Ở Việt Nam, thực tế hiện nay cho thấy, các doanh nghiệp mặc dù đã nhận thức được tác dụng của tài sản đối với quá trình sản xuất kinh doanh, song đa số các doanh nghiệp vẫn chưa có những
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
Người hướng dẫn: TS Nguyễn Thi ̣ Phương Dung
XÁC NHẬN CỦA
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN XÁC NHẬN CỦA CHỦ TỊCH HĐ CHẤM LUẬN VĂN
HÀ NỘI - 2016
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan:
(i) Luận văn này là công trình nghiên cứu của tôi
(ii) Các số liệu trong luận văn là chính xác, trung thực
(iii) Tôi xin chịu trách nhiệm về kết quả nghiên cứu của mình
Tác giả
Nguyễn Thị Thìn
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành đề tài luận văn tốt nghiệp này ngoài cố gắng nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ, hướng dẫn, chỉ bảo của các thầy cô giáo, bạn bè, đồng nghiệp và gia đình trong suốt khoá học cao học và trong thời gian nghiên cứu đề tài Qua đây, tôi muốn bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của mình tới: TS Nguyễn Thị Phương Dung - người đã hướng dẫn tôi thực hiện đề tài này Đồng thời tôi muốn bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy cô giáo Khoa Tài chính -Ngân hàng Trường Đại học Kinh Tế - ĐH Quốc gia Hà Nội Các bạn học viên lớp TCNH1 – K22 đã đồng hành cùng tôi trong thời gian học tập, nghiên cứu; Ban lãnh đạo Công ty cổ phần Đầu tư xây dựng Bạch Đằng TMC Tôi xin chia sẻ niềm vui khi hoàn thành đề tài này với gia đình, người thân- những người luôn ủng hộ tôi
Tôi xin gửi thầy cô, bạn bè và gia đình lời chúc sức khoẻ, hạnh phúc và thành công trong cuộc sống
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 30 tháng 11 năm 2015
Học viên
Nguyễn Thị Thìn
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT i
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU ii
DANH MỤC CÁC HÌNH iii
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN CỦA DOANH NGHIỆP 5
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 5
1.2 Lý luận chung về hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp 7
1.2.1 Khái niệm tài sản của doanh nghiệp 7
1.2.2 Phân loại tài sản của doanh nghiệp 8
1.2.3 Khái niệm hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp 13
1.3 Các chỉ tiêu phản ảnh hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp15 1.3.1 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng tổng tài sản 15
1.3.2 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn 16
1.3.3 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng tài sản dài hạn 19
1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp 20
1.4.1 Những nhân tố khách quan 20
1.4.2 Những nhân tố chủ quan 23
CHƯƠNG II: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 34
2.1 Xác định vấn đề nghiên cứu 34
2.2 Trình bày cơ sở lý luận 35
Trang 52.3 Xây dựng đề cương nghiên cứu 35
2.4 Thu thập dữ liệu 36
2.5 Tổng hợp thông tin 37
2.6 Phân tích kết quả, kết luận 41
CHƯƠNG III: THỰC TRẠNG SỬ DỤNG TÀI SẢN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG BẠCH ĐẰNG TMC 42
3.1 Khái quát chung về Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng Bạch Đằng TMC 42
3.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của công ty 42
3.1.2 Cơ cấu bộ máy quản lý của công ty 43
3.1.3 Ngành nghề kinh doanh 44
3.1.4 Thực trạng hoạt động kinh doanh tại Công ty Cổ phần Đầu tư xây dựng Bạch Đằng TMC 45
3.2 Thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản tại Công ty Cổ phần Đầu tư xây dựng Bạch Đằng TMC 48
3.2.1 Thực trạng tài sản của công ty 48
3.2.2 Thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản của công ty 57
3.3 So sánh một số chỉ tiêu cơ bản giữa Công ty Cổ phần Đầu tư xây dựng Bạch Đằng TMC với Công ty Cổ phần Bê tông Becamex và công ty Cổ phần Lilama 7 67
3.4 Đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản tại công ty Cổ phần Đầu tư xây dựng Bạch Đằng TMC 69
3.4.1 Kết quả đạt được 69
3.4.2 Hạn chế và nguyên nhân 70
CHƯƠNG IV: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG BẠCH ĐẰNG TMC 74
Trang 64.1 Định hướng phát triển của công ty Cổ phần Đầu tư xây dựng Bạch
Đằng TMC 74
4.2 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản tại công ty Cổ phần Đầu tư xây dựng Bạch Đằng TMC 75
4.2.1 Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của Công ty 75 4.2.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản dài hạn của Công ty 80
4.2.3 Một số giải pháp khác 82
4.3.1 Đối với Chính phủ 83
4.3.2 Đối với Tổng công ty Xây dựng Bạch Đằng 85
KẾT LUẬN 87
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 89
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
1 Bảng 3.1 Báo cáo KQSXKD của công ty CP ĐTXD Bạch Đằng
2 Bảng 3.2 Cơ cấu tài sản của Công ty CP ĐTXD Bạch Đằng TMC 48
3 Bảng 3.3 Cơ cấu TSNH của công ty CP ĐTXD Bạch Đằng TMC 50
4 Bảng 3.4 Cơ cấu TSDH của Công ty CP ĐTXD Bạch Đằng TMC 54
5 Bảng 3.5 Cơ cấu tài sản cố định hữu hình của công ty Cổ phần Đầu
8 Bảng 3.8 Nhu cầu vốn lưu động thường xuyên giai đoạn 2012-2014 60
9 Bảng 3.9 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng TSNH tại công ty
68
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
2 Hình 3.1 Sơ đồ bộ máy quản lý của công ty 44
Trang 10LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp tồn tại và phát triển vì nhiều mục tiêu khác nhau, song mục tiêu cuối cùng của một doanh nghiệp khi tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh là tối đa hóa lợi nhuận, hay nói cách khác là tối đa hóa giá trị tài sản của chủ sở hữu Để thực hiện mục tiêu tối đa hóa giá trị tài sản của chủ sở hữu, vấn đề sử dụng tài sản trở thành một trong những nội dung quan trọng trong quản trị tài chính của doanh nghiệp Tạo ra tài sản cho doanh nghiệp đã khó nhưng sử dụng tài sản có hiệu quả lại là việc cực kỳ khó khăn Bởi việc sử dụng và quản lý tài sản có hiệu quả tối đa sẽ đem lại cho doanh nghiệp hiệu quả kinh tế cao nhất, từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp và làm tăng giá trị tài sản của chủ sở hữu
Ở Việt Nam, thực tế hiện nay cho thấy, các doanh nghiệp mặc dù đã nhận thức được tác dụng của tài sản đối với quá trình sản xuất kinh doanh, song đa số các doanh nghiệp vẫn chưa có những biện pháp quản lý, sử dụng đồng bộ, đầy đủ và chủ động cho nên hiệu quả sử dụng tài sản chưa cao, chưa phát huy được hết hiệu quả kinh tế của chúng và như vậy là lãng phí vốn đầu
tư
Công ty Cổ phần Đầu tư xây dựng Bạch Đằng TMC là một trong những công ty lớn thuộc Tổng công ty xây dựng Bạch Đằng sản xuất kinh doanh đa ngành nghề, đa sản phẩm thuộc nhiều lĩnh lực khác nhau như: Xây lắp, sản xuất công nghiệp, vật liệu xây dựng, đầu tư dự án và kinh doanh nhà
ở, hoạt động trên khắp mọi miền cả nước Trong những năm qua, công ty đã
có nhiều cố gắng trong việc nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản, Tuy nhiên, nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản luôn là câu hỏi thường trực đối với các nhà quản trị doanh nghiệp Vấn đề là làm cách nào và làm như thế nào để sử dụng
Trang 11tài sản có hiệu quả, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay, khi nền kinh tế vẫn còn nhiều khó khăn, ngành bất động sản vẫn chưa có dấu hiệu phục hồi, nhiều công trình có vốn đầu tư lớn nhưng chưa thanh quyết toán được với chủ đầu
tư dẫn đến vốn bị ứ đọng vào hàng tồn kho quá lớn, trong khi chi phí lãi vay ngân hàng vẫn còn cao Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty, đã trở thành bài toán nan giải của ban lãnh đạo Công ty
Nhận thức được tầm quan trọng của việc quản lý và sử dụng tài sản có hiệu quả và từ thực tế hoạt động của Công ty, tôi đã chọn nghiên cứu đề tài:
“Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản tại Công ty Cổ phần Đầu tư xây dựng Bạch Đằng TMC”
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu của đề tài: Nghiên cứu thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản của Công ty Cổ phần Đầu tư xây dựng Bạch Đằng TMC và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản tại Công ty
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Hệ thống hóa lý luận về hiệu quả sử dụng tài sản trong doanh nghiệp
- Phân tích, đánh giá, nhận xét về thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản tại Công ty Cổ phần Đầu tư xây dựng Bạch Đằng TMC
- Trên cơ sở phân tích các hạn chế và tồn tại trong hiệu quả sử dụng tài sản tại Công ty Cổ phần Đầu tư xây dựng Bạch Đằng TMC, đề xuất một số giải pháp phù hợp với doanh nghiệp
3 Câu hỏi nghiên cứu
Đề tài sẽ tập trung trả lời cho câu hỏi:
- Nội dung đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản tại doanh nghiệp?
- Thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản tại công ty Cổ phần Đầu tư xây dựng Bạch Đằng TMC như thế nào?
Trang 12- Các giải pháp nào cần áp dụng để nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản tại Công ty Cổ phần Đầu tư xây dựng Bạch Đằng TMC?
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu:
Tài sản và nguồn vốn có quan hệ mật thiết với nhau, thể hiện ở việc vốn là nguồn hình thành nên tài sản Vốn kinh doanh là biểu hiệu bằng tiền của toàn bộ tài sản của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định, do doanh nghiệp bỏ ra cho hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích sinh lời Về mặt giá trị nếu đứng trên giác độ phân loại đối tượng của kế toán thì tài sản và nguồn vốn là hai cách phân loại khác nhau để phản ảnh vốn kinh doanh của doanh nghiệp
Hiệu quả sử dụng vốn là một phạm trù kinh tế phản ảnh trình độ khai thác, sử dụng và quản lý nguồn vốn làm cho đồng vốn sinh lời tối đa nhằm đến mục tiêu cuối cùng của doanh nghiệp là tối đa hóa lợi nhuận, hay nói cách khác là tối đa hóa giá trị tài sản của chủ sở hữu
Hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp phản ánh trình độ, năng lực khai thác và sử dụng tài sản của doanh nghiệp sao cho quá trình sản xuất - kinh doanh tiến hành bình thường với hiệu quả kinh tế cao nhất
Như vậy có thể thấy rằng, hiệu quả sử dụng vốn và hiệu quả sử dụng tài sản có mối liên hệ mật thiết với nhau, đều phản ảnh trình độ, năng lực quản
lý, khai thác và sử dụng nguồn lực của doanh nghiệp và hướng tới mục tiêu cuối cùng là tối đa hóa giá trị tái sản cho chủ doanh nghiệp
Trong hạch toán phải sử dụng một số thước đo nhất định để biểu hiện
số lượng và chất lượng các loại tài sản Đó là thước đo hiện vật và giá trị Trong luận văn, tác giả đi sâu nghiên cứu hiệu quả sử dụng tài sản xét về mặt giá trị Cụ thể, đối tượng nghiên cứu của luận văn là hiệu quả sử dụng tài sản tại Công ty Cổ phần Đầu tư xây dựng Bạch Đằng TMC
Trang 13* Phạm vi nghiên cứu: Hiệu quả sử dụng tài sản của Công ty Cổ phần
Đầu tư xây dựng Bạch Đằng TMC giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2014
5 Phương pháp nghiên cứu
Dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, các phương pháp được sử dụng trong quá trình viết luận văn: Phương pháp thống kê, phương pháp phân tích dữ liệu, phương pháp so sánh và tổng hợp, phương pháp điều tra nghiên cứu và phương pháp chọn mẫu
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài lời mở đầu và kết luận, Luận văn gồm 4 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và lý luận chung về hiệu
quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản tại Công ty Cổ phần
Đầu tư xây dựng Bạch Đằng TMC
Chương 4: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản tại Công
ty Cổ phần Đầu tư xây dựng Bạch Đằng TMC
Trang 14CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ
HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN CỦA DOANH NGHIỆP
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Mục tiêu của bất cứ một doanh nghiệp nào cũng nhằm tối đa hóa giá trị tài sản của chủ sở hữu.Vì vậy, vấn đề tài sản và hiệu quả sử dụng tài sản có ý nghĩa hết sức quan trọng trong quá trình tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp hiện nay Qua tìm hiểu, tác giả nhận thấy đã có các công trình nghiên cứu cũng như nhiều tài liệu liên quan đến chủ đề nghiên cứu của mình Có thể
kể đến một số đề tài nghiên cứu sau:
"Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản tại Công ty Cổ phần quản lý và xây dựng giao thông I Sơn La", Luận văn thạc sỹ 2013, lưu tại Đại học Kinh tế
Quốc dân của tác giả Nguyễn Thị Phương Thảo Luận văn nghiên cứu về cơ
sở lý luận, phân tích và đánh giá về thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản, đồng thời kiến nghị một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản tại Công ty
"Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản tại Công ty Cổ phần Hàng Hải Hà Nội", Luận văn thạc sỹ 2008, lưu tại Đại học Kinh tế Quốc dân của tác giả
Nguyễn Thị Thanh Dung Nhận thức được vấn đề hiệu quả sử dụng tài sản có
ý nghĩa to lớn không chỉ trong lý luận mà cả trong thực tiễn quản lý doanh nghiệp, tác giả đã nghiên cứu về cơ sở lý luận, phân tích thực trạng hiệu quả
sử dụng tài sản và đưa ra một số giải pháp cơ bản phù hợp với thực trạng tại Công ty
"Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản tại Công ty Cổ phần Đầu tư và phát triển Cửu Long", Luận văn thạc sỹ 2013, lưu tại Đại học Kinh tế Quốc
dân của tác giả Đỗ Thùy Trang Tác giả đã nghiên cứu lý thuyết về tài sản và
Trang 15hiệu quả sử dụng tài sản tại doanh nghiệp, đánh giá thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản tại công ty, đồng thời đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm nâng
cao hiệu quả sử dụng tài sản tại công ty
"Hiệu quả sử dụng tài sản tại Công ty Cổ phần Công nghiệp Thiên Phú", Luận văn thạc sỹ 2014, lưu tại Đại học Kinh tế Đại học quốc gia Hà
Nội của tác giả Trần Văn Đạt Qua phân tích, tác giả đã đưa ra được các giải pháp chung về hiệu quả sử dụng tài sản tại công ty như: tăng cường đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ; tăng cường huy động vốn, thiết lập và duy trì cơ cấu vốn tối ưu; tích cực tìm kiếm, mở rộng thị trường nước ngoài Ngoài ra, tác giả còn đưa ra một số giải pháp cụ thể cho việc sử dụng tài sản ngắn hạn
và dài hạn
Nội dung chủ yếu của các nghiên cứu trên là hệ thống hóa các lý luận
cơ bản về tài sản của doanh nghiệp, phân tích hiệu quả quản lý và sử dụng tài sản của doanh nghiệp Điểm mạnh của những nghiên cứu này là đã tiếp tục hoàn thiện khung lý thuyết về tài sản của doanh nghiệp, các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản doanh nghiệp và đánh giá thực trạng sử dụng tài sản của các công ty qua các giai đoạn phát triển khác nhau; đưa ra một số giải pháp giúp doanh nghiệp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản Tuy nhiên, các đề tài nghiên cứu về hiệu quả sử dụng tài sản vẫn còn tồn tại một số hạn chế như các giải pháp đưa ra chưa đi sâu nhấn mạnh vào các đặc điểm cụ thể theo đặc thù hoạt động kinh doanh của từng doanh nghiệp, vẫn mang tính lý thuyết chung Do mỗi một đơn vị, doanh nghiệp có đặc trưng, loại hình hoạt động khác nhau, trong không gian và thời gian khác nhau nên việc đưa ra các giải pháp sử dụng hiệu quả tài sản cũng là không giống nhau
Vì vậy, trong luận văn nghiên cứu này, tác giả sẽ tiến hành nghiên cứu hiệu quả sử dụng tài sản thực tế tại Công ty Cổ phần Đầu tư xây dựng Bạch Đằng TMC trong giai đoạn hiện nay trước ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng
Trang 16kinh tế, sự sụt giảm liên tục của ngành bất động sản và trước những chính sách thắt chặt chi tiêu đầu tư công của Chính phủ Từ đó, hi vọng sẽ đưa ra được các giải pháp thích hợp để nâng cao hiệu quả tài sản, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh cho Công ty Cổ phần Đầu tư xây dựng Bạch Đằng TMC
1.2 Lý luận chung về hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp
1.2.1 Khái niệm tài sản của doanh nghiệp
Bất cứ một doanh nghiệp nào hoạt động trên thị trường đều phải có tài sản, đó là cơ sở và là điều kiện cần thiết để doanh nghiệp có thể duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh của mình Vậy tài sản được hiểu như thế nào?
