và những hạn chế riêng của từng biện pháp tư pháp áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội

Đề xuất hoàn thiện các biện pháp tư pháp áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu: Đúng như tên gọi của luận văn: Các biện pháp tư pháp áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội theo pháp luật hình sự Việt Nam (Trên cơ sở số liệu thực tiễn của địa bàn tỉnh Hà Giang),

giai đoạn 2009 - 2014

4.2 Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu Một số vấn đề lý luận

và thực tiễn về các biện pháp tư pháp áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội trong Phần chung (Chương VI, Chương X) của BLHS Việt Nam hiện hành Trên cơ sở các số liệu thực tiễn truy tố, xét xử giai đoạn 2009 -

2014 của các cơ quan tiến hành tố tụng tỉnh Hà Giang

5 Cơ sở phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở phương pháp luận: Luận văn nghiên cứu dựa vào cơ sở

phương pháp luận là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về pháp luật, về đấu tranh phòng chống tội phạm và trên cơ sở chính sách hình sự của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Trang 19

11

5.2 Phương pháp luận của việc nghiên cứu: Luận văn được nghiên cứu

trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử;

Trong quá trình thực hiện đề tài, học viên sử dụng các phương pháp: tổng hợp, phân tích, so sánh, thống kê, logic, tham khảo ý kiến các chuyên gia

và các cán bộ làm công tác thực tiễn…

7 Ý nghĩa của Luận văn:

5.1 Phân tích một cách tương đối cụ thể, tương đối toàn diện một số vấn đề lý luận nội dung các biện pháp tư pháp áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội trong Phần chung của pháp luật hình sự Việt Nam;

5.2 Trình bày khái quát nội dung các biện pháp tư pháp áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội một cách hệ thống theo lịch sử từ sau cách mạng tháng tám năm 1945 đến nay; Qua đó làm rõ các vấn đề về lý luận trong khoa học pháp lý gắn với thực tiễn áp dụng sinh động nhằm bổ sung, hoàn thiện các quy định của Bộ luật hình sự hiện hành về biện pháp tư pháp

áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội;

5.3 So sánh, đối chiếu một số nét cơ bản có chứa đựng các nội dung về quyền của người chưa thành niên vi phạm pháp luật và những biện pháp bảo

vệ thích hợp đối với họ trong quá trình vận dụng của hệ thống tư pháp đối với người chưa thành niên của một số Quốc gia trên thế giới;

5.4 Trên cơ sở kết quả các số liệu đã được một số công trình khoa học thống kê, số liệu của các cơ quan tiến hành tố tụng của trung ương và tỉnh Hà Giang tổng kết, thể hiện trong báo cáo và một số bản án có hiệu lực pháp luật của Tòa án hai cấp trong tỉnh; nghiên cứu đánh giá tổng quát thực tiễn kinh nghiệm, rút ra những tồn tại, hạn chế, nguyên nhân của tồn tại và hạn chế trong việc áp dụng các biện pháp tư pháp đối với người chưa thành niên phạm tội trong Phần chung của Bộ luật hình sự Việt Nam; đồng thời nêu lên một số

Trang 20

12

kiến nghị, giải pháp nhằm thực hiện tốt hơn, mang lại hiệu quả cao hơn việc

áp dụng các biện pháp tư pháp đối với người chưa thành niên phạm tội, phù hợp với Hiến pháp sửa đổi năm 2013;

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của Luận văn gồm 03 chương:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về các biện pháp tư pháp đối với

người chưa thành niên phạm tội

Chương 2: Thực trạng các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về

các biện pháp tư pháp áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội

Chương 3: Những giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các biện

pháp tư pháp đối với người chưa thành niên phạm tội theo pháp luật hình

sự Việt Nam

Trang 21

13

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÁC BIỆN PHÁP TƯ PHÁP ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI

Đối với người chưa thành niên, ngoài việc bị áp dụng các hình phạt về những tội đã phạm, có thể chỉ bị áp dụng các biện pháp tư pháp, hay cũng chính là các biện pháp ít nghiêm khắc hơn, nhằm thực hiện các nguyên tắc xử

lý người chưa thành niên phạm tội cũng như thực hiện được mục đích giáo dục, giúp đỡ họ Để làm rõ những nguyên nhân khiến người chưa thành niên phạm tội nhận được sự đối xử đặc biệt này, theo tác giả, cần làm rõ các khái niệm “người chưa thành niên”, “người chưa thành niên phạm tội”, “biện pháp

tư pháp” cũng như phân tích đặc điểm của người chưa thành niên phạm tội Bên cạnh đó, theo tác giả, việc nghiên cứu học tập kinh nghiệm của các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia có những điều kiện tương đồng để hoàn thiện hệ thống biện pháp tư pháp về người chưa thành niên là rất cần thiết

1.1 Khái niệm người chưa thành niên phạm tội

1.1.1 Khái niệm người chưa thành niên

Tại Điều 1, Công ước quốc tế về quyền trẻ em quy định: “Trong phạm

vi của Công ước này, trẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng đối với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn”

Như vậy, khái niệm người chưa thành niên được xác định khác nhau tuỳ vào điều kiện của mỗi một quốc gia Một cách khái quát nhất, “người chưa thành niên” được hiểu là những người chưa hoàn toàn phát triển đầy đủ

về thể chất, tinh thần, tâm sinh lý và nhân cách, chưa có đầy đủ quyền lợi và nghĩa vụ của công dân [58,tr.10]

Ở Việt Nam, độ tuổi của người chưa thành niên đã được xác định trong nhiều văn bản pháp luật Các văn bản pháp luật này đều quy định tuổi của người

Trang 22

hoà XHCN Việt Nam chỉ rõ: “người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới

18 tuổi phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự theo những quy định của Chương này, đồng thời theo những quy định khác của phần chung Bộ luật không trái với những quy định của Chương này” [43]

Điều 18 BLDS 2005 quy định: “người từ đủ 18 tuổi trở lên là người

thành niên Người chưa đủ 18 tuổi là người chưa thành niên” Điều 161 Bộ

luật Lao động năm 2012 cũng quy định: “người lao động chưa thành niên là

người lao động dưới 18 tuổi” Tuy nhiên, khi nói về khái niệm trẻ em, Điều1

Luật Bảo vệ, Chăm sóc vài Giáo dục trẻ em năm 2004 quy định: “Trẻ em là

công dân Việt Nam dưới 16 tuổi” Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 quy

