1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

mô hình “coffee languages” giải pháp nâng cao kỹ năng ngoại ngữ và tạo việc làm cho sinh viên tại trường đại học sư phạm kỹ thuật tp hcm

48 433 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 48
Dung lượng 3,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chỉ có một số đề tài của các bạn sinh viên tại một số trường đại học ở TP.HCM có đề cập đến những vấn đề có liên quan đến việc giải quyết những nội dung khác nhau để phục vụ cho sự ra đờ

Trang 1

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP KHOA

MÔ HÌNH “COFFEE LANGUAGES” GIẢI PHÁP NÂNG CAO KỸ NĂNG NGOẠI NGỮ VÀ TẠO

MÃ SỐ: SV84 - 2008

S 0 9

S KC 0 0 2 5 9 0

VIỆC LÀM CHO SINH VIÊN TẠI TRƯỜNG

ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP.HCM

Trang 2

I NGỮ VÀ TẠO VIỆC LÀM CHO SINH VIÊN TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP HCM

MÃ SỐ: SV84-2008

THUỘC NHÓM NGÀNH : KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN :NGUYỄN THỊ CHÂU LONG

NGƯỜI CHỦ TRÌ : NGUYỄN ĐỨC DŨNG

NGƯỜI THAM GIA : PHẠM THỊ THÂN

LƯƠNG THẾ CƯƠNG ĐƠN VỊ : KHOA KINH TẾ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 6 /2009

ĐỀ TÀI NCKH CẤP KHOA

MÔ HÌNH “COFFEE LANGUAGES” GIẢI PHÁP NÂNG CAO KỸ NĂNG NGOẠ

Trang 3

Hình 4: Ý tưởng uống cà phê kết hợp học tập ngoại ngữ

Hình 5 Cơ cấu tổ chức của quán “Coffee languages”

Hình 6: Doanh mục chi phí và doanh thu

Hình 7: Bảng ước tính chi phí và doanh thu 6 tháng đầu của năm thứ nhất

Hình 8: Bảng ước tính chi phí và doanh thu hằng quý của 4 năm đầu

Hình 9: Sinh viên tham gia trao đổi và nói chuyện với người nước ngoài

Hình 10: Mô hình một buổi nói chuyện theo chuyên đề

Hình 11: Mô hình minh họa về việc chia nhóm theo trình độ, độ tuổi

Trang 4

GD-ĐT: giáo dục - đào tạo

ĐNA: Đông Nam Á

VN: Việt Nam

Trang 5

MỤC LỤC

Trang PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài: 5

2 Mục đích nghiên cứu: 6

3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu: 6

4 Phương pháp nghiên cứu: 6

5 Phương pháp thu thập thông tin: 6

6 Tình hình nghiên cứu đề tài: 7

7 Những vấn đề còn tồn tại trên thực tế của đề tài: 8

8 Kết cấu của đề tài nghiên cứu 8

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỂ TẦM QUAN TRỌNG CỦA NGOẠI NGỮ ĐỐI VỚI SINH VIÊN VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 1 Yêu cầu tất yếu của đa số các nhà tuyển dụng: 9

2 Mở rộng hợp tác quốc tế: 9

3 Tiếp cận tri thức thế giới dễ dàng hơn: 10

4 Có nhiều cơ hội và sự thăng tiến: 11

5 Phần thưởng xã hội: 11

6 Tạo được thương hiệu cá nhân: 11

7 Giúp tăng cường trí óc: 11

CHƯƠNG II: NHỮNG VẤN ĐỀ TRONG VIỆC HỌC NGOẠI NGỮ CỦA SINH VIÊN HIỆN NAY 1 Những vấn đề chung trong việc học ngoại ngữ của sinh viên: 13

2 Thực trạng việc học ngoại ngữ của sinh viên ĐH Sư Phạm Kỹ Thuật TP.HCM: 17

2.1 Về năng lực ngoại ngữ: 17

2.2 Nhiều sinh viên vẫn chưa xây dựng được động cơ và thái độ đúng đắn cho việc học ngoại ngữ: 18

2.3 Trong cùng một lớp học nhưng trình độ khá chênh lệch giữa các sinh viên: 18

2.4 Thiếu giảng viên giảng dạy: 19

2.5 Giáo trình chưa phù hợp: 19

2.6 Sinh viên thiếu môi trường và cơ hội để rèn luyện: 19

Trang 6

3 Nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên: 20

3.1 Về phía sinh viên: 20

3.2 Về phía nhà trường: 21

3.3 Các nguyên nhân khác: 22

CHƯƠNG III: THỰC TRẠNG VIỆC GIẢI TRÍ CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP HCM 1 Sinh viên có nhiều điều kiện để tiếp xúc với các loại hình dịch vụ giải trí: 23

2 Các dịch vụ giải trí khu vực xung quanh trường khá đa dạng và phong phú: 24

3 Internet đang được sinh viên sử dụng ngày rộng rãi nhưng chưa thực sự hiệu quả: 24

4 Game trực tuyến có nhiều ảnh hưởng tới sinh viên: 25

5 Các quán cà phê giải khát đang thu hút nhiều đối tượng sinh viên: 25

CHƯƠNG IV: MÔ HÌNH “COFFEE LANGUAGES” TẠI ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP.HCM 1 Ý tưởng tổng quan về mô hình: 26

2 Mô tả dự án: 27

2.1 Cơ cấu tổ chức: 27

2.2 Phân công nhiệm vụ: 27

2.3 Quy mô dự án: 28

2.4 Quy hoạch tổng thể quán: 28

2.5 Các sản phẩm dịch vụ cung cấp: 29

2.6 Phân tích thị trường: 29

2.7 Phân tích tài chính kinh tế: 30

2.8 Kế hoạch hoạt động chung: 31

3 Các điều kiện thuận lợi và khó khăn khi triển khai mô hình vào thực tế 33

3.1 Thuận lợi : 33

3.2 Khó khăn : 34 PHẦN KẾT LUẬN

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài:

Ngoại ngữ ngày càng đóng vai trò quan trọng trong giai đoạn hội nhập quốc tế của nước ta Sau sự kiện Việt Nam chính thức trở thành thành viên của tổ chức thương mại thế giới WTO (7/11/2006), ngày càng có nhiều tập đoàn, công ty đa quốc gia đầu tư vào Việt Nam Đó là điều kiện thuận lợi để chúng ta phát triển kinh tế đất nước và tạo ra công ăn việc làm cho người lao động Với truyền thống từ lâu, con người Việt Nam cần cù, sáng tạo và có khả năng nắm bắt nhanh các tiến bộ khoa học kỹ thuật và được các nhà tuyển dụng của các công ty đánh giá cao Tuy nhiên, một hạn chế của nguồn nhân lực nước ta là khả năng ngoại ngữ Kỹ năng nghe nói tiếng ngoại quốc kém và khả năng giao tiếp với người nước ngoài còn nhiều hạn chế Đây là rào cản lớn trong vấn đề tìm kiếm việc làm hoặc làm việc hiệu quả tại các công ty quốc tế Mặc dù tiếng Anh là ngôn ngữ được sử dụng phổ biến trên thế giới và được Bộ GD-ĐT đưa vào chương trình học chính thức ở tất

cả các cấp học, ngành học Nhưng trình độ chuẩn chung về tiếng Anh của nước ta hiện nay theo các chuyên gia nhận định vẫn còn ở mức thấp và chưa đạt được chuẩn trung bình của

thế giới Có một thực trạng đáng buồn hiện nay là có tới 51.7% SV tốt nghiệp ra trường

không đáp ứng được yêu cầu về kỹ năng tiếng Anh Đó là kết quả khảo sát được Vụ Giáo

dục ĐH (Bộ GD-ĐT) thống kê từ báo cáo về tình hình giảng dạy tiếng Anh của 59 trường

