Hơn thế nữa, người dân sẽ ngày càng thấy tầm quan trọng cũng như sự tiết kiệm khi sử dụng thiết bị chưng cất nước ngọt dùng năng lượng mặt trời và họ sẽ sử dụng ngày càng nhiều hơn.. Tuy
Trang 1THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG
NGHIÊN CỨU HỆ THỐNG CHƯNG CẤT NƯỚC NGỌT DẠNG HAI MÁI NGHIÊNG DÙNG NĂNG LƯỢNG
MẶT TRỜI VỚI CHI PHÍ THẤP PHÙ HỢP
ĐIỀU KIỆN KHÍ HẬU VIỆT NAM
MÃ SỐ: T2009 - 73
Tp Hồ Chí Minh, 2009
S 0 9
S KC 0 0 2 8 9 8
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP HCM
~.~.~.~.~.~.~.~.~.~.~.~.~
ĐỀ TÀI NCKH CẤP TRƯỜNG
MÃ SỐ: T2009-73
NGHIÊN CỨU HỆ THỐNG CHƯNG CẤT NƯỚC NGỌT DẠNG HAI MÁI NGHIÊNG DÙNG NĂNG LƯỢNG MẶT TRỜI VỚI CHI PHÍ THẤP PHÙ HỢP ĐIỀU KIỆN KHÍ HẬU
VIỆT NAM
Chủ nhiệm đề tài : ThS NGUYỄN LÊ HỒNG SƠN
TP.Hồ Chí Minh, tháng 12 năm 2009
Trang 3I Đặt vấn đề
II Mục đích nghiên cứu
III Đối tượng nghiên cứu
IV Giới hạn nghiên cứu
Chương II: TỔNG QUAN I Tình hình năng lượng:
II Nhu cầu nguồn nước ngọt:
III Thiết bị chưng cất nước ngọt đã được sử dụng:
III.1 Dạng sơ khai:
III.2 Dạng Single slope still:
III.3 Dạng Double slope still:
III.4 Dạng Double basin still:
III.5 Dạng cầu:
III.6 Dạng Multi-stage flash distillation (MSF):
III.7 Dạng Multi-Effect distillation (MED
III.8 Dạng Vapour compression distillation:
III.9 Dạng Reverse Osmosis membrane distillation:
III.10 Một số dạng đã và đang được nghiên cứu ứng dụng tại Việt Nam:
IV Tổng quan về năng lượng mặt trời
IV.I Bức xạ tổng xạ:
IV.2 Năng lượng mặt trời ở Việt Nam:
Chương III: CƠ SỞ LÝ THUYẾT I Nguyên lý chưng cất nước ngọt:
II Cơ sở lý thuyết:
II.1 Tính cường độ bức xạ đến mặt phẳng nghiêng:
Trang 4II.3 Phương trình truyền nhiệt và truyền chất tại thiết bị chưng cất truyền
thống hai mái nghiêng:
II.3.1 Hệ thống đối lưu tự nhiên:
II.3.2 Hệ thống đối lưu cưỡng bức:
Chương IV: THÍ NGHIỆM I Mục đích, ý nghĩa
II Mô tả hệ thống
III Thuyết minh các dụng cụ đo
IV Tiến hành thí nghiệm, xử lý kết quả thí nghiệm, nhận xét, bàn luận
Chương V: ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ I Thực trạng tại vùng khảo sát:
II Tính hiệu quả kinh tế và khả năng thu hồi vốn
Chương VI: KẾT LUẬN I Kết luận
II Đề nghị
Trang 5Chương 1: MỞ ĐẦU
I Đặt vấn đề:
Hiện nay nhà nước ta đang khuyến khích sử dụng các thiết bị dùng năng lượng mặt trời Hơn thế nữa, người dân sẽ ngày càng thấy tầm quan trọng cũng như sự tiết kiệm khi sử dụng thiết bị chưng cất nước ngọt dùng năng lượng mặt trời và họ sẽ sử dụng ngày càng nhiều hơn Tuy nhiên điều quan trọng của vấn đề này là tính hiệu quả về kinh tế kỹ thuật của thiết bị chưng cất nước ngọt dùng năng lượng mặt trời Bởi vì hiện nay, một số loại
cổ điển hoặc cao cấp nhưng không phù hợp với lý do hiệu suất kém hoặc giá
cả chưa hợp lý
Chính vì thế nên tác giả chọn đề tài này với mục đích là để đưa ra một
mô hình hoàn thiện về thiết bị chưng cất nước ngọt sử dụng năng lượng mặt trời thân thiện với môi trường và đáp ứng được hai yếu tố trên, đó là, hiệu suất cao, giá cả hợp lý