định người chưa thành niên thuộc đối tượng bị xử lý vi phạm hành chính bao gồm: người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi trở lên bị xử phạt hành chính nếu vi phạm hành chính do lỗi cố ý Người từ đủ 16 tuổi trở lên bị

xử phạt vi phạm hành chính về mọi vi phạm hành chính do mình gây ra [1,tr.21]

Như vậy, trên thực tế, hiện nay có rất nhiều các quy định khác nhau trong hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật, khi áp dụng tuổi được coi là người chưa thành niên, trẻ em Tuy nhiên, mỗi văn bản quy phạm pháp luật lại có những phạm vi điều chỉnh riêng phù hợp với từng lĩnh vực của đời sống

xã hội

Có thể hiểu một cách khái quát về khái niệm người chưa thành niên

như sau: Người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi, chưa phát triển hoàn

Trang 23

15

thiện về thể chất, tinh thần, tâm sinh lý và nhân cách, chưa có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ pháp lý như người đã thành niên

- Đặc điểm phát triển cuả người chưa thành niên

Đặc điểm phát triển của người chưa thành niên được thể hiện ở đặc điểm phát triển về thể chất, tâm lý và nhân cách của người chưa thành niên

Sự phát triển này ảnh hưởng đến năng lực nhận thức ý nghĩa xã hội của hành

vi cũng như ảnh hưởng đến năng lực điều khiển hành vi theo những đòi hỏi của xã hội của người chưa thành niên

Ở những độ tuổi khác nhau, năng lực trên có mức độ phát triển khác nhau Khoa học đã chứng minh, con người sinh ra vốn đã có cơ sở để phát triển ý thức, đó là bộ não người Trong bản thân mỗi con người phát triển bình thường, đã chứa đựng khuynh hướng hình thành và phát triển khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi của họ

Nhưng không phải từ khi sinh ra con người đã có nhận thức toàn diện

về tự nhiên, về xã hội và về chính mình Khả năng nhận thức được những đòi hỏi của xã hội không tồn tại một cách bẩm sinh trong mỗi con người, mà là kết quả của quá trình sống, quá trình hoạt động giao tiếp trong môi trường xã hội, với một khoảng thời gian nhất định Trong môi trường đó con người được hoạt động, được giao tiếp, được giáo dục, được giao lưu với bạn bè, thầy cô, các thế hệ đi trước, trên cơ sở tiếp thu những tri thức và những kinh nghiệm sống, năng lực nhận thức được những đòi hỏi của xã hội mới dần được hình thành và phát triển Khi khả năng nhận thức những đòi hỏi của xã hội của con người đạt đến một giới hạn nhất định, thì họ mới hiểu được quyền và nghĩa vụ của mình trong cuộc sống xã hội, mới thấy được những đòi hỏi của xã hội đối với chính bản thân họ Từ đó mới có thể đánh giá được ý nghĩa xã hội của hành vi mà mình thực hiện

Trang 24

16

Để đánh giá được một cách đầy đủ về quá trình phát triển khả năng nhận thức này, các chuyên gia nghiên cứu về tâm lý trẻ vị thành niên đã đưa

ra bản tổng quan hình thành và phát triển nhân cách con người

BẢN TỔNG QUAN SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NHÂN

CÁCH CON NGƯỜI [21, tr.82]

Lứa tuổi

Hoạt động chủ đạo Đặc trưng tâm lý

Nét “trội” trong mục tiêu cần chú

- Lĩnh hội nền tảng của tri thức

và phương pháp, công cụ nhận thức

- Ham tìm tòi khám phá

- Hiếu động

- Phương pháp học tập và phẩm chất trí tuệ

- “Lẽ phải”

- Sử dụng công cụ nhận thức phổ thông Thiếu niên

từ 11-12

tuổi đến

14-15 tuổi

Học tập giao lưu

“nhóm bạn thân”

- Dậy thì

- Quan hệ tâm tình bạn bè

- “Cải tổ” nhân cách và định hình bản ngã

- Muốn được đối xử như người lớn

- Mất thăng bằng tâm lý

- Xây dựng nhóm bạn bè tốt

xã hội nghề nghiệp

- Hoàn thành thế giới quan

- Định hướng chuẩn bị nghề nghiệp

- Ham hoạt động xã hội

- Tình bạn thân và mối tình đầu

- Ý thức công dân

- Ý thức nghề nghiệp

- Hoài bão xã hội

- Tình bạn, tình yêu

Qua kết quả nghiên cứu trên cho thấy, ở Việt Nam độ tuổi 14 là độ tuổi bắt đầu của thời kỳ thanh xuân Ở độ tuổi này, con người bắt đầu hình thành

Trang 25

17

thế giới quan như bắt đầu có những nhìn nhận đánh giá về gia đình, xã hội; bắt đầu xuất hiện những quan niệm cá nhân về những vấn đề xung quanh Ở giai đoạn phát triển này, con người đã bước đầu có ý thức về nghề nghiệp, ý thức về chính bản thân mình và đã có hiểu biết về trách nhiệm và nghĩa vụ của mình đối với xã hội Họ có thể hiểu được một số vấn đề mà pháp luật ngăn cấm hay cho phép, hiểu được cái gì nên làm, cái gì không được làm

Đây là giai đoạn mà người chưa thành niên đạt dần đến sự chín muồi về giới tính Nếu như ở thời kỳ nhỏ tuổi, các cơ quan sinh dục có sự thay đổi không nhiều, thì trong giai đoạn vị thành niên, các cơ quan sinh dục có nhiều

sự thay đổi Trẻ em gái dậy thì sớm hơn trẻ em trai từ 2 đến 3 tuổi Trẻ em gái dậy thì ở độ tuổi 11 - 14, trẻ em trai dậy thì từ 13 - 16 tuổi Sự phát triển của các cơ quan sinh dục dẫn tới sự ham muốn tình dục, song lại có những ràng buộc rất nghiêm ngặt, chi phối ứng xử tình dục của người chưa thành niên Mặc dù có sự chín muồi về chức năng sinh lý, nhưng người chưa thành niên chưa chín muồi về cảm xúc xã hội [2,tr.25]

Ở độ tuổi này, năng lực tư duy trừu tượng cũng phát triển Năng lực trí tuệ cũng tiếp tục phát triển và hoàn thiện Do đó ở tuổi vị thành niên, trẻ bắt đầu có suy nghĩ về hướng nghiệp nghề nghiệp một cách hiện thực

Trong mối tương quan với sự phát triển về sinh lý, về thể chất, về tâm

lý của người chưa thành niên đã dẫn đến một thực tế: trong giai đoạn này, xảy

ra tình trạng mất cân đối nghiêm trọng về mức độ và nhịp độ của sự phát triển

bị chế ước chủ yếu bởi sinh học Vì vậy, người ta thường nói đây là giai đoạn

“khủng hoảng” của sự phát triển tâm lý con người [48,tr.192] Giai đoạn vị

thành niên là giai đoạn thích nghi khó khăn nhất trong cả cuộc đời con người Giai đoạn trước đó, đứa trẻ sống thoải mái, nhưng đến tuổi vị thành niên, họ

