PHẦN MỞ ĐẦU Trong thời gian dài trước đây chúng ta quan niệm y tế, giáo dục ... là các lĩnh vực “ phi sản xuất vật chất”, có nghĩa đối lập với lĩnh vực sản xuất vật chất như nông nghiệp, công nghiệp. Chính quan điểm sai lầm này đã kéo theo sự đầu tư thấp vì xem như đầu tư vào các lĩnh vực này là tiêu tốn nguồn lực của Nhà nước mà không sáng tạo ra giá trị và giá trị sử dụng. Các bệnh viện chỉ đơn thuần là cơ quan hành chính sự nghiệp thu đủ, chi đủ. Chuyển sang kinh tế thị trường chúng ta đã có những thay đổi căn bản trong nhận thức, quan điểm về ngành y tế. Ngành y tế được coi là một ngành trong hệ thống kinh tế quốc dân và thuộc nhóm ngành dịch vụ phục vụ các nhu cầu có tính chất phúc lợi xã hội. Nói cách khác, ngành y tế có đóng góp vào GDP của đất nước. Đầu tư cho y tế không phải là tiêu phí mà là đầu tư cơ bản, đầu tư cho phát triển. Theo quan điểm mới, bệnh viện là một đơn vị kinh tế dịch vụ nhưng khác với các đơn vị kinh doanh dịch vụ bởi hoạt động cung cấp dịch vụ của bệnh viện không đặt mục tiêu lợi nhuận làm mục tiêu quan trọng nhất. Đơn vị kinh tế dịch vụ thông qua các hoạt động dịch vụ của mình để có thu nhập và tích cực hoạt động không vì doanh lợi. Xuất phát từ quan niệm mới trên, Đảng và Nhà nước ta đã có những thay đổi căn bản trong cơ chế quản lý tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp có thu trong chương trình nghị sự cải cách tài chính công. Đó là: Thứ nhất, thay cho việc cấp kinh phí theo số lượng biên chế như hiện nay bằng việc tính toán kinh phí căn cứ vào kết quả và chất lượng hoạt động, hướng vào kiểm soát đầu ra, chất lượng chi tiêu theo mục tiêu cho đơn giản hơn, tăng quyền chủ động cho đơn vị sử dụng ngân sách. Thứ hai, xoá bỏ cơ chế cấp phát theo kiểu “ Xin Cho”, thực hiện chế độ tự chủ tài chính cho các đơn vị sự nghiệp trên cơ sở xác định nhiệm vụ phải thực hiện, mức hỗ trợ tài chính từ ngân sách và phần còn lại do đơn vị tự trang trải. Thứ ba, khuyến khích các nhà đầu tư trong và ngoài nước phát triển trong các lĩnh vực y tế . Khuyến khích liên doanh, liên kết và đầu tư trực tiếp vào lĩnh vực này. Thực tế trên đòi hỏi quản lý tài chính trong bệnh viện vừa phải đảm bảo các mục tiêu tài chính vừa đảm bảo tính hiệu quả, công bằng trong chăm sóc sức khoẻ. Quản lý tài chính bệnh viện trở thành chìa khoá quyết định sự thành công hay thất bại trong việc quản lý bệnh viện; quyết định sự tụt hậu cũng như phát triển của bệnh viện. Đề tài “Đổi mới cơ chế q uả n lý tài chính ở các cơ s ở khá m , chữa b ện h công lập tỉnh An Giang hiện nay” được lựa chọn nghiên cứu nhằm tìm ra hướng thực hiện hữu hiệu hoạt động tài chính các cơ sở khám, chữa bệnh công lập tỉnh An Giang hiện nay đáp ứng yêu cầu của thực tiễn này.
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
Trong thời gian dài trước đây chúng ta quan niệm y tế, giáo dục là các lĩnhvực “ phi sản xuất vật chất”, có nghĩa đối lập với lĩnh vực sản xuất vật chất như nôngnghiệp, công nghiệp Chính quan điểm sai lầm này đã kéo theo sự đầu tư thấp vì xemnhư đầu tư vào các lĩnh vực này là tiêu tốn nguồn lực của Nhà nước mà không sáng tạo
ra giá trị và giá trị sử dụng Các bệnh viện chỉ đơn thuần là cơ quan hành chính sựnghiệp thu đủ, chi đủ
Chuyển sang kinh tế thị trường chúng ta đã có những thay đổi căn bản trongnhận thức, quan điểm về ngành y tế Ngành y tế được coi là một ngành trong hệ thốngkinh tế quốc dân và thuộc nhóm ngành dịch vụ phục vụ các nhu cầu có tính chất phúclợi xã hội Nói cách khác, ngành y tế có đóng góp vào GDP của đất nước Đầu tư cho y
tế không phải là tiêu phí mà là đầu tư cơ bản, đầu tư cho phát triển Theo quan điểmmới, bệnh viện là một đơn vị kinh tế dịch vụ nhưng khác với các đơn vị kinh doanhdịch vụ bởi hoạt động cung cấp dịch vụ của bệnh viện không đặt mục tiêu lợi nhuậnlàm mục tiêu quan trọng nhất Đơn vị kinh tế dịch vụ thông qua các hoạt động dịch vụcủa mình để có thu nhập và tích cực hoạt động không vì doanh lợi
Xuất phát từ quan niệm mới trên, Đảng và Nhà nước ta đã có những thay đổi căn bản trong cơ chế quản lý tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp có thu trong
chương trình nghị sự cải cách tài chính công Đó là:
Thứ nhất, thay cho việc cấp kinh phí theo số lượng biên chế như hiện nay bằngviệc tính toán kinh phí căn cứ vào kết quả và chất lượng hoạt động, hướng vào kiểm soát đầu ra, chất lượng chi tiêu theo mục tiêu cho đơn giản hơn, tăng quyền chủ động cho đơn vị sử dụng ngân sách
Thứ hai, xoá bỏ cơ chế cấp phát theo kiểu “ Xin- Cho”, thực hiện chế độ tự chủtài chính cho các đơn vị sự nghiệp trên cơ sở xác định nhiệm vụ phải thực hiện, mức
hỗ trợ tài chính từ ngân sách và phần còn lại do đơn vị tự trang trải
Trang 2Đề tài “Đổi mới cơ chế q uả n lý tài chính ở các cơ s ở khá m , chữa b ện h công lập tỉnh An Giang hiện nay” được lựa chọn nghiên cứu nhằm tìm ra hướng thực
hiện hữu hiệu hoạt động tài chính các cơ sở khám, chữa bệnh công lập tỉnh An Gianghiện nay đáp ứng yêu cầu của thực tiễn này
CHƯƠNG 1:
CƠ CHẾ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI CÁC CƠ SỞ KHÁM, CHỮA BỆNH
CÔNG LẬP Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
1.1 Tài chính và cơ chế quản lý tài chính ở các cơ sở khám, chữa b ê n h
c ôn g lậ p:
1.1.1 Khái n iêm chu ng về tài chính
• Khái niệm tài chính:
Tài chính là phạm trù kinh tế, phản ánh các quan hệ phân phối của cải xã hộidưới hình thức giá trị Phát sinh trong quá trình hình thành, tạo lập, phân phối các quỹtiền tệ của các chủ thể trong nền kinh tế nhằm đạt mục tiêu của các chủ thể ở mỗi điềukiện nhất định
• Bản chất của tài chính:
Tài chính được đặc trưng bằng sự vận động độc lập tương đối của tiền tệ chủyếu với chức năng phương tiện thanh toán và phương tiện cất trữ trong quá trình tạo
Trang 3lập và sử dụng các quỹ tiền tệ đại diện cho sức mua nhất định ở các chủ thể kinh tế - xãhội.
