Đặt vấn đề Khoa kinh tế, trường Đại học kinh tế - Luật được nhà trường giao nhiệm vụ phụ trách chuyên môn đào tạo sau Đại học: i Bậc Tiến sĩ: 2 chuyên ngành Kinh tế học; Kinh tế chính
Trang 1ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC CHUYÊN NGÀNH
KINH TẾ HỌC VÀ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT
Nguyễn Chí Hải *
Nguyễn Hồng Nga **
Lê Quốc Nghi ***
1 Đặt vấn đề
Khoa kinh tế, trường Đại học kinh tế - Luật được nhà trường
giao nhiệm vụ phụ trách chuyên môn đào tạo sau Đại học: (i) Bậc Tiến sĩ: 2 chuyên ngành (Kinh tế học; Kinh tế chính trị); (ii) Bậc Thạc sĩ: 3 chuyên ngành (Kinh tế học; Kinh tế chính trị; Kinh tế và quản lý công)
Trong 14 năm qua, được sự quan tâm chỉ đạo sâu sát của Đại học Quốc gia và Trường ĐH Kinh tế - Luật, sự nỗ lực của giảng viên trong Khoa, sự hợp tác với tâm huyết và trách nhiệm của giảng viên trong và ngoài trường, sự phối hợp, hỗ trợ đầy trách nhiệm của các đơn vị trong Trường Đến nay, đã có nhiều TS, ThS do Khoa Kinh tế phụ trách đào tạo tốt nghiệp ra trường, đóng góp vào đội ngũ các nhà khoa học và quản lý trên địa bàn phía nam và cả nước Bên cạnh những thành quả đạt được, yêu cầu nâng cao chất lượng đào tạo, xứng tầm với vị thế của một Trường thành viên của ĐHQG - HCM, theo định hướng nghiên cứu, là vấn đề có tính cấp thiết hiện nay Trong khuôn bài viết này, chúng tôi xin trình bày khái quát tình hình đào tạo sau đại học tại Khoa Kinh tế, trong đó có
Trang 2ngành Kinh tế chính trị, nêu ra những thành tựu đạt được, những hạn chế bất cập, đồng thời đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo
2 Hiện trạng đào tạo sau Đại học chuyên ngành Kinh tế học và Kinh tế chính trị tại trường ĐH Kinh tế - Luật
2.1 Cao học
2.1.1 Chương trình đào tạo
Chương trình đào tạo bậc cao học của Khoa Kinh tế được hình thành từ năm 2001 và được chỉnh sửa vào cuối năm 2009 để phù hợp với sự thay đổi về qui chế đào tạo bậc Thạc sĩ của ĐHQG TP HCM
Năm 2010, theo chỉ đạo của ĐHQG - HCM, Khoa Kinh tế xây dựng chương trình đào tạo Thạc sĩ theo học chế tín chỉ Khoa Kinh
tế thực hiện đào tạo theo 2 chương trình
Thứ nhất, Chương trình giảng dạy môn học: Học viên thực hiện
các môn học và làm luận văn
Thứ hai, Chương trình giảng dạy nghiên cứu: Chỉ yêu cầu học
một số môn bắt buộc, học viên chủ yếu nghiên cứu viết luận văn và
có kết quả nghiên cứu được công bố trên các Tạp chí chuyên ngành Cho đến nay, do chưa có học viên đăng ký đào tạo theo chương trình nghiên cứu, nên Khoa Kinh tế chỉ đào tạo theo chương trình giảng dạy môn học
Dưới đây là chương trình đào tạo cao học của chuyên ngành Kinh tế học và chuyên ngành Kinh tế chính trị
Bảng 2.1 Chương trình đào tạo sau Đại học 2010 Chuyên ngành: Kinh tế học (Mã số: 60.31.01.01)
Phương thức đào tạo: Viết luận văn
Trang 3HỌC KỲ I - 14 TÍN CHỈ
TÍN CHỈ STT TÊN MÔN HỌC
Tổng cộng Lý thuyết Thực hành Khác Các môn học bắt buộc: 10 TC
3 KTCT Mác - Lê nin
Các môn học tự chọn: 04 TC
7 Các lý thuyết kinh tế
9 Yếu tố văn hóa trong
Trang 4HỌC KỲ II: 14 TC
TÍN CHỈ STT TÊN MÔN HỌC
Tổng cộng Lý thuyết Thực hành Khác Các môn học bắt buộc: 08
TC
1 Kinh tế lượng ứng
dụng