Hiện nay, tại một số vùng xa xôi hẻo lánh, vùng sâu vùng xa, các hải
đảo xa xôi ,đa số, đang sử dụng thiết bị chưng cất dạng hai mái nghiêng với chi phí không cao so với các loại khác nhưng hiệu suất khá thấp, nên đề tài
này, tác giả sẽ cố gắng đưa ra một mô hình với chi phí thấp để có thể cải thiện
hệ thống này Mô hình mà tác giả đưa ra có ý nghĩa thực tiễn rất lớn, làm tăng khả năng trao đổi nhiệt và diện tích ngưng tụ, dẫn đến lượng nước sạch thu được sẽ cao hơn
II Mục đích nghiên cứu:
Đưa ra một mô hình hoàn thiện về thiết bị chưng cất nước ngọt sử dụng năng lượng mặt trời thân thiện với môi trường và đáp ứng được hai yếu tố trên, đó là, hiệu suất cao, giá cả hợp lý
III Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là thống chưng cất nước ngọt
dùng năng lượng mặt trời dạng hai mái nghiêng
IV Giới hạn nghiên cứu:
Trong phạm vi đề tài “Nghiên cứu hệ thống chưng cất nước ngọt dùng năng lượng mặt trời dạng hai mái nghiêng, phù hợp với điều kiện Việt Nam”, tác giả sẽ tập trung đưa ra thể thức nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm
- Nghiên cứu lý thuyết đưa ra mô hình tính toán nhiệt cho hệ thống chưng cất nước ngọt
- Thực nghiệm, sử dụng số liệu đo đạc thực tế, số liệu khí tượng tại các thời điểm khác nhau để so sánh và đánh giá chương trình So sánh hiệu quả của hệ thống đã cải tiến so với ban đầu
Trang 6Chương 2: TỔNG QUAN
I Tình hình năng lượng:
Hiện nay hàng năm thế giới khai thác và sử dụng khoảng 10 tỷ tấn nhiên liệu khoáng Như vậy sẽ thải ra môi trường khoảng hơn 200 triệu tấn axit sulfuric, chưa kể thêm các chất độc hại khác [14] Rất ít ai còn chưa cảm thấy tác động của con người lên môi trường Các hiệu ứng toàn cầu về tăng nhiệt độ, tăng mực nước biển, tăng mức tàn phá của thời tiết (lụt, bão, hạn và
sa mạc hóa…) là những chứng cớ không còn nghi ngờ rằng loài người đã đạt đến khả năng giải phóng những năng lượng làm thay đổi nghiêm trọng cân bằng của tự nhiên
Các nước công nghiệp đang nhận thức rõ hiểm họa cạn kiệt năng lượng (đặc biệt giá dầu mỏ hiện nay chưa có dấu hiệu bình ổn) và có những chính sách mạnh và cụ thể để phát triển năng lượng tái tạo cũng như tăng hiệu quả năng lượng Chính phủ các nước này khuyến khích sử dụng năng lượng mặt trời qua miễn thuế, cho vay dài hạn lãi suất thấp, tài trợ nghiên cứu phát triển…Họ đặt ra những mục tiêu rõ ràng về tỷ trọng mà năng lượng mặt trời cần đạt trong từng thời đoạn Ví dụ công đồng châu Âu đạt 12% năng lượng tái tạo vào năm 2010 Các nước có quy mô sử dụng năng lượng mặt trời rộng lớn là Nhật Bản, Mỹ, Israel, Úc, Hy Lạp, Áo, Đức,… [16]
Trong khi các dạng năng lượng truyền thống đang ngày một cạn kiệt, thì ánh sáng mặt trời được coi là một trong những kho năng lượng quý giá có thể thay thế được So với các dạng năng lượng khác, năng lượng mặt trời có
ưu thế hơn là vừa sạch, vừa rẻ, lại gần như vô tận Bởi thế, nó đã sớm được con người nghĩ đến và tìm cách khai thác Ở nước ta, từ hơn hai mươi năm trở lại đây đã sử dụng nhiều loại thiết bị thu ánh sáng mặt trời để phục vụ cho quá trình sản xuất như: thiết bị sấy, thiết bị đun nước nóng, thiết bị chưng cất nước và dàn pin mặt trời Các thiết bị này nhìn chung phù hợp với điều kiện khí hậu và đặc điểm địa lí nước ta