ĐH không chuyên ngữ trong cả nước vào cuối năm 2008 Nguyên nhân của tình trạng này

có sự tác động từ nhiều phía trong đó chủ yếu là do thực trạng dạy và học ngoại ngữ tại các trường học trong cả nước hiện nay còn nhiều vấn đề bất cập Dó đó các đề xuất về các phương pháp dạy và học mới nhằm nâng cao chất lượng học ngoại ngữ trong các trường

đại học trong giai đoạn hiện nay là thực sự cần thiết

Đi cùng với sự phát triển của nền kinh tế đất nước là sự phát triển của ngành dịch

vụ trong đó có loại hình dịch vụ giải trí Các quán cà phê cũng theo đó mà xuất hiện ngày càng nhiều và đang thu hút một lượng đông khách hàng là giới trẻ trong đó có sinh viên bởi những lợi ích và thuận tiện mà loại hình dịch vụ này mang lại Tuy nhiên vẫn chưa có nghiên cứu nào, một ý tưởng nào có thể biến các quán cà phê này trở thành mô hình giải trí kết hợp học tập cộng đồng nhằm hỗ trợ phát triển kỹ năng ngoại ngữ trong sinh viên

Xuất phát từ những suy nghĩ trên nhóm chúng tôi chọn đề tài “Mô hình “COFFEE LANGUAGES” giải pháp nâng cao kỹ năng ngoại ngữ và tạo việc làm cho sinh viên tại trường Đại học Sư Phạm Kỹ Thuật TP.HCM.” để nghiên cứu với hy vọng góp phần tạo

Trang 8

ra một mô hình mới nhằm hỗ trợ kỹ năng ngoại ngữ và tạo việc làm thêm cho các bạn sinh viên tại trường ĐH SPKT TP.HCM thông qua việc lồng ghép các chương trình phát triển

kỹ năng ngoại ngữ tại một quán cà phê giải khát mà đối tượng khách hàng chủ yếu là sinh viên

2 Mục đích nghiên cứu:

Nghiên cứu xây dựng một mô hình có khả năng :

 Tạo ra một hình thức học tập mới (học tập kết hợp giải trí) để nâng cao kỹ năng Anh ngữ trong sinh viên

 Tạo điều kiện cho sinh viên có thể kết hợp vừa học tập vừa làm việc bán thời gian

3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu:

 Sinh viên đang theo học tại trường ĐH Sư Phạm Kỹ Thuật TP.HCM

 Cán bộ giảng viên đang giảng dạy tại ĐH Sư Phạm Kỹ Thuật TP.HCM

 Ngôn ngữ nghiên cứu chủ yếu là tiếng Anh Ngoài ra có thể nghiên cứu thêm

một số ngoại ngữ phổ biến như: Pháp, Nhật, Hoa

 Các loại hình dịch vụ giải trí gần gũi đối với đối tượng sinh viên

4 Phương pháp nghiên cứu:

 Phương pháp điều tra phỏng vấn:

Lập và phát hơn 650 phiếu khỏa sát cho sinh viên trường ĐH.SPKT và hơn 100 phiếu đánh giá cho các thầy cô, giáo, giảng viên trong trường

 Phương pháp quan sát:

Quan sát hiện trạng các dịch vụ giải trí tại khu vực địa bàn quận Thủ Đức và quận 9

 Phương pháp tham khảo tài liê ̣u:

Tham khảo các nguồn tài liệu từ sách, báo, tạp chí, internet, ngân hàng đề tài nghiên cứu khoa học tập tại Thành Đoàn thành phố Hồ Chí Minh

 Phương pháp thống kê, phân tích định tính định lượng:

Thống kê số liệu từ các phiếu điều tra khảo sát, các nguồn thông tin sơ cấp và thứ cấp

và phân tích xử lý số liệu

 Phương pháp mô hình hóa:

Xây dựng mô hình quán cà phê ngoại ngữ

5 Phương pháp thu thập thông tin:

 Nguồn thông tin sơ cấp: Khảo sát thực tế, phát phiếu điều tra để thu thập thông tin, xử lý và chọn thông tin hữu ích

Trang 9

 Nguồn thông tin thứ cấp: Các số liệu thu thập qua sách báo, tạp chí, internet hoặc từ các số liệu thống kê và kết quả số liệu từ các đề tài trước đây

6 Tình hình nghiên cứu đề tài:

Hiện tại trên địa bàn TP.HCM mô hình các quán cà phê sử dụng ngôn ngữ giao tiếp

là tiếng Anh đã xuất hiện ở một số nơi Tuy nhiên chưa có đề tài nào nghiên cứu trực tiếp

về mô hình này Chỉ có một số đề tài của các bạn sinh viên tại một số trường đại học ở TP.HCM có đề cập đến những vấn đề có liên quan đến việc giải quyết những nội dung khác nhau để phục vụ cho sự ra đời của mô hình “Coffee langguages” Cụ thể là:

 Đề tài: “How to overcome English speaking problems” (Làm thế nào để khắc phục các vấn đề trong việc phát triển kỹ năng nghe tiếng Anh) của tác giả Châu Quý Lộc

– Đại học Hồng Bàng

 Đề tài: “Học tiếng Anh – mối quan tâm của sinh viên” của nhóm tác giả Cao Thị

Hồng Nhung, Lê Thanh Thủy – Đại học Mở TP.HCM

 Đề tài: “How to help Vietnamese students self – study English interestingly and efectively” (Làm thế nào để giúp sinh viên Việt Nam tự học ngoại ngữ một cách hứng thú và hiệu quả) của tác giả Nguyễn Minh Trâm – Đại học Ngoại Ngữ TP.HCM

 Đề tài: “Dự án chuỗi cửa hàng Up Coffee” (Dự án chuỗi cửa hàng cà phê vươn tới thành công về quy mô và thương hiệu) của nhóm tác giả Nguyễn Phúc Hoàn, Nguyễn

Thị Ngọc Lan, Nguyễn Hoàng Như Nguyễn Thị Ngọc Lan, Nguyễn Hoàng Như Ý – Đại học Marketing

 Đề tài: “Dự án thành lập mô hình quán cà phê di động “Mobile coffee”” của

nhóm tác giả Bùi Thị Anh Tuyến, Nguyễn Thị Mai Anh, Nguyễn Phước Thuận Hòa – Đại học Thương Mại

 Đề tài: “Thiết lập đề án khởi nghiệp một quán cà phê Internet dành cho khách hàng mục tiêu là sinh viên các khoa Kinh tế” của nhóm tác giả Nguyễn Thị Bích

Nguyên, Tân Thiện Thúy Hằng, Nguyễn Văn Bính – Đại học Thương Mại

 Đề tài: “Thực trạng đời sống sinh viên trong thời điểm bão giá hiện nay” của tác

giả Nguyễn Minh Nhật – Đại học Hồng Bàng

Nhìn chung, các đề tài này đã có đề cập nhiều về thực trạng cũng như những vấn đề cần giải quyết trong việc học ngoại ngữ của sinh viên hiện nay Các đề tài này cũng đã đề xuất một số giải phát nhằm phát triển kỹ năng nghe và khả năng tự học Anh văn có hiệu quả Tuy nhiên chưa có đề tài nào nghiên cứu kỹ về kỹ năng nghe – nói trong vệc học ngoại ngữ của sinh viên và xây dựng một mô hình giải pháp để phát triển kỹ năng này Các

Trang 10

đề tài nghiên cứu về dịch vụ quán cà phê đã đề cập ở trên cũng chỉ nghiên cứu phát triển một số loại hình dịch vụ quán cà phê mới như cà phê di động, cà phê Internet Chưa có một