đã bắt đầu có ý thức về mình, có mối quan hệ phong phú với người xung

Trang 26

18

quanh Họ cố gắng tách rời cha mẹ hoặc người lớn tuổi Họ muốn khẳng định mình, muốn tự lập, muốn hành động như người lớn Trẻ đòi hỏi được tôn trọng từ phía cha mẹ hoặc những người xung quanh Họ rất dễ bị tổn thương cảm xúc nếu bị xúc phạm tới lòng tự trọng

Theo PGS.TS Trịnh Quốc Toản: Người chưa thành niên là người chưa phát triển đầy đủ về thể chất và tâm sinh lý Hoàn cảnh và mức độ phát triển của từng người là khác nhau Nhưng nói chung đây là thời kỳ chuyển tiếp từ lứa tuổi trẻ em sang lứa tuổi người lớn Người chưa thành niên không còn thỏa mãn với vai trò thụ động của người được giáo dục, được dạy dỗ mà đã bắt đầu hình thành ý thức độc lập trong việc quyết định cuộc sống riêng của mình Người chưa thành niên có những đặc điểm riêng về tâm sinh lý mà thông thường và phổ biến là nồng nhiệt, hành động thường bồng bột, xốc nổi, nhẹ dạ, thiếu kinh nghiệm sống, dễ va vấp Sự hiểu biết về pháp luật rất hạn chế, nông cạn, thiếu chính xác, phiến diện và thiếu hệ thống Sự hiểu biết của

họ về các mặt của cuộc sống xã hội chưa đủ để có thể lựa chọn và quyết định cách xử sự phù hợp với chuẩn mực của xã hội [58, tr.12]

Do sự phát triển không đồng đều giữa sự trưởng thành nhanh về cơ thể

và sự chín muồi về sinh dục với sự phát triển từng bước về cảm xúc xã hội, dẫn đến dưới góc độ tâm lý, cảm xúc của người chưa thành niên thường xuyên căng thẳng, dễ xúc động, hoang mang, lo lắng, dễ trầm cảm Trong những trạng thái tâm lý như vậy, đòi hỏi người xung quanh phải nắm chắc đặc điểm tâm lý này để có những tác động kịp thời Đây là cơ sở khoa học quan trọng để quy định mục đích giáo dục là chính của hướng xử lý người chưa thành niên phạm tội

Trong quá trình phát triển nhân cách của mình, nhân cách của người chưa thành niên đã định hình nhưng chưa ổn định [48, tr.197] Người chưa

Trang 27

19

thành niên chưa thể cùng một lúc nhận thức được một cách toàn diện và đầy

đủ ý nghĩa xã hội của hành vi mà mình thực hiện

Ở độ tuổi này, người chưa thành niên tự cho mình quyền tự do, nhưng đôi khi lại tự do hành động một cách tuỳ tiện Người chưa thành niên đang muốn trở thành người lớn để được hành động một cách tự do nhưng lại chưa nhận thức được rằng muốn được tự do thì phải hành động theo một khuôn khổ nhất định, theo đúng pháp luật, phù hợp với phong tục tập quán và truyền thống của dân tộc Có nghĩa là họ phải hành động theo đúng chuẩn mực mà

xã hội đòi hỏi Người chưa thành niên không nhận thức được rằng, sự tuỳ tiện

vô kỷ luật là đã vi phạm pháp luật và do đó họ bị mất tự do

Lý do của sự lệch chuẩn trong nhận thức của người chưa thành niên phạm tội đối với đòi hỏi của xã hội có nhiều, nhưng điều quan trọng hơn cả là

sự thiếu thông tin, hoặc chưa được giáo dục đầy đủ Thực tiễn cho thấy, có khả năng người chưa thành niên phạm tội không chấp nhận một số chuẩn mực

xã hội vì cảm thấy xa lạ với niềm tin và kinh nghiệm của chúng Thậm chí họ còn coi thường bất chấp những chuẩn mực đã được mọi người thừa nhận mà những chuẩn mực này có thể đã được pháp luật hoá [21,tr.17]

Như vậy, sự phát triển chưa đầy đủ nhân cách của người chưa thành niên

đã dẫn đến một thực tế là, họ không biết, hiểu sai hoặc không chấp nhận các chuẩn mực xã hội hiện hành Do vậy, người chưa thành niên rất dễ thực hiện hành vi phạm tội Đây là cơ sở khoa học để quy định mục đích giáo dục là chính của việc xử lý người chưa thành niên phạm tội trong khoa học hình sự

Tóm lại, các đặc điểm phát triển của người chưa thành niên có ảnh hưởng rất lớn đến năng lực nhận thức ý nghĩa xã hội của hành vi cũng như năng lực điều khiển hành vi theo những đòi hỏi của xã hội của bản thân người chưa thành niên, đồng thời cũng ảnh hưởng rất lớn đến quá trình hình thành

Trang 28

20

và phát triển nhân cách của người chưa thành niên Chính những đặc điểm tâm lý: hăng hái, sôi nổi, tò mò, muốn thể hiện mình là người lớn, nhưng lại

dễ cáu giận… đã làm cho năng lực điều khiển hành vi theo những đòi hỏi của

xã hội của người chưa thành niên thời kỳ này rất yếu nên hay bị tác động bởi các yếu tố bên ngoài

Từ sự phân tích các đặc điểm phát triển của lứa tuổi vị thành niên, cho phép chúng ta khẳng định: việc xử lý trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên khi họ thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự coi

là tội phạm là có cơ sở và cần thiết Khi ở một độ tuổi nhất định, người chưa thành niên đã có khả năng nhận thức được ý nghĩa xã hội của hành vi của mình và có khả năng điều khiển hành vi ấy phù hợp đối với đòi hỏi của xã hội Nhưng chúng ta cũng phải thấy rằng, chính đặc điểm phát triển tâm lý không ổn định của người chưa thành niên, một mặt nó làm cho người chưa thành niên rất dễ bị lôi kéo vào con đường phạm tội, nhưng mặt khác những phẩm chất tâm lý tiêu cực đó tuy đã được hình thành ở người chưa thành niên phạm tội nhưng không có tính bền vững, do vậy khả năng cải tạo người chưa thành niên phạm tội thành công dân có ích cho xã hội có thể đạt được hiệu quả cao hơn Đây là cơ sở để các nhà lập pháp quy định tính chất giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên phạm tội, áp dụng những biện pháp xử lý người chưa thành niên phạm tội theo hướng giáo dục là chính