2 1,5 0,5
2 KTH nâng cao 1 (vi
3 KTH nâng cao 2 (Vĩ
mô)
3 2,5 0,5
Các môn học tự chọn: 06
TC
4 KTH quốc tế nâng cao 2 1,5 0,5
6 Thẩm định dự án đầu
7 Lý thuyết trò chơi
9 Kinh tế nông nghiệp
Trang 5HỌC KỲ III: 13 TC
TÍN CHỈ STT TÊN MÔN HỌC
Tổng cộng Lý thuyết Thực hành Khác Các môn học bắt buộc: 05
TC
Các môn học tự chọn: 08
TC
6 Phân tích thị trường
7 Phân tích tài chính 2 1,5 0,5
9 Toàn cầu hóa và khu
vực hóa
2 1,5 0,5
11 Chiến lược phát triển
Trang 6HỌC KỲ IV: 15 TC - Luận văn tốt nghiệp
Toàn bộ chương trình gồm 56 tín chỉ, trong đó có 38 tín chỉ bắt
buộc và 18 tính chỉ tự chọn
(Nguồn: P.SĐH và QLKH, trường ĐH KTL)
Bảng 2.2 Chương trình đào tạo sau đại học
Chuyên ngành: Kinh tế chính trị (Mã số: 60.31.01.02)
Phương thức đào tạo: Viết luận văn
HỌC KỲ I - 14 TÍN CHỈ
TÍN CHỈ STT TÊN MÔN HỌC Tổng
cộng
Lý thuyết
Thực hành Khác Các môn học bắt buộc: 10
TC
3 Kinh tế chính trị Mácxít 3 2,5 0,5
Các môn học tự chọn: 04 TC
7 Kinh tế chính trị quốc
tế
2 1,5 0,5
8 KTCT các nước đang
phát triển
2 1,5 0,5
Trang 7HỌC KỲ II: 15 TC
TÍN CHỈ STT TÊN MÔN HỌC Tổng
cộng thuyết Lý Thực hành Khác Các môn học bắt buộc: 09
TC
1 Kinh tế chính trị Lênin 2 1,5 0,5
2 Các lý thuyết KT hiện
đại
2 1,5 0,5
4 KTH vĩ mô nâng cao 3 2,5 0,5
Các môn học tự chọn: 06 TC 2 1,5 0,5
5 Toàn cầu hóa và khu
vực hóa
2 1,5 0,5
7 Kinh tế học quản lý 2 1,5 0,5
8 Chiến lược phát triển
9 Quan hệ kinh tế sau
11 Luật thương mại quốc
Trang 8HỌC KỲ III: 12 TC
TÍN CHỈ STT TÊN MÔN HỌC Tổng
cộng thuyết Lý Thực hành Khác Các môn học bắt buộc: 04 TC
1 Kinh tế phát triển nâng
2 KTCT thời kỳ quá độ ở
VN
2 1,5 0,5
Các môn học tự chọn: 08 TC
4 Kinh tế đối ngoại Việt
Nam
2 1,5 0,5
6 Thẩm định dự án đầu tư
công
2 1,5 0,5
9 KTCT các nước chuyển
10
11
KTCT Chủ nghĩa tư bản
hiện đại
Chính sách đất đai
2
2
1,5 1,5
0,5 0,5
Trang 9HỌC KỲ IV: 15 TC - Luận văn tốt nghiệp
Toàn bộ chương trình gồm 56 tín chỉ, trong đó có 38 tín chỉ bắt buộc và 18 tính chỉ tự chọn
( Nguồn: P.SĐH và QLKH, trường ĐH KTL)
Chương trình đào tạo đã được thay đổi theo hướng hiện đại và cập nhật hơn Các môn đã chia nhỏ và so sánh chương trình đào tạo mới 2010, chúng ta thấy rằng, khối lượng chương trình giảm từ 80 tín chỉ còn 56 tín chỉ (giảm 30%) Số môn tự chọn cũng tăng từ 12.5%(10/80) lên 32% (18/56) Khoa hiện nay chỉ có một phương thức là làm luận văn vì 2 chuyên ngành của Khoa định hướng nghiên cứu
2.1.2 Đội ngũ Cán bộ
Hiện nay danh sách đội ngũ giảng dạy cho 2 ngành là khoảng
50 GS, PGS và tiến sĩ, trong đó Khoa Kinh tế có 9 giảng viên tham gia giảng dạy (4PGS) và 15 giảng viên là GS, PGS, TS từ các Khoa khác trong trường ĐH Kinh tế - Luật Các giảng viên của trường đảm nhận khoảng 75% số môn trong chương trình Số giảng viên còn lại được mời từ các trường ĐH danh tiếng tại thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội như ĐH Kinh tế TP.HCM, ĐH Ngân Hàng, ĐH Kinh tế quốc dân Hà Nội….Giảng viên hướng dẫn luận văn cao học,
có sự tham gia nhiều hơn của các giảng viên trong và ngoài trường, phần lớn là các nhà khoa học hàng đầu từ các trường đại học ở thành phố Hồ Chí Minh
2.1.3 Quy mô và kết quả đào tạo