đề tài nào nghiên cứu về mô hình quán cà phê kết hợp với việc học tập ngoại ngữ

7 Những vấn đề còn tồn tại trên thực tế của đề tài:

Như đã đề cập ở phần trên dịch vụ quán cà phê sử dụng ngôn ngữ giao tiếp là tiếng Anh đã xuất hiện ở một số nơi tại TP.HCM Tuy nhiên những quán này hầu hết là hình thành một cách tự phát do ý tưởng của một số cá nhân yêu thích Anh văn và chỉ giải quyết nhu cầu luyện nói tiếng Anh của một số người Do đó mô hình còn ở tính nhỏ lẻ và chưa phát huy được hết hiệu quả thực sự của nó và chưa có sự hỗ trợ tích cực cho đông đảo sinh viên Và cũng chưa có một đề tài, một công trình nghiên cứu thật sự nghiêm túc về mô

hình “Coffee langues”, một mô hình mới mẽ nhưng có khả năng mang lại hiệu quả cao

trong việc kết hợp giữa học tập và giải trí này

8 Kết cấu của đề tài nghiên cứu:

 Phần mở đầu

 Chương I: Cơ sở lý luận về tầm quan trọng của ngoại ngữ đối với sinh viên Việt

Nam trong giai đoạn hiện nay

 Chương II: Những vấn đề trong việc học ngoại ngữ của sinh viên hiện nay

 Chương III: Thực trạng việc giải trí trong sinh viên trường Đại học Sư Phạm Kỹ

Thuật TP.HCM

 Chương IV: Mô hình “COFFEE LANGUAGES”

 Phần kết luận:

Trang 11

CHƯƠNG I

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỂ TẦM QUAN TRỌNG CỦA NGOẠI NGỮ ĐỐI VỚI SINH VIÊN VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

Ở đây, nhóm nghiên cứu xin nêu ra tầm quan trọng của ngoại ngữ chủ yếu trong vấn đề giao tiếp, và ngôn ngữ đựoc nghiên cứu chủ yếu là tiếng Anh (ngôn ngữ được sử dụng rộng rãi ở nhiều quốc gia và mang tính chuyên dụng trong các hoạt động quốc tế)

1 Yêu cầu tất yếu của đa số các nhà tuyển dụng:

Tốt nghiệp ra trường chỉ với tấm bằng đại học trên tay, sinh viên sẽ rất khó tìm được công việc như ý nếu không biết một ngoại ngữ và vi tính Đa phần yêu cầu của các nhà tuyển dụng là ứng viên phải biết tiếng Anh Hầu hết các công ty, các tập đoàn hiện nay thường có bài kiểm tra về năng lực tiếng Anh trong các đợt tuyển dụng của mình Đặc biệt đối với những ngành được đánh giá cao về nhu cầu của công ty cũng như mong muốn làm việc của sinh viên như: An ninh mạng, thiết kế website, giao dịch chứng khoán, tài chính, kiểm toán, PR hay ngân hàng… thì trình độ ngoại ngữ là một trong những tiêu chí hàng đầu để sàn lọc ứng viên Ngoài ra muốn tìm được một công việc tốt với mức lương cao thì ngoài kiến thức chuyên môn và các kỹ năng trong công việc, các bạn sinh viên cũng cần phải giỏi ngoại ngữ Ngay cả đối với những nhân viên lâu năm trong các công ty, nếu bản thân họ không có trình độ ngoại ngữ và khong có hướng cải thiện thì sớm muộn gì cũng bị đào thải Sống trong thời buổi công nghệ thì không những phải biết ngoại ngữ mà còn phải thông thạo ngoại ngữ Do đó, ngoại ngữ sẽ là phương tiện giúp ta thành công trong công việc

Trang 12

để liên lạc với các doanh nhân, để tham dự hội thảo, để đọc báo và tạp chí thương mại quốc tế v.v Những lĩnh vực kinh doanh ngày nay hầu hết đều mang tầm vóc quốc tế, và những giao dịch đó đều tiếng hành bằng tiếng Anh, vì thế không thể giao tiếp trược tiếp với đối tác người nước ngoài bằng ngoại ngữ là một điều thiệt thòi lớn

3 Tiếp cận tri thức thế giới dễ dàng hơn:

Chúng ta học Anh văn để tiếp cận đến tri thức thế giới văn minh, đọc sách tài liệu khoa học nước ngoài, nâng cao tầm hiểu biết về kinh tế, văn hóa, xã hội các nước khác (đặc biệt các nước sử dụng tiếng Anh làm ngôn ngữ thông dụng trong giao tiếp như Anh,

Mỹ, châu Âu và châu Úc) Sử dụng tiếng Anh phần nào giúp cho quá trình tiếp nhận tri thức và khoa hoc công nghệ, các tiến bộ kỹ thuật của thế giới nhanh hơn, có hiệu quả hơn

là những ngôn ngữ khác

Mỗi người trong chúng ta thường quan tâm đến những lĩnh vực khác nhau của đời sống: khoa học, âm nhạc, máy tính, sức khoẻ, kinh doanh hay thể thao Các phương tiện thông tin ngày nay như Internet, tivi, báo chí cung cấp những nguồn tri thức vô hạn về các chủ đề chúng ta yêu thích, vì chúng ta đang sống trong thời đại thông tin Chỉ có một vấn

đề là hầu hết những thông tin này đều được viết bằng tiếng Anh Dưới đây là một số ví dụ

về những gì chúng ta có thể sử dụng nếu biết tiếng Anh:

 Trong số những trang web lớn trên thế giới có tới hơn 1 tỷ trang web sử dụng tiếng Anh Thật kinh ngạc khi chỉ cần học một ngôn ngữ là có thể khai thác hầu hết kho tri thức

ấy

 Biết ngoại ngữ ta có thể tìm hiểu về bất cứ lĩnh vực nào từ khắp nơi trên thế giới Chúng ta có thể đọc sách của các tác giả Anh hay Mỹ, và cả các cuốn sách được dịch từ ngôn ngữ khác Bất cứ thể loại sách nào bạn quan tâm, bạn đều có thể tìm đọc bằng ngôn ngữ tiếng Anh.Chỉ có báo và tạp chí tiếng Anh là có thể mua được ở khắp mọi nơi trên thế giới Chúng ta không cần phải tốn nhiều công sức tìm kiếm những tờ báo như Time (Thời đại), Newsweek (Tuần tin), hay International Herald Tribune (Diễn đàn đưa tin quốc tế)

 Khoa học Tiếng Anh là chìa khoá mở cánh cửa vào thế giới khoa học Theo số liệu

thống kê từ năm 2005, 95% các bài báo trong Danh mục Trích dẫn Khoa học (Science Citation Index) được viết bằng tiếng Anh Và có khoảng 50% trong số đó đến từ các nước nói tiếng Anh như Anh hay Mỹ (Theo garfiled.com)

 Và hầu hết các mạng lưới truyền hình quốc tế như kênh CNN và BBC thường phát tin tức nhanh chóng hơn, chuyên nghiệp hơn các mạng lưới truyền hình quốc gia khác Và nếu biểt tiếng Anh chúng ta có thể xem các kênh này ở khắp nơi trên thế giới

Trang 13

4 Có nhiều cơ hội và sự thăng tiến:

Theo một điều tra của Tổ chức Bộ trưởng Giáo dục các nước ĐNA (SEAMEO) năm 2006 thì nhu cầu sử dụng tiếng Anh trong công việc hằng ngày ở các công ty VN, các

tổ chức hành chính sự nghiệp khá cao, từ trung bình tới nhiều chiếm 69%

Khi ngoại ngữ tốt thì cơ hội việc làm của người đi xin việc là cao hơn những ứng viên khác trong cùng điều kiện.cơ cao hơn Trong các công ty, biết ngoại ngữ xem là điều kiện thuân lợi để được chọn đi công tác nước ngoài hoặc làm việc với các đối tác nước ngoài Đó cũng là cơ sở để nhân viên công ty có mức lương cao hơn hoặc được đề bạt lên những vị trí cao hơn trong công ty