1.1.2 Khái niệm người chưa thành niên phạm tội

Cho đến nay, trong các văn bản pháp luật hình sự của nước ta vẫn chưa

có một khái niệm chính thức nào về “người chưa thành niên phạm tội”

Trong Luật hình sự Việt Nam giai đoạn sau năm 1945 đến trước khi BLHS năm 1985 có hiệu lực, mới chỉ có định nghĩa về “người vị thành niên”, bên cạnh đó là quy định về giới hạn tuổi chịu trách nhiệm hình sự Theo đó,

“người vị thành niên được hiểu là con trai hay con gái chưa đủ 18 tuổi” [23,

Trang 29

21

tr.10] Theo hướng dẫn thực hiện Chỉ thị số 46 – TH ngày 14/01/1969 của

Toà án nhân dân Tối cao và Báo cáo tổng kết 4 năm 1965 – 1968 của Toà án

nhân dân Tối cao đã xác định độ tuổi bắt đầu phải chịu trách nhiệm hình sự là

từ 14 tuổi [16,tr.12-20] Như vậy, có thể hiểu người chưa thành niên phạm tội

theo quy định của pháp luật hình sự Việt Nam trước khi BLHS 1985 có hiệu lực là những người từ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi thực hiện hành vi vi phạm pháp luật hình sự bị coi là tội phạm và phải chịu trách nhiệm hình sự theo các quy định của pháp luật

Trong luật hình sự giai đoạn từ khi BLHS năm 1985 có hiệu lực tới trước khi BLHS năm 1999 có hiệu lực, mặc dù trong BLHS năm 1985 không

có điều luật nào trực tiếp ghi nhận khái niệm “người chưa thành niên phạm tội” Tuy nhiên, thông qua một số quy định tại các điều luật, chẳng hạn như Điều 58 về tuổi chịu trách nhiệm hình sự, Điều 64, 65 về quyết định hình phạt

tù có thời hạn đối với người chưa thành niên, có thể đưa ra khái niệm về người chưa thành niên phạm tội Theo đó, người chưa thành niên phạm tội là người từ đủ 14 đến dưới 18 tuổi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được BLHS quy định là tội phạm Người chưa thành niên phạm tội thì bị xử lý hình

sự nhẹ hơn so với người đã thành niên

Trong BLHS năm 1999 đề cập người chưa thành niên dưới hai phương diện Một mặt, họ là đối tượng cần được bảo vệ đặc biệt bằng luật hình sự khỏi những hành vi bị coi là tội phạm Mặt khác, người chưa thành niên còn

là chủ thể của tội phạm Mặc dù trong BLHS 1999 không ghi nhận trực tiếp khái niệm “người chưa thành niên phạm tội”, nhưng khi đề cập đến thuật ngữ này, Điều 68 BLHS 1999 đã đưa ra giới hạn độ tuổi của người chưa thành niên phạm tội: “Người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự theo những quy định của Chương này, đồng thời theo những quy định khác của Phần chung Bộ luật không trái với những

Trang 30

22

quy định của Chương này” Bên cạnh đó, theo quy định tại Điều 12 BLHS

1999 quy định:

“1 Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu TNHS về mọi tội phạm

2 Người từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu TNHS

về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng”

Với góc độ nghiên cứu chuyên sâu GS.TSKH Lê Cảm và TS Đỗ Thị Phượng đã đưa ra khái niệm đầy đủ và lập luận việc quy định trong luật hình

sự về người chưa thành niên phạm tội, cụ thể là: “Người chưa thành niên

phạm tội là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi, có năng lực trách nhiệm hình sự chưa đầy đủ, do hạn chế bởi các đặc điểm về tâm sinh lý và đã có lỗi (cố ý hoặc vô ý) trong việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm”[8, tr.9]

Gần đây, tham gia góp ý sửa đổi, bổ sung BLHS, các nhà nghiên cứu đã đưa

ra khái niệm ngắn gọn hơn: “Người chưa thành niên phạm tội là người ở thời điểm thực hiện hành vi phạm tội đã đủ 14 tuổi nhưng chưa đủ 18 tuổi [64,tr.17]

Từ những quy định nêu trên, có thể đưa ra khái niệm về người chưa thành niên phạm tội theo những quy định của pháp luật hiện hành như sau:

Người chưa thành niên phạm tội là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi, có năng lực trách nhiệm hình sự và có lỗi trong việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được BLHS quy định là tội phạm

1.1.3 Khái niệm các biện pháp tư pháp áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội

Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, chế tài hình sự có thể áp dụng đối với người thực hiện hành vi trái pháp luật hình sự bao gồm hình phạt và các biện pháp tư pháp

Trang 31

23

Như vậy, bên cạnh hình phạt, các biện pháp tư pháp là một trong hai biện pháp chế tài hình sự có thể được áp dụng đối với tội phạm nói chung và người chưa thành niên phạm tội nói riêng

Một cách khái quát, các biện pháp tư pháp là những biện pháp hình sự được quy định trong BLHS do các cơ quan tư pháp áp dụng đối với người có hành vi nguy hiểm cho xã hội có tác dụng bổ trợ hoặc thay thế hình phạt

Như vậy, khác với hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội; các biện pháp tư pháp nói chung là một chế tài hình sự ít nghiêm khắc hơn, do pháp luật hình sự quy định, được các cơ quan tư pháp hình sự tuỳ vào từng trường hợp cụ thể sẽ áp dụng đối với người phạm tội

Khác với biện pháp tư pháp hình sự biện pháp xử lý vi phạm hành chính là biện pháp được áp dụng đối với cá nhân vi phạm pháp luật về

an ninh, trật tự, an toàn xã hội mà không phải là tội phạm, bao gồm biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn; đưa vào trường giáo dưỡng; đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc và đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

Với góc độ nghiên cứu chuyên sâu, GS.TSKH Lê Cảm nêu khái niệm bao hàm cả tính chất, vị trí, vai trò của biện pháp tư pháp trong hệ thống chế

tài hình sự, cụ thể là: Biện pháp tư pháp là biện pháp cưỡng chế về hình sự

của Nhà nước ít nghiêm khắc hơn hình phạt do pháp luật hình sự quy định và được cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền căn cứ vào giai đoạn tố tụng hình sự tương ứng cụ thể áp dụng đối với người phạm tội nhằm hạn chế quyền, tự do của người đó hoặc hỗ trợ hay thay thế cho hình phạt [11, tr.679]