Bảng 2.3 Số lượng đào tạo và tỷ lệ tốt nghiệp từ năm 2001 đến
2014
Năm Trúng tuyển Tốt nghiệp Tỷ lệ (%) Trúng tuyển nghiệp Tốt Tỷ lệ (%)
Trang 102004 33 25 75.76 32 25 78.13
Tổng 318 176 55.35 249 163 65.46
(Nguồn: P.SĐH và QLKH, trường ĐH KTL)
Trong thời gian từ 2001 đến 2012, tỷ lệ tốt nghiệp ngành Kinh tế học là 64.23% (176 tốt nghiệp trong tổng số 274 học viên nhập học) và ngành Kinh tế chính trị là 73.42% (163 tốt nghiệp trong tổng số 222 học viên nhập học) Những năm đầu tiên tỷ lệ tốt nghiệp rất cao, nhất là 2 năm đầu gần 100%
2.2 Nghiên cứu sinh
2.2.1 Chương trình đào tạo
Trước năm 2010, chương trình đào tạo không có các môn học, trừ trường hợp nghiên cứu sinh không đúng chuyên ngành phải học
bổ sung kiến thức Các nghiên cứu sinh thực hiện 3 chuyên đề tiến
sĩ và thực hiện luận án Hiện nay, theo qui chế mới được áp dụng từ năm 2010, các nghiên cứu sinh phải học các chuyên để bắt buộc và làm tiểu luận tổng quan Khoa Kinh tế đã áp dụng giảng dạy chuyên
đề Tiến sĩ cho các nghiên cứu sinh khóa 10, 11 và 12 với các chuyên đề mang tính học thuật và có tính ứng dụng cao
Trang 11Các nghiên cứu sinh có qui định chặt chẽ liên quan đến sinh
hoạt thường xuyên và học thuật Mỗi năm học Khoa tổ chức 6 buổi
họp toàn thể nghiên cứu sinh để đánh giá tình hình học tập, nghiên
cứu, kết hợp với báo cáo chuyên đề hoặc thảo luận học thuật Bên
cạnh đó, nghiên cứu sinh được tham dự các buổi sinh hoạt chuyên
môn, tham gia các buổi hội thảo khoa học, nghe chuyên đề của các
giáo sư nước ngoài và các sinh hoạt khoa học khác, do Khoa Kinh tế
và Trường ĐH Kinh tế - Luật tổ chức
2.2.2 Đội ngũ Cán bộ
Ngoài đội ngũ cán bộ trong Khoa gồm 9 giảng viên, Khoa đã
được sự hợp tác của nhiều thầy cô trong trường cũng như ngoài
trường để làm công tác hướng dẫn nghiên cứu sinh làm luận án tiến
sĩ Nhìn chung đội ngũ hướng dẫn gồm nhiều thầy cô có học hàm
cao và có kinh nghiệm giảng dạy và bề dày nghiên cứu khoa học
Tham gia thẩm định luận án tiến sĩ và hội đồng chấm luận án,
Trường Đại học Kinh tế - Luật và Khoa Kinh tế đã mời các nhà
khoa học có chuyên môn và uy tín khoa học cao, am hiểu lĩnh vực
nghiên cứu của đề tài luận án Phần lớn các nhà khoa học này công
tác ở thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội
2.2.3 Quy mô và kết quả đào tạo
Bảng 2.4 Số lượng đào tạo và tỷ lệ tốt nghiệp
từ năm 2001 đến 2014
Năm Trúng tuyển Tốt nghiệp Tỷ lệ (%) Trúng tuyển Tốt nghiệp Tỷ lệ (%)
Trang 122007 3 1 33.33 2 1 50
(Nguồn: P.SĐH và QLKH, trường ĐH KTL)
Trong 12 năm đào tạo, số lượng nghiên cứu sinh bảo vệ
thành công tính đến hết năm 2014 là 27 người (KTH: 16; KTCT: 11), trong số đó có rất nhiều giảng viên các trường ĐH tại TP.HCM
và một số tỉnh lân cận như Đồng Nai, Bình Dương Nhìn vào bảng
số liệu, chúng ta thấy rằng tỷ lệ tốt nghiệp của chuyên ngành KTH
đạt 24.56%, thấp hơn so với chuyên ngành KTCT đạt 40% Nếu
không tính đến từ 2010 trờ lại đây thì tỷ lệ bảo vệ thành công luận
án của ngành KTH là 40% và 52.63% đối với ngành KTCT Đây là
tỷ lệ tương đối cao, thường thì chỉ khoảng 1/3 hay 33% số nghiên cứu sinh bảo vệ thành công luận án của mình Tuy nhiên cũng có một số khóa không có nghiên cứu sinh nào bảo vệ thành công như
