1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu kiến thức, thái độ, thực hành về vệ sinh môi trường của người dân nông thôn tỉnh Trà Vinh năm 2014

52 618 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 52
Dung lượng 767,5 KB
File đính kèm z7.Toanvan (24-12).rar (100 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tỉnh Trà Vinh có điều kiện kinh tế, văn hoá, xã hội đang phát triển, tuy nhiên điều kiện sinh hoạt, thói quen và tập quán vệ sinh của người dân vẫn còn nhiều vấn đề lạc hậu, chưa đảm bảo được yêu cầu hạn chế bệnh tật, bảo vệ sức khoẻ. Theo Quyết định 1089QĐUBND ngày 1062013 thì toàn tỉnh có 30,07% nhà tiêu được đánh giá hợp vệ sinh; Tỷ lệ nước sạch theo QCVN 02: 2009BYT là 43%. Đây là tỷ lệ nhà tiêu thấp thấp so với cả nước 57% 18,25.Việc nghiên cứu kiến thức, thái độ, thực hành vi và tìm hiểu các yếu tố liên quan ảnh hưởng đến kiến thức, thái độ, hành vi của người dân nông thôn về vệ sinh môi trường để góp phần cải thiện tình trạng vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường cho người dân trên địa bàn tỉnh là rất cần thiết. Do đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu kiến thức, thái độ, thực hành về vệ sinh môi trường của người dân nông thôn tỉnh Trà Vinh năm 2014 với các mục tiêu như sau:1. Mô tả thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành về vệ sinh môi trường của người dân nông thôn tỉnh Trà Vinh năm 2014.2. Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ, thực hành về vệ sinh môi trường của người dân nông thôn tỉnh Trà Vinh.

Trang 1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Vệ sinh môi trường là một trong những vấn đề được quan tâm không chỉ

ở phạm vi một quốc gia, một khu vực mà đang là vấn đề được quan tâm trênphạm vi toàn cầu bởi tầm quan trọng của nó với sức khỏe con người

Các bệnh liên quan đến nước và vệ sinh môi trường là vấn đề lớn về sứckhoẻ trên thế giới cũng như ở Việt Nam Theo kết quả điều tra Bộ Nông nghiệp

và Phát triển nông thôn đến cuối năm 2011 về tình hình vệ sinh môi trường ViệtNam cho thấy chỉ có 55% dân cư nông thôn có nhà tiêu [5]

Việc không đảm bảo vệ sinh môi trường là nguyên nhân của nhiều bệnhtruyền nhiễm, trong đó bệnh tiêu chảy là một trong những nguyên nhân chínhgây ra tình trạng ốm đau trên phạm vi toàn quốc [6] Theo ước tính, 85 bệnh vàthương tật là có liên quan đến môi trường, 94% bệnh tiêu chảy là do môi trườngnước không an toàn, điều kiện vệ sinh kém [16]

Ở nhiều vùng nông thôn, vệ sinh môi trường kém, chất thải người và giasúc chưa được xử lý hợp vệ sinh, tập quán dùng phân tươi bón ruộng làm pháttán các mầm bệnh có trong phân tươi ra môi trường xung quanh, gây những ảnhhưởng trực tiếp và gián tiếp lên sức khoẻ con người, là nguyên nhân của cácdịch bệnh đường tiêu hoá nguy hiểm như tả, lỵ, thương hàn [6]

Chính vì vậy trong các chính sách của Đảng và Nhà nước ta rất quan tâmđến công tác vệ sinh môi trường Ngày 31 tháng 3 năm 2012, Thủ tướng Chínhphủ đã ban hành Quyết định số 366/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình Mục tiêuquốc gia Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn giai đoạn 2012 – 2015 đểtừng bước hiện thực hóa Chiến lược quốc gia về cấp nước sạch và vệ sinh nôngthôn đến năm 2020, cải thiện điều kiện cung cấp nước sạch, vệ sinh, nâng caonhận thức, thay đổi hành vi vệ sinh và giảm thiểu ô nhiễm môi trường, góp phầnnâng cao sức khỏe và chất lượng sống cho người dân nông thôn [21] Theo đó,đến năm 2015 phải có 85% dân số nông thôn được sử dụng nước sinh hoạt hợp

Trang 2

vệ sinh, trong đó 45% sử dụng nước đạt quy chuẩn QCVN 02-BYT với số lượng

ít nhất là 60 lít/người/ngày và 65% số hộ gia đình ở nông thôn có nhà tiêu hợp

vệ sinh [21]

Tỉnh Trà Vinh có điều kiện kinh tế, văn hoá, xã hội đang phát triển, tuynhiên điều kiện sinh hoạt, thói quen và tập quán vệ sinh của người dân vẫn cònnhiều vấn đề lạc hậu, chưa đảm bảo được yêu cầu hạn chế bệnh tật, bảo vệ sứckhoẻ Theo Quyết định 1089/QĐ-UBND ngày 10/6/3013 thì toàn tỉnh có 90%

hộ gia đình có nhà tiêu, trong số này chỉ có 30,07% nhà tiêu được đánh giá hợp

vệ sinh; Tỷ lệ nước sạch theo QCVN 02: 2009/BYT là 43% Đây là tỷ lệ nhàtiêu thấp thấp so với cả nước 57% [18],[25]

Việc nghiên cứu kiến thức, thái độ, thực hành vi và tìm hiểu các yếu tốliên quan ảnh hưởng đến kiến thức, thái độ, hành vi của người dân về vệ sinhmôi trường để góp phần cải thiện tình trạng vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trườngcho người dân trên địa bàn tỉnh là rất cần thiết Do đó, chúng tôi tiến hành

nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu kiến thức, thái độ, thực hành về vệ sinh môi trường của người dân nông thôn tỉnh Trà Vinh năm 2014" với các mục tiêu

như sau:

1 Mô tả thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành về vệ sinh môi trườngcủa người dân nông thôn tỉnh Trà Vinh năm 2014