Tài chính phản ánh tổng hợp các mối quan hệ kinh tế nảy sinh trong quá trìnhphân phối các nguồn tài chính thông qua việc tạo lập hoặc sử dụng các quỹ tiền
• Chức năng của tài chính:
* Chức năng phân phối
Chức năng phân phối của tài chính là một khả năng khách quan của phạm trùtài chính Con người nhận thức và vận dụng khả năng khách quan đó để tổ chức việcphân phối của cải xã hội dưới hình thức giá trị Khi đó, tài chính được sử dụng với tưcách một công cụ phân phối
1.1.2 C ơ ch ế q uả n lý tài ch ính
Cơ chế tài chính là toàn bộ những phương thức, cách thức chi trả và thanh toáncác dịch vụ đã được cung cấp, phù hợp với pháp luật và nhằm đảm bảo cho ngườicung cấp dịch để duy trì hoạt động cung cấp một cách bình thường
Hiện cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công đang được thựcthi theo Nghị dịnh số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ quy định quyền
tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tàichính đối với đơn vị sự nghiệp công lập Nghị định này gồm có 5 Chương và 35 Điều.Quá trình triển khai thực hiện, Bộ Tài chính có Thông tư số 71/2006/TT-BTC của BộTài chính ngày 09/8/2006 hướng dẫn và quy định cụ thể một số Điều của Nghị định số
Trang 443/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 và Thông tư số 113/2007/TT-BTC ngày 24/9/2007hướng dẫn, sửa đội bổ sung một số nội dung của có Thông tư số 71/2006/TT-BTCngày 09/8/2006
* Nguồ n tài chín h
- Kinh phí do ngân sách nhà nước cấp, gồm:
Kinh phí bảo đảm hoạt động thường xuyên thực hiện chức năng, nhiệm vụ đốivới đơn vị bảo đảm một phần chi phí hoạt động (sau khi đã cân đối nghuồn thu sựnghiệp); được cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp giao, trong phạm vị dự toán được cấp
có thẩm quyền giao;
Kinh phí thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ;
Kinh phí thực hiện chương trình đào tạo bồi dưỡng cán bộ, viên chức;
Kinh phí thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia;
Kinh phí thực hiện các nhiệm vụ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền đặt hàng(điều tra, quy hoạch, khảo sát, nhiệm vụ khác);
Kinh phí thực hiện nhiệm vụ đột xuất được cấp có thẩm quyền giao;
Kinh phí thực hiện chính sách tinh giản biên chế theo chế độ do nhà nước quyđịnh (nếu có);
Vốn đầu tư xây dựng cơ bản, kinh phí mua sắm trang thiết bị, sửa chữa lớn tàisản cố định phục vụ hoạt động sự nghiệp theo dự án được cấp có thẩm quyền phêduyệt trong phạm vi dự toán được giao hàng năm;
Vốn đối ứng thực hiện các dự án có nguồn vốn nước ngoài được cấp cóthẩm quyền phê duyệt;
Kinh phí khác (nếu có)
- Nguồn thu từ hoạt động sự nghiệp, gồm:
Trang 5Phần được để lại từ số thu phí, lệ phí thuộc ngân sách nhà nước theo quy địnhcủa pháp luật;
Thu từ hoạt động dịch vụ;
Thu từ hoạt động sự nghiệp khác (nếu có);
Lãi được chia từ các hoạt động liên doanh, liên kết, lãi từtiềngửi ngânhàng
- Nguồn viện trợ, tài trợ, quà biếu, tặng, cho theo quy định của phápluật
Căn cứ tính chất công việc, thử trưởng đơn vị được quyết định phương thứckhoán chi phí cho từng phí cho từng bộ phận, đơn vị trực thuộc
Quyết định đầu tư xây dựng, mua sắm mới và sửa chữa lớn tài sản thực hiệntheo quy định của pháp luật và quy định tại Nghị định này
Trang 61.1.3 Cơ s ở khá m , chữa b ênh cô ng lậ p
* Mô hìn h hê thống tổ chức cơ s ở khá m , chữa b ên h công lập Viêt Na m theo 2 khu vực.
- Khu vực y tế chuyên sâu: có 3 khu vực: Miền Bắc (Hà Nội); Miền Trung (Huế); Miền Nam (thành phố Hồ Chí Minh); đang xây dựng khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long (Cần Thơ)
Việc phân cấp quản lý ngân sách y tế thành 4 cấp quản lý như trình bày ở trên
có mặt tích cực là trao quyền chủ động về điều hành chi ngân sách nhà nước cho y tế cho từng cấp chính quyền, gắn vời việc chi ngân sách cho y tế với trách nhiệm chăm
Trang 7sóc sức khỏe nhân dân của từng cấp chính quyền cơ sở Tuy vậy nó cũng có hạn chế là
có sự chia cắt về ngân sách y tế giữa các cấp chính quyền
Bộ Y tế có rất ít thông tin về ngân sách y tế của tỉnh, không phát huy hết vai trò kiểm soát việc thực hiện chính sách đầu tư cho y tế ở các địa phương Do vậy, cần thiết phải xây dựng một cơ chế quản lý và cung cấp thông tin
1.1.4 C ơ chế q u ản lý tài chín h ở các cơ s ở khám , chữa b ên h công lập
Đặc trưng của hệ thống y tế là bệnh viện Bệnh viên có trách nhiệm khám, chữabệnh cho cán bộ và nhân dân theo đúng luật bảo vệ sức khỏe nhân dân và các quy địnhkhác của Nhà nước Bên cạnh đội ngũ bác sỹ, y tá giỏi về nghiệp vụ và chuyên mônbệnh viện cần phải có nguồn kinh phí để duy trì hoạt động
Trang 8của mình Ngoài việc đầu tư mua sắm trang thiết bị y tế phục vụ cho công táckhám, chữa bệnh, còn phải có lương và phụ cấp cho cán bộ - viên chức của bệnh viện,chi phí cho quản lý hành chính, chi cho sửa chữa bảo dưỡng thường xuyên,.
Cơ chế tài chính ở bệnh viện công lập là hệ thống những quy định của nhà nước
về nguồn tài chính cho việc cung cấp và tiếp cận các dịch vụ y tế bệnh viện công lập,góp phần thực hiện chính sách chăm sóc sức khỏe đối với người dân
Có ba hình thức cung cấp tài chính cho dịch vụ y tế bệnh viện công lập:
Trước hết, ngân sách nhà nước là nguồn để nhà nước đầu tư cơ sở vật chất kỹthuật cho các bệnh viện công lập Ngân sách nhà nước cũng là nguồn đảm bảo mộtphần chi hoạt động thường xuyên của hệ thống bệnh viện công lập
T hứ h ai là chi p hí từ túi n gười dân.
Dịch vụ y tế cũng mang ý nghĩa là hành hóa Vì thế, việc cá nhân người bệnhphải trực tiếp chi trả cho các dịch vụ là điều tự nhiên Khoản chi này, ở nước ta đượcgọi là Viện phí
T hứ b a là cá c m ô hình ch i trả trước cò n gọi là b ảo hiểm y tế.
Bảo hiểm y tế là một trong những biện pháp chia sẽ rủi ro về chi phí y tế giữa
cá nhân và cộng đồng Bảo hiểm y tế được khai thác bằng hai hình thức là
bảo hiểm y tế bắt buộc và bảo hiểm y tế tự nguyện.
Ngân sách nhà nước giữ vai trò chủ yếu trong đầu tư xây dựng cơ sở vật chấttrang thiết bị trong lĩnh vực y tế Chi hoạt động thường xuyên là các nội dung chinhằm đảm bảo sự hoạt động bình thường của công tác y tế, chăm sóc sức khỏe nhândân Theo tính chất chi, chi hoạt động thường xuyên có thể phân biệt thành hai nội
dung chi: thứ nhất là chi cho công tác y tế dự phòng và thứ hai là chi trực tiếp cho
công tác khám, chữa bệnh
Chi cho công tác khám, chữa bệnh là các chi phí cần thiết cho máy móc thiết bị,thuốc, máu, dịch truyền, vật tư y tế, phục vụ trực tiếp và bị tiêu hao trong quá trìnhđiều trị trực tiếp cho người bệnh
Theo luật Ngân sách được Quốc hội thông qua năm 2002, tại cấp tỉnh việc quản
lý và phân bổ ngân sách y tế thuộc quyền của Ủy ban nhân dân tỉnh ủy nhiệm cho SởTài chính Việc phân bổ ngân sách y tế đều dựa vào định mức quy định theo Thông tư
số 08 của Bộ Tài chính, theo đó định mức được tính theo số giường bệnh đối với hoạtđộng khám, chữa bệnh
Trang 91.2 C hủ trươn g, c h ín h s á c h củ a Đả n g và Nh à n ước về đổi mới c ơ
c h ế q uả n lý tà i chín h đối với ngành y tế ở nước ta hiên nay.
Để khắc phục phục tình trạng cấp trên can thiệp quá sâu vào công việc của cấp
dưới, cấp dưới chờ đợi sự chỉ đạo cụ thể của cấp trên thì “cơ chế tự chủ về tài chính đối với các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp ” tất yếu phải được ra đời để tạo
tiền đề cho việc đổi mới phương thức quản lý tài chính theo hướng kết quả đầu ra, thúcđẩy cải cách thủ tục hành chính trong các khâu phân bổ, chấp hành và quyết toán Ngânsách nhà nước
Đổi mới cơ chế hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập, đẩy mạnh xã hộihóa các đơn vị sự nghiệp dịch vụ công là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước
ta Tại Kết luận số 37- TB/TW ngày 26/5/2011 của Bộ Chính trị, Đảng ta đã thể hiệnquyết tâm chính trị mạnh mẽ: “Đổi mới cơ chế hoạt động của các đơn vị sự nghiệpcông lập, đẩy mạnh xã hội hóa một số loại hình dịch vụ sự nghiệp công” Đây được coi
là một trong những nhiệm vụ then chốt, góp phần hoàn thiện thể chế của nền kinh tếthị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện mục tiêu đến năm 2020 đưa nước ta
cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại
Để thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước, Chính phủ đã ban hành Nghịđịnh số 85/2012/NĐ-CP ngày 15/10/2012 quy định về cơ chế hoạt động, cơ chế tàichính đối với các đơn vị sự nghiệp y tế công lập và giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnhcủa các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh công lập
Hiện nay, Bộ Y tế đang khẩn trương xây dựng, phối hợp cùng Bộ Tài chính vàcác Bộ liên quan xây dựng các Thông tư hướng dẫn thực hiện Nghị định 85 nhằm đổimới cơ bản cơ chế tài chính của các đơn vị sự nghiệp y tế Chỉ đạo các đơn vị, địaphương triển khai thực hiện Thông tư liên tịch số 04/2012/TTLT-BYT-BTC ngày29/02/2012 ban hành mức tối đa khung giá của 447 dịch vụ kỹ thuật y tế theo lộ trìnhđịnh hướng của Chính phủ là không thực hiện cùng một thời điểm, mức điều chỉnhhợp lý để phục vụ mục tiêu kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô Tiếp tục hoànchỉnh để ban hành Thông tư hướng dẫn thực hiện Nghị định 69/2008/NĐ-CP và đẩymạnh xã hội hóa các nguồn vốn đầu tư như vay vốn tín dụng ưu đãi của Ngân hàngphát triển, Quỹ kích cầu (Công ty đầu tư tài chính Tp Hồ Chí Minh) để đầu tư xâydựng cơ sở hạ tầng cho các bệnh viện đang trong tình trạng quá tải
Về đổi mới phương thức thanh toán giá dịch vụ bệnh viện thông qua thí điểmthu trọn gói theo trường hợp bệnh, theo định suất để nâng cao hiệu quả sử dụng nguồnlực, kiểm soát chi phí khám, chữa bệnh Số địa phương triển khai thanh toán theo địnhsuất tăng lên qua các năm, đấn năm 2012 chỉ còn duy nhất Tp Hồ Chí Minh chưa triểnkhai phương thức thanh toán này
CHƯƠNG 2:
Trang 10THỰC TRẠNG CƠ CHẾ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH Ở CÁC CƠ SỞ KHÁM, CHỮA BỆNH CÔNG LẬP TỈNH AN GIANG TỪ NĂM 2010 - 2013
2.1 Đặ c điểm c á c c ơ s ở kh ám , c h ữa b ê n h c ô n g lậ p tỉn h An Giang.
• Bệnh viện đa khoa: Bệnh viện đa khoa Trung tâm An Giang, Bệnh viện
đa khoa khu vực tỉnh
• Bệnh viện chuyên khoa: bệnh viện Tim Mạch, bệnh viện Mắt - Tai Mũi Họng - Răng Hàm Mặt
* C hức n ăng Bên h viên đa kh o a tỉn h
- Cấp cứu, khám bệnh, chữa bệnh
- Đào tạo cán bộ y tế
- Nghiên cứu khoa học
- Chỉ đạo tuyến dưới
- Hợp tác Quốc tế
- Quản lý kinh tế y tế
* C ơ cấ u tổ chức Bên h viên đa kh o a
- Các phòng chức năng: Phòng Tổ chức cán bộ, phòng Kế hoạch tổnghợp, phòng Tài chính kế toán, phòng Điều dưỡng, phòng Hành chính quản trị, phòngVật tư thiết bị y tế
- Các khoa: Khoa Nội tổng hợp, khoa Nội tim mạch, khoa Nội thận - Nộitiết - Tiết niệu, khoa Ngoại Tổng hợp, khoa Ngoại chấn thương, khoa Hồi sức cấp cứu,khoa Sản, khoa Cấp cứu, Khoa Y học nhiệt đới, khoa Y học cổ truyền, khoa Lão khoa,khoa Khám bệnh, khoa Phục hồi chức năng, khoa Da liễu, khoa chẩn đoán hình ảnh,khoa Tai mũi họng, khoa Mắt, khoa Răng hàm mặt, khoa Ung bướu, khoa Phẫu thuậtgây mê, khoa Giải phẫu bệnh, khoa Sinh hóa, khoa Vi sinh, khoa Huyết học truyềnmáu, khoa Dinh dưỡng, khoa Dược, khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn
- Tùy theo nhu cầu khám, chữa bệnh và yêu cầu phát triển bệnh viện từngbước lập kế hoạch, đề án trình các cấp có thẩm quyền thành lập một số khoa mới trong
cơ cấu tổ chức của bệnh viện đa khoa
Trang 11T uyến huyện: có 11 bệnh viện đa khoa Các BVĐK gồm: Tp Long
Xuyên, Tp Châu Đốc, Tx Tân Châu, huyện Tịnh Biên, huyện Tri Tôn, huyện ThoạiSơn, huyện An Phú, huyện Phú Tân, huyện Châu Phú, huyện Châu Thành, huyệnChợ Mới
* C hức n ăng Bện h viện đa kh o a h uy ện
- Tổ chức khám bệnh, chữa bệnh trên địa bàn, (xử lý cấp cứu, chữa bệnh
cơ bản)
- Tham gia công tác thu dung, điều trị bệnh nhân trong các vụ dịch, bệnh,thảm họa,
- Tham gia tuyên truyền phòng bệnh trên địa bàn
- Đào tạo, chỉ đạo chuyên môn có tuyến xã
- Tham gia Nghiên cứu khoa học
- Quản lý tổ chức, cán bộ, tài sản, tài chính
* C ơ cấ u tổ c hức Bện h việ n đ a kh o a h uy ệ n:
- Khối các phòng chức năng gồm: Phòng Kế hoạch - Tổng hợp, Phòng
Tổ chức - hành chính quản trị, Phòng Điều dưỡng, Phòng Tài chính - kế toán
- Khối các khoa chuyên môn gồm: Khoa Khám bệnh, Khoa Hồi sức cấpcứu - Nhi, Khoa Nội - Lây, Khoa Ngoại - sản, Khoa Chuyên khoa, Khoa Xétnghiệm, Khoa Chẩn đoán hình ảnh, Khoa Dược và vật tư y tế
Trang 12* Nguồn ngâ n s á ch n hà nước cấ p
Căn cứ dự toán thu, chi NSNN năm 2013 được Hội đồng nhân dân tỉnh phêchuẩn tại Nghị quyết số 17/2012/NQ-HĐND ngày 07/12/2012 và Quyết định số2289/QĐ-UBND ngày 12/12/2012 của UBND tỉnh, tổng dự toán chi thường xuyênNSĐP cân đối cho các cơ sớ khám, chữa bệnh là 206.180 triệu đồng, trong đó cấptỉnh là 97.323 triệu đồng, ngân sách cấp huyện là 108.857 triệu đồng
Đối với cấp tỉnh: kinh phí NSNN cấp cho các bệnh viện chuyên khoa tự đảmbảo chi phí hoạt động là 3.765triệu đồng ( khoản kinh phí này dùng cho mổ mắt nhânđạo và khoa tim mạch lão học), kinh phí NSNN cấp cho các bệnh viện đa khoa đảmbảo một phần chi phí hoạt động là 93.558 triệu đồng
Đối với cấp huyện: kinh phí NSNN cấp cho các bệnh viện đa khoa đảm bảomột phần chi phí hoạt động là 108.857 triệu đồng
* Ngu ồ n thu củ a b ênh viên ( viên p hí, dịch vụ , liên do an h, liên kết, thu kh ác, )
Hàng năm sau khi trang trải các khoản chi phí, nộp thuế và các khoản nộpkhác theo quy định, phần chênh lệch thu lớn hơn chi (nếu có), đơn vị được sử dụngtheo trình tự như sau:
Trang 13■ Đối với đơn vị tự bảo đảm chi phí hoạt động:
- Trích tối thiểu 25% để lập Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp;
- Trả thu nhập tăng thêm cho người lao động;
- Trích lập Quỹ khen thưởng, Quỹ phúc lợi, Quỹ dự phòng ổn định thu nhập Đốivới 2 Quỹ khen thưởng và Quỹ phúc lợi, mức trích tối đa không quá 3 tháng tiềnlương, tiền công và thu nhập tăng thêm bình quân thực hiện trong năm
Mức trả thu nhập tăng thêm, trích lập các quỹ do Thủ trưởngđơn vị sựnghiệp quyết định theo quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị
■ Đối với đơn vị tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động:
- Trích tối thiểu 25% để lập Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp;
- Trả thu nhập tăng thêm cho người lao động;
- Trích lập Quỹ khen thưởng, Quỹ phúc lợi, Quỹ dự phòng ổn định thu nhập Đốivới 2 Quỹ khen thưởng và Quỹ phúc lợi mức trích tối đa không quá 3 tháng tiền lương,tiền công và thu nhập tăng thêm bình quân thực hiện trong năm;
Trường hợp chênh lệch thu lớn hơn chi trong năm bằng hoặc nhỏ hơn một lầnquỹ tiền lương cấp bậc, chức vụ trong năm, đơn vị được sử dụng để trả thu nhập tăngthêm cho người lao động, trích lập 4 quỹ: Quỹ dự phòng ổn định thu nhập, Quỹ khenthưởng, Quỹ phúc lợi, Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp, trong đó, đối với 2 Quỹkhen thưởng và Quỹ phúc lợi mức trích tối đa không quá 3 tháng tiền lương, tiền công
và thu nhập tăng thêm bình quân thực hiện trong năm Mức trả thu nhập tăng thêm,trích lập các quỹ do Thủ trưởng đơn vị sự nghiệp quyết định theo quy chế chi tiêu nội
bộ của đơn vị
2.2 C ơ chế q uản lý tài ch ính ở các cơ sở kh ám , chữa b ện h công lậ p
t ỉn h An Gia n g từ năm 2010 - 2013 và kết q u ả.
2.2.1 C ơ c h ế q uả n lý tài c h ín h ở c á c c ơ s ở kh ám , c h ữa b ệ
n h công lậ p tỉnh An Gian g từ năm 2010 - 2013.
Hiện nay các bệnh viện đều thực hiện cơ chế tự chủ tài chính theo Nghị định43/2006/NĐ-CP Có 2 bệnh viện chuyên khoa tự đảm bảo toàn bộ chi phí hoạt động và
13 bệnh viện đa khoa ( 2 BVĐK tỉnh và 11 BVĐK huyện) đảm bảo một phần chi phíhoạt động khoảng từ 10% - 50%
Từ khi được giao quyền tự chủ theo Nghị định 43/2006/NĐ-CP, cơ sở khám,chữa bệnh công lập của tỉnh chủ động trong điều hành, quản lý chi tiêu tài chính, đượcphép huy động vốn để đầu tư tăng cường cơ sở vật chất; nâng cao chất lượng hoạtđộng sự nghiệp; công khai, minh bạch trong tổ chức săp xếp bộ máy phù hợp nhiệm vụ