Theo Tiêu chuẩn số 12- Phân loại tài sản, Hệ thống tiêu chuẩn thẩm
định giá Việt Nam: Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài
sản
Theo quy định tại Điều 163, Bộ luật Dân sự năm 2005, tài sản bao gồm
vật, tiền, giấy tờ có giá (như trái phiếu, cổ phiếu, kỳ phiếu,…) và các quyền tài sản (như quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng, quyền đòi nợ, quyền được nhận số tiền bảo hiểm đối với vật bảo đảm, quyền tài sản đối với phần vốn góp trong doanh nghiệp, quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng,…)
Theo Chuẩn mực kế toán số 01- Chuẩn mực chung (Ban hành và công
bố theo Quyết định số 165/2002/QĐ-BTC ngày 31/12/2002 của Bộ trưởng Bộ Tài chính): Tài sản được biểu hiện dưới hình thái vật chất như nhà xưởng,
máy móc, thiết bị, vật tư, hàng hóa hoặc không thể hiện dưới hình thái vật chất như bản quyển, bằng sáng chế nhưng phải thu được lợi ích kinh tế trong tương lai và thuộc quyển kiểm soát của doanh nghiệp Trong đó:
Tài sản của doanh nghiệp được hình thành từ các giao dịch hoặc các sự kiện đã qua, như góp vốn, mua sắm, tự sản xuất, được cấp, được biếu tặng
Trang 17Các giao dịch hoặc các sự kiện dự kiến sẽ phát sinh trong tương lai không làm tăng tài sản
Quyền kiểm soát đối với một nguồn lực kinh tế là khả năng của doanh
nghiệp trong việc sử dụng lợi ích kinh tế do nguồn lực đó mang lại nhằm đạt mục tiêu của doanh nghiệp, hoặc quyền từ chối hay điều khiển việc sử dụng lợi ích kinh tế từ nguồn lực đó đối với doanh nghiệp khác Thông thường những nguồn lực kinh tế thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp thì cũng thuộc quyền kiểm soát của doanh nghiệp Tuy nhiên, có những những nguồn lực kinh tế không thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp, nhưng thuộc quyền kiểm soát của doanh nghiệp và có thể mang lại lợi ích kinh tế cho doanh nghiệp trong tương lai thì vẫn được xem là tài sản của doanh nghiệp
Lợi ích kinh tế trong tương lai của một tài sản là tiềm năng làm tăng
nguồn tiền và các khoản tương đương tiền của đơn vị hoặc làm g iảm bớt các khoản tiền mà đơn vị phải chi ra
Như vậy, ta có thể hiểu tài sản của doanh nghiệp là tất cả các nguồn lực thực có của doanh nghiệp, bao gồm các vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản của doanh nghiệp tại thời điểm nhất định, có khả năng mang lại lợi ích kinh tế cho doanh nghiệp đó
1.2.2 Phân loại tài sản của doanh nghiệp
Một trong những nội dung chính của hoạt động tài chính doanh nghiệp
đó là đầu tư vào loại tài sản nào và phương thức doanh nghiệp sẽ mua sắm tài sản như thế nào cho phù hợp Để đạt được điều đó thì doanh nghiệp phải xác định được mức độ quan trọng của từng loại tài sản, từ đó mới có thể phân bổ mức đầu tư hợp lý và hiệu quả nhất
Căn cứ vào mục đích nghiên cứu khác nhau mà có nhiều cách thức phân loại tài sản của doanh nghiệp như sau:
- Phân loại theo chu kỳ sản xuất: Tài sản cố định và tài sản lưu động;
Trang 18- Phân loại theo đặc tính cấu tạo vật chất: Tài sản hữu hình và tài sản vô hình;
- Phân loại theo kết cấu: Tài sản dài hạn và tài sản ngắn hạn
Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, tác giả tìm hiểu sâu hơn về cách thức phân loại tài sản theo kết cấu bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp đó là tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn
1.2.2.1 Tài sản ngắn hạn
Tài sản ngắn hạn là những tài sản mà thời gian sử dụng, thu hồi, luân chuyển trong một năm hoặc một chu kỳ kinh doanh
Tài sản ngắn hạn gồm:
* Tiền và các khoản tương đương tiền: Tiền được hiểu là tiền mặt,
tiền gửi ngân hàng và tiền đang chuyển Các khoản tương đương tiền là các khoản đầu tư ngắn hạn không quá 3 tháng, có khả năng chuyển đổi dễ dàng thành tiền và không có nhiều rủi ro trong chuyển đổi thành tiền
Tiền và các khoản tương đương tiền có thể tăng hoặc giảm không phải
do thiếu tiền (hay ứ đọng) mà có thể do doanh nghiệp đang có kế hoạch tập trung tiền để chuẩn bị đầu tư vào một số lĩnh vực kinh doanh hay mua sắm vật
tư, tài sản
* Tài sản tài chính ngắn hạn: bao gồm các khoản đầu tư chứng khoán
có thời hạn thu hồi dưới một năm hoặc trong một chu kỳ kinh doanh (như tín phiếu kho bạc, kỳ phiếu ngân hàng,…) hoặc chứng khoán mua vào, bán ra (cổ phiếu, trái phiếu) để kiếm lời và các loại đầu tư tài chính khác không quá một năm
* Các khoản phải thu ngắn hạn: Là các khoản phải thu ngắn hạn của
khách hàng, phải thu nội bộ ngắn hạn và các khoản phải thu ngắn hạn khác có thời hạn thu hồi hoặc thanh toán dưới một năm
Trang 19* Hàng tồn kho: Là những tài sản dự trữ cho quá trình hoạt động của
doanh nghiệp Hàng tồn kho bao gồm nguyên vật liệu, công cụ, dụng cụ, hàng hoá, thành phẩm, sản phẩm dở dang
- Nguyên vật liệu và công cụ, dụng cụ là những tài sản dự trữ để chuẩn
bị cho quá trình sản xuất của doanh nghiệp
- Sản phẩm dở dang là những sản phẩm đang được chế biến trên dây
chuyền sản xuất hoặc ở các bộ phận sản xuất của đơn vị
- Thành phẩm, hàng hoá là những tài sản dự trữ cho quá trình tiêu thụ
(bán hàng) của đơn vị Thành phẩm là sản phẩm do đơn vị sản xuất để bán Hàng hoá là sản phẩm do đơn vị mua để bán lại
* Tài sản ngắn hạn khác: Bao gồm chi phí trả trước ngắn hạn, thuế giá
trị gia tăng được khấu trừ, thuế và các khoản khác phải thu Nhà nước, tài sản ngắn hạn khác
1.2.2.2 Tài sản dài hạn
Tất cả các tài sản khác ngoài tài sản ngắn hạn được xếp vào loại tài sản dài hạn Tài sản dài hạn bao gồm các khoản phải thu dài hạn, tài sản cố định, bất động sản đầu tư, các khoản tài sản tài chính dài hạn và các tài sản dài hạn khác
* Các khoản phải thu dài hạn: Là các khoản phải thu dài hạn của
khách hàng, phải thu nội bộ dài hạn và các khoản phải thu dài hạn khác có thời hạn thu hồi hoặc thanh toán trên một năm
* Bất động sản đầu tư: Theo chuẩn mực kế toán số 5 ban hành theo
Quyết định số 234/2003/QĐ-BTC ngày 30/12/2003 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về việc ban hành và công bố 6 chuẩn mực kế toán Việt Nam, định
nghĩa bất động sản đầu tư là những bất động sản, gồm: Quyền sử dụng đất, nhà hoặc một phần của nhà hoặc cả nhà và đất, cơ sở hạ tầng do người chủ sở hữu hoặc người đi thuê tài sản theo hợp đồng thuê tài chính
Trang 20nắm giữ nhằm mục đích thu lợi từ việc cho thuê hoặc chờ tăng giá mà không phải để sử dụng trong sản xuất, cung cấp hàng hoá, dịch vụ hay cho các mục đích quản lý hoặc bán trong kỳ hoạt động kinh doanh thông thường
Một bất động sản đầu tư được ghi nhận là tài sản phải thỏa mãn đồng thời hai điều kiện sau:
- Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai
- Nguyên giá của bất động sản đầu tư phải được xác định một cách đáng tin cây