2 Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ, thực hành về

vệ sinh môi trường của người dân nông thôn tỉnh Trà Vinh

Trang 3

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN

1.1.1 Hành vi của con người với giáo dục sức khoẻ

1.1.1.1 Khái niệm hành vi của con người

Hành vi của con người là một hành động, hay là tập hợp phức tạp củanhiều hành động, mà những hành động này lại chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tốbên trong và bên ngoài, chủ quan cũng như khách quan Ví dụ các yếu tố tácđộng đến hành vi của con người như: phong tục tập quán, thói quen, yếu tố ditruyền, văn hoá - xã hội, kinh tế - chính trị Chẳng hạn hành vi thực hiện cácqui định về vệ sinh môi trường, hành vi tôn trọng pháp luật Mỗi hành vi củamột con người là sự biểu hiện cụ thể của các yếu tố cấu thành nên nó, đó là cáckiến thức, niềm tin, thái độ và cách thực hành của người đó trong một tìnhhuống hay trong một sự việc cụ thể nhất định nào đó [27]

1.1.1.2 Hành vi sức khoẻ

Hành vi sức khỏe là hành vi của cá nhân, gia đình, cộng đồng tạo ra cácyếu tố tác động trực tiếp, hoặc gián tiếp đến sức khỏe của chính họ, có thể có lợihoặc có hại cho sức khỏe [27]

Theo ảnh hưởng của hành vi, chúng ta có thể phân ra 3 loại hành vi sứckhoẻ như sau:

- Những hành vi lành mạnh, có lợi cho sức khoẻ: Đó là những hành vigiúp bảo vệ và nâng cao tình trạng sức khoẻ của con người Ví dụ: Làm chuồngnuôi gia súc, gia cầm cách xa nguồn nước sinh hoạt, thực hiện ăn chín uống sôi,giữ gìn vệ sinh cá nhân và vệ sinh nơi công cộng

Trang 4

- Những hành vi không lành mạnh: Đó là những hành vi gây hại cho sứckhoẻ Ví dụ như: Ăn sống, uống sống, phóng uế bừa bãi, không rửa tay trước khiăn

- Những hành vi trung gian: Là những hành vi không có lợi cũng không

có hại cho sức khoẻ hoặc chưa xác định rõ Ví dụ như: đeo vòng bạc cho trẻ vào

cổ hay cổ tay, cổ chân cho trẻ em để kỵ gió Với các loại hành vi này thì tốt nhất

là không nên tác động, trái lại có thể lợi dụng việc đeo vòng đó để hướng dẫncác bà mẹ theo dõi sự tăng trưởng của con mình

Giáo dục sức khoẻ nhằm tạo ra các hành vi sức khoẻ có lợi cho sức khoẻ

mà điều quan trọng nhất là tạo ra được các thói quen tốt, các hành vi lành mạnh

1.1.1.3 Hành vi môi trường.

Là những hành vi ảnh hưởng đến môi trường như phóng uế bừa bãi; Dùngphân tươi để bón rau; uống nước lã; Dùng nước sạch, sử dụng hố xí hợp vệ sinh,giữ gìn nhà cửa, làng bản sạch sẽ

1.1.1.4 Thành phần chủ yếu của hành vi.

Hành vi sức khoẻ của con người chủ yếu thể hiện ở các thành phần như:kiến thức, thái độ, niềm tin và thực hành Muốn làm thay đổi hành vi sức khoẻcủa đối tượng giáo dục sức khoẻ thì truyền thông - giáo dục sức khoẻ phải tácđộng vào các thành phần trên nhưng tuỳ từng mục tiêu cụ thể mà cần tác độngvào thành phần nào là chủ yếu Trong các thành phần của truyền thông giáo dụcsức khỏe thì quá trình tác động làm thay đổi được thái độ của con người đối vớisức khoẻ là việc làm khó nhất

1.1.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi nói chung.

- Suy nghĩ và tình cảm: Với mỗi sự việc, vấn đề trong cuộc sống, mỗingười chúng ta có thể có các suy nghĩ và tình cảm khác nhau Những suy nghĩ

và tình cảm của chúng ta lại bắt nguồn từ các hiểu biết, niềm tin, thái độ và quanniệm về giá trị Chính các kiến thức, niềm tin, thái độ và quan niệm về giá trị đã

Trang 5

dẫn đến những quyết định của mỗi người thực hành hành vi này hay hành vikhác [13].

- Kiến thức: Kiến thức hay hiểu biết của mỗi người được tích lũy dần qua

quá trình học tập và kinh nghiệm thu được trong cuộc sống Mỗi người có thểthu được kiến thức từ thầy cô giáo, cha mẹ, bạn bè, đồng nghiệp, những ngườixung quanh, sách vở và các phương tiện thông tin đại chúng cung cấp Từ đógiúp con người có các suy nghĩ và tình cảm đúng đắn, có hành vi phù hợp trướcmỗi sự việc Các kiến thức về bệnh tật, sức khỏe và bảo vệ, nâng cao sức khỏe làđiều kiện cần thiết để mọi người có cơ sở thực hành các hành vi sức khỏe lànhmạnh [13]

- Niềm tin: Niềm tin là sản phẩm xã hội của nhận thức cá nhân kết hợp

với các kinh nghiệm thu được của cá nhân cũng như của nhóm hay cộng đồngtrong cuộc sống Mỗi một xã hội đều hình thành và xây dựng niềm tin về tất cảcác khía cạnh của đời sống Những niềm tin là một phần của cách sống conngười Niềm tin có thể chỉ ra những điều được mọi người chấp nhận và nhữngđiều không được người ta chấp nhận Niềm tin có sức mạnh, nó ảnh hưởng đếnthái độ và hành vi của con người [13]

- Thái độ: Thái độ được coi là trạng thái chuẩn bị của cơ thể để đáp ứngvới những tình huống hay hoàn cảnh cụ thể Thái độ phản ánh những điều người

ta thích hoặc không thích, mong muốn hay không mong muốn, tin hay khôngtin, đồng ý hay không đồng ý, ủng hộ hay ngăn cản Thái độ thường bắt nguồn

từ kiến thức, niềm tin và kinh nghiệm thu được trong cuộc sống, đồng thời thái

độ cũng chịu ảnh hưởng của những người xung quanh [13]