Theo GS.TSKH Lê Cảm, các biện pháp tư pháp có các đặc điểm (dấu hiệu) [10, tr 12-13]: 1) biện pháp tư pháp là biện pháp cưỡng chế về hình sự

ít nghiêm khắc hơn so với hình phạt, mà hậu quả pháp lý của việc áp dụng nó

là người phạm tội không bị coi là có án tích; 2) biện pháp tư pháp cũng chỉ có thể xuất hiện khi có sự việc phạm tội (vì không có tội phạm, thì cũng không thể áp dụng biện pháp tư pháp với tính chất là biện pháp cưỡng chế về hình sự

Trang 32

và phải do cơ quan tư pháp có thẩm quyền áp dụng theo một trình tự đặc biệt

do luật tố tụng hình sự quy định; 6) cũng như hình phạt, biện pháp tư pháp chỉ mang tính chất cá nhân vì theo pháp luật hình sự Việt Nam nó chỉ được áp dụng đối với riêng bản thân người phạm tội (kể cả người bị kết án)

Từ khái niệm và đặc điểm các biện pháp tư pháp phân tích ở trên, có thể xác định khái niệm: Các biện pháp tư pháp đối với người chưa thành niên phạm

tội là những chế tài hình sự của Nhà nước áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội, có tính chất ít nghiêm khắc hơn hình phạt, được các cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền áp dụng nhằm hỗ trợ hay thay thế cho hình phạt

Các biện pháp tư pháp áp dụng cho người chưa thành niên phạm tội nói riêng có những dấu hiệu như sau:

Thứ nhất, các biện pháp tư pháp áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội là các biện pháp cưỡng chế về hình sự ít nghiêm khắc hơn so với hình phạt

Có thể thấy rất rõ hình phạt được coi là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của hình sự, bao gồm cảnh cáo; phạt tiền; cải tạo không giam giữ; trục xuất; tù có thời hạn; tù chung thân; và tử hình So với hai biện pháp tư pháp có thể áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội là giáo dục tại

xã, phường, thị trấn và biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, hình phạt thể

Trang 33

25

hiện tính nghiêm khắc hơn rất nhiều Tính nghiêm khắc của hình phạt so với các biện pháp tư pháp áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội còn thể hiện ở việc, khi áp dụng các biện pháp tư pháp nhằm thay thế, hỗ trợ cho việc áp dụng hình phạt, sẽ không để lại án tích đối với người chưa thành niên phạm tội

TS.Trịnh Tiến Việt quan niệm: Cùng với hình phạt, các biện pháp tư pháp còn giúp cho việc xử lý tội phạm và người phạm tội được triệt để và toàn diện hơn Đặc biệt, điều này còn phản ánh việc áp dụng hình phạt với tư cách là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước do BLHS quy định không phải là phương tiện, cách thức duy nhất trong cuộc đấu tranh phòng ngừa, chống tội phạm, cải tạo, giáo dục người phạm tội [59, tr.33] Cũng theo TS.Trịnh Tiến Việt, nếu các biện pháp tư pháp chung có mục đích

hỗ trợ hay thay thế cho hình phạt, thì các biện pháp tư pháp riêng áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội lại có mục đích thay thế cho hình phạt với ý nghĩa giáo dục, cải tạo người chưa thành niên phạm tội và phòng ngừa tội phạm do người chưa thành niên thực hiện [60, tr.33]

Thứ hai, các biện pháp tư pháp áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội có tính chất thay thế, hỗ trợ cho hình phạt Theo quy định tại khoản

4 Điều 69 BLHS 1999, khi xét thấy trong trường hợp không cần thiết phải áp dụng hình phạt thì Toà án quyết định áp dụng các biện pháp tư pháp để thay thế Đây là một đường lối xử lý mang tính nhân đạo, hoàn toàn phù hợp với mục đích đầu tiên đối với việc xử lý người chưa thành niên phạm tội là giáo dục, uốn nắn người chưa thành niên phạm tội

Các biện pháp tư pháp nói chung được quy định tại Chương VI BLHS bao gồm: “Tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm; Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại; buộc công khai xin lỗi; và Bắt buộc chữa

Trang 34

26

bệnh Những biện pháp này có thể áp dụng đối với mọi tội phạm và người phạm tội này khi xét thấy có các căn cứ tương ứng quy định tại các Điều 41 – 44 của Bộ luật

Đối với người chưa thành niên phạm tội, hai biện pháp tư pháp có thể áp dụng là giáo dục tại xã, phường, thị trấn và biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng

1.2 Nguyên tắc xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội

1.2.1 Đường lối và chính sách của Đảng và Nhà nước đối với người chưa thành niên phạm tội

Nhận thức rõ tầm quan trọng đối với nhiệm vụ giáo dục thế hệ trẻ, mà

trọng tâm là giáo dục người chưa thành niên, Đảng ta đã chỉ rõ: “Quan tâm

đến thiếu niên, nhi đồng là quan tâm đến việc đào tạo, bồi dưỡng một lớp người mới không những phục vụ cho sự nghiệp xã hội chủ nghĩa hiện nay mà còn chính là sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa cộng sản sau này” [3,tr.1]

Như vậy, chăm lo giáo dục người chưa thành niên là trách nhiệm của toàn xã hội Đây là nguyên tắc hiến định, là nền tảng trong đường lối đấu tranh đối với hành vi vi phạm pháp luật của người chưa thành niên

Đường lối, chính sách đối với trẻ em nói chung và người chưa thành niên nói riêng, là cơ sở của chính sách hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội Đường lối đó đã được thể chế hoá trong các quy định về hướng xử

lý đối với người chưa thành niên phạm tội nói chung và các quy định về việc

áp dụng biện pháp tư pháp đối với người chưa thành niên phạm tội nói riêng Đường lối, chính sách đó bắt nguồn từ truyền thống nhân đạo sâu sắc của dân tộc Việt Nam Nó tồn tại trong suốt bốn ngàn năm dựng nước và giữ nước của nhân dân, nó thể hiện tâm hồn cao thượng của dân tộc Việt Nam trước kẻ thù cũng như đối với những người trót lầm lỡ, ăn năn, hối cải Vì vậy, chính sách hình sự lại càng phải thể hiện sâu sắc tính nhân đạo đối với người chưa thành