Muốn trở thành một doanh nhân đẳng cấp quốc tế, hay một nhà khoa học tài giỏi, chúng ta phải liên lạc với những doanh nhân, nhà khoa học ở những nước khác, tham gia hội nghị quốc tế, thăm các trung tâm học thuật nước ngoài Tìm hiểu những phát triển mới thông qua sách báo, tạp chí, sử dụng máy tính thật hiệu quả hơn Hầu hết các máy tính đều dùng tiếng Anh, do đó chúng ta sẽ hiểu chúng rõ hơn và trở thành nhân viên giỏi giang hơn Có ngoại ngữ tốt thì việc điều hành công việc khá dễ dàng, giao tiếp với đối tác nước ngoài không gặp khó khăn cũng làm chúng ta tự tin hơn rất nhiều

5 Phần thưởng xã hội:

Biết thêm một ngoại ngữ là chúng ta đã sống thêm một cuộc đời khác, biết càng nhiều ngôn ngữ khác nhau càng làm giàu thêm cuộc sống tinh thần và hành trang văn hóa của mỗi người, không biến mình thành kẻ ngoài cuộc khi bạn bè hay những người xung quanh nói chuyện với người ngoại quốc

Trong đàm phán, họp hành hoặc giao dịch với đối tác, những ấn tượng tốt đó có thể giúp chúng ta thiết lập quan hệ làm ăn lâu dài sẽ đem lại thoả mãn cho mọi người trong công việc và ngoài xã hội

6 Tạo được thương hiệu cá nhân:

Điều này thể hiện qua việc người biết ngoại ngữ có thể giao tiếp được với nhiều người thuộc nhiều quốc gia, tự tin phát biểu trước đám đông hoặc trong các hội nghị, hội thảo

7 Giúp tăng cường trí óc:

Khoa học chứng minh quá trình học ngoại ngữ kích thích não phát triển, giúp con người tiếp thu những môn học khác dễ dàng hơn Vì học ngoại ngữ đòi hỏi chúng ta phải luôn ghi nhớ và hiểu nghĩa hàng ngàn từ mới Bộ não được tập luyện tốt hơn nhờ quá trình

Trang 14

lâu dài học cách ghi nhớ Ngay cả những người lớn tuổi học ngoại ngữ cũng giúp trí óc minh mẫn và linh hoạt hơn, chống lão hóa và mất trí nhớ

Từ những lợi ích thiết thực như trên có thể nói việc học ngoại ngữ và giỏi ngoại ngữ đã là một xu thế tất yếu trong giai đoạn hiện nay Đặc biệt là những học sinh, sinh viên còn đang đi học, những người có điều kiện và cơ hội nhiều nhất để học ngoại ngữ Khi mà thực trạng đáng buồn hiện nay là trình độ ngoại ngữ của sinh viên Việt Nam chưa đạt được mức chuẩn trung bình của thế giới Đây cũng là một trong những chương trình hành động mang tính quốc gia nhằm đào tạo một thế hệ công dân tương lai có khả năng phục vụ tốt cho công cuộc công nghiệp hóa, hiện hóa đất nước

Trang 15

CHƯƠNG II

NHỮNG VẤN ĐỀ TRONG VIỆC HỌC NGOẠI NGỮ CỦA SINH VIÊN HIỆN NAY

1 Những vấn đề chung trong việc học ngoại ngữ của sinh viên:

Mặc dù đã ý thức được về vai trò của ngoại ngữ, tuy nhiên thực trạng học ngoại ngữ của sinh viên Việt Nam vẫn chưa đạt hiệu quả cao, và chua ứng dụng được nhiều trong công việc và cuộc sống Rất nhiều bài viết, bài nghiên cứu đã đề cập tới vấn đề này Trên tờ Dân trí, ngày 29-3-2007, có bài “Kém ngoại ngữ, sinh viên Việt Nam mãi tụt hậu”, trong đó viết: “Không ít các tân cử nhân sớm bị loại khỏi các cuộc tuyển dụng chỉ vì vốn tiếng Anh quá nghèo nàn…”; trênVnexpress có bài “Mười năm học tiếng Anh, sinh viên Việt Nam vẫn không nói được”; trên tờ “Người lao động” có bài “Sáu điểm yếu của sinh viên Việt Nam” và nêu rõ một trong sáu điểm yếu đó là “ trình độ Anh ngữ còn rất hạn chế v.v…Mặc dù là một môn học chính thức, bắt buộc trong các trường đại học, cao đẳng nhưng việc giảng dạy môn ngoại ngữ chưa thực sự được tốt Ở các trường tiểu học chúng

ta đã được học ngoại ngữ (chủ yếu là tiếng Anh), lên trung học và phổ thông trung học chúng ta lại tiếp tục được học thêm một vài ngoại ngữ khác Điều đáng buồn là trình độ của đa số học sinh, sinh viên vẫn chỉ là trình độ sơ cấp

 Theo nhận định của các nhà nghiên cứu giáo dục, thế mạnh của sinh viên Việt Nam trong học ngoại ngữ (chủ yếu học tiếng Anh) là kỹ năng đọc-hiểu, viết và ngữ pháp; kỹ năng yếu nhất là kỹ năng giao tiếp nghe- nói Số lượng sinh viên nghe nói đọc viết thành

thạo là rất ít Theo tổng hợp được Bộ GD-ĐT công bố vào cuối năm 2008, trong số 100% sinh viên ra trường thì chỉ có 60% sinh viên có thể giao tiếp bằng ngoại ngữ Trên thực tế

con số này có thể còn thấp hơn Và trong khi mang hồ sơ xin việc, nhiều sinh viên đã bị loại ngay từ vòng đầu tiên bởi khả năng giao tiếp bằng tiếng Anh quá kém Thậm chí với nhiều sinh viên tốt nghiệp đại học thì dù họ đã có 11 năm học tiếng nước ngoài nhưng thực

tế không đủ cho nhà tuyển dụng hỏi 1 giờ

 Hiện tại thời lượng giảng dạy ngoại ngữ trong chương trình chính khóa còn quá ít

Theo quy định của Bộ GD&ĐT, ở giai đoạn kiến thức cơ bản, sinh viên được học 18 tín chỉ (15 tiết/tín chỉ) ngoại ngữ Còn ở giai đoạn chuyên ngành thì tùy theo đặc thù mà từng trường bố trí từ 3-8 tín chỉ ngoại ngữ, một số chuyên ngành như ngoại thương, du lịch có

thể có số tín chỉ nhiều hơn

Trang 16

 Trừ một vài trường có giáo viên nước ngoài giảng dạy môn ngoại ngữ còn lại hầu như là giáo viên người Việt Trong khi đó cách phát âm của người Việt và người "ngoại quốc" là khác xa nhau Vì thế sinh viên khi giao tiếp với khách du lịch, với sinh viên du học, với giáo viên nước ngoài còn rất lúng túng đặc biệt là khi gặp những ngoại ngữ có nhiều cách phát âm khác nhau