- Giá trị: Giá trị là các tiêu chuẩn có vai trò quan trọng tác động đến suynghĩ và tình cảm của con người Một tiêu chuẩn nào đó được một người coi là

có giá trị với họ sẽ là động cơ thúc đẩy các hành động Sức khỏe là một trong sốcác giả trị quan trọng của mỗi người [13]

Trang 6

- Những người cỏ ảnh hưởng quan trọng: Sống trong xã hội, mỗi ngườiđều có quan hệ và chịu ảnh hưởng của những người xung quanh Một trong các

lý do làm cho các chương trình giáo dục sức khỏe không thành công là nó trựctiếp nhằm vào các cá nhân mà do không chú ý đến ảnh hưởng của những ngườikhác Thông thường những người có ảnh hưởng nhiều đối với chúng ta là cha

mẹ, ông bà, anh em, vợ chồng, thầy cô giáo, bạn bè, người lãnh đạo, đồngnghiệp, những người có nhiều kinh nghiệm, trình độ cao, kỹ năng đặc biệt [13]

- Nguồn lực: Để thực hành các hành vi nâng cao sức khỏe, phòng chốngbệnh tật, cộng đồng hay cá nhân cần có các điều kiện nhất định về nguồn lực.Nguồn lực cho thực hiện hành vi bao gồm các yếu tố như thời gian, nhân lực,tiền, cơ sở vật chất trang thiết bị Nhiều cá nhân có đủ kiến thức, họ hiểu rất rõnhu cầu chăm sóc sức khỏe của họ nhưng vì thiếu các điều kiện nguồn lực nên

họ không thực hiện được hành vi mong muốn [13]

- Thời gian: Thời gian là một trong các yếu tố quan trọng ảnh hưởng đếnhành vi của con người Có những hành vi cần có thời gian để thực hành hoặc đểthay đổi [13]

- Nhân lực: Nhân lực đôi khi ảnh hưởng lớn đến hành vi sức khỏe củacộng đồng Nếu một cộng đồng nào đó có thể huy động nguồn nhân lực thì việc

tổ chức các hoạt động lao động phúc lợi cho cộng đồng sẽ được thực hiện dễdàng Ví dụ như huy động nhân lực tổng vệ sinh đường làng, ngõ xóm, cải tạocác nguồn cung cấp nước, xây dựng công trình vệ sinh công cộng Các hoạtđộng truyền thông giáo dục sức khỏe rất cần nguồn nhân lực từ cộng đồng thamgia để tạo nên phong trào tác động đến thay đổi hành vi sức khỏe [15]

- Tiền: Tiền cần thiết để thực hiện một số hành vi Ở nông thôn nhiềungười dân thiếu tiền nên không xây dựng được các công trình vệ sinh [13]

- Cơ sở vật chất, trang thiết bị: Cơ sở vật chất trang thiết bị là các điềukiện cần thiết hỗ trợ cho thay đổi một sổ hành vi sức khỏe [13]

Trang 7

- Yếu tố văn hóa: Nhiều yếu tố ảnh hưởng đến hành vi con người, các yếu

tố này có thể rất khác nhau giữa cộng đồng này với cộng đồng khác Văn hoá làtổng hợp của nhiều yếu tố bao gồm kiến thức, niềm tin, phong tục tập quán,nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, thói quen và tất cả những năng lực mà con ngườithu được trong cuộc sống [22]

Như vậy nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe nói chung và vệ sinh môitrường nói riêng như các hành động và hành vi thông thường chứ không phải chỉ

có thuốc men và các dịch vụ kỹ thuật y tế Nghiên cứu đầy đủ các yếu tố ảnhhưởng đến hành vi sức khỏe của con người là cần thiết để tránh những thất bạikhi thực hiện giáo dục sức khỏe

1.1.2 Các khái niệm cơ bản về vệ sinh môi trường

1.1.2.1 Khái niệm môi trường

Theo nghĩa rộng: Môi trường là tổng hợp các điều kiện bên ngoài có ảnhhưởng đến một vật thể hay một sự kiện [28]

Đối với con người: Môi trường sống là tổng hợp các điều kiện vật lý, hoáhọc, kinh tế, xã hội bao quanh và ảnh hưởng đến sự sống, sự phát triển của mỗicá nhân và cả cộng đồng Môi trường bao gồm môi trường tự nhiên và môitrường xã hội

- Môi trường tự nhiên bao gồm các yếu tố như độ ẩm, nhiệt độ, ánh sáng,bức xạ, nồng độ các chất hoá học có trong đất, nước, không khí, các vi sinh vật

- Môi trường xã hội bao gồm các vấn đề chính trị, đạo đức, tôn giáo, vănhoá, pháp luật, phong tục, tập quán, văn hoá ứng xử, chính sách

Ngày nay, môi trường hài hoà với sức khoẻ gắn liền với việc sử dụng hợp

lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, phát triển bền vững, đảm bảo gắn chặt pháttriển kinh tế với bảo vệ môi trường và phát triền văn hoá

Trang 8

1.1.2.2 Khái niệm về sức khoẻ

Theo Tổ chức Y tế thế giới: Sức khoẻ là trạng thái thoải mái toàn diện vềthể chất, tinh thần và xã hội chứ không chỉ đơn thuần là không có bệnh hay tàntật [6]

Theo định nghĩa đó sức khoẻ bao gồm ba khía cạnh: Sức khoẻ về thân thể,sức khoẻ về tinh thần, sức khoẻ về xã hội Cả ba mặt này làm thành một thểthống nhất tác động qua lại lẫn nhau không thể coi nhẹ một mặt nào Một tinhthần khoẻ mạnh chỉ có được trong một cơ thế khoẻ mạnh và trong một xã hộilành mạnh Trạng thái sức khoẻ con người là tiêu chuẩn tổng hợp nhất của tìnhtrạng môi trường

1.2 TÌNH HÌNH VỆ SINH MÔI TRƯỜNG HIỆN NAY VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG

1.2.1 Tình hình vệ sinh môi trường

1.2.1.1 Tình hình vệ sinh môi trường ở nông thôn Việt Nam

Tổ chức Y tế thế giới (WHO) định nghĩa vệ sinh là sự cung cấp các côngtrình vệ sinh và các dịch vụ giải quyết vấn đề chất thải người (phân và nướctiểu) một cách an toàn và duy trì các điều kiện vệ sinh thông qua một số dịch vụnhư thu gom rác và xử lý nước thải Sự cải thiện vệ sinh nông thôn ở Việt Nam

được bắt đầu từ tình trạng vệ sinh kém trong nhiều năm trước đây [9].