Trang 35

27

niên vì họ là những người còn non trẻ, là tương lai của đất nước Chẳng hạn như việc áp dụng các biện pháp tư pháp đối với người chưa thành niên phạm tội thay vì áp dụng hình phạt tù là xuất phát từ bản chất nhân đạo của chế độ

xã hội chủ nghĩa

Hơn nữa, đối với người chưa thành niên phạm tội, ngoài trách nhiệm của họ, Nhà nước và xã hội cũng phải chịu một phần trách nhiệm vì công tác quản lý giáo dục lứa tuổi này còn nhiều thiếu sót, do đó mà chưa ngăn ngừa được những ảnh hưởng xấu thâm nhập dẫn đến hành vi phạm tội của người chưa thành niên phạm

Xuất phát từ đặc điểm phát triển của người chưa thành niên, do họ còn đang trong độ tuổi phát triển, những ảnh hưởng tiêu cực chưa ăn sâu trong nhận thức, hệ thống những quan điểm có tính chất chống đối xã hội của họ không có tính bền vững, vì vậy khả năng cải tạo giáo dục người chưa thành niên phạm tội sẽ đạt được kết quả cao nếu có những biện pháp giáo dục thích hợp Phải xác định rằng việc giáo dục người chưa thành niên phạm tội là một công việc lâu dài, bằng nhiều biện pháp để họ có điều kiện sửa chữa sai lầm, khuyết điểm, giúp họ lấy lại được niềm tin trong cuộc sống tự cải tạo thành người công dân có ích cho xã hội Trong giai đoạn phát triển này của trẻ, sự trung thực, sự bao dung, đồng cảm của bố mẹ, thầy cô và bạn bè cùng những người xung quanh là vô cùng cần thiết để giúp trẻ đánh giá giá trị chuẩn mực

xã hội, củng cố nhân cách của một con người Mọi sự làm ngược lại, dù vô

tình hay cố ý làm tổn thương lòng tự trọng, tự tin và làm giảm lòng tin là những stress lớn gây trầm cảm và hành vi chống đối thách thức như quậy phá, trốn học, bỏ nhà, trộm cắp, đánh nhau, rượu chè, nghiện hút hoặc tự tử

[48,tr.198]

Do đó, việc xử lý hình sự, đặc biệt là áp dụng các hình phạt như cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, phạt tù, tù chung thân, tử hình,…chỉ được đặt ra khi thật sự cần thiết, khi mà các biện pháp giáo dục, tác động xã

Trang 36

“Việc xử lý người chưa thành niên phạm tội chủ yếu nhằm giáo dục,

giúp đỡ họ sữa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội Trong mọi trường hợp điều tra, truy tố, xét xử hành vi phạm tội của người chưa thành niên, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải xác định khả năng nhận thức của họ về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành

vi phạm tội, nguyên nhân và điều kiện gây ra tội phạm”

Người chưa thành niên là người chưa phát triển đầy đủ về thể chất cũng như về tâm sinh lý, trình độ nhận thức và kinh nghiệm sống của họ còn hạn chế, nguyên nhân và điều kiện dẫn đến người chưa thành niên phạm tội phần lớn là do môi trường sống của họ, trong đó có một phần trách nhiệm lớn của gia đình và xã hội Chính vì vậy, việc xử lý người chưa thành niên phạm tội chủ yếu là nhằm giáo dục ý thức tôn trọng pháp luật, tôn trọng các quy tắc của

xã hội, giúp đỡ họ sữa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành người

có ích cho xã hội

Do chưa phát triển và hoàn thiện về các mặt, cho nên không phải bất cứ trường hợp phạm tội cụ thể nào người chưa thành niên cũng có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, tức là có khả năng nhận thức đầy đủ tính chất nguy

Trang 37

29

hiểm cho xã hội của hành vi mà mình thực hiện và hậu quả của nó cũng như khả năng điều khiển hành vi ấy Năng lực này đối với từng trường hợp phạm tội cụ thể là rất khác nhau Vì vậy, BLHS 1999 yêu cầu trong mọi trường hợp điều tra, truy tố, xét xử, các cơ quan tư pháp phải xác định chính xác tính chất

và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội Có như vậy mới giúp

họ nhận thức ra được lỗi lầm và sửa chữa để trở thành công dân có ích cho xã hội trong tương lai Tính bền vững của ý thức phạm tội trong những trường hợp người chưa thành niên phạm tội rất khác nhau Nó ảnh hưởng đến sự lựa chọn các biện pháp xử lý áp dụng đối với họ Các cơ quan tư pháp còn cần làm rõ nguyên nhân và điều kiện gây ra tội phạm Những nguyên nhân và điều kiện phạm tội có thể xuất phát từ môi trường xã hội hoặc từ chính bản thân người chưa thành niên phạm tội Từ đó có các biện pháp cụ thể nhằm áp dụng phù hợp với người chưa thành niên phạm tội

Thể hiện nguyên tắc nhân đạo XHCN, đường lối xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội, trong đó có các biện pháp tư pháp áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội chủ yếu để nhằm giáo dục họ, làm cho họ thấy được tính chất của tội phạm, sự nghiêm minh của pháp luật, bản chất nhân đạo của các biện pháp áp dụng Chỉ trong những trường hợp phạm tội có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội cao, ý thức phạm tội của người chưa thành niên sâu sắc mới cần thiết phải áp dụng các biện pháp trừng trị đối với họ

Như vậy, các nhà lập pháp hình sự đã xác định một cách trực tiếp trong BLHS 1999 mục đích của việc xử lý người chưa thành niên phạm tội chủ yếu

là nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sữa chữa những sai lầm, khuyết điểm để trở thành một công dân có ích cho xã hội chứ không đề cập trực tiếp đến mục đích trừng trị Điều này khác với quy định về mục đích của hình phạt và mục đích của trách nhiệm hình sự nói chung Điều 27 BLHS 1999 quy định:

Trang 38

30

“Hình phạt không chỉ nhằm trừng trị người phạm tội mà còn giáo dục họ trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa, ngăn ngừa họ phạm tội mới,…” Với quy

định trên của BLHS 1999, việc trừng trị là mục đích đầu tiên khi áp dụng hình phạt đối với người phạm tội nói chung, thì riêng đối với người chưa thành niên, mục đích đầu tiên mà các nhà lập pháp đặt ra là giáo dục, giúp đỡ họ sữa chữa sai lầm Do đó, khi xử lý người chưa thành niên phạm tội, dù là áp dụng các biện pháp tư pháp hay nghiêm khắc hơn là áp dụng hình phạt tù, mục đích

đó vẫn là quan trọng nhất

2) Theo khoản 2 Điều 69 BLHS 1999, “người chưa thành niên phạm

tội có thể được miễn TNHS, nếu người đó phạm tội ít nghiêm trọng, gây hại không lớn, có nhiều tình tiết giảm nhẹ và được gia đình hoặc cơ quan, tổ chức nhận giám sát giáo dục”