khóa 4 và khóa 6 đối với ngành KTH và khóa 8 đối với ngành KTCT
Bình quân mỗi năm Khoa Kinh tế đào tạo được 2 Tiến sĩ, tuy
số lượng còn khiêm tốn, song con số này thể hiện những nỗ lực và
yêu cầu cao về chất lượng đào tạo bậc Tiến sĩ tại khoa kinh tế
2.3 Đánh giá chung
2.3.1 Những thành tựu và điểm mạnh
Thứ nhất, công tác đào tạo sau đại học ( nghiện cứu sinh, cao
học) đối với 2 chuyên ngành KTH và KTCT tại khoa kinh tế 14 năm
Trang 13qua đã được mở rộng, nâng cao cả quy mô và chất lượng đào tạo Đặc biệt đối với đào tạo nghiên cứu sinh, nếu khóa 1, số nghiên cứu sinh chỉ là 04 người, đến khóa 14, số nghiên cứu sinh trúng tuyển là
11 người
Chất lượng đào tạo nghiên cứu sinh, cao học của Khoa Kinh
tế được xã hội đánh giá cao Nhiều tiến sĩ, thạc sĩ do Khoa đào tạo
đã trở thành các nhà khoa học có uy tín, các nhà quản lý tại các cơ quan công quyền, đơn vị doanh nghiệp Đào tạo sau đại học của Khoa Kinh tế nói riêng, trường ĐH Kinh tế - Luật nói chung đã đóng góp vào việc đào tạo nguồn nhận lực chất lượng cao cho đất nước, đặc biệt thành phố Hồ Chí Minh và khu vực phía Nam Dưới đây là thông tin về các nghiên cứu sinh chuyên ngành KTCT đã bảo
vệ thành công luận án tiến sĩ
Thứ hai, chương trình đào tạo và phương thức đào tạo sau đại
học của Khoa được điều chỉnh, cập nhật theo hướng hiện đại, hội nhập quốc tế Hệ cao học đã chuyển sang đào tạo theo phương thức học chế tín chỉ với phương thức 1 và phương thức 2 ( phần lớn lựa chọn) từ năm 2010 Cũng từ năm 2010, chương trình đào tạo tiến sĩ cũng được thay đổi, giảng dạy các tín chỉ nâng cao về phương pháp nghiên cứu chuyên sâu, các chuyên đề nâng cao, thực hiện các chuyên đề tiến sĩ; đổi mới nội dung và phương pháp thực hiện luận
án
Thứ ba, đội ngũ giảng viên giảng dạy, hướng dẫn luận văn,
luận án ngày càng được tăng cường về số lượng và chất lượng Bên cạnh đội ngũ giảng viên của Khoa Kinh tế và trường ĐH Kinh tế - Luật, đội ngũ giảng viên được Trường và Khoa mời thỉnh giảng đều
là các nhà khoa học có uy tín từ các trường Đại học ở thành phố Hồ Chí Minh Đây là nhân tố hết sức quan trọng nhằm đáp ứng yêu cầu đào tạo
Thứ tư, điều kiện học tập, giảng dạy đối với học viên cao
học, nghiên cứu sinh, được nhà trường thường xuyên quan tâm và đầu tư đúng mức
Thứ năm, công tác quản lý sau Đại học của nhà trường ngày
càng đi vào nề nếp, khoa học, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác
Trang 14thưc hiện nghiêm túc, tạo điều kiện thuận lợi cho nghiên cứu sinh, học viên cao học, trong quá trình học tập
Việc phân công giảng viên hướng dẫn nghiên cứu sinh, học viên cao học; đề xuất Hội đồng; thẩm định, phản biện luận văn, luận án…được Khoa thực hiện đúng quy chế, đáp ứng yêu cầu chuyên môn và đảm bảo chất lượng đào tạo
Thứ sáu, riêng đối với chuyên ngành Kinh tế chính trị, bên
cạnh những kết quả chung, như đã nêu, cần nhận mạnh thêm một số kết quả khác, đó là:
- Chương trình đào tạo chuyên ngành KTCT cả ở bậc thạc sĩ
và tiến sĩ đã được xây dựng và cập nhật theo hướng hiện đại, hội nhập quốc tế, gắn với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam hiện nay
- Chương trình đào tạo cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành KTCT đã thu hút nhiều học viên là các giảng viên Lý luận chính trị, các cán bộ quản lý trong bộ máy công quyền tham gia học tập, nghiên cứu
- Hầu hết các nghiên cứu sinh và nhiều học viên cao học ngành KTCT sau khi tốt nghiệp, đều phát huy năng lực chuyên môn và khả năng quản lý, không thua kém so với các thạc sĩ, tiến sĩ của các chuyên ngành kinh tế khác
- Đội ngũ giảng dạy chuyên ngành KTCT hiện nay của Khoa Kinh tế, không chỉ có kiến thức chuyên sâu về chuyên ngành, mà còn có kiến thức vững vàng về kinh tế học và các chuyên ngành kinh tế và quản lý, có năng lực nghiên cứu và phản biện chính sách
Những thành tựu và ưu điểm trên, đã bước đầu tạo nên
“thương hiệu”đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao của Khoa Kinh tế nói riêng, trường ĐH Kinh tế - Luật nói chung
2.3.2 Những hạn chế, bất cập
Thứ nhất, chất lượng đào tạo sau đại học, mặc dù đã ngày
càng được nâng lên, song chưa tạo nên sự chuyển biến lớn, có tính đột phá, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế Chất lượng luận văn, luận án tuy được đảm bảo, song chưa đều, nhất là ở bậc cao học Công tác đào tạo, học tập, thực hiện luận văn, luận án chưa gắn với
Trang 15kết quả nghiên cứu khoa học của giảng viên, nhất là nghiên cứu sinh, học viên cao học
Thứ hai, đội ngũ giảng viên cơ hữu đáp ứng nhu cầu đào tạo
sau đại học của Khoa và Trường vẫn còn khá mỏng, còn thiếu các chuyên gia đầu đàn
Thứ ba, do phần lớn học viên cao học, nghiên cứu sinh, đều
đang là công chức,viên chức hoặc đang làm việc tại các doanh nghiệp, nên thời gian tập trung cho việc nghiên cứu, thực hiện luận văn, luận án còn khá hạn chế Do vậy, nhiều học viên cao học và phần lớn nghiên cứu sinh đều bảo vệ trễ hạn, thâm chí một tỉ lệ đáng
kể phải bỏ cuộc hoặc không được bảo vệ luận văn, luận án
Thứ tư, riêng với ngành Kinh tế chính trị, còn có những hạn
chế bất cập khác:
- Số người đăng ký học chuyên ngành KTCT có xu hướng giảm, điểm chuẩn đầu vào của chuyên ngành KTCT còn thấp hơn so với khá nhiều chuyên ngành kinh tế khác trong trường
- Vẫn còn tồn tại tư duy, tâm lý cho rằng thực hiện luận văn, luận án chuyên ngành Kinh tế chính trị chỉ cần nghiên cứu định tính, mà chưa nhận thức chính xác về bản chất, vị trí, vai trò của chuyên ngành KTCT trong hệ thống khoa học kinh tế và quản lý
- Chương trình đào tạo các môn lý luận chính trị ở bậc đại học, trong đó có việc tích hợp môn Kinh tế chính trị trong môn học chung là Những nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mác - Lê Nin, vô tình đã làm giảm tính khoa học và động lực nghiên cứu và học tập Kinh tế chính trị Và hiển nhiên, tình hình này có ảnh hưởng đến việc đạo tạo sau đại học chuyên ngành Kinh tế chính trị, dẫn đến nguy cơ có sự thiếu hụt các chuyên gia đầu đàn trong chuyên ngành này
3 Phương hướng, biện pháp nâng cao chất lượng đào tạo sau đại học, chuyên ngành Kinh tế học và Kinh tế chính trị tại trường ĐH Kinh tế - Luật
3.1 Phương hướng và mục tiêu
- Phương hướng, mục tiêu chung : Khoa Kinh tế đặt trọng tâm