 Đào tạo tiếng Anh trong trường thường có xu hướng tập trung quá nhiều vào tiếng

Anh chuyên ngành chứ không phải là rèn luyện kỹ năng tiếng Anh Các kỳ học Anh văn

căn bản thì lại có thời lượng giảng dạy quá ít, lớp học lại đông chỉ chú trọng vào phần ngữ pháp và từ vựng Các kỹ năng nghe, nói, viết hầu như bị bỏ ngõ hoặc có sự quan tâm rất ít Hơn thế nữa cách giảng dạy của nhà trường cũng có nhiều ảnh hưởng đến hiệu quả học ngoại ngữ của sinh viên Hầu như trong các trường đại học, cao đẳng sinh viên chỉ được học theo một giáo trình có sẵn Đến khi thi, lại không phải những kiến thức đã được học

mà chủ yếu là kiến thức sinh viên đi học thêm ngoài hoặc học từ thời phổ thông

 Về trang thiết bị dạy học hỗ trợ cho việc học ngoại ngữ của sinh viên cũng chưa đủ đáp ứng và hầu như đã lỗi thời Các trung tâm trực thuộc trường đại học và trung tâm tư nhân của Việt Nam, trung tâm thuộc trường Phổ thông trung học phần lớn thiếu các công

cụ học tập cần thiết như phòng luyện âm, phòng máy đa phương tiện, thư viện, phòng hỗ trợ tự học Ngay cả nhiều trường có trang bị máy casset, phòng lab nhưng hầu hết các thiết

bị đã quá cũ, chỉ một số là dùng được, số còn lại chất lượng không tốt Theo thống kê của

Bộ GD-ĐT vào cuối năm 2008, hiện tại ở Việt Nam, gần 70% số trường ĐH trang bị

phòng học tiếng Anh, và gần một nửa kết nối mạng Internet để sinh viên học tiếng Anh

Thế nhưng thời lượng môn tiếng Anh học tại phòng nghe chỉ chiếm khoảng 10% Có đến gần 65% số trường không dùng phần mềm hỗ trợ giảng dạy tiếng Anh

 Về phía các giảng viên giảng dạy ngoại ngữ ở các trường ĐH cũng có nhiều vấn

đề Theo một kết quả nghiên cứu của Viện khảo thí giáo dục Hoa Kỳ tại Việt Nam năm

2008, có đến 75% giáo viên tham gia đợt thăm dò cho biết đã tốt nghiệp đại học hay sau đại học, nhưng đến 74% tốt nghiệp trong nước và hầu như rất ít người tham gia tập huấn định kỳ về phương pháp giảng dạy Có đến gần 50% giáo viên trả lời chưa hề được tham

gia tập huấn về giảng dạy tiếng Anh Điều này có thể là nguyên nhân chính khiến các phương pháp giảng dạy mới chưa được các giáo viên này giới thiệu và áp dụng rộng rãi

 Sinh viên các trường ngoại ngữ thường có niềm đam mê học ngoại ngữ từ cấp 2, cấp 3 có vốn liếng ngoại ngữ kha khá và thi đầu vào bằng ngoại ngữ Thế nhưng một thực

Trang 17

tế, không ít sinh viên các trường ngoại ngữ lại yếu kém ngoại ngữ Qua nhiều khảo sát tại các trường ngoại ngữ, hiện tượng nhiều sinh viên học ngoại ngữ theo lối thụ động, không sáng tạo và học đối phó chỉ để qua các kỳ thi xảy ra khá phổ biến Nhiều sinh viên tự nhận mình cảm thấy lúng túng và không tự tin khi giao tiếp với người nước ngoài.

 Để đáp ứng nhu cầu học tiếng Anh của nhiều bạn trẻ, hàng loạt các trung tâm Anh ngữ trong và ngoài nước thi nhau mọc lên Hiện nay, các trung tâm ngoại ngữ trong nước

đa phần là do các trường đại học, cao đẳng mở ra, thuê địa điểm tại các trường tiểu học, phổ thông Các trung tâm này số đông thường không áp dụng hình thức thi xếp lớp hoặc nếu có cũng chỉ làm cho qua loa Để tìm được một trung tâm ngoại ngữ ưng ý không hề đơn giản, các trung tâm đều chạy theo lợi nhuận, quảng cáo rầm rộ nhưng chất lượng thì yếu kém Trong một vài năm trở lại đây, sự xuất hiện của một số các trung tâm, tổ chức giáo dục nước ngoài tại Hà Nội và TP.HCM như Hội đồng Anh (British Council), Language Link, trường đào tạo Việt - Mỹ, Trường ngoại ngữ Đông Âu, Úc Châu… đang góp phần khiến cho thị trường dạy và học ngoại ngữ thêm sôi động Tuy nhiên học phí ở các trung tâm này lại khá cao Theo tìm hiểu, một khóa học năm tuần với giáo viên người

Việt tại trường đào tạo Việt - Mỹ là 40USD, học phí sẽ tăng dần theo cấp độ lớp và số

lượng thời gian học với giáo viên bản xứ Ở Hội đồng Anh (một trung tâm nước ngoài nổi tiếng đắt đỏ) học phí cho một khóa học tiếng Anh giao tiếp quốc tế (gồm 4 phần) là

1.080USD (tính ra hơn 19 triệu VND) Với mức học phí cao như vậy, chỉ có một bộ phận

rất nhỏ sinh viên thuộc các gia đình có điều kiện kinh tế khá giả may ra mới có cơ hội theo học Còn phần lớn sinh viên, đặc biệt là sinh viên ngoại tỉnh thì đành phải theo học các trung tâm trong nước

 Sinh viên mọi trình độ đều cùng học chung một chương trình Trong số 59 trường báo cáo với Bộ GD-ĐT về thực trạng dạy-học tiếng Anh năm 2008, có tới 54% số trường

không thực hiện kiểm tra trình độ đầu vào và không xếp lớp theo trình độ tiếng Anh của

SV Theo một số liệu đánh giá khác của Vụ giáo dục ĐH 9.948 sinh viên năm nhất của 13

trường ĐH cho thấy điểm bình quân là 250 điểm TOEIC, tuy nhiên điểm số dao động từ

50-850 điểm Và các em trước đây học THPT ở thành phố có trình độ ngoại ngữ tương đối

khá Trong khi những em học từ THPT ở các vùng nông thôn lại có trình độ ngoại ngữ rất hạn chế

 Tiếng Anh là một trong những tiêu chuẩn đầu tiên khi xin việc Tuy nhiên có 48%

đơn vị Việt Nam được khảo sát có phỏng vấn người xin việc bằng tiếng Anh trong khi tỷ lệ

Trang 18

này ở các đơn vị nước ngoài là 91% Các cơ quan sử dụng lao động đều khẳng định các kỹ

năng ngoại ngữ còn yếu là nghe, nói và viết Thậm chí với nhiều sinh viên tốt nghiệp đại học thì họ đã có 11 năm học tiếng nước ngoài nhưng thực tế không đủ cho nhà tuyển dụng

hỏi 1 giờ Ngày 5/12/2008, Bộ GD-ĐT, Viện khảo thí giáo dục Hoa Kỳ cùng hơn 160

trường ĐH trên cả nước đã bàn về chất lượng đào tạo tiếng Anh trong các trường đại học không chuyên ngữ Không khó để nhìn thấy các cử nhân sau khi tốt nghiệp ra trường đều chưa đáp ứng được yêu cầu của xã hội bởi trình độ tiếng Anh thấp Đây là hệ quả của việc đào tạo đồng loạt không phân loại sinh viên giỏi hay chưa biết ngoại ngữ, gây lãng phí tiền bạc, thời gian Tại hội nghị này, phản ánh về thực trạng giảng dạy tiếng Anh trong các trường ĐH trên cả nước, Ths Đoàn Hồng Nam, đại diện Viện Khảo thí giáo dục Hoa Kỳ cho rằng, với thời lượng phân bổ chương trình cho tiếng Anh như hiện nay thì không thể đảm bảo 100% sinh viên ra trường đáp ứng đúng trình độ mà các nhà tuyển dụng yêu cầu

“Nguồn: Báo tuổi trẻ 6/12/2008”

 Có một mâu thuẫn giữa một bên là yêu cầu nghiêm ngặt về trình độ ngoại ngữ mà mọi sinh viên đều phải đạt trước khi công nhận tốt nghiệp, và một bên là đánh giá của những người sử dụng các sinh viên tốt nghiệp ra trường với trình độ ngoại ngữ đã được các trường đại học thừa nhận Khả năng sử dụng được tiếng Anh trong môi trường làm việc của sinh viên sau khi tốt nghiệp ĐH là rất hạn chế và không đáp ứng được yêu cầu của đại

đa số các đơn vị sử dụng lao động Theo kết quả khảo sát về tình hình giảng dạy tiếng Anh

của 59 trường ĐH không chuyên ngữ trong cả nước như đã nêu ở phía trên được Vụ Giáo

dục ĐH thống kê và báo cáo tại hội thảo "Đào tạo tiếng Anh trong các trường ĐH không chuyên ngữ" do Bộ GD-ĐT phối hợp với Viện Khảo thí giáo dục Hoa Kỳ tổ chức mới đây

Chỉ có 10,5% số trường ĐH đã thực hiện khảo sát đánh giá khả năng đáp ứng yêu cầu công việc về kỹ năng sử dụng tiếng Anh của SV tốt nghiệp Kết quả cho thấy khoảng 49%

SV đáp ứng được yêu cầu của người sử dụng, 19% SV không đáp ứng được và 32% SV

cần đào tạo thêm “Nguồn:Báo Tuổi trẻ 6/12/2008 Một thực tế hiện nay, số lượng trường

triển khai áp dụng các chuẩn đánh giá quốc tế cho sinh viên ra trường như TOEFL và TOEIC còn hạn chế (Số liệu năm 2008: có 14,4% số trường đã áp dụng chuẩn TOEIC) Trong khi đó, các nhà tuyển dụng tuyển chọn nhân lực yêu cầu phải đáp ứng được năng lực giao tiếp hoặc dựa vào các bằng cấp, chứng chỉ quốc tế được công nhận rộng rãi như TOEIC hay TOEFL để tuyển dụng chứ không dựa vào chứng chỉ A, B, C nữa Chính vì điều này mà đa số sinh viên khi vào ĐH phải học lại từ đầu, không kể trình độ thực sự và

Trang 19

phải đi học thêm bên ngoài để kiếm một tấm bằng ngoại ngữ để đáp ứng yêu cầu tuyển dụng

Hình 1: Kỹ năng sử dụng tiếng Anh của sinh viên trong công việc sau khi tốt nghiệp

2 Thực trạng việc học ngoại ngữ của sinh viên ĐH Sƣ Phạm Kỹ Thuật TP.HCM:

2.1.Về năng lực ngoại ngữ:

Qua một cuộc khảo sát của nhóm nghiên cứu đề tài Có tới gần ½ số sinh viên

được khảo sát thừa nhận trình độ giao tiếp của mình còn ở mức yếu (292/657 phiếu chiếm

tỉ lệ 45%), trong khi đó tỉ lệ đạt loại trung bình, khá và giỏi lần lượt là 42%; 10% và 3%

Năng lực ngoại ngữ của sinh

viên hiện nay

42%

GiỏiKháTrung bìnhHạn chế

Hình 2: Năng lực ngoại ngữ của sinh viên ĐH SPKT do sinh viên tự nhận xét

Trong các kỳ thi kiểm tra cuối kỳ hay cuối khóa, mặt bằng chung về điểm của môn Anh văn luôn thấp hơn so với những môn khác Ngoài những yếu tố mang đặc thù riêng của từng môn thì thực trạng dạy và học tại trường hiện nay cũng là một vấn đề phải quan

Trang 20

tâm Đa số sinh viên phản ánh thực trạng là họ học rất lâu song mức độ tiến bộ theo họ tự nhận xét là rất ít.

Trình độ đọc viết cũng hạn chế, không đủ khả năng cho chuyên ngành Qua tìm

hiểu một số đối tượng sinh viên năm cuối thì có không quá 10% sinh viên sử dụng được

ngoại ngữ để tiếp cận với tài liệu chuyên môn

2.2.Nhiều sinh viên vẫn chƣa xây dựng đƣợc động cơ và thái độ đúng đắn cho việc học ngoại ngữ:

Trình độ thấp nhưng nhiều sinh viên vẫn chưa ý thức được vai trò của ngoại ngữ đối với công việc và sự phát triển sự nghiệp trong tương lai của mình hoặc khi ý thức được thì đã sắp sửa ra trường không còn thời gian để đầu tư cho việc học ngoại ngữ nữa Nhiều sinh viên vẫn học ngoại ngữ với suy nghĩ đây là môn học bắt buộc và thời lượng lại nhiều chứ không phải coi đây là một sở thích và một niềm đam mê thực sự

Đa phần sinh viên không xác định mục tiêu học để làm gì để có thể đề ra phương pháp học phù hợp, tìm nội dung học thích ứng Theo điều tra của nhóm nghiên cứu, chỉ có 20% học viên xác định học tiếng Anh để du học, phần còn lại trả lời rất chung chung rằng học để phục vụ cho học tập và công việc Chính việc không xác định rõ ràng mục đích học ngoại ngữ đã dẫn đến tình trạng trình độ ngoại ngữ của người học phần lớn chỉ dừng lại ở mức ban đầu hoặc chỉ có thể dùng để giao tiếp hằng ngày chứ chưa đủ mạnh để phục vụ

cho nhu cầu làm việc của mình

Trước nay, mục đích học tiếng Anh chỉ để lấy điểm cao, để thi hết môn, nên SV và

GV có xu hướng dùng những giờ rèn luyện kỹ năng để giải đề Kết quả là SV có thể làm đúng các dạng bài tập, nhưng không biết cách sử dụng các từ, không tránh được lỗi khi nói

và thậm chí còn không hiểu hết nghĩa các câu có chứa những từ này Vì không được trang

bị kỹ năng tự học nên nhiều SV không biết đọc phiên âm quốc tế, không biết cách tìm tài liệu Và ở trường hầu như không có giờ luyện âm nên SV chỉ thụ động chờ đợi GV phát

âm để học từ mới SV chỉ được hướng đến chú trọng ngữ pháp, câu chữ, đọc hiểu, chứ chưa đầu tư cho phần nghe, nói

2.3.Trong cùng một lớp học nhƣng trình độ khá chênh lệch giữa các sinh viên:

Nhiều sinh viên đã học ngoại ngữ 7 năm và nhiều sinh viên chỉ học ngoại ngữ mới

có 3 năm Sinh viên từ nông thôn miền núi là những vùng gặp nhiều khó khăn trong việc học ngoại ngữ chiếm từ 60-70% lượng sinh viên toàn trường Hơn nữa có nhiều sinh viên trước đây có điều kiện để học Anh văn cũng không chú trọng đầu tư đúng mức cho môn

Trang 21

học này Do đó dẫn đến tình trạng “bên thừa, bên thiếu” ngay trong chương trình học Những sinh viên giỏi cảm thấy nhàm chán vì phải học lại những gì mình đã học trong khi những sinh viên khác lại không theo kịp được chương trình

2.4.Thiếu giảng viên giảng dạy:

Bộ môn ngoại ngữ được ở tất cả các ngành, các khoa các hệ trong trường đều được sự

phân công và quản lý của khoa Ngoại Ngữ Hiện tại khoa Ngoại Ngữ có 17 giảng viên và 1 cán bộ văn phòng Trong đó có 4 giảng viên chính, 8 giảng viên và 5 trợ giảng, có 1 PhD,

1 đang làm nghiên cứu sinh, 10MA (TESOL) và 4 Cử nhân (hiện đang theo học các lớp

Cao học) Ngoài ra khoa còn liên hệ một số giảng viên thỉnh giảng khác Tuy nhiên con số

này là quá tí so với số sinh viên trong trường Ngoại trừ những sinh viên năm 4, năm 5 đã hoàn thành các môn Anh văn cơ sở và Anh văn chuyên ngành Còn lại trên 10.000 sinh

viên đang học ở những cấp độ khác nhau Do đó phải có sự cố gắng nhiều, các thầy cô mới

có thể đảm bảo khối lượng giảng dạy ngoại ngữ cho toàn bộ các khoa, các hệ bậc đào tạo trong toàn trường

Áp lực nặng nề về khối lượng giảng dạy, khiến các giảng viên bộ môn ít có thời gian đầu tư vào việc tham khảo thông tin, tài liệu mới, cập nhật và nâng cao trình độ chuyên môn và tham gia các hoạt động nghiên cứu Từ đó ảnh hưởng một phần không nhỏ đến chất lượng giảng dạy

2.5.Giáo trình chưa phù hợp:

Hiện tại,tất cả các ngành học và các hệ bậc học đều sử dụng bộ giáo trình do nước ngoài biên soạn (Newheadway cùng một số tài liệu phụ trợ khác) cho giai đoạn cơ sở Trong giai đoạn chuyên ngành sử dụng giáo trình tự biên soạn hoặc chọn lựa từ các giáo trình sẵn có của các trường hoặc của nước ngoài Và với bộ giáo trình Newheadway học trong giai đoạn cơ sở theo đánh giá của một số thầy cô trong trường là chưa phù hợp vì giáo trình này viết không phải viết chọn lọc cho đối tượng sinh viên Tuy nhiên vì chưa tìm được giáo trình thay thế tốt hơn, phù hợp hơn nên vẫn phải sử dụng Và giáo trình cho các chuyên ngành hầu như chưa được đầu tư đúng mức, mỗi khoa làm theo một cách riêng của mình Có khoa tổ chức biên soạn hoặc lấy từ bài giảng của một số giản viên, có khoa sử dụng những giáo trình sẵn có trên thị trường Điều này cũng một phần gây khó khăn cho sinh viên nếu muốn tìm hiểu anh văn chuyên ngành sớm

2.6.Sinh viên thiếu môi trường và cơ hội để rèn luyện:

Như đã đề cập ở trên, trong chương trình học chính khóa ở trường, vì nhiều lý do mà sinh viên không thể rèn luyện và phát triển kỹ năng nghe nói của mình Và giải pháp còn

Trang 22

lại sinh viên phải lựa chọn là tìm đến các trung tâm ngoại ngữ vào ban đêm hoặc tự học ở nhà Tuy nhiên, không phải là sinh viên nào cũng có điều kiện để đi học thêm ngoài giờ tại các trung tâm ngoại ngữ Đặc biệt là các trung tâm ngoại ngữ quốc tế có chất lượng khi mà học phí tính bằng USD Đối với những sinh viên không có điều kiện, tự học vẫn là chính nhưng không phải ai cũng có khả năng tự học mang lại hiệu quả, đặc biệt là môn học mang nhiều đặc thù như ngoại ngữ

Bên cạnh việc học thêm ở ngoài và học chính khóa sinh viên cũng có nhiều sự lựa chọn khác là tìm đến các câu lạc bộ Anh văn và tham gia các diễn đàn học ngoại ngữ trực

tuyến Hiện tại toàn trường có 4 câu lạc bộ Anh văn có chương trình sinh hoạt, hoạt động

cụ thể hằng tuần, hằng tháng là: Câu lạc bộ Anh văn khoa Ngoại Ngữ, câu lạc bộ Anh văn thương mại khoa Kinh tế, câu lạc bộ Anh văn Ký túc xá và câu lạc bộ Anh văn hội sinh viên trường và nhiều nhóm nhỏ khác tại các khoa Ngoài ra sinh viên cũng có thể

tham gia nói chuyện thông qua các diễn đàn tiếng Anh online trên mạng Tuy nhiên vì nhiều lý do khác nhau mà các môi trường này chưa thực sự thu hút sinh viên và mang lại hiệu quả

3 Nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên:

3.1.Về phía sinh viên:

 Sinh viên bị mất căn bản từ các lớp dưới:

Biểu hiện của tình trạng này là vốn từ nghèo nàn, không nắm được ngữ pháp, phát

âm không chuẩn, kỹ năng nói viết chưa đạt yêu cầu nhất là kỹ năng nghe Nguyên nhân một phần từ việc chưa nhận thức được sự quan trọng trong việc học ngoại ngữ của học sinh, học chỉ cốt để lấy điểm, để cho qua các kỳ thi Một phần từ sự thiếu quan tâm đúng mức từ các trường: chưa phát triển kỹ năng nghe và phát âm chuẩn ngay từ khi hoc sinh mới bắt đầu vào học, chương trình dạy ngữ pháp tràn lan và chưa có sự định hướng cho học sinh, thiếu sự liên kết về nội dung giữa các bậc học, các khối lớp

 Thiếu phương pháp học:

Do chưa thống nhất được chương trình trong toàn bộ hệ thống giáo dục và bản thân chưa có sự định hướng nên sinh viên học ngoại ngữ một cách lan man, cho gì học nấy, gặp sách gì đọc sách nấy Từ đó dẫn đến tình trạng học nhiều nhưng kiến thức thu nhặt được thì không có bao nhiêu Một ví dụ rõ nhất của sự thiếu phương pháp là việc sinh viên biến giờ học đọc hiểu thành giờ dịch thuật văn bản Thay vì thao tác đoán từ mới theo ngữ cảnh và tìm những thông tin cần thiết cho để đáp ứng yêu cầu của bài thi, sinh viên lại quen sử dụng từ điển và say sưa dịch toàn bộ văn bản

Trang 23

 Sinh viên không chủ động mạnh dạn trong thực hành giao tiếp:

Yếu tố quan trọng nhất trong dạy ngoại ngữ là dạy cách phát âm chuẩn Nhưng đa

số sinh viên phát âm sai, sau đó bị mất gốc, sửa mãi không được Từ đó, sinh viên cảm thấy không tự tin khi sử dụng ngoại ngữ như một phương tiện giao tiếp Ngoài ra tâm lý e

dè, sơ bị đánh giá, coi thường nên các sinh viên có trình độ còn hạn chế không dám thể hiện mình

 Không có môi trường để giao tiếp tiếng Anh với người bản ngữ hoặc người nước ngoài:

Ngay từ việc thiếu giảng viên giảng dạy ở các trường, việc mời các giáo viên người Việt đã là vấn đề nan giải, việc mời các giảng viên người nước ngoài lại càng khó khăn hơn Và thời lượng học chính khóa không đủ nên các giảng viên cũng khó có thể mời người nước ngoài đến giao lưu và nói chuyện với sinh viên trong giờ học

3.2.Về phía nhà trường:

 Trang thiết bị dạy học còn nhiều hạn chế:

Điều này làm giảm khả năng tiếp cận và luyện tập với các nguồn tiếng Anh bản

ngữ, không giúp tăng cường các kỹ năng nghe nói trong thực tế Thiếu phòng học và giáo

giảng viên dẫn tới tình trạng sĩ số lớp ngoại ngữ còn đông Thường trong một lớp học bao gồm nhiều trình độ từ sơ cấp (gồm những sinh viên học tiếng Anh lần đầu) đến trung cấp (những sinh viên đã học hệ đào tạo tiếng Anh chín năm) Những lớp học đa trình độ như vậy sẽ gây nhiều khó khăn cho giảng viên, khiến họ khó có thể quán xuyến hết tất cả sinh viên, cũng không thể lựa chọn chương trình phù hợp cho từng đối tượng, từ đó gây trở ngại cho cả việc dạy và học Và số lượng sinh viên luôn ở trên con số 50, một điều không thể chấp nhận đối với một lớp học ngoại ngữ ở mức chuẩn Chính vì điều này nên cho dù một

số giảng viên và sinh viên dù muốn thực hành thêm các kỹ năng giao tiếp cũng không thể nào thực hiện được

 Chương trình giảng dạy còn nhiều bất cập:

Theo khảo sát của IIG Việt Nam, đại diện của Viện Khảo thí Giáo dục Hoa Kỳ, tại

18 trường ĐH cho thấy điểm bình quân của SV năm thứ nhất mới chỉ dao động ở mức 245/990 điểm TOEIC Với mức độ điểm này, SV cần khoảng 480 tiết để đạt được 450-500

220-điểm, mức điểm mà nhiều doanh nghiệp coi là tối thiểu để nhận hồ sơ Nhưng hiện nay,

các trường thương chỉ mới dành khoảng tối đa là 390 tiết học tiếng Anh cho SV Từ đó sinh viên không đủ thời lượng cần thiết để đạt được các yêu cầu đề ra trong việc học

Trang 24

Bên cạnh đó chương trình còn chưa cân đối giữa phần lý thyết và phần thực hành Còn tập trung quá nhiều cho tiếng Anh chuyên ngành Và như vậy cho dù sinh viên có học các thuật ngữ hay các từ ngữ tiếng Anh chuyên ngành giỏi đến đâu chăng nữa thì cũng khó

có thể nâng cao các kỹ năng nghe, nói, đọc, viết tiếng Anh trong giao tiếp Và sinh viên có thể thuộc các thuật ngữ chuyên ngành, nhưng để sử dụng thực tế trong giao tiếp lại không đáp ứng được yêu cầu xã hội

Cách dạy hiện nay cũng chưa bắt sinh viên phải làm việc nhiều, chưa có sự liên hệ thực tiễn nhiều gây nhàm chán trong sinh viên

3.3.Các nguyên nhân khác:

 Các trung tâm ngoại ngữ chƣa thực sự là giải pháp tốt cho sinh viên:

Nhìn chung, các trung tâm trong nước thường ít quan tâm đến sự có mặt của học viên tại lớp học và chất lượng của học viên trong quá trình học Học viên chỉ cần ghi danh, đóng tiền đầy đủ rồi muốn học ra sao thì học Thậm chí có lớp học đã gần quá nửa chương trình, nhưng vẫn cho học viên đăng ký nếu ghi danh nếu có nhu cầu học Giáo viên dạy tại các trung tâm này hầu hết là người Việt và cũng chưa có sự chọn lọc xét tuyển kỹ càng ban đầu Thêm vào đó chưa có sự thống nhất trong chương trình dạy tại các trung tâm này Từ

đó tạo sự thiếu tin tưởng và niềm hứng thú để sinh viên theo học

Còn đối với các trung tâm Anh Ngữ nước ngoài Thế mạnh của các trung tâm này

là cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại (phòng lab, phòng học có gắn máy lạnh ), đội ngũ giảng dạy giàu kinh nghiệm, có bằng cấp quốc tế…Tuy vậy, điều thu hút học viên đến với các trung tâm này thực chất vẫn là cái mác giáo viên nước ngoài Và không phải sinh viên nào cũng có đủ kinh phí để tham gia các khóa học tại đây

 Các diễn đàn, các câu lạc bộ ngoại ngữ chƣa thu hút sinh viên:

Nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên một phần do tính không mạnh dạn tự tin giao tiếp bằng Anh văn của sinh viên khi họ nhận thấy trình độ của mình còn quá kém hoặc sợ nói sai, sợ phát ẩm không chuẩn Một phần khác do cách sinh hoạt của các tổ chức này chưa có sự hỗ trợ tích cực cho sinh viên Hầu hết nội dung chủ đề sinh hoạt còn quá khó đối với sinh viên, chưa có sự phân loại cấp các mức độ dễ, trung bình, khó để các sinh viên tìm được môi trường phù hợp cho mình Do đó số sinh viên tham gia các câu lạc bộ, các diễn đàn thì nhiều nhưng chủ yếu đến chỉ ngồi nghe Những người giao tiếp được thì không có sự hỗ trợ cho các thành viên yếu kém hoặc nói chỉ để chứng tỏ bản lĩnh của mình Do đó tạo sự hụt hẫng và mất hứng thú cho đại bộ phận thành viên tham gia

Ngày đăng: 04/09/2016, 15:11

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Kỹ năng sử dụng tiếng Anh của sinh viên trong công việc sau khi tốt nghiệp. - mô hình “coffee languages” giải pháp nâng cao kỹ năng ngoại ngữ và tạo việc làm cho sinh viên tại trường đại học sư phạm kỹ thuật tp hcm
Hình 1 Kỹ năng sử dụng tiếng Anh của sinh viên trong công việc sau khi tốt nghiệp (Trang 19)
Hình 2: Năng lực ngoại ngữ của sinh viên ĐH. SPKT do sinh viên tự nhận xét. - mô hình “coffee languages” giải pháp nâng cao kỹ năng ngoại ngữ và tạo việc làm cho sinh viên tại trường đại học sư phạm kỹ thuật tp hcm
Hình 2 Năng lực ngoại ngữ của sinh viên ĐH. SPKT do sinh viên tự nhận xét (Trang 19)
Hình 3: Thực trạng việc giải trí của sinh viên trường ĐH.SPKT - mô hình “coffee languages” giải pháp nâng cao kỹ năng ngoại ngữ và tạo việc làm cho sinh viên tại trường đại học sư phạm kỹ thuật tp hcm
Hình 3 Thực trạng việc giải trí của sinh viên trường ĐH.SPKT (Trang 25)
Hình 4: Ý tưởng uống cà phê kết hợp học tập ngoại ngữ. - mô hình “coffee languages” giải pháp nâng cao kỹ năng ngoại ngữ và tạo việc làm cho sinh viên tại trường đại học sư phạm kỹ thuật tp hcm
Hình 4 Ý tưởng uống cà phê kết hợp học tập ngoại ngữ (Trang 28)
Hình 5. Cơ cấu tổ chức của quán “Coffee languages” - mô hình “coffee languages” giải pháp nâng cao kỹ năng ngoại ngữ và tạo việc làm cho sinh viên tại trường đại học sư phạm kỹ thuật tp hcm
Hình 5. Cơ cấu tổ chức của quán “Coffee languages” (Trang 29)
Hình 6: Mô hình minh họa một về không gian của quán. - mô hình “coffee languages” giải pháp nâng cao kỹ năng ngoại ngữ và tạo việc làm cho sinh viên tại trường đại học sư phạm kỹ thuật tp hcm
Hình 6 Mô hình minh họa một về không gian của quán (Trang 30)
Hình 9: Sinh viên tham gia trao đổi và nói chuyện với người nước ngoài - mô hình “coffee languages” giải pháp nâng cao kỹ năng ngoại ngữ và tạo việc làm cho sinh viên tại trường đại học sư phạm kỹ thuật tp hcm
Hình 9 Sinh viên tham gia trao đổi và nói chuyện với người nước ngoài (Trang 34)
Hình 11: Mô hình minh họa về việc chia nhóm theo trình độ, độ tuổi.... - mô hình “coffee languages” giải pháp nâng cao kỹ năng ngoại ngữ và tạo việc làm cho sinh viên tại trường đại học sư phạm kỹ thuật tp hcm
Hình 11 Mô hình minh họa về việc chia nhóm theo trình độ, độ tuổi (Trang 35)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w