Như vậy, một trong những nguyên tắc cơ bản của pháp luật hình sự Việt Nam đối với người chưa thành niên phạm tội đó là chỉ truy cứu trách nhiệm hình sự và áp dụng các biện pháp xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội khi đó là biện pháp cuối cùng và nhận thấy thật sự cần thiết

Sự cần thiết ở đây được xem xét dưới một số điểm: người đó phạm tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng, hậu quả gây ra là lớn, không có tình tiết giảm nhẹ hoặc có tình tiết tăng nặng…Xét thấy việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với họ là cần thiết để giáo dục, cải tạo họ trở thành công dân có ích cho xã hội Tuy nhiên, khi người chưa thành niên phạm tội mà thoả mãn được các điều kiện nêu tại khoản 2 Điều 69 BLHS 1999 thì các cơ quan tiến hành tố tụng sẽ miễn trách nhiệm hình sự cho họ

Pháp luật Việt Nam thể hiện sự nhân đạo và khoan hồng đặc biệt đối với thế hệ trẻ, do đó nếu thấy việc giáo dục, cải tạo họ có thể đạt hiệu quả tại

Trang 39

31

môi trường xã hội mà không cần áp dụng các biện pháp tư pháp hay hình phạt thì không cần phải truy cứu trách nhiệm hình sự đối với họ

3) Theo quy định tại khoản 3 Điều 69 BLHS 1999, “việc truy cứu trách

nhiệm hình sự người chưa thành niên phạm tội và áp dụng hình phạt đối với

họ chỉ được thực hiện trong trường hợp cần thiết và phải căn cứ vào tính chất của hành vi phạm tội, vào những đặc điểm về nhân thân và yêu cầu của việc phòng ngừa tội phạm”

Có thể hiểu quy định trên là, với người chưa thành niên phạm tội, việc

áp dụng các biện pháp tư pháp khác với hình phạt sẽ không thích hợp thì hình phạt mới được áp dụng Đối với người chưa thành niên phạm tội cần thiết phải áp dụng những biện pháp có tính chất nghiêm khắc thì mới đảm bảo được mục đích cải tạo, giáo dục người phạm tội, hay nói cách khác việc áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội phải là biện pháp cuối cùng Đây là điểm khác biệt so với việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội nói chung Việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội nói chung chỉ cần họ đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội và hành vi đó có đủ các yếu tố cấu thành tội phạm là có thể quyết định áp dụng hình phạt Nhưng với người chưa thành niên phạm tội, khi truy cứu trách nhiệm hình sự phải căn cứ vào tính chất của hành vi phạm tội, đặc điểm của nhân thân và yêu cầu của việc phòng ngừa tội phạm Đây là những yêu cầu bắt buộc nhằm đạt được mục đích giáo dục đối với người chưa thành niên phạm tội

Căn cứ vào tính chất của hành vi phạm tội nhằm buộc các cơ quan tiến hành tố tụng phải đánh giá khả năng nhận thức của người chưa thành niên về tính nguy hiểm cho xã hội về hành vi mà họ thực hiện Căn cứ vào đặc điểm nhân thân của người phạm tội để thấy được khả năng cải tạo, giáo dục họ Căn cứ vào yêu cầu phòng ngừa tội phạm đòi hỏi phải đánh giá hành vi phạm

Trang 40

32

tội của người chưa thành niên thực hiện trong bối cảnh từng địa phương để đưa ra biện pháp phòng ngừa chung

Khoản 4 Điều 69 BLHS 1999 cũng quy định: “khi xét xử thấy không

cần thiết phải áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội thì Toà án áp dụng một trong các biện pháp tư pháp được quy định tại Điều 70

bộ luật này” Có thể nói, hình phạt là nhằm trừng trị và giáo dục người phạm

tội Do đó, khi áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội chỉ thực sự hiệu quả khi thấy rằng việc áp dụng là cần thiết Cần thiết nghĩa là khi áp dụng các biện pháp tư pháp với tính chất trừng phạt nghiêm khắc nhẹ hơn so với áp dụng hình phạt không đủ hiệu lực giáo dục, không có khả năng đem lại hiệu quả cao trong việc giáo dục, cải tạo người chưa thành niên phạm tội Như vậy có thể khẳng định, đối với các biện pháp xử lý người chưa thành niên phạm tội, Toà án phải xem xét áp dụng các biện pháp tư pháp trước, nếu nhận thấy việc áp dụng không đạt được hiệu quả như mong muốn thì mới áp dụng hình phạt Việc áp dụng hình phạt, đặc biệt là hình phạt tù có thời hạn, chung thân hay tử hình chỉ có thể xem là biện pháp cuối cùng trong truy cứu trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên phạm tội

1.3 Kinh nghiệm quốc tế về áp dụng các biện pháp thay thế cho hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội

1.3.1 Quy định về áp dụng các biện pháp thay thế cho hình phạt trong hệ thống pháp luật quốc tế

Trong hệ thống pháp luật quốc tế, tuổi chịu trách nhiệm hình sự và chế tài áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội phải phù hợp với các điều ước quốc tế liên quan về quyền con người và tư pháp hình sự Không kể đến các văn kiện áp dụng chung cho tất cả mọi người như Tuyên bố toàn cầu về Quyền con người hay Công ước các quyền dân sự và chính trị, các văn bản đặc biệt quan trọng đối với các chế tài hình sự áp dụng cho người chưa thành