Nguyên giá của bất động sản đâu tư bao gồm giá mua và các chi phí liên quan trực tiếp, như: phí dịch vụ tư vấn luật pháp liên quan, thuế trước bạ
và các chi phí giao dịch liên quan khác
* Tài sản cố định (Theo Thông tư số 45/2013/TT-BTC ngày 25/4/2013
của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn chế độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao TSCĐ): Định nghĩa TSCĐ là những tài sản có giá trị lớn, có thời gian sử
dụng, luân chuyển, thu hồi trên một năm cho các hoạt động của doanh nghiệp
và phải thoả mãn đồng thời ba tiêu chuẩn sau:
- Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng tài sản đó
- Có thời gian sử dụng trên 1 năm trở lên
- Nguyên giá tài sản phải được xác định một cách tin cậy và có giá trị
Trang 21- Nhờ đổi mới tài sản cố định mới có được năng suất cao, chất lượng sản phẩm và dịch vụ tốt, chi phí tạo ra sản phẩm, dịch vụ thấp tạo điều kiện đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ đó làm tăng doanh thu và do đó doanh nghiệp mới có đủ sức cạnh trạnh trên thị trường Xét trên góc độ này, đầu tư đổi mới tài sản cố định kịp thời, hợp lý trở thành vấn đề sống còn đối với mỗi doanh nghiệp
- Xét trên góc độ tài chính doanh nghiệp, sự nhạy cảm trong đầu tư đổi mới tài sản cố định là một nhân tố quan trọng để giảm chi phí như: Chi phí sửa chữa lớn tài sản cố định, hạ thấp hao phí năng lượng, giảm chi phí biến đổi để tạo ra sản phẩm và là biện pháp rất quan trọng để hạn chế hao mòn vô hình trong điều kiện cách mạng khoa học kỹ thuật phát triển nhanh, mạnh như hiện nay
Tài sản cố định của doanh nghiệp được chia thành hai loại: Tài sản cố định hữu hình và tài sản cố định vô hình
- Tài sản cố định hữu hình (Theo Thông tư số 45/2013/TT-BTC ngày
25/4/2013 của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn chế độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao TSCĐ): Là những tài sản cố định có hình thái vật chất cụ thể
do doanh nghiệp sử dụng cho hoạt động kinh doanh như: Nhà cửa, vật kiến trúc, máy móc, thiết bị, phương tiện vân tải, thiết bị truyền dẫn…
- Tài sản cố định vô hình (Theo Thông tư số 45/2013/TT-BTC ngày 25/4/2013 của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn chế độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao TSCĐ): Là những tài sản không có hình thái vật chất nhưng
xác định được giá trị, do doanh nghiệp quản lý và sử dụng trong các hoạt động sản xuất kinh doanh, cung cấp dịch vụ hoặc cho các đối tượng khác thuê phù hợp với tiêu chuẩn tài sản cố định vô hình Thông thường, tài sản cố định
vô hình bao gồm: Quyền sử dụng đất có thời hạn, nhãn hiệu hàng hoá, quyền phát hành, phần mềm máy vi tính, bản quyền, bằng sáng chế,…
Trang 22* Đầu tư tài chính dài hạn: phản ánh tổng giá trị các khoản đầu tư tài
chính dài hạn tại thời điểm báo cáo (sau khi trừ đi các khoản dự phòng tổn thất đầu tư vào đơn vị khác) như: đầu tư vào công ty con; đầu tư vào công ty liên kết, liên doanh; đầu tư góp vốn vào đơn vị khác, đầu tư nắm giữ đến ngày đáo hạn có kỳ hạn còn lại trên 12 tháng hoặc hơn một chu kỳ sản xuất kinh doanh
Cụ thể, đầu tư tài chính dài hạn bao gồm:
Đầu tư vào công ty con phản ánh giá trị các khoản đầu tư vào công ty con và các đơn vị trực thuộc có tư cách pháp nhân hạch toán độc lập về bản chất là công ty con
Đầu tư vào công ty liên doanh, liên kết phản ánh giá trị các khoản đầu
tư vào công ty liên doanh, liên kết
Đầu tư góp vốn vào đơn vị khác phản ánh các khoản đầu tư vào vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp khác nhưng đơn vị không có quyền kiểm soát, đồng kiểm soát, ảnh hưởng đáng kể
Dự phòng đầu tư tài chính dài hạn phản ánh khoản dự phòng tổn thất đầu tư vào đơn vị khác do đơn vị được đầu tư bị lỗ và nhà đầu tư có khả năng mất vốn
Đầu tư nắm giữ đến ngày đáo hạn: chỉ tiêu này phản ánh các khoản đầu
tư nắm giữ đến ngày đáo hạn có kỳ hạn còn lại trên 12 tháng kể từ thời điểm báo cáo như: tiền gửi có kỳ hạn, trái phiếu, thương phiếu và các loại chứng khoán nợ khác
*Tài sản dài hạn khác, bao gồm: Chi phí trả trước dài hạn, tài sản thuế
thu nhập hoãn lại, tài sản dài hạn khác
1.2.3 Khái niệm hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp
Hiệu quả là một phạm trù được sử dụng rộng rãi trong tất cả các lĩnh vực kinh tế, kỹ thuật, xã hội Hiệu quả được coi là một thuật ngữ để chỉ mối quan hệ giữa kết quả thực hiện các mục tiêu của chủ thể và chi phí mà chủ thể
Trang 23bỏ ra để có kết quả đó trong điều kiện nhất định Như vậy, hiệu quả phản ánh kết quả thực hiện các mục tiêu hành động trong quan hệ với chi phí bỏ ra trong bối cảnh hay điều kiện nhất định, đồng thời cũng được xem xét dưới quan điểm đánh giá của chủ thể nghiên cứu
Hoạt động trong cơ chế thị trường cạnh tranh như hiện nay, các doanh nghiệp đều phải quan tâm tới hiệu quả kinh tế Đó là cơ sở để doanh nghiệp
có thể tồn tại và phát triển Hiệu quả kinh tế được hiểu là một phạm trù kinh
tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp để đạt được các mục tiêu xác định trong quá trình sản xuất – kinh doanh Đó có thể là mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận, tối đa hóa doanh thu, tối đa hoá hoạt động hữu ích của các nhà lãnh đạo doanh nghiệp,… Song tất cả các mục tiêu cụ thể đó đều nhằm mục tiêu bao trùm nhất là tối đa hoá giá trị tài sản cho các chủ sở hữu
Để đạt được mục tiêu này, tất cả các doanh nghiệp đều phải nỗ lực khai thác triệt để và sử dụng có hiệu quả tài sản của mình
Thực tế cho thấy, trong nền kinh tế thị trường luôn tiềm ẩn các cuộc khủng hoảng kinh tế Các doanh nghiệp có tổng số tích lũy tài sản lớn thường chiếm ưu thế Bởi lẽ khi có tổng tài sản tích lũy tăng thể hiện sự mở rộng của doanh nghiệp, giá trị cũng như giá cổ phiếu có xu hướng tăng, doanh nghiệp thu hút được nhiều nhà đầu tư, đồng thời giảm được chi phí phát hành chứng khoán Điều đó còn thể hiện tiềm lực tài chính lớn mạnh của doanh nghiệp, có khả năng vượt qua những biến động của thị trường, tăng độ an toàn cho vốn của nhà đầu tư
Như vậy, hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp phản ánh trình độ, năng lực khai thác và sử dụng tài sản của doanh nghiệp sao cho quá trình sản xuất - kinh doanh tiến hành bình thường với hiệu quả kinh tế cao nhất Do đó, hiệu quả sử dụng tài sản đóng vai trò rất quan trọng trong việc đánh giá, so
Trang 24sánh, phân tích hoạt động sản xuất nhằm tìm ra giải pháp tối ưu để doanh nghiệp đạt được mục tiêu đề ra
1.3 Các chỉ tiêu phản ảnh hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp
1.3.1 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng tổng tài sản
- Hiệu suất sử dụng tổng tài sản:
- Doanh lợi tổng tài sản:
Doanh lợi tổng tài sản (ROA) =
Doanh lợi tổng tài sản phản ánh một đơn vị tài sản tạo ra bao nhiêu đơn
vị lợi nhuận sau thuế Chỉ tiêu này cho biết hiệu quả quản lý và sử dụng tài sản để tạo ra thu nhập của doanh nghiệp ROA càng cao cho thấy hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp càng hiệu quả
- Khả năng sinh lợi cơ bản (BEP)
Khả năng sinh lợi cơ bản được dùng để so sánh khả năng sinh lợi giữa các doanh nghiệp có thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp và mức độ sử dụng
=
Hiệu suất sử dụng tổng tài sản =
Doanh thu thuần Tổng tài sản bình quân trong kỳ
Lợi nhuận sau thuế Tổng tài sản bình quân trong kỳ
Khả năng sinh lợi cơ bản (BEP) =
Lợi nhuận trước thuế và lãi vay Tổng tài sản bình quân trong kỳ
Trang 25nợ rất khác nhau Tỷ số mang giá trị dương càng cao thì chứng tỏ doanh nghiệp kinh doanh càng có lãi Ngược lại tỷ số mang giá trị âm là doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ
1.3.2 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn
- Hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn
- Hệ số sinh lợi tài sản ngắn hạn
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lợi của TSNH Nó cho biết mỗi đơn vị giá trị TSNH có trong kỳ đem lại bao nhiêu đơn vị lợi nhuận sau thuế
- Vòng quay hàng tồn kho:
Là số lần hàng hàng hóa tồn kho bình quân trong kỳ được bán ra trong
kỳ kế toán.Vòng luân chuyển này càng nhanh thì hiệu quả do một đồng tài sản mang lại càng cao, vòng quay hàng tồn kho cao thì doanh nghiệp được đánh giá là hoạt động có hiệu quả, đã giảm được vốn đầu tư cho hàng hóa dự trữ,
Doanh thu thuần TSNH bình quân trong kỳ Hiệu suất sử dụng TSNH =
Lợi nhuận sau thuế TSNH bình quân trong kỳ
Hệ số sinh lợi TSNH =
Vòng quay HTK =
Bình quân HTK Giá vốn hàng bán
Trang 26rút ngắn được chu kỳ chuyển đổi hàng dự trữ thành tiền mặt giảm bớt nguy cơ hàng hóa tồn kho thành hàng ứ đọng.Tuy nhiên, vòng quay hàng tồn kho quá cao có thể dẫn tới nguy cơ doanh nghiệp không đủ hàng hóa cung cấp cho việc bán hàng, dẫn đến tình trạng cạn kho, mất khách hàng gây ảnh hưởng tới tốc độ kinh doanh của doanh nghiệp trong lâu dài
Ngược lại, tỷ số quay vòng hàng tồn kho thấp thì cho thấy có sự tồn kho quá mức hàng hóa làm tăng chi phí một cách lãng phí Sự quay vòng tồn kho chậm có thể đặt doanh nghiệp vào tình thế khó khăn về tài chính trong tương lai
- Hệ số đảm nhiệm hàng tồn kho:
Chỉ tiêu này cho biết, để có được một đồng doanh thu thì doanh nghiệp phải bỏ ra bao nhiêu đồng đầu tư vào hàng tồn kho Chỉ tiêu này càng thấp, chứng tỏ hiệu quả vốn đầu tư sử dụng cho hàng tồn kho càng cao
- Vòng quay các khoản phải thu
Chỉ tiêu này phản ánh tốc độ biến đổi các khoản phải thu thành tiền mặt Hệ số này là một thước đo quan trọng để đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Hệ số vòng quay các khoản phải thu càng lớn chứng tỏ tốc
độ thu hồi nợ của doanh nghiệp càng nhanh, khả năng chuyển đổi các khoản
nợ phải thu sang tiền mặt cao, điều này giúp cho doanh nghiệp nâng cao luồng tiền mặt, tạo ra sự chủ động trong việc tài trợ nguồn vốn lưu động trong sản xuất Ngược lại, nếu hệ số này càng thấp thì số tiền của doanh nghiệp bị
Tổng doanh thu thuần
Vòng quay các khoản phải thu =
quân Doanh thu thuần
Trang 27chiếm dụng ngày càng nhiều, lượng tiền mặt sẽ ngày càng giảm, làm giảm sự chủ động của doanh nghiệp trong việc tài trợ nguồn vốn lưu động trong sản xuất và có thể doanh nghiệp sẽ phải đi vay ngân hàng để tài trợ thêm nguồn vốn lưu động này
Từ chỉ số vòng quay các khoản phải thu ta tính được hệ số ngày thu tiền bình quân bằng cách lấy số ngày trong kỳ chia cho vòng quay các khoản phải thu Ngược lại với chỉ số vòng quay các khoản phải thu, chỉ số ngày thu tiền bình quân càng nhỏ thì tốc độ thu hồi công nợ phải thu của doanh nghiệp cành nhanh
- Kỳ thu tiền bình quân
Kỳ thu tiền được sử dụng để đánh giá khả năng thu tiền trong thanh toán trên cơ sở các khoản phải thu và doanh thu bình quân một ngày Các khoản phải thu lớn hay nhỏ phụ thuộc vào chính sách tín dụng thương mại của doanh nghiệp và các khoản trả trước Chỉ tiêu này càng thấp, cho thấy doanh nghiệp quản lý các khoản phải thu tốt, nhanh chóng thu được tiền Tuy nhiên, nếu chỉ số này cao thì không tốt cho doanh nghiệp vì chứng tỏ vốn của doanh nghiệp có nhiều khoản nợ khó đòi và sẽ gặp rủi ro cao trong thanh toán
- Khả năng thanh toán hiện hành
Đây là chỉ số đo lường khả năng doanh nghiệp đáp ứng các nghĩa vụ tài chính ngắn hạn Nói chung thì chỉ số này ở mức 2-3 được xem là tốt Chỉ số
Kỳ thu tiền bình quân =
Vòng quay các khoản phải thu trong kỳ
Tổng số ngày trong kỳ (360 ngày)
Khả năng thanh toán hiện hành =
Giá trị nợ ngắn hạn Giá trị tài sản ngắn hạn
Trang 28này càng thấp ám chỉ doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn đối với việc thực hiện các nghĩa vụ của mình Nhưng một chỉ số thanh toán hiện hành quá cao cũng không luôn là dấu hiệu tốt, bởi vì nó cho thấy tài sản của doanh nghiệp bị cột chặt vào tài sản lưu động quá nhiều và như vậy thì hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp là không cao
1.3.3 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng tài sản dài hạn
- Hiệu suất sử dụng tài sản dài hạn
Trong đó: TSDH bình quân trong kỳ là bình quân số học của TSDH có
ở đầu kỳ và cuối kỳ
Chỉ tiêu này cho biết một đơn vị giá trị TSDH trong kỳ tạo ra bao nhiêu đơn vị doanh thu Chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ hiệu quả sử dụng TSDH càng cao
- Hệ số sinh lợi tài sản dài hạn
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lợi của TSDH Nó cho biết mỗi đơn vị giá trị TSDH có trong kỳ đem lại bao nhiêu đơn vị lợi nhuận sau thuế
Trang 29Hệ số này phản ánh việc sử dụng vốn hợp lý của chủ đầu tư, hệ số này không được vượt quá 100% Nếu hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp vẫn
ổn định, hệ số này càng nhỏ càng an toàn; nếu hệ số này >100% cho thấy doanh nghiệp đã đầu tư tài sản dài hạn bằng những nguồn vốn có kỳ hạn ngắn (ví dụ như vay ngắn hạn) dòng tiền sẽ trở nên không ổn định, tiềm ẩn sự bất ổn định trong điều hành tài chính của doanh nghiệp Nên đánh giá hệ số này đồng thời với hệ số tài sản dài hạn trên VCSH
1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp
Để đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản, ngoài việc tính toán và phân tích các chỉ tiêu trên, doanh nghiệp cũng cần hiểu rõ các nhân tố tác động tới hiệu quả sử dụng tài sản Trên cơ sở đó, doanh nghiệp sẽ đưa ra các chiến lược và kế hoạch phù hợp với từng giai đoạn để có thể phát huy hiệu quả sử dụng tài sản một cách tối đa giúp cho doanh nghiệp đạt được những mục tiêu đã đề ra
1.4.1 Những nhân tố khách quan
1.4.1.1 Môi trường kinh tế
Nhân tố này thể hiện các đặc trưng của hệ thống kinh tế trong đó các doanh nghiệp tiến hành hoạt động sản xuất – kinh doanh như: chu kỳ phát triển kinh tế, tăng trưởng kinh tế, hệ thống tài chính - tiền tệ, tình hình lạm phát, tỷ lệ thất nghiệp, các chính sách tài chính – tín dụng của Nhà nước
Nền kinh tế nằm trong giai đoạn nào của chu kỳ phát triển kinh tế, tăng trưởng kinh tế sẽ quyết định đến nhu cầu sản phẩm cũng như khả năng phát triển các hoạt động sản xuất – kinh doanh của các doanh nghiệp
Hệ thống tài chính - tiền tệ, lạm phát, thất nghiệp và các chính sách tài khoá của chính phủ có tác động lớn tới quá trình ra quyết định sản xuất – kinh doanh và kết quả hoạt động của doanh nghiệp Nếu tỷ lệ lạm phát cao thì hiệu
Trang 30quả sử dụng tài sản thực của doanh nghiệp sẽ khó có thể cao được do sự mất giá của đồng tiền Ngoài ra, chính sách tài chính - tiền tệ cũng tác động lớn đến hoạt động huy động vốn cũng như hiệu quả sử dụng vốn, tài sản của doanh nghiệp
Trong điều kiện nền kinh tế mở cửa, doanh nghiệp còn chịu tác động của thị trường quốc tế Sự thay đổi chính sách thương mại của các nước, sự bất ổn của nền kinh tế các nước tác động trực tiếp đến thị trường đầu vào và đầu ra của doanh nghiệp
Khi thị trường đầu vào biến động, giá cả nguyên vật liệu tăng lên sẽ làm tăng chi phí đầu vào của doanh nghiệp và do đó làm tăng giá bán gây khó khăn cho việc tiêu thụ sản phẩm Nếu giá bán không tăng lên theo một tỷ lệ tương ứng với tỷ lệ tăng của giá cả nguyên vật liệu đầu vào cùng với sự sụt giảm về số lượng sản phẩm tiêu thụ sẽ làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp
Nếu thị trường đầu ra sôi động, nhu cầu lớn kết hợp với sản phẩm của doanh nghiệp có chất lượng cao, giá bán hợp lý, khối lượng đáp ứng nhu cầu thị trường thì sẽ làm tăng doanh thu và lợi nhuận cho doanh nghiệp
Như vậy, những thay đổi của môi trường kinh tế ngày càng có tác động mạnh đến hoạt động sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp, tạo cho doanh nghiệp những thuận lợi đồng thời cả những khó khăn Do đó, doanh nghiệp phải luôn đánh giá và dự báo những thay đổi đó để có thể đưa ra những biện pháp thích hợp nhằm tranh thủ những cơ hội và hạn chế những tác động tiêu cực từ sự thay đổi của môi trường kinh tế
1.4.1.2 Trình độ phát triển của khoa học – công nghệ
Trong nền kinh tế hiện đại ngày càng phát triển như hiện nay thì khoa học – công nghệ là một trong những nhân tố quyết định đến năng suất lao động và trình độ sản xuất của nền kinh tế nói chung và của từng doanh nghiệp nói riêng Sự tiến bộ của khoa học – công nghệ sẽ tạo điều kiện cho các doanh
Trang 31nghiệp nâng cao năng lực sản xuất, giảm bớt chi phí, tăng khả năng cạnh tranh Tuy nhiên, tiến bộ khoa học – công nghệ cũng có thể làm cho tài sản của doanh nghiệp bị hao mòn vô hình nhanh hơn Có những máy móc, thiết
bị, quy trình công nghệ… mới chỉ nằm trên các dự án, các dự thảo, phát minh
đã trở nên lạc hậu trong chính thời điểm đó
Như vậy, việc theo dõi cập nhật sự phát triển của khoa hoc – công nghệ
là hết sức cần thiết đối với doanh nghiệp khi lựa chọn phương án đầu tư để có thể đạt được hiệu quả cao nhất trong hoạt động sản xuất – kinh doanh của mình
1.4.1.3 Chính sách quản lý của Nhà nước
Trong nền kinh tế thị trường, vai trò của Nhà nước là hết sức quan trọng Sự can thiệp ở mức độ hợp lý của Nhà nước vào hoạt động sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp là cần thiết và tập trung ở các nội dung như: Duy trì sự ổn định kinh tế, chính trị; định hướng phát triển kinh tế, kích thích phát triển kinh tế thông qua hệ thống pháp luật; phát triển cơ sở hạ tầng kinh
tế - xã hội
Các chính sách quản lý của Nhà nước chính là hệ thống tài chính tiền
tệ, chính sách tài khóa, lạm phát và thất nghiệp, nó tác động lớn tới quá trình
ra quyết định kinh doanh Nếu tỷ lệ lạm phát cao thì hiệu quả sử dụng tài sản thực của doanh nghiệp khó có thể cao do sự mất giá của đồng tiền Chính sách tài chính tiền tệ thì ảnh hưởng tới khả năng huy động vốn cũng như hiệu quả
sử dụng vốn, tài sản của doanh nghiệp
Như vậy, những chính sách của Chính phủ đưa ra có thể tạo thuận lợi cho doanh nghiệp đồng thời cả những khó khăn Do đó doanh nghiệp phải luôn đánh giá và dự báo những thay đổi đó để có thể đưa ra những biện pháp thích hợp
Trang 321.4.1.4 Đối thủ cạnh tranh
Đây là một yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tồn tại, phát triển của doanh nghiệp Nhân tố cạnh tranh bao gồm các yếu tố và điều kiện trong nội bộ ngành sản xuất có ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình kinh doanh của doanh nghiệp như khách hàng, nhà cung cấp, các đối thủ cạnh tranh, các sản phẩm thay thế… Các yếu tố này sẽ quyết định tính chất, mức độ cạnh tranh của ngành và khả năng thu lợi nhuận của doanh nghiệp
1.4.1.5 Đơn vị cấp trên
Đơn vị cấp trên cũng là một trong các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả
sử dụng tài sản của doanh nghiệp thông qua những định hướng, chính sách phát triển Nếu các chiến lược, quy hoạch định hướng đầu tư phát triển dài hạn của đơn vị cấp trên được xây dựng một cách nhất quán, đúng hướng sẽ tạo cho doanh nghiệp thành viên những thuận lợi trong việc hoạch định kế hoạch sản xuất kinh doanh cho mình Từ đó góp phần thực hiện hoạt động kinh doanh ổn định, hiệu quả
1.4.2 Những nhân tố chủ quan
1.4.2.1 Năng lực quản lý tài sản của doanh nghiệp
Quản lý tài sản một cách khoa học, chặt chẽ sẽ góp phần làm tăng hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp
Quản lý tài sản của doanh nghiệp được thể hiện chủ yếu trong các nội dung sau:
* Quản lý tiền mặt
Quản lý tiền mặt là quyết định mức tồn quỹ tiền mặt, cụ thể là đi tìm bài toán tối ưu để ra quyết định cho mức tồn quỹ tiền mặt sao cho tổng chi phí đạt tối thiểu mà vẫn đủ để duy trì hoạt động bình thường của doanh nghiệp
Việc xác định lượng tiền mặt dự trữ chính xác giúp cho doanh nghiệp đáp ứng các nhu cầu về: giao dịch, dự phòng, tận dụng được những cơ hội
Trang 33thuận lợi trong kinh doanh do chủ động trong hoạt động thanh toán chi trả Đồng thời doanh nghiệp có thể đưa ra các biện pháp thích hợp đầu tư những khoản tiền nhàn rỗi nhằm thu lợi nhuận như đầu tư chứng khoán ngắn hạn Điều này đòi hỏi nhà quản lý phải có năng lực phân tích và phán đoán tình hình trên thị trường tiền tệ, thực trạng tình hình tài chính của doanh nghiệp, từ
đó có sự lựa chọn để đưa các quyết định sử dụng ngân quỹ đúng đắn, làm giảm tối đa các rủi ro về lãi suất hoặc tỷ giá hối đoái, tối ưu hoá việc đi vay ngắn hạn, tăng hiệu quả sử dụng tài sản
Quản lý tiền mặt hiệu quả góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn nói riêng và hiệu quả sử dụng tài sản nói chung cho doanh nghiệp
* Quản lý dự trữ, tồn kho
Trong quá trình luân chuyển vốn ngắn hạn phục vụ cho sản xuất – kinh doanh thì hàng hóa dự trữ, tồn kho có ý nghĩa rất lớn cho hoạt động của doanh nghiệp, nó như tấm đệm an toàn giữa các giai đoạn khác nhau trong chu kỳ sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp do các hoạt động này diễn ra không đồng bộ Hơn nữa, hàng hoá dự trữ, tồn kho giúp cho doanh nghiệp giảm thiệt hại trước những biến động của thị trường Tuy nhiên, nếu dự trữ quá nhiều sẽ làm tăng chi phí lưu kho, chi phí bảo quản và gây ứ đọng vốn Vì vậy, căn cứ vào kế hoạch sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp, khả năng sẵn sàng cung ứng của nhà cung cấp cùng với những dự đoán biến động của thị trường, doanh nghiệp cần xác định một mức tồn kho hợp lý nhằm nâng cao hiệu quả
sử dụng tài sản ngắn hạn cho doanh nghiệp, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
* Quản lý các khoản phải thu
Trong nền kinh tế thị trường, việc mua bán chịu hay còn gọi là tín dụng thương mại là một hoạt động không thể thiếu đối với mọi doanh nghiệp Do
đó, trong các doanh nghiệp hình thành khoản phải thu
Trang 34Tín dụng thương mại giúp cho doanh nghiệp đẩy nhanh tốc độ tiêu thụ sản phẩm, thu hút khách hàng, tăng doanh thu bán hàng, giảm chi phí tồn kho của hàng hóa, góp phần làm tăng hiệu quả sử dụng tài sản cố định và hạn chế hao mòn vô hình Tuy nhiên, tín dụng thương mại cũng có thể đem đến những rủi ro cho doanh nghiệp như làm tăng chi phí quản lý, chi phí đòi nợ, chi phí
bù đắp cho vốn thiếu hụt, làm tăng chi phí nếu khách hàng không trả được nợ
Do vậy, các nhà quản lý cần so sánh giữa thu nhập và chi phí tăng thêm
để quyết định có nên cấp tín dụng thương mại không cũng như phải quản lý các khoản tín dụng này như thế nào để đảm bảo thu được hiệu quả cao nhất
Nội dung chủ yếu của chính sách quản lý các khoản phải thu bao gồm: Phân tích khả năng tín dụng của khách hàng, phân tích đánh giá khoản tín dụng được đề nghị, theo dõi các khoản phải thu
* Quản lý các khoản đầu tư tài chính dài hạn
Kết quả tài chính cuối cùng của hoạt động đầu tư tài chính dài hạn chính là tổng mức lợi nhuận Tổng mức lợi nhuận là phần chênh lệch giữa tổng doanh thu và tổng chi phí hoạt động đầu tư tài chính của doanh nghiệp Ngoài việc so sánh theo hướng xác định mức biến động tuyệt đối và mức biến động tương đối chỉ tiêu tổng mức lợi nhuận thu được từ hoạt động đầu tư tài chính dài hạn, còn phân tích sự biến động tổng mức lợi nhuận do ảnh hưởng của 3 nhân tố:
- Tổng doanh thu hoạt động đầu tư tài chính dài hạn
- Mức chí phí để tạo ra một đồng doanh thu từ hoạt động đầu tư tài chính dài hạn
- Mức lợi nhuận được tạo từ một đồng chi phí hoạt động đầu tư tài chính dài hạn
Từ mối quan hệ trên, có thể xây dựng phương trình kinh tế sau:
Trang 35Tổng mức lợi nhuận hoạt động đầu tư tài chính dài hạn = Tổng doanh thu hoạt động đầu tư tài chính dài hạn * Mức chi phí cho một đồng doanh thu từ hoạt động đầu tư tài chính dài hạn * Mức lợi nhuận được tạo ra từ một đồng chi phí hoạt động đầu tư tài chính dài hạn
Vận dụng phương pháp loại trừ có thể phân tích sự ảnh hưởng lần lượt từng nhân tố đến chỉ tiêu tổng mức lợi nhuận thu được từ hoạt động đầu tư tài chính dài hạn của doanh nghiệp Trên cơ sở đó, doanh nghiệp đánh giá, phân tích và xem xét trong số các hoạt động đầu tư tài chính, hoạt động nào mang lại lợi ích kinh tế cao nhất, nhằm lựa chọn hướng đầu tư, loại hình đầu tư, quy
mô đầu tư, danh mục đầu tư hợp lý nhất và đạt kết quả cao nhất trong kinh doanh của doanh nghiệp
* Quản lý tài sản cố định
Để đạt được các chỉ tiêu về hiệu quả sử dụng tài sản cố định, doanh nghiệp phải xác định quy mô và chủng loại tài sản cần thiết cho quá trình sản xuất – kinh doanh Đây là vấn đề thuộc đầu tư xây dựng cơ bản, đòi hỏi doanh nghiệp phải cân nhắc kỹ càng các quyết định về đầu tư dựa trên cơ sở các nguyên tắc và quy trình phân tích dự án đầu tư Nếu mua nhiều tài sản cố định
mà không sử dụng hết sẽ gây ra sự lãng phí vốn, song nếu phương tiện không
đủ so với lực lượng lao động thì năng suất sẽ giảm Trên cơ sở một lượng tài sản cố định đã mua sắm, một mặt doanh nghiệp phải tận dụng tối đa thời gian
và hiệu suất của máy, thực hiện an toàn, tiết kiệm trong vận hành máy, cố gắng khấu hao nhanh để sớm đổi mới và áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật tiên tiến, hiện đại Điều đó sẽ tạo tiền đề cho doanh nghiệp luôn luôn được đổi mới theo hướng tích cực, hiện đại, cung cấp những sản phẩm, dịch
vụ phù hợp với nhu cầu của thị trường, mang tính cạnh tranh cao
Trang 36Việc đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản cố định cho thấy khấu hao có tác động lớn đến các chỉ tiêu Do đó, doanh nghiệp cần xác định phương pháp tính khấu hao tài sản cố định cho thích hợp
Trong quá trình tham gia vào hoạt động sản xuất – kinh doanh, do chịu nhiều tác động bởi nhiều nguyên nhân khác nhau nên tài sản cố định bị giảm dần về giá trị, hay còn gọi là hao mòn Có hai loại hao mòn TSCĐ là hao mòn hữu hình và hao mòn vô hình
- Hao mòn hữu hình là loại hao mòn do quá trình sử dụng và do tác động của môi trường, hình thái vật chất của TSCĐ bị mài mòn, biến dạng, gãy, vỡ, hỏng…
- Hao mòn vô hình là loại hao mòn do tiến bộ của khoa học công nghệ, một loại máy móc, thiết bị mới ra đời ưu việt hơn làm TSCĐ bị giảm giá hoặc lỗi thời
Do TSCĐ bị hao mòn như vậy, doanh nghiệp cần tạo lập quỹ để thu hồi, tái đầu tư vào tài sản mới, doanh nghiệp cần trích khấu hao cho TSCĐ Trích khấu hao TSCĐ là việc tính chuyển một phần giá trị của TSCĐ tương ứng với phần hao mòn vào giá thành sản phẩm và sẽ thu hồi được phần giá trị đó thông qua tiêu thụ sản phẩm
Việc xác định mức trích khấu hao là công việc tương đối phức tạp Trước tiên, doanh nghiệp phải xác định tốc độ hao mòn của tài sản Điều này rất khó khăn do xác định hao mòn hữu hình đã khó, xác định hao mòn vô hình còn khó hơn, nó đòi hỏi sự hiểu biết, khả năng dự đoán của doanh nghiệp Khi
đã xác định được mức độ hao mòn, doanh nghiệp cần phải cân nhắc đến các yếu tố sau:
- Tình hình tiêu thụ sản phẩm do TSCĐ đó chế tạo trên thị trường Do tình hình tiêu thụ tác động trực tiếp đến giá bán sản phẩm đồng thời cho biết
Trang 37lượng cầu sản phẩm của doanh nghiệp là bao nhiêu và hoạt động của TSCĐ
sẽ ở mức công suất nào và kéo theo nó hao mòn ở mức độ nào
- Nguồn vốn đầu tư cho TSCĐ là vốn chủ sở hữu hay vốn vay
- Ảnh hưởng của thuế đến việc trích khấu hao Do việc trích khấu hao ảnh hưởng trực tiếp đến giá thành sản phẩm, ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp và ảnh hưởng đến thuế thu nhập mà doanh nghiệp phải nộp
- Quy định của Nhà nước trong việc tính khấu hao: Nhà nước có quy định quản lý trong việc trích khấu hao TSCĐ như phương pháp tính khấu hao, thời gian sử dụng định mức của TSCĐ, tác động trực tiếp đến mức trích khấu hao hàng kỳ của doanh nghiệp
Việc lựa chọn được phượng pháp tính khấu hao TSCĐ thích hợp là biện pháp quan trọng để bảo toàn vốn cố định và cũng là một căn cứ quan trọng để xác định thời gian hoàn vốn đầu tư vào tài sản cố định từ các nguồn tài trợ dài hạn
Tóm lại, mục đích của việc tạo lập quỹ khấu hao là để tái đầu tư, thay thế, đổi mới TSCĐ Khi TSCĐ chưa được khấu hao hết, chưa được thay thế bằng TSCĐ mới thì khấu hao được tích luỹ và doanh nghiệp có quyền sử dụng số khấu hao luỹ kế cho hoạt động sản xuất – kinh doanh của mình Đối với TSCĐ, bên cạnh việc xác định phương pháp khấu hao thích hợp thì để nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản, doanh nghiệp cũng cần thường xuyên tiến hành đánh giá, kiểm kê TSCĐ Điều này giúp cho nhà quản lý nắm được chính xác số TSCĐ của doanh nghiệp, tình hình sử dụng cũng như giá trị thực tế của tài sản đó
Đánh giá TSCĐ là việc xác định lại giá trị của TSCĐ tại một thời điểm nhất định Việc đánh giá chính xác giá trị của TSCĐ là căn cứ để tính khấu hao nhằm thu hồi vốn Qua đánh giá và đánh giá lại TSCĐ còn giúp cho người quản lý nắm được tình hình biến động về vốn của doanh nghiệp để có
Trang 38biện pháp điều chỉnh thích hợp như: chọn hình thức khấu hao phù hợp, thanh
lý, nhượng bán tài sản để giải phóng vốn…
Đánh giá TSCĐ gồm những nội dung sau:
- Xác định giá ban đầu của TSCĐ: giá ban đầu của TSCĐ là giá mua và những chi phí khác kèm theo
Cách đánh giá này giúp cho doanh nghiệp thấy được số tiền vốn đầu tư mua sắm TSCĐ ở thời điểm ban đầu, là căn cứ để xác định số tiền phải khấu hao để tái sản xuất giản đơn TSCĐ
- Xác định giá đánh giá lại TSCĐ: giá đánh giá lại TSCĐ là giá của tài sản tại thời điểm kiểm kê đánh giá Giá đánh giá lại của TSCĐ có thể cao hơn hoặc có thể thấp hơn giá ban đầu của nó
Căn cứ vào kết quả phân tích tình hình cụ thể như: tình hình biến động giá trên thị trường, quan hệ cung cầu trên thị trường về loại tài sản đó, xu hướng về tiến bộ kỹ thuật trong ngành… người quản lý đưa ra quyết định xử
lý tài sản một cách chuẩn xác như điều chỉnh mức khấu hao hoặc phương pháp khấu hao, thanh lý, nhượng bán để đổi mới TSCĐ, hiện đại hoá TSCĐ thông qua sửa chữa lớn…
1.4.2.2 Trình độ cán bộ quản lý và tay nghề của công nhân
Có thể nói, con người là nhân tố quan trọng trong bất cứ hoạt động nào Trong hoạt động sản xuất – kinh doanh cũng vậy, con người đóng vai trò quyết định đến hiệu quả hoạt động nói chung và hiệu quả sử dụng tài sản nói riêng, đặc biệt là trình độ cán bộ quản lý và tay nghề của người công nhân
Thứ nhất, về trình độ cán bộ quản lý: Trình độ cán bộ quản lý thể hiện
ở trình độ chuyên môn, khả năng tổ chức, quản lý và ra quyết định Nếu cán
bộ quản lý có trình độ chuyên môn nghiệp vụ vững vàng, khả năng tổ chức, quản lý tốt đồng thời đưa ra những quyết định đúng đắn, phù hợp với tình hình của doanh nghiệp và tình hình thị trường thì hiệu quả sử dụng tài sản
Trang 39cao, mang lại nhiều lợi ích cho doanh nghiệp Nếu khả năng tổ chức, quản lý kém, quyết định sai lầm thì tài sản sẽ không được sử dụng một cách hiệu quả dẫn đến doanh nghiệp có thể thua lỗ, thậm chí phá sản Như vậy, trình độ cán
bộ quản lý đóng vai trò hết sức quan trọng đối với việc nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản trong doanh nghiệp Do đó, yêu cầu đối với bộ phận này là rất cao, họ cần có chuyên môn nghiệp vụ vững vàng, có tinh thần trách nhiệm cao, năng động, sáng tạo nhằm đưa ra các quyết định đúng đắn, kịp thời cho doanh nghiệp
Thứ hai, về trình độ tay nghề của công nhân: Bộ phận công nhân là bộ
phận trực tiếp tạo ra sản phẩm, dịch vụ, trực tiếp tiếp xúc với khách hàng nên
là nhân tố trực tiếp sử dụng tài sản của doanh nghiệp Đối với công nhân sản xuất có tay nghề cao, có khả năng tiếp thu công nghệ mới, phát huy được tính sáng tạo, tự chủ trong công việc, có ý thức giữ gìn và bảo quản tài sản trong quá trình vận hành thì tài sản sẽ được sử dụng hiệu quả hơn đồng thời sẽ tạo
ra sản phẩm, dịch vụ chất lượng cao, hạ giá thành góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh cho doanh nghiệp Ngược lại, nếu trình độ tay nghề người công nhân thấp, không nắm bắt được các thao tác kỹ thuật, ý thức bảo quản máy móc kém sẽ dẫn đến tình trạng sử dụng lãng phí nguyên vật liệu, giảm tuổi thọ của máy móc làm tăng giá thành, giảm chất lượng sản phẩm Điều đó có thể làm giảm doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp dẫn đến hiệu quả sử dụng tài sản giảm
1.4.2.3 Đặc điểm sản xuất – kinh doanh
Đây là nhân tố có ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp Doanh nghiệp có đặc điểm khác nhau về ngành nghề kinh doanh sẽ đầu tư vào tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn khác nhau Tỷ trọng tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn khác nhau nên hệ số sinh lợi của tài sản cũng khác nhau Doanh nghiệp có đặc điểm hàng hoá khác nhau và
Trang 40đối tượng khách hàng khác nhau nên chính sách tín dụng thương mại cũng khác nhau dẫn đến tỷ trọng khoản phải thu khác nhau Như vậy, đặc điểm sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp tác động quan trọng đến hiệu quả
sử dụng tài sản, ảnh hưởng trực tiếp đến cơ cấu tài sản, vòng quay và hệ số sinh lợi của tài sản
1.4.2.4 Tổ chức sản xuất - kinh doanh
Một quy trình sản xuất – kinh doanh hợp lý sẽ khắc phục được tình trạng chồng chéo chức năng, nhiệm vụ giữa các khâu, góp phần tiết kiệm nguồn lực, tăng năng suất lao động, giảm chi phí bất hợp lý, hạ giá thành sản phẩm, nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản, hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
Bên cạnh đó, một doanh nghiệp có chiến lược kinh doanh tốt, có nhiều giải pháp thực hiện chiến lược phù hợp với điều kiện hoàn cảnh của doanh nghiệp trong từng thời kỳ và phù hợp với nhu cầu thị trường thì hiệu quả sử dụng tài sản sẽ cao
1.4.2.5 Khả năng huy động vốn và cơ cấu vốn
Vốn là điều kiện không thể thiếu được để một doanh nghiệp được thành lập và tiến hành các hoạt động sản xuất – kinh doanh Vốn là nguồn hình thành nên tài sản Vì vậy, khả năng huy động vốn cũng như vấn đề cơ cấu vốn
sẽ có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp
Nếu doanh nghiệp có khả năng huy động vốn lớn sẽ là cơ hội để mở rộng quy mô sản xuất – kinh doanh, đa dạng hoá các hoạt động đầu tư làm tăng doanh thu cho doanh nghiệp và từ đó làm tăng hiệu suất sử dụng tổng tài sản Bên cạnh đó, nếu doanh nghiệp duy trì được cơ cấu vốn hợp lý thì chi phí vốn sẽ giảm, góp phần làm giảm chi phí kinh doanh, tăng lợi nhuận và do đó
hệ số sinh lợi tổng tài sản sẽ tăng