Tỷ lệ tiếp cận với nước sạch ở khu vực nông thôn tăng đáng kể, trongnhiều trường hợp người dân đã tự đầu tư xây dựng các công trình vệ sinh chomình Tuy vậy, vấn đề vệ sinh thì cải thiện kém hơn vấn đề nước sạch Kết quảcho thấy việc mở rộng dịch vụ vệ sinh cho các hộ gia đình nghèo đặc biệt là ởcác tỉnh nghèo hơn đã gặp nhiều khó khăn

Kết quả điều tra thực trạng vệ sinh môi trường và vệ sinh cá nhân ở nôngthôn Việt Nam năm 2007 cho thấy: chỉ có 18% tổng số hộ gia đình có nhà tiêuhợp vệ sinh theo tiêu chuẩn của Bộ Y tế, 2,3% người dân nông thôn hiểu rữa tay

Trang 9

bằng xà phòng và nước sạch có thể giúp giảm một số bệnh lây truyền, chỉ có13% người dân nông thôn thật sự rữa tay bằng xà phòng vào hai thời điểm chính(trước khi ăn và sau khi đi vệ sinh) [30].

1.2.1.2 Tình hình vệ sinh môi trường ở địa bàn nghiên cứu

Trà Vinh là một tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, nằm giữa sông Tiền vàsông Hậu Ngoài những nét chung về vệ sinh môi trường của vùng đồng bằng,

Trà Vinh còn có những nét riêng: phía Đông giáp Biển Đông có 65 km bờbiển, hơn 60% diện tích bị nhiễm phèn, nhiễm mặn Nằm phía hạ lưu sôngMêkong về mùa nước, nước lên cao mang nhiều phù sa, nhưng cũng làm chomôi trường bị ô nhiễm nặng, gieo rắc nhiều mầm bệnh từ phía thượng lưu [12]

Việc xử lý phân, rác, chất thải còn chịu ảnh hưởng của tập quán thói quen,phần đông nhân dân vùng nông thôn dùng phân để nuôi cá tra, đây là một tậpquán lâu đời của người dân, có nơi làm cầu tiêu trên sông, rạch, ao, hồ Số người

sử dụng nhà tắm và sử dụng hố xí hợp vệ sinh như: hố xí tự hoại, bán tự hoại vànước sạch còn quá ít, nhất là vùng sâu, vùng đồng bào dân tộc Khmer Tại cácvùng đất giồng cát, vào mùa khô thiếu nước, nhân dân phóng uế bừa bãi trên bờkinh, bãi cát, ruộng rẫy…Gia súc, gia cầm phần lớn nuôi thả lan, không có biệnpháp sử lý phân, một số còn lại nuôi chuồng, phân được cho xuống sông, rạch,

ao, hồ…làm tăng ô nhiễm nguồn nước

a) Về nguồn nước.

Nước phục vụ cho ăn uống sinh hoạt của con người là nhu cầu không thểthiếu được Đồng thời nước cũng là môi trường trung gian truyền bệnh chongười đặc biệt là bệnh đường tiêu hoá [6]

Theo kết quả tổng điều tra của UNICEF tại khu vực nông thôn Việt Namthì các hộ gia đình sử dụng nước uống và sinh hoạt từ các nguồn sau: 33,1%giếng khoan; 31,2% giếng đào; 1,8% nước mưa; 11,7% nước máy; còn lạikhoảng 18,5% sử dụng nước suối, hồ và ao [30]

Trang 10

b) Tình hình sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh

Phân người và gia súc là yếu tố truyền nhiễm chủ yếu của nhiều bệnhnhiễm trùng, ký sinh trùng, đặc biệt là các bệnh đường ruột Sử dụng các hố xíkhông hợp vệ sinh hoặc không có hố xí gây ô nhiễm môi trường tạo nguy cơmắc bệnh hệ tiêu hóa khác như: lỵ trực khuẩn, thương hàn, viêm gan A, giunsán, , các bệnh này góp phần gây suy dinh dưỡng và thiếu máu do thiếu sắt, làmkém sự phát triển và tử vong ở trẻ em và làm giảm sức khỏe cho người lớn cũngnhư cộng đồng dân cư Người chết bởi những bệnh liên quan đến tiêu chảy chủyếu là trẻ em [6]

Một nhà tiêu được đánh giá là hợp vệ sinh khi đáp ứng đầy đủ các chỉ tiêutheo QCVN 01:2011/BYT Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nhà tiêu - Điều kiệnbảo đảm hợp vệ sinh [8], cụ thể:

- Yêu cầu về vệ sinh trong xây dựng: Bể chứa và xử lý phân không bị lún,sụt, rạn nứt, rò rỉ; Nắp bể chứa và bể xử lý phân được trát kín, không bị rạn nứt;Mặt sàn nhà tiêu nhẵn, phẳng và không đọng nước, trơn trượt; Bệ xí có nút nướckín; Có mái lợp ngăn được nước mưa; cửa và xung quanh nhà tiêu được chechắn kín đáo, bảo đảm mỹ quan; Ống thông hơi có đường kính trong ít nhất20mm, cao hơn mái nhà tiêu ít nhất 400mm; Nước thải từ bể xử lý của nhà tiêu

tự hoại phải được chảy vào cống hoặc hố thấm, không chảy tràn ra mặt đất

- Yêu cầu về vệ sinh trong sử dụng và bảo quản: Sàn nhà tiêu, bệ xí sạch,không dính đọng phân, nước tiểu; Không có mùi hôi, thối; không có ruồi, nhặng,gián trong nhà tiêu; Có đủ nước dội; dụng cụ chứa nước dội không có bọ gậy;Giấy vệ sinh sau khi sử dụng bỏ vào lỗ tiêu (nếu là giấy tự tiêu) hoặc bỏ vàodụng cụ chứa giấy bẩn có nắp đậy; Nước sát trùng không được đổ vào lỗ tiêu;Phân bùn phải được lấy khi đầy; bảo đảm vệ sinh trong quá trình lấy, vậnchuyển phân bùn

Theo định nghĩa này, tỷ lệ nhà tiêu hợp vệ sinh trong toàn quốc là 57%(khu vực đồng bằng sông Cửu Long: 42%) [18], tỉnh Trà Vinh là 30,07% [25]

Trang 11

Như vậy, ở nước ta nói chung và tỉnh Trà Vinh nói riêng vấn đề hố xí hợp

vệ sinh còn chưa tốt Hoạt động vệ sinh môi trường chưa được chú ý nhất là ởvùng nông thôn Nguy cơ môi trường bị ô nhiễm do phân người khá cao, đây lànguy cơ tiềm tàng lây lan thành dịch tiêu chảy cấp nguy hiểm trong cộng đồngdân cư

1.2.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến kiến thức thái độ thực hành về vệ sinh môi trường

1.2.2.1 Phong tục, tập quán, thói quen của các tộc người.

Việt Nam là một quốc gia nhiều dân tộc Theo số liệu tổng điều tra dân sốngày 1/4/2009, cả nước có 54 dân tộc, mỗi dân tộc có tiếng nói, phong tục, tậpquán riêng, trong đó có những phong tục, tập quản ảnh hưởng đến sức khoẻ [29]

Phong tục và điều kiện sống ảnh hưởng đến kiến thức thái độ thực hành về

vệ sinh môi trường, dân tộc Kinh có tỉ lệ sử dụng nước hợp vệ sinh cao nhất (92%),

tỉ lệ hố xí hợp vệ sinh là (59%) Tiếp theo là dân tộc Khmer tỉ lệ sử dụng nước hợp

vệ sinh (89%) và hố xí (27%) Các dân tộc còn lại có tỉ lệ sử dụng nước và nhà tiêuhợp vệ sinh thấp hơn do tập quán, thói quen và điều kiện sống [29]

Ví dụ người dân nuôi gia súc ở gầm nhà sàn và gần nhà, sử dụng nướcsông, nước suối hoặc nước khe trong sinh hoạt và ăn uống, ít tắm giặt, không sửdụng hố xí [26] Những phong tục, tập quán, thói quen trên rất chung và phổ biến,

đã và đang ảnh hưởng rất lớn đối với sức khoẻ của cộng đồng Thói quen đi cầutiêu ao cá đã là nguyên nhân quan trọng gây ô nhiễm nguồn nước ăn uống và sinhhoạt của người dân Vì thế cần thay đổi, cải thiện tập quán, thói quen vệ sinh củangười dân là một trong những vấn đề quan trọng và cấp bách nhất hiện nay

1.2.2.2 Điều kiện về, kinh tế, văn hoá, xã hội tại khu vực sống của người dân.

Trong những tháng đầu năm 2012, giá cả hàng hóa tăng giảm liên tục,nhưng nhìn chung giá của các mặt hàng đều tăng, cùng với thiên tai, dịchbệnh tôm sú đã ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống của dân cư đặc biệt là

Trang 12

người nông dân Bên cạnh đó, mức lương tối thiếu tăng từ 830 nghìnđồng/tháng lên 1.050 nghìn đồng/ tháng từ ngày 01/5/2012 đã góp phần cảithiện đời sống cán bộ, công nhân viên chức nhưng trên thực tế vẫn chưa đápứng thỏa đáng nhu cầu đời sống Thu nhập bình quân của người lao động dođịa phương quản lý khoảng 3.841 nghìn đồng/người/tháng, tăng 27% so vớicùng kỳ năm trước; do trung ương quản lý khoảng 7.175 nghìnđồng/người/tháng, tăng 14%; Khu vực sản xuất kinh doanh khoảng 2.000nghìn đồng đến 4.000 nghìn đồng/người/tháng Tổng sản phẩm nội tỉnh(GDP) 6 tháng đầu năm 2012 ước thực hiện đạt 5.016.249 triệu đồng Toàntỉnh có có 48 trường học đạt chuẩn quốc gia, trong đó có 39 trường tiếu học;

121 cơ sở khám, chữa bệnh với 1.620 giường bệnh [11]

Lĩnh vực văn hóa, xã hội có nhiều chuyến biến tích cực; công tác an sinh

xã hội được quan tâm kịp thời; công tác giáo dục, đào tạo, chăm sóc sức khỏenhân dân tiếp tục được cải thiện theo hướng nâng cao chất lượng; các hoạt độngvăn hóa, thế thao không ngừng được đẩy mạnh; an ninh quốc phòng được giữvững và trật tự an toàn xã hội trên địa bàn tỉnh cơ bản ổn định Tuy nhiên nềnkinh tế của tỉnh còn gặp nhiều khó khăn thách thức, tỷ lệ lạm phát tuy đã giảmnhưng vẫn còn cao Giá cả các mặt hàng thiết yếu tăng giảm liên tục gây tâm lýhoang mang cho người dân, đồng thời cũng ảnh hưởng đến tình hình sản xuấttrong tỉnh [11]

Thực trạng trên rõ ràng đã ảnh hưởng rất lớn đến sự thay đổi những hành

vi lành mạnh về sức khoẻ môi trường…

1.2.2.3 Sự quan tâm của các ban ngành, đoàn thể về vệ sinh môi trường.

Vấn đề nâng cao nhận thức cho cộng đồng và giải quyết vấn đề vệ sinhmôi trường bằng tăng cường truyền thông giáo dục sức khoẻ, năng cao kiến thức

và thái độ của người dân về vệ sinh môi trường là hết sức cần thiết Tuy nhiên,vấn đề truyền thông về nước sạch và vệ sinh môi trường chưa nhận được sự ưu

Trang 13

tiên phân bố kinh phí phù hợp nên các chương trình vệ sinh môi trường chưa đạthiệu quả mong muốn, chưa đem lại lợi ích thiết thực cho người dân.

1.3 CHÍNH SÁCH CỦA QUỐC TẾ, CỦA ĐẢNG VÀ CỦA NHÀ NƯỚC

TA VỀ VỆ SINH MÔI TRƯỜNG

1.3.1 Chính sách của Quốc tế

Liên Hiệp Quốc đã tuyên bố lấy thập niên 1981-1990 làm thập niên cấpnước và vệ sinh Quốc tế Năm 1992, Liên Hiệp Quốc cũng đã chính thức chọnngày 22 tháng 3 hàng năm là Ngày quốc tế về Nước nhắc nhở mọi người quantâm hơn về nguồn nước Các Hội nghị nước Liên Hiệp Quốc (1977), Quốc tếUống Nước sạch và Vệ sinh môi trường thập kỷ (1981-1990), các Hội nghị quốctế về nước và Môi trường (1992) và Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất (1992) - tấtcả tập trung vào nguồn tài nguyên quan trọng này [31]

Từ năm 1982 với sự tài trợ của tổ chức UNICEF, dự án cung cấp nướcsinh hoạt nông thôn bắt đầu được triển khai

1.3.2 Chính sách của Việt Nam

Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến vấn đề bảo vệ môi trường nóichung và nước sạch vệ sinh môi trường nói riêng Các chủ trương chính sách đãđược ban hành thể hiện rõ sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với vấn đềnâng cao chất lượng cuộc sống và bảo vệ môi trường

Chỉ thị số 36- CT/TW của Bộ Chính trị (khoá VIII) về tăng cường côngtác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước,công tác bảo vệ môi trường ở nước ta trong những năm chuyển giao 2 thế kỷ đã

Trang 14

Gần đây là Quyết định số 366/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình Mục tiêuquốc gia Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn giai đoạn 2012 – 2015 đểtừng bước hiện thực hóa Chiến lược quốc gia về cấp nước sạch và vệ sinh nôngthôn đến năm 2020, cải thiện điều kiện cung cấp nước sạch, vệ sinh, nâng caonhận thức, thay đổi hành vi vệ sinh và giảm thiểu ô nhiễm môi trường, góp phầnnâng cao sức khỏe và chất lượng sống cho người dân nông thôn [21].

Ta có thể dễ dàng nhận thấy sự ảnh hưởng của các yếu tố vệ sinh môitrường đến sức khỏe cộng đồng Vì vậy, cần thiết phải đánh giá đúng thực trạnghành vi của người dân trong việc vệ sinh môi trường cũng như kiến thức, thái

độ, thực hành của người dân, các yếu tố ảnh hưởng và đề ra các giải pháp trướcmắt cũng như lâu dài Việc thực hiện nghiên cứu hành vi của người dân về vệsinh môi trường sẽ giúp xác định các yếu tố ảnh hường đến hành vi vệ sinh môitrường của người dân, cho thấy các yếu tố hành vi trong việc vệ sinh môi trườngsống sẽ ảnh hưởng ra sao đến khả năng ngăn ngừa bệnh tật lây lan

Trang 15

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

2.1.1 Đối tượng

Hộ gia đình sống tại các xã vùng nông thôn trên địa bàn tỉnh Trà Vinh

2.1.2 Tiêu chuẩn chọn

Đại diện hộ gia đình sống tại các xã vùng nông thôn trên địa bàn tỉnh TràVinh

2.1.3 Tiêu chuẩn chọn loại trừ

Gia đình không đồng ý tham gia hoặc mất khả năng về trí tuệ

2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1.1 Thiết kế nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang

c: mức chính xác của nghiên cứu (chấp nhận 5%)

Trang 16

  384 , 16

05 , 0

5 , 0 1 5 , 0 96 , 1

2.2.3 Phương pháp chọn mẫu

Chọn mẫu nhiều giai đoạn (mẫu chùm hai giai đoạn): Giai đoạn 1 chọncụm (xã); Giai đoạn 2 chọn đối tượng nghiên cứu (hộ gia đình) [14]

2.2.4 Kỹ thuật chọn mẫu

Sử dụng kỹ thuật chọn mẫu ngẫu nhiên:

Đánh số thứ tự từ 1 đến 85 cho 85 xã thuộc tỉnh Trà Vinh, tên xã đượcxếp theo A, B, C

Chọn 40 cụm để nghiên cứu tương ứng 40 xã bằng cách dùng bảng sốngẫu nhiên để chọn Số hộ gia đình tương ứng của mỗi xã là 20 hộ

Từ mỗi xã ta chọn ra danh sách 20 hộ gia đình bằng cách chọn ngẫu nhiênnhư sau: Căn cứ vào danh sách hộ gia đình của xã, khoảng cách mẫu (k) xácđịnh bằng cách lấy tổng số hộ gia đình của xã chia cho 20 Một số ngẫu nhiên(x) nằm giữa 1 và khoảng cách mẫu (k) sẽ được chọn bằng cách sử dụng bảng sốngẫu nhiên

Hộ thứ nhất có số thứ tự tương ứng số ngẫu nhiên Hộ tiếp theo đượcchọn bằng cách cộng khoảng cách mẫu với số ngẫu nhiên (x+k) Các hộ tiếptheo được tính theo (x+2k), (x+3k) và tiếp tục như vậy đến hộ gia đình thứ(x+20k)

Trang 17

2.2.5 Biến số trong nghiên cứu

2.2.5.1 Chỉ số về tình hình kinh tế, văn hoá, xã hội của các hộ gia đình điều tra.

- Hộ nghèo: Theo Quyết định 09/2011/QĐ-TTg ngày 30 tháng 01 năm

2011 của Thủ tướng Chính phủ Về việc ban hành chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèoáp dụng cho giai đoạn 2011 – 2015 [20]

Chuẩn này được tính theo mức thu nhập bình quân đầu người trong hộcho từng vùng cụ thể như sau:

+ Hộ nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000đồng/người/tháng (từ 4.800.000 đồng/người/năm) trở xuống

+ Hộ nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 500.000 đồng/người/tháng (từ 6.000.000 đồng/người/năm) trở xuống

Như vậy các xã trong nghiên cứu là xã nông thôn, chuẩn nghèo sẽ là hộgia đình có mức thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/người/tháng (từ 4.800.000đồng/người/năm) trở xuống

+ Tốt nghiệp trung học cơ sở: là người đã từng đi học và tốt nghiệp trunghọc cơ sở, kể cả người đã từng học trung học phổ thông nhưng chưa đỗ tốtnghiệp bậc học này

+ Tốt nghiệp trung học phổ thông trở lên: là người đã từng đi học và tốtnghiệp trung học phổ thông, hoặc đã hay chưa tốt nghiệp các bậc học cao hơntrung học phổ thông như cao đẳng, đại học, thạc sỹ, tiến sĩ

Trang 18

2.2.5.2 Nhóm các chỉ số về vệ sinh môi trường

- Nước giếng hợp vệ sinh: Giếng xây cách chuồng gia súc, hố xí > 10 m,đường kính 0,8 - 2 m, sâu > 5 m, bờ xung quanh giếng cao hơn mặt đất > 0,8 m,sân giếng rộng > 1m, có rãnh thoát nước, có giá để treo gầu [3]

Thực hiện đánh giá chất lượng nước sinh hoạt hợp vệ sinh theo tiêu chícủa Thông tư số 15/2006/TT-BYT ngày 30/11/2006 của Bộ Y tế về việc hướngdẫn việc kiểm tra vệ sinh nước sạch, nước ăn uống và nhà tiêu hộ gia đình [7]

- Nước sinh hoạt hợp vệ sinh là nước giếng, nước mưa, nước ao, hồ đượcbảo vệ không bị ô nhiễm (có nắp đậy, có bờ che chắn) Nước này dùng cho tắmrửa là chính; nếu dùng cho ăn uống thì phải lắng, lọc, khử trùng và đun sôi.Đánh giá nguồn nước nhìn bằng mắt thường: nước trong, không màu, khôngmùi, vị, không có mạch ngang thấm vào [3]

- Hố xí hợp vệ sinh: là hố xí đảm bảo diệt trừ mầm bệnh không để cho

mầm bệnh phát tán ra ngoài môi trường đề không làm ô nhiễm đất, nước bề mặt,nước ngầm, không có mùi hôi thối, không có ruồi nhặng, không thu hút côntrùng và gia súc Nếu là hố xí 2 ngăn: sạch, không mùi hôi, không ruồi, ủ kín đủ

2 tháng, có mái che, có cửa, có rãnh nước tiểu Nếu là hố xí thấm hay tự hoại:sạch, không hôi, đủ nước dội, không có ruồi [8]

2.2.5.3 Đánh giá kiến thức, thái độ và thực hành (KAP) về phòng bệnh

Cách phân mức độ KAP trong nghiên cứu dựa vào kết quả cho điểm theoKAP Để việc cho điểm được chính xác, chúng tôi phân ra làm 3 loại biến đó làbiến kiến thức (K), biến thái độ (A) và biến thực hành (P) cho mỗi vấn đề cầnnghiên cứu Mỗi biến được tính tổng là 10 điểm, số điểm này sẽ được chia ratrong các câu một cách phù hợp

Phân mức độ như sau:

- Số điểm đạt được từ 5 - 10 điểm: xếp loại tốt

Trang 19

- Số điểm đạt được < 5 điểm: xếp loại không tốt

2.2.6 Phương pháp thu thập số liệu

Điều tra viên tiến hành phỏng vấn trực tiếp với đối tượng điều tra tại các

hộ gia đình

Quan sát đánh giá các thông tin về vệ sinh môi trường tại hộ gia đình.Kết quả được ghi chép vào phiếu in sẵn (có phụ lục kèm theo)

2.2.7 Các bước tiến hành thu thập số liệu

Tập huấn và hướng dẫn kỹ thuật phỏng vấn thu thập số liệu cho cán bộđiều tra để hạn chế tối đa sai số

Làm việc trực tiếp với Uỷ ban nhân dân xã và Trạm Y tế xã để thông báoviệc điều tra và chọn ngẫu nhiên hộ gia đình, quá trình điều tra để phục vụ côngtác nghiên cứu, không sử dụng số liệu vào các báo cáo kiểm tra

2.2.8 Phương pháp khống chế sai số

Thiết kế các phiếu điều tra: Phiếu được nhóm nghiên cứu thiết kế theoyêu cầu của chuyên đề Phiếu xây dựng xong tiến hành điều tra thử nghiệm sau

đó chỉnh lý lại trước khi chế bản thành phiếu chính thức

Đội ngũ điều tra viên và giám sát viên được tập huấn nội dung điều tra kỹ,thống nhất trước khi tiến hành thực hiện; Ghi chép đầy đủ thông tin trong phiếu;Các số liệu được làm sạch ngay tại cộng đồng; Các phiếu điều tra được các giámsát viên kiểm tra và xác nhận

2.2.9 Phương pháp xử lý số liệu

Số liệu được nhập và xử lý bằng chương trình Stata 8.0

Sử dụng test thống kê 2

 với mức ý nghĩa thống kê p < 0,05

2.2.10 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Thời gian tiến hành nghiên cứu: Từ 3/2014 đến 10/2014

Trang 20

Địa điểm nghiên cứu: Tại các xã trên địa bàn tỉnh Trà Vinh.

Trang 21

2.3 ĐẠO ĐỨC TRONG NGHIÊN CỨU

Đây là một nghiên cứu tại cộng đồng nhằm mục đích tìm hiểu kiến thức,thái độ của người dân đối với hành vi về vệ sinh môi trường

Phương pháp nghiên cứu không gây tổn hại về thể chất hoặc tinh thần tớisức khoẻ con người và không vi phạm về y đức

Trang 22

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 ĐẶC ĐIỂM CHUNG VỀ MẪU NGHIÊN CỨU

3.1.1 Phân bố theo giới, nhóm tuổi

Bảng 3.1: Phân bố giới tính theo nhóm tuổi

Biểu đồ 3.1 Phân bố đối tượng điều tra theo giới tínhNhận xét: Qua bảng 3.1 và biểu đồ 3.1, chúng tôi nhận thấy đối tượng trong nghiên cứu chiếm đa số ở nhóm tuổi từ 30 đến 45 (chiếm 71,13% tổng số),trong đó tỷ lệ nam chiếm đa số (55,63%)

Trang 23

3.1.2 Phân bố theo dân tộc

Bảng 3.2: Phân bố đối tượng nghiên cứu theo dân tộc

Biểu đồ 3.2 Phân bố dân tộc trong nghiên cứuNhận xét: Qua bảng 3.2 và biểu đồ 3.2 chúng tôi nhận thấy dân tộc kinhchiếm đại đa số (79,88%) tại thời điểm điều tra

3.1.3 Phân bố theo nghề nghiệp

Bảng 3.3: Phân bố đối tượng nghiên cứu theo nghề nghiệp

Nghề nghiệp Số lượng (n) Tỉ lệ (%)

Trang 24

27.2546

5.519.5

Làm ruộng, vườnBuôn bán

Nội trợCBCCHưu tríNghề khác

Biểu đồ 3.3 So sánh nghề nghiệp của đối tượng nghiên cứu

Nhận xét: Qua Bảng 3.3 và Biểu đồ 3.3 chúng tôi nhận thấy tỷ lệ ngườilàm ruộng, vườn trong nghiên cứu này là 46%, chiếm đa số so với các thànhphần khác

3.1.4 Phân bố theo trình độ học vấn

Bảng 3.4: Phân bố đối tượng nghiên cứu theo trình độ học vấn

Trình độ học vấn Số lượng

(n)

Tỉ lệ (%)

Tốt nghiệp trung học phổ thông trở lên 259 32,37

Chưa tốt nghiệp tiểu họcTốt nghiệp tiểu họcTốt nghiệp THCSTốt nghiệp PTTH trở lên

Biểu đồ 3.4 Trình độ học vấn của đối tượng điều tra

Trang 25

Nhận xét: Qua Bảng 3.4 và Biểu đồ 3.4, chúng tôi nhận thấy số đối tượng

có trình độ học vấn là tốt nghiệp tiểu học (32,37%) và tốt nghiệp phổ thôngtrung học trở lên (30,63%) chiếm đa số

3.1.5 Phân bố theo điều kiện sống

Bảng 3.5: Phân bố đối tượng nghiên cứu theo điều kiện sống

Điều kiện sống Số lượng (n) Tỉ lệ (%)

Biểu đồ 3.5 Tình hình kinh tế của hộ gia đình trong nghiên cứu

Nhận xét: Qua bảng 3.5 và biểu đồ 3.5, chúng tôi nhận thấy tỷ lệ hộ nghèochiếm 10 %

Trang 26

3.1.6 Nguồn truyền thông tại các hộ gia đình

Bảng 3.6: Phân bố đối tượng nghiên cứu theo tiếp cận nguồn truyền thông

Nguồn truyền thông Số lượng (n) Tỉ lệ (%)

Biểu đồ 3.6 Hình hình kinh tế của hộ gia đình trong nghiên cứu

Nhận xét: Qua bảng 3.5 và biểu đồ 3.5, chúng tôi nhận thấy tỷ lệ ngườidân biết được các kiến thức qua Tivi là nhiều nhất, chiếm 81,5%, Báo và tạp chí(10,12%), cán bộ y tế (5,12%)

Ngày đăng: 05/09/2016, 09:36

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3. 10: Khoảng cách từ hố xí tới nguồn nước - Nghiên cứu kiến thức, thái độ, thực hành về vệ sinh môi trường của người dân nông thôn tỉnh Trà Vinh năm 2014
Bảng 3. 10: Khoảng cách từ hố xí tới nguồn nước (Trang 25)
Bảng  3.13: Kết quả điều tra của người dân về nhà tiêu - Nghiên cứu kiến thức, thái độ, thực hành về vệ sinh môi trường của người dân nông thôn tỉnh Trà Vinh năm 2014
ng 3.13: Kết quả điều tra của người dân về nhà tiêu (Trang 26)
Bảng 3.16:  Kết quả điều tra nhà tiêu hộ gia đình - Nghiên cứu kiến thức, thái độ, thực hành về vệ sinh môi trường của người dân nông thôn tỉnh Trà Vinh năm 2014
Bảng 3.16 Kết quả điều tra nhà tiêu hộ gia đình (Trang 27)
Bảng 3.15:  Sự cần thiết phải xây nhà tiêu để bảo vệ sức khỏe - Nghiên cứu kiến thức, thái độ, thực hành về vệ sinh môi trường của người dân nông thôn tỉnh Trà Vinh năm 2014
Bảng 3.15 Sự cần thiết phải xây nhà tiêu để bảo vệ sức khỏe (Trang 27)
Bảng  3.18: Tác hại của phân gia súc - Nghiên cứu kiến thức, thái độ, thực hành về vệ sinh môi trường của người dân nông thôn tỉnh Trà Vinh năm 2014
ng 3.18: Tác hại của phân gia súc (Trang 28)
Bảng  3.19: Sự cần thiết phải làm chuồng gia súc xa nhà - Nghiên cứu kiến thức, thái độ, thực hành về vệ sinh môi trường của người dân nông thôn tỉnh Trà Vinh năm 2014
ng 3.19: Sự cần thiết phải làm chuồng gia súc xa nhà (Trang 28)
Bảng 3.17 và Biểu đồ 3.8 cho thấy kiến thức, thái độ, thực hành của người  dân về nhà tiêu đa số là tốt, trong đó thái độ tốt (97%), thực hành tốt (84,38%) - Nghiên cứu kiến thức, thái độ, thực hành về vệ sinh môi trường của người dân nông thôn tỉnh Trà Vinh năm 2014
Bảng 3.17 và Biểu đồ 3.8 cho thấy kiến thức, thái độ, thực hành của người dân về nhà tiêu đa số là tốt, trong đó thái độ tốt (97%), thực hành tốt (84,38%) (Trang 41)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w