Ngày đăng: 05/09/2016, 14:58

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lưu Hoài Bảo (2014), Một số giải pháp phòng chống tội phạm do người chưa thành niên thực hiện, Tạp chí Kiểm sát, (số 14) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số giải pháp phòng chống tội phạm do người chưa thành niên thực hiện
Tác giả: Lưu Hoài Bảo
Năm: 2014
2. Nguyễn Lai Bình (2012), Vai trò của Nhà trường trong phòng ngừa tội phạm do người chưa thành niên gây ra trên địa bàn tỉnh Điện Biên, Tạp chí Kiểm sát, (số 09) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của Nhà trường trong phòng ngừa tội phạm do người chưa thành niên gây ra trên địa bàn tỉnh Điện Biên
Tác giả: Nguyễn Lai Bình
Năm: 2012
5. Bộ Tư pháp - Vụ Pháp luật hình sự - hành chính, UNICEF Việt Nam (2012), Báo cáo đánh giá các quy định của Bộ luật hình sự liên quan đến người chưa thành niên và thực tiễn thi hành, NXB Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo đánh giá các quy định của Bộ luật hình sự liên quan đến người chưa thành niên và thực tiễn thi hành
Tác giả: Bộ Tư pháp - Vụ Pháp luật hình sự - hành chính, UNICEF Việt Nam
Nhà XB: NXB Tư pháp
Năm: 2012
6. Bộ Tư pháp - Vụ Pháp luật hình sự - hành chính, UNICEF Việt Nam (2012), Báo cáo đánh giá luật pháp và thực tiễn thi hành pháp luật về xử lý chuyển hướng, tư pháp phục hồi đối với người chưa thành niên vi phạm pháp luật, NXB Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo đánh giá luật pháp và thực tiễn thi hành pháp luật về xử lý chuyển hướng, tư pháp phục hồi đối với người chưa thành niên vi phạm pháp luật
Tác giả: Bộ Tư pháp - Vụ Pháp luật hình sự - hành chính, UNICEF Việt Nam
Nhà XB: NXB Tư pháp
Năm: 2012
7. Lê Cảm - Đỗ Thị Phượng (2004), Tư pháp hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội, những khía cạnh pháp lý hình sự, Tạp chí Tòa án nhân dân, (số 22) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư pháp hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội, những khía cạnh pháp lý hình sự
Tác giả: Lê Cảm - Đỗ Thị Phượng
Năm: 2004
8. Lê Cảm - Đỗ Thị Phượng (2004), Tư pháp hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội, những khía cạnh pháp lý hình sự, Tạp chí Tòa án nhân dân, (số 20) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư pháp hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội, những khía cạnh pháp lý hình sự
Tác giả: Lê Cảm - Đỗ Thị Phượng
Năm: 2004
10. Lê Cảm (2006), Những vấn đề lý luận về bảo vệ các quyền con người bằng pháp luật trong lĩnh vực tư pháp hình sự, Tạp chí Tòa án nhân dân, (số 14) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề lý luận về bảo vệ các quyền con người bằng pháp luật trong lĩnh vực tư pháp hình sự
Tác giả: Lê Cảm
Năm: 2006
11. Lê Cảm (2005), “Sách chuyên khảo sau đại học”, Những vấn đề cơ bản trong khoa học Luật hình sự (Phần chung), NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách chuyên khảo sau đại học”, "Những vấn đề cơ bản trong khoa học Luật hình sự (Phần chung)
Tác giả: Lê Cảm
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia
Năm: 2005
12. Lưu Ngọc Cảnh (2010), Các hình phạt và biện pháp tư pháp áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội theo luật hình sự Việt Nam (Trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn địa bàn thành phố Hà Nội), Luận văn thạc sỹ, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các hình phạt và biện pháp tư pháp áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội theo luật hình sự Việt Nam (Trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn địa bàn thành phố Hà Nội)
Tác giả: Lưu Ngọc Cảnh
Năm: 2010
13. Nguyễn Kiên Cường (2006), Pháp luật của tiểu bang Victoria, Australia đối với trẻ em phạm tội, Tạp chí Viện khoa học Kiểm sát, (số 4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật của tiểu bang Victoria, Australia đối với trẻ em phạm tội
Tác giả: Nguyễn Kiên Cường
Năm: 2006
15. Chính phủ (2012), Nghị định số 10/2012-NĐ-CP ngày 17/02/2012 Quy định chi tiết thi hành biện pháp tư pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với người chưa thành niên phạm tội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 10/2012-NĐ-CP ngày 17/02/2012 Quy định chi tiết thi hành biện pháp tư pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với người chưa thành niên phạm tội
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2012
16. Trần Văn Dũng (2005), Những đặc điểm cơ bản về trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên phạm tội trong lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam, Tạp chí Toà án nhân dân, (số 22) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những đặc điểm cơ bản về trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên phạm tội trong lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam
Tác giả: Trần Văn Dũng
Năm: 2005
17. Trần Văn Dũng (2003), Trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên phạm tội trong luật hình sự Việt Nam, Luận văn thạc sỹ luật học, Đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên phạm tội trong luật hình sự Việt Nam
Tác giả: Trần Văn Dũng
Năm: 2003
18. Đảng cộng sản Việt Nam (2002), Nghị quyết số 08-NQ-TW ngày 02/01/2002 của Bộ chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 08-NQ-TW ngày 02/01/2002 của Bộ chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Năm: 2002
19. Đảng cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 48-NQ-TW ngày 24/5/2005 của Bộ chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 48-NQ-TW ngày 24/5/2005 của Bộ chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Năm: 2005
20. Đảng cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 49-NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 49-NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Năm: 2005
21. Nguyễn Đình Gấm (2002), Nguyên nhân tâm lý xã hội của tội phạm vị thành niên, Tạp chí tâm lý học, (số 5) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyên nhân tâm lý xã hội của tội phạm vị thành niên
Tác giả: Nguyễn Đình Gấm
Năm: 2002
24. Hội đồng Chính phủ (1975), Quyết định số 164 của Hội đồng Chính phủ về việc tăng cường bảo vệ trật tự trị an ở các tỉnh, thành phố ngày 11/11/1967, Hệ thống hóa luật lệ về hình sự tập I(1945-1979), Trong tập Tòa án nhân dân tối cao, Hà Nội - 1975 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 164 của Hội đồng Chính phủ về việc tăng cường bảo vệ trật tự trị an ở các tỉnh, thành phố ngày 11/11/1967, Hệ thống hóa luật lệ về hình sự tập I(1945-1979), Trong tập Tòa án nhân dân tối cao
Tác giả: Hội đồng Chính phủ
Năm: 1975
25. Hồng Phong Minh (2014), Thành lập “Tòa Gia đình và người chưa thành niên”-một phương thức thực hiện nguyên tắc hiến định và đáp ứng yêu cầu thực tiễn, Tạp chí Tòa án nhân dân, (số 09) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành lập “Tòa Gia đình và người chưa thành niên”-một phương thức thực hiện nguyên tắc hiến định và đáp ứng yêu cầu thực tiễn
Tác giả: Hồng Phong Minh
Năm: 2014
26. Lê Triều hình luật (Nguyễn Quang Thắng dịch), NXB. Văn hóa-thông tin, 1998, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lê Triều hình luật
Nhà XB: NXB. Văn hóa-thông tin

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1: So sánh áp dụng hình phạt của tỉnh Hà Giang và cả nước - Các biện pháp tư pháp áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội theo pháp luật hình sự việt nam ( trên cơ sở các số liệu thực tiễn của địa bàn tỉnh hà giang)
Bảng 3.1 So sánh áp dụng hình phạt của tỉnh Hà Giang và cả nước (Trang 80)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm