Mục lục Lời Mở Đầu Chương I: Giới thiệu chung 1.Chuẩn nghèo của Việt Nam hiện nay 2.Các tiêu chí xác định hộ nghèo ở Việt Nam hiện nay 3.Các chính sách phúc lợi xã hội ở Việt Nam hiện nay 4.Nguyên nhân ảnh hưởng nghèo và phúc lợi xã hội ở Việt Nam Chương II: Thực trạng xóa đói giảm nghèo và các chính sách phúc lợi xã hội của tỉnh Tuyên Quang giai đoạn 20102015 1.Thực trạng xóa đói giảm nghèo của tỉnh Tuyên Quang 1.1.Thực trạng hiện nay 1.2.Thành tựu xóa đói giảm nghèo 2.Thực trạng chính sách phúc lợi xã hội 2.1.Thực trạng hiện nay 2.2.Thành tựu của chính sách phúc lợi xã hội 3.Một số hạn chế cần khắc phục của xóa đói giảm nghèo và chính sách phúc lợi xã hội 4.Hướng giải quyết xóa đói giảm nghèo và phúc lợi xã hội tỉnh Tuyên Quang Chương III: Kiến nghị của bản thân Lời Mở Đầu Nghèo đói là một trong những vấn đề bức xúc mang tính toàn cầu có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của bất kì một quốc gia nào trên thế giới. Thực tế cho thấy rằng ở bất kì một giai đoạn nào của lịch sử xã hội thì vấn đề nghèo đói vẫn là một vấn đề được quan tâm nhiều nhất và tập trung nhiều phương án giải quyết nhưng thành quả đạt được vẫn còn nhiều hạn chế. Nghèo đói đã và đang xem như lực cản lớn nhất của loài người để tiến tới phát triển bền vững và đảm bảo công bằng xã hội. Ở nước ta từ mới khi được thành lập Bác Hồ đã chỉ rõ “giành được độc lập mà nhân dân vẫn sống trong nghèo đói cảnh nghèo nàn lạc hậu thì phỏng có ít gì”, Bác còn nhấn mạnh “phải ra sức phát triển sản xuất làm cho mọi người thoát khỏi nghèo đói, lam lũ vươn tới đủ ăn, khá giả, giàu có, ai đã giàu rồi vươn lên giàu hơn”. Chỉ có vượt qua nghèo đói lạc hậu tới phát triển và phát triển mãi mãi, tất cả là vì hạnh phúc của nhân dân đó là nhân tố quan trọng mà toàn Đảng, toàn dân đang kiên trì phấn đấu đạt được mục tiêu “dân giàu – nước mạnh – xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Trên thực tế công tác xóa đói giảm nghèo ở nước ta thời gian gần đây cũng đạt được một số thành tựu đáng kể, tuy nhiên tỉ lệ nghèo đói ở nước ta vẫn còn cao, một bộ phận dân cư phải sống trong cảnh nghèo đói, thiếu ăn đặc biệt là ở vùng nông thôn miền núi, vùng sâu vùng xa mà tiêu biểu là tỉnh Tuyên Quang. Tuyên Quang là một tỉnh miền núi còn nhiều khó khăn, là một tỉnh nghèo có nền kinh tế xã hội kém phát triển, đời sống nhân dân còn rất nhiều khó khăn hiện phải dưới tới 80% vào ngân sách Trung ương nên luôn giành được sự quan tâm đặc biệt cho công tác xóa đói giảm nghèo bền vững. Để phát triển bền vững nâng cao mức thu nhập của người dân, công tác xóa đói giảm nghèo là một nhiệm vụ hết sức quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của tỉnh trong những năm tới đây. Để thực hiện mục tiêu thắng lợi giảm nghèo của tỉnh miền núi đến năm 2015 dưới 10% là nhiệm vụ rất nặng nề. Vì những lí do trên em chọn đề tài thực trạng xóa đói giảm nghèo và chính sách phúc lợi xã hội tỉnh Tuyên Quang giai đoạn 20102015 Chương I: Giới thiệu chung 1. Chuẩn nghèo của Việt Nam hiện nay Chuẩn nghèo Việt Nam hiện nay giai đoạn 20112015 như sau: Hộ nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000 đồngngườitháng (từ 4.800.000 đồngngườitháng) trở xuống Hộ nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 500.000 đồngngườitháng (từ 6.000.000 đồngngườitháng) trở xuống Hộ cận nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 401.000 đồng đến 520.000 đồngngườitháng Hộ cận nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 501.000 đồng đến 650.000 đồngngườitháng 2. Các tiêu chí xác định hộ nghèo ở Việt Nam hiện nay Thông tư 242014TTBLBTDTBXH đã hướng dẫn các tiêu chí xác định hộ nghèo, hộ cận nghèo như sau: a) Hộ nghèo là hộ có mức thu nhập bình quân đầu ngườitháng bằng hoặc thấp hơn chuẩn nghèo theo quy định của pháp luật. b) Hộ mới thoát nghèo là hộ nghèo, qua điều tra, rà soát hằng năm có thu nhập cao hơn chuẩn nghèo theo quy định của pháp luật, bao gồm: + Hộ mới thoát nghèo nhưng có mức thu nhập thuộc đối tượng hộ cận nghèo + Hộ mới thoát nghèo có thu nhập cao hơn chuẩn hộ cận nghèo theo quy định của pháp luật. c) Hộ tái nghèo là những hộ trước đây thuộc hộ nghèo, đã thoát nghèo, nhưng do những yếu tố rủi ro dẫn đến mức thu nhập bình quân đầu ngườitháng tại thời điểm điều tra, rà soát bằng hoặc thấp hơn chuẩn nghèo theo quy định của pháp luật d) Hộ nghèo mới phát sinh là những hộ trước đây không thuộc hộ nghèo, nhưng do những yếu tố rủi ro dẫn đến mức thu nhập bình quân đầu ngườitháng tại thời điểm điều tra, rà soát bằng hoặc thấp hơn chuẩn nghèo theo quy định của pháp luật e) Hộ nghèo thuộc chính sách giảm nghèo là hộ nghèo, có ít nhất 1 thành viên còn khả năng lao động f) Hộ nghèo thuộc chính sách bảo trợ xã hội là hộ nghèo nhưng không có thành viên nào trong hộ có khả năng lao động 3. Các chính sách phúc lợi xã hội ở Việt Nam hiện nay Miễn giảm chi phíkhám chữa bệnh cho người nghèo (81%) miễn học phí cho người nghèo 50%, tín dụng và ưu đãi cho người nghèo 40%. Năm 2011, có 13.5triệu người nghèo được cấp thẻ bảo hiểm y tế, 13triệu lượt nghười nghèo khám chữa bệnh bằng thẻ, khoảng 2.5triệu học sinh nghèo được miễn giảm học phí (không tính học sinh bậc tiểu học) và 7.000 học sinh được hỗ trợ vở viết, sách giáo khoa. Gần 2triệu học sinh nghèo, sinh viên được ưu đãi để học. Chính sách hỗ trợ giá điện, hỗ trợ hợp lí cho người nghèo đã tăng cường khả năng tiếp cận thông tin và năng lực thực hiện quyền công dân của người nghèo. Chính sách khuyến nông, khuyến lâm ở vùng Đông Bắc và Tây Bắc có tỉ lệ hộ nghèo được hưởng lược đạt mức cao nhất cả nước cách xa các vùng khác (Tây Bắc: 41%, Đông Bắc:34%) 2 vùng có tỉ lệ hộ nghèo được hưởng lợi từ chính sách giúp đỡ nhà ở, đấy ở cao nhất ở Tây Bắc 71%, ĐB sông Cửu Long 16% đối với chỉnh sách nước sạch cho người nghèo ở Tây Bắc cỏ tỉ lệ hộ nghèo được hưởng lợi cao nhất 27%. Trong khi các vùng còn lại tỉ lệ này trong khoảng 213% (Đồng.L.D và Lợi B.S.2011) 4.Nguyên nhân ảnh hưởng nghèo và phúc lợi xã hội ở Việt Nam Mặc dù Việt Nam được xếp vào nhóm nước đang phát triển nhưng vẫn là nước thuộc diện nghèo trên thế giới. Do đặc điểm kinh tế nước ta nông nghiệp là chính với nền nông nghiệp lúa nước lâu đời lạc hậu đem lại hiệu quả kinh tế thấp, phần đông dân số sinh sống ở vùng nông thôn và lao động trong lĩnh vực nông nghiệp với năng suất thấp Cùng với đó là tỉ lệ gia tăng dân số cao năm 2005 dân số đứng thứ 13 thế giới và đứng thứ 3 Đông Nam Á đây là nguyên nhân chính gây ra đói nghèo ở nước ta, dân số........
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT
KHOA LUẬT
LỚP: D15LU02
TIỂU LUẬN
ĐỀ TÀI:
THỰC TRẠNG XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO VÀ CHÍNH SÁCH PHÚC LỢI XÃ HỘI TỈNH TUYÊN QUANG GIAI
ĐOẠN 2011-2015
GV: PHẠM THỊ THANH THỦY
LỚP: D15LU02 TÊN SINH VIÊN: Đinh Thị Cẩm Vân
MSSV:1523801010057
SS
Bình Dương, ngày 20 tháng 6 năm 2016
Trang 2Mục lục
Lời Mở Đầu
Chương I: Giới thiệu chung
1.Chuẩn nghèo của Việt Nam hiện nay
2.Các tiêu chí xác định hộ nghèo ở Việt Nam hiện nay
3.Các chính sách phúc lợi xã hội ở Việt Nam hiện nay
4.Nguyên nhân ảnh hưởng nghèo và phúc lợi xã hội ở Việt Nam
Chương II: Thực trạng xóa đói giảm nghèo và các chính sách phúc lợi xã hội của tỉnh Tuyên Quang giai đoạn 2010-2015
1.Thực trạng xóa đói giảm nghèo của tỉnh Tuyên Quang
1.1.Thực trạng hiện nay
1.2.Thành tựu xóa đói giảm nghèo
2.Thực trạng chính sách phúc lợi xã hội
2.1.Thực trạng hiện nay
2.2.Thành tựu của chính sách phúc lợi xã hội
3.Một số hạn chế cần khắc phục của xóa đói giảm nghèo và chính sách phúc lợi xã hội 4.Hướng giải quyết xóa đói giảm nghèo và phúc lợi xã hội tỉnh Tuyên Quang
Chương III: Kiến nghị của bản thân
Trang 3Lời Mở Đầu
Nghèo đói là một trong những vấn đề bức xúc mang tính toàn cầu có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của bất kì một quốc gia nào trên thế giới Thực tế cho thấy rằng ở bất
kì một giai đoạn nào của lịch sử xã hội thì vấn đề nghèo đói vẫn là một vấn đề được quan tâm nhiều nhất và tập trung nhiều phương án giải quyết nhưng thành quả đạt được vẫn còn nhiều hạn chế Nghèo đói đã và đang xem như lực cản lớn nhất của loài người để tiến tới phát triển bền vững và đảm bảo công bằng xã hội Ở nước ta từ mới khi được thành lập Bác Hồ đã chỉ rõ “giành được độc lập mà nhân dân vẫn sống trong nghèo đói cảnh nghèo nàn lạc hậu thì phỏng có ít gì”, Bác còn nhấn mạnh “phải ra sức phát triển sản xuất làm cho mọi người thoát khỏi nghèo đói, lam lũ vươn tới đủ ăn, khá giả, giàu có, ai đã giàu rồi vươn lên giàu hơn” Chỉ có vượt qua nghèo đói lạc hậu tới phát triển và phát triển mãi mãi, tất cả là vì hạnh phúc của nhân dân đó là nhân tố quan trọng mà toàn Đảng, toàn dân đang kiên trì phấn đấu đạt được mục tiêu “dân giàu – nước mạnh – xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” Trên thực tế công tác xóa đói giảm nghèo ở nước ta thời gian gần đây cũng đạt được một số thành tựu đáng kể, tuy nhiên tỉ lệ nghèo đói ở nước ta vẫn còn cao, một bộ phận dân cư phải sống trong cảnh nghèo đói, thiếu ăn đặc biệt là ở vùng nông thôn miền núi, vùng sâu vùng xa mà tiêu biểu là tỉnh Tuyên Quang Tuyên Quang là một tỉnh miền núi còn nhiều khó khăn, là một tỉnh nghèo có nền kinh tế xã hội kém phát triển, đời sống nhân dân còn rất nhiều khó khăn hiện phải dưới tới 80% vào ngân sách Trung ương nên luôn giành được sự quan tâm đặc biệt cho công tác xóa đói giảm nghèo bền vững Để phát triển bền vững nâng cao mức thu nhập của người dân, công tác xóa đói giảm nghèo
là một nhiệm vụ hết sức quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của tỉnh trong những năm tới đây Để thực hiện mục tiêu thắng lợi giảm nghèo của tỉnh miền núi đến năm 2015 dưới 10% là nhiệm vụ rất nặng nề Vì những lí do trên em chọn đề tài thực trạng xóa đói giảm nghèo và chính sách phúc lợi xã hội tỉnh Tuyên Quang giai đoạn 2010-2015
Chương I: Giới thiệu chung
Trang 41 Chuẩn nghèo của Việt Nam hiện nay
Chuẩn nghèo Việt Nam hiện nay giai đoạn 2011-2015 như sau:
- Hộ nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/người/tháng (từ 4.800.000 đồng/người/tháng) trở xuống
- Hộ nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 500.000 đồng/người/tháng (từ 6.000.000 đồng/người/tháng) trở xuống
- Hộ cận nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 401.000 đồng đến 520.000 đồng/người/tháng
- Hộ cận nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 501.000 đồng đến 650.000 đồng/người/tháng
2 Các tiêu chí xác định hộ nghèo ở Việt Nam hiện nay
Thông tư 24/2014/TT-BLBTDTBXH đã hướng dẫn các tiêu chí xác định hộ nghèo, hộ cận nghèo như sau:
a) Hộ nghèo là hộ có mức thu nhập bình quân đầu người/tháng bằng hoặc thấp hơn chuẩn nghèo theo quy định của pháp luật
b) Hộ mới thoát nghèo là hộ nghèo, qua điều tra, rà soát hằng năm có thu nhập cao hơn chuẩn nghèo theo quy định của pháp luật, bao gồm:
+ Hộ mới thoát nghèo nhưng có mức thu nhập thuộc đối tượng hộ cận nghèo
+ Hộ mới thoát nghèo có thu nhập cao hơn chuẩn hộ cận nghèo theo quy định của pháp luật
c) Hộ tái nghèo là những hộ trước đây thuộc hộ nghèo, đã thoát nghèo, nhưng do những yếu tố rủi ro dẫn đến mức thu nhập bình quân đầu người/tháng tại thời điểm điều tra, rà soát bằng hoặc thấp hơn chuẩn nghèo theo quy định của pháp luật
Trang 5d) Hộ nghèo mới phát sinh là những hộ trước đây không thuộc hộ nghèo, nhưng do những yếu tố rủi ro dẫn đến mức thu nhập bình quân đầu người/tháng tại thời điểm điều tra, rà soát bằng hoặc thấp hơn chuẩn nghèo theo quy định của pháp luật
e) Hộ nghèo thuộc chính sách giảm nghèo là hộ nghèo, có ít nhất 1 thành viên còn khả năng lao động
f) Hộ nghèo thuộc chính sách bảo trợ xã hội là hộ nghèo nhưng không có thành viên nào trong hộ có khả năng lao động
3 Các chính sách phúc lợi xã hội ở Việt Nam hiện nay
Miễn giảm chi phí/khám chữa bệnh cho người nghèo (81%) miễn học phí cho người nghèo 50%, tín dụng và ưu đãi cho người nghèo 40% Năm 2011, có 13.5triệu người nghèo được cấp thẻ bảo hiểm y tế, 13triệu lượt nghười nghèo khám chữa bệnh bằng thẻ, khoảng 2.5triệu học sinh nghèo được miễn giảm học phí (không tính học sinh bậc tiểu học) và 7.000 học sinh được hỗ trợ vở viết, sách giáo khoa Gần 2triệu học sinh nghèo, sinh viên được ưu đãi để học Chính sách hỗ trợ giá điện, hỗ trợ hợp lí cho người nghèo đã tăng cường khả năng tiếp cận thông tin và năng lực thực hiện quyền công dân của người nghèo Chính sách khuyến nông, khuyến lâm ở vùng Đông Bắc và Tây Bắc có
tỉ lệ hộ nghèo được hưởng lược đạt mức cao nhất cả nước cách xa các vùng khác (Tây Bắc: 41%, Đông Bắc:34%) 2 vùng có tỉ lệ hộ nghèo được hưởng lợi từ chính sách giúp đỡ nhà ở, đấy ở cao nhất ở Tây Bắc 71%, ĐB sông Cửu Long 16% đối với chỉnh sách nước sạch cho người nghèo ở Tây Bắc cỏ tỉ lệ hộ nghèo được hưởng lợi cao nhất 27% Trong khi các vùng còn lại tỉ lệ này trong khoảng 2-13% (Đồng.L.D và Lợi B.S.2011)
4.Nguyên nhân ảnh hưởng nghèo và phúc lợi xã hội ở Việt Nam
Mặc dù Việt Nam được xếp vào nhóm nước đang phát triển nhưng vẫn là nước thuộc diện nghèo trên thế giới Do đặc điểm kinh tế nước ta nông nghiệp là chính với nền nông nghiệp lúa nước lâu đời lạc hậu đem lại hiệu quả kinh tế thấp, phần đông dân số sinh sống ở vùng nông thôn và lao động trong lĩnh vực nông nghiệp với năng suất thấp
Cùng với đó là tỉ lệ gia tăng dân số cao năm 2005 dân số đứng thứ 13 thế giới và đứng thứ 3 Đông Nam Á đây là nguyên nhân chính gây ra đói nghèo ở nước ta, dân số
Trang 6tăng quá nhanh sẽ dẫn đến thiếu ăn, trẻ em không được đến trường đầy đủ, xảy ra nhiều tệ nạn xã hội, thất nghiệp, thiếu việc làm gây cản trở phát triển kinh tế
Trình độ học vấn thấp, việc làm thiếu và không ổn định: những người nghèo là những người thường có trình độ học vấn thấp, ít có cơ hội kiếm được việc làm tốt và ổn định Mức thu nhập của họ hầu như chỉ đủ để đảm bảo cho nhu cầu dinh dưỡng tối thiểu
và do vậy không có điều kiện nâng cao trình độ của mình trong tương lai để thoát nghèo, trình độ học vấn thấp làm hạn chế khả năng kiếm việc làm trong các khu vực khác, trong các ngành phi nông nghiệp, những công việc mang lại thu nhập cao và ổn định Các khu công nghiệp, khu chế xuất và khu đô thị mới ngày càng phát triển ở khu vực ngoại thành
là cơ hội cho người dân sống nơi đây nhưng đồng thời đây cũng là thách thức đối với người nghèo bởi lẽ do trình độ học vấn thấp họ khó có thể tìm được việc làm tốt trong khu công nghiệp khu chế xuất
Người dân ở vùng nông thôn, vùng sâu vùng xa không có điều kiện phát triển kinh
tế khó khăn với việc tiếp xúc với khoa học kĩ thuật hiện đại cũng là nguyên nhân gây ảnh hưởng nghèo và phúc lợi xã hội
Chương II: Thực trạng xóa đói giảm nghèo và các chính sách phúc lợi xã hội của tỉnh Tuyên Quang giai đoạn 2011-2015
1.Thực trạng xóa đói giảm nghèo của tỉnh Tuyên Quang
1.1.Thực trạng hiện nay
Theo báo cáo của sở LĐ-TB và xã hội, tỷ lệ nghèo toàn tỉnh giảm từ 34.83% năm
2011 xuống dưới 10% năm 2015, bình quân giai đoạn 2011-2015 mức tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh trên 5%/năm, vượt mục tiêu theo Nghị quyết Đại hội đải biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ
XV đã đề ra
Trang 7Hình chị Đỗ Thị Hân được vay vốn chăn nuôi bò và thoát nghèo
Có được kết quả như vậy là nhờ tỉnh đã vận dụng linh hoạt, sáng tạo chủ trương chính sách của Đảng, Chính phủ để có nhiều chương trình, dự án phục vụ chương trình nghèo UBND tỉnh đã ban hành đã ban hành kế hoạch giảm nghèo giai đoạn 2011-2015
Từ năm 2011 đến nay toàn tỉnh đã có 775 hộ nghèo được hỗ trợ đất sản xuất, trên 67.000 lượt hộ nghèo, cận nghèo được vay vốn với lãi suất ưu đãi, trên 259.000 lượt người nghèo được tập huấn kĩ thuật khuyến nông, hướng dẫn cách làm ăn hỗ trợ cho 1559 hộ nghèo về phương tiện sản xuất, chế biến sản phẩm, xây dựng chuồng trại chăn nuôi, hỗ trợ giống cây trồng vật nuôi cho 14.747 hộ nghèo, 4.446 hộ nghèo được hỗ trợ làm mới và sửa chữa nhà ở, 100% học sinh thuộc hộ nghèo được miễn giảm học phí và các khoảng đóng góp 100% người nghèo được cấp thẻ bảo hiểm y tế, 46.660 lượt hộ nghèo với 168.230 lượt người được trợ giúp lương thực dịp giáp hạt và Tết Nguyên Đán hằng năm
Tỉnh đã phân bố trên 305tỉ đồng chương trình 135 để hỗ trợ xây dựng mới 472 công trình, duy tu bảo dưỡng 87 công trình kết cấu hạ tầng của các xã đặc biệt khóa khăn, phân bố 18tỉ đồng nguồn hỗ trợ cho mục tiêu từ ngân sách Trung ương để hỗ xây dựng kết cấu hạ tầng trên địa bàn huyện Lâm Bình Từ năm 2011 đến nay dự án nhân rộng mô hình giảm nghèo được hỗ trợ 1.8tỉ đồng cho 198 hộ mua trâu và lợn sinh sản đã luân chuyển nhân rộng thêm 62 hộ Tỉnh đã triển khai hiệu quả đề án đào tạo nghề gắn với việc giải quyết việc làm tăng thu nhập cải thiện đời sống cho nhân dân, từ năm 2011 đến nay
Trang 8toàn tỉnh đã có trên 38.000 lượt người được đào tạo nghề, trong đó có trên 18.000 lao động nông thôn và dân tộc tiểu số giải quyết việc làm cho trên 94.000 lao động
Theo sở LĐ-TB và xã hội tỉnh Tuyên Quang năm 2014 toàn tỉnh có hơn 9.600 lượt
hộ nghèo và cận nghèo được vay vốn phát triển sản xuất, gần 35.000 hộ nghèo được hỗ trợ tiền điện với kinh phí trên 16tỉ đồng, hang chục vạn hộ nghèo được hỗ trợ cây con giống và hướng dẫn kĩ thuật phát triển sản xuất…Tỉnh Tuyên Quang cũng phân bố trên 108tỉ đồng hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng cho các xã thôn, đặc biệt khó khăn, triển khai các đề án giảm nghèo và dự án hỗ trợ sản xuất cho hộ nghèo với kinh phí trên 30tỉ đồng giúp đồng bào các dân tộc vùng sâu vùng xa thoát nghèo Đến nay tỉ lệ hộ nghèo của tỉnh Tuyên Quang chỉ còn dưới 14% giảm hơn 4% so với năm 2013 Để thực hiện mục tiêu đến hết năm 2015 giảm tỷ lệ nghèo trên đại bàn tỉnh xuống dưới 10% tỉnh Tuyên Quang
đã đề ra nhiều giải pháp giảm nghèo chương trình lao động việc làm, chú trọng nhân rộng các mô hình giảm nghèo hiệu quả, nâng cao chất lượng giảm nghèo và giảm nghèo bền vững, gắn với việc xây dựng nông thôn mới, triển khai có hiệu quả các dự án, chính sách
hỗ trợ nghèo, đẩy mạnh hỗ trợ đầu tư đến các huyện, các xã có tỷ lệ hộ nghèo cao, đặc biệt khó khăn tăng cường giám sát, quản lí nguồn vốn hỗ trợ nghèo đảm bảo cho các nguồn vốn hỗ trợ nghèo được sử dụng đúng mục đích đem lại hiệu quả thiết thực trong công tác giảm nghèo
*Các chính sách xóa đói giảm nghèo giai đoạn 2011-2015:
Nhằm giúp các hộ nông dân đặc biệt là các hộ nghèo nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống từ trồng lúa vụ lúa mùa 2012 tỉnh Tuyên Quang có 14.760 hộ nông dân (trong
đó có 4.128 hộ nghèo) ở 3 huyện: Lâm Bình, Na Hang, Sơn Dương được tổ chức Codespa (tổ chức phi chính phủ của Tây Ban Nha) hỗ trợ thực hiện dự án: “giúp các hộ nông dân tăng thu nhập thông qua áp dụng phân viên nén dúi sâu trong thâm canh lúa”, tham gia dự
án, bà con được hướng dẫn dung các viên phân đã được ép sẵn từ 2 loại phân đơn là đạm
và kali với tỉ lệ thích hợp dúi xuống phía dưới bộ rễ của cây lúa mới cấy, tạo thành kho dự trữ thức ăn cho cây torng suốt quá trình sinh trưởng, hạn chế thấp nhất lượng phân bốc hơi và rửa trôi Kết quả dự án đã tăng năng suất lúa hơn 15% so với diện tích lúa áp dụng
Trang 9cách bón phân truyền thống, đạt 62 tạ/ha qua đó giúp hang tram hộ thoát nghèo, cải thiện đời sống
Cũng như dự án “giúp các hộ nông dân tăng thu nhập thông qua áp dụng viên nén dúi sâu trong thâm canh lúa”, dự án “vay bò trả bê” được Hội Nông dân tỉnh Tuyên Quang triển khai thực hiện tải 19 xã vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn ở 5 huyện: Yên Sơn, Sơn Dương, Hàm Yên, Chiêm Hóa, Na Hang cũng đã giúp hơn 200 hộ nghèo bền vững “vay bò trả bê” có nghĩa những hộ nông dân nghèo và gia đình chính sách có hoàn cảnh khó khăn được cho vay bò giống, sau khi bò giống đẻ ra bê hộ gia đình được vay bò giống có nghĩa vụ trả nợ bằng bê Chủ tịch Hội Nông dân tỉnh Tuyên Quang Trần Văn Chiến cho biết: “từ 444 con bò ban đầu với tổng số vốn 2.5 tỉ đồng cho 444 hộ dân nghèo và gia đình chính sách vay, đến nay số bò đẻ ra 1.300 con bê Hội Nông dân tỉnh đã thu lại 492 con bê và tiếp tục cho 492 hộ khác vay Con bò được vay không chỉ giúp bà con có nguồn vốn ban đầu mà còn giúp đỡ bà con có thêm sức kéo, phân bón cho sản xuất nông nghiệp của gia đình
Ngoài những dự án trên, Tuyên Quang còn mô hình xóa đói giảm nghèo khác đang thực hiện hiệu quả như: trồng rừng bằng chè Shan tuyết tại huyện Na Hang, phát triển đàn trâu chất lượng cao tại huyện Chiêm Hóa, phát triển vùng cam sạch tại huyện Hàm Yên, nuôi trồng thủy sản trên lòng hồ thủy điện Tuyên Quang Các mô hình dự án xóa đói giảm nghèo trên đã góp phần giảm tỉ lệ hộ nghèo của tỉnh từ 29% xuống còn 24% trong 2012
1.2.Thành tựu xóa đói giảm nghèo
Trong giai đoạn 2011-2015 nguồn vốn ưu đãi do tỉnh Tuyên Quang thực hiện đã giúp 53.971 hộ thoát nghèo, 12.900 hộ cận nghèo và 995 hộ mới thoát nghèo được vay vốn để phát triển sản xuất vươn lên trở thành hộ trung bình, khá, 8276 lao động có việc làm ổn định, 14729 học sinh sinh viên có hoàn cảnh khó khăn được vay vốn đi học, xây dựng 31.818 công trình nước sạch và vệ sinh, 9.467 căn nhà cho hộ nghèo và hộ gia đình chính sách Mục tiêu của dự án “xây dựng dự án xóa đói giảm nghèo trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang giai đoạn 2011-2015 góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo từ 34.83% năm 2011 xuống dưới 10% năm 2015 bình quân giảm 1.5%/năm Cải thiện đời sống của nhóm cán
Trang 10bộ nghèo, hộ mới thoát nghèo nhằm đảm bảo giảm nghèo bền vững đã hoàn thành vượt chỉ tiêu tỷ lệ hộ nghèo đã giảm 5%/năm
2 Thực trạng chính sách phúc lợi xã hội
2.1.Thực trạng hiện nay
Những năm qua tỉnh đã ban hành và thực hiện nhiều chương trình phát triển kinh
tế xã hội, thúc đẩy phát triển kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội từng bước cải thiên nâng cao đời sống nhân dân, các chương trình chính sách an sinh xã hội:
* Về việc giải quyết việc làm, đảm bảo thu nhập và giảm nghèo
- Chương trình cho vay vốn ưu đãi giải quyết việc làm, dạy nghề xuất khẩu lao động, phát triển hệ thống thông tin thị trường lao động, tạo cơ hội cho người lao động tìm việc làm hoặc tự tạo việc làm góp phần giảm tỷ lệ thất nghiệp từ 3.15% năm 2011 xuống còn 2.53% năm 2015, năng cao tỉ lệ lao động qua đào tạo từ 11.3% năm 2011 lên 45.8% năm 2015 Các chương trình và chính sách giảm nghèo đã tập trung nghuồn lực ưu tiên cho huyện nghèo, xã đặc biệt khó khăn, vùng đông đồng bào dân tộc Tỷ lệ nghèo giảm mạnh từ 34.83% năm 2011 xuống 9.31% năm 2015 (giảm được 44.774 hộ nghèo), tỷ lệ
hộ nghèo giảm bình quân hằng năm 5.1%/năm
- Bảo hiểm xã hội đã có bước phát triển đáng kể, đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế với số đơn vị và người lao động qua các năm điều tăng năm 1995 thu ở
260 đơn vị với 22039 lao động đến năm 2012 bảo hiểm xã hội tỉnh thu 2970 đơn vị với
45689 người tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, 649 người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện, 3738 đơn vị với 636963 đơn vị với 32325 người tham gia bảo hiểm thất nghiệp
Số tiền thu vào bảo hiểm xã hội từ năm 1995 đến ngày 30/6/2013 thu bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp được 3320 tỉ đồng
2.2.Thành tựu của chính sách phúc lợi xã hội
Các chính sách trợ giúp của nhà nước và cộng đồng đối với các nhóm có hoàn cảnh khó khăn đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo thu nhập tối thiểu cho người