Sử dụng năng lượng mặt trời mang lại hiệu quả kinh tế, xã hội, góp phần bảo tồn nguồn năng lượng truyền thống, bảo vệ môi trường và thực hiện điện khí hóa nông thôn, vùng sâu, vùng xa là việc làm cần thiết Vì thế Nhà nước cần có các chính sách hỗ trợ tích cực cho các cơ quan nghiên cứu, doanh nghiệp cung cấp các dịch vụ cũng như người sử dụng các công nghệ năng lượng mặt trời
II Nhu cầu nguồn nước ngọt:
Trang 7Nước là một nguồn tài nguyên thiên nhiên rất phong phú quanh ta, từ những dòng chảy, sông hồ, nước ngầm đến đại dương mênh mông là nơi muôn loài thuỷ sinh sinh sống, nước được sử dụng trong mọi mặt của đời sống con người và mọi loài động thực vật trên trái đất Tuy nhiên, nguồn nước sạch quí giá đang bị khai thác dần cạn kiệt, thiếu nước sạch không những ảnh hưởng đến đời sống con người mà còn ảnh hưởng đến các loại sinh vật trên trái đất cũng như mọi hoạt động sản xuất, sinh hoạt.
Nước ngọt là một nhu cầu rất cơ bản cho sự sống của con người Theo báo cáo của Liên Hiệp Quốc, hơn 1 tỷ người trên thế giới không có nước sạch, khoảng 2,5 tỷ không có nhà vệ sinh và mỗi năm hơn 2 triệu người chết
vì thiếu nước sạch và điều kiện vệ sinh Năm 2007, hội nghị về nước sạch và bảo vệ môi trường đã diễn ra và nêu lên vấn đề bức xúc về sự thiếu hụt nước ngọt trầm trọng diễn ra nhiều nơi trên thế giới Do vậy, cùng với vấn đề thiếu hụt năng lượng thì vấn đề nước sạch cũng là một trong những vấn đề được cả thế giới quan tâm
Còn ở Việt Nam chúng ta hiện nay thì sao? Các tỉnh miền núi như Sơn
La, Lào Cai…các hải đảo xa sôi, ngay cả các vùng có lượng nước lớn như Long An, Bạc Liêu, Đồng Tháp thì hiện nay đang thiếu nước sạch để uống, sinh hoạt trầm trọng Còn ở các thành phố lớn thì ô nhiễm nguồn nước sạch đang là một vấn đề đau đầu đối với người dân và các ngành có liên quan
Lượng nước tự nhiên có khoảng 96,5% là nước mặn phân bố ở biển và đại dương, phần còn lại được phân bố ở đất liền Điều này cho thấy rằng lượng nước ngọt cung cấp cho sinh hoạt của chúng ta hết sức hạn hẹp Vậy tại sao ta không tận dụng các nguồn nước mặn, ô nhiễm để sử dụng vào sinh hoạt
và sử dụng như thế nào? Đó chính là lý do ra đời của đề tài, ta sẽ sử dụng máy chưng cất dùng năng lượng mặt trời mục đích là tiết kiệm năng lượng (gas, điện…), tạo ra nguồn nước tinh khiết
III Thiết bị chưng cất nước ngọt đã được sử dụng:
III.1 Dạng sơ khai:
Từ ngày xưa con người đã biết cách tìm nguồn nước ngọt khi lạc trong rừng rậm, hoang mạc hay lênh đênh trên biển cả, các thiết bị chưng cất để lấy nước ngọt sơ khai đã được hình thành Nhưng nhược điểm của các phương pháp này là lượng nước thu được rất thấp
a) b)
Trang 8c) d)
Hình 2.2: Các thiết bị chưng cất đơn giản a) Chưng cất nước từ sự hô hấp của cây b) Dùng nhiệt để chưng cất nước c) Dùng năng lượng mặt trời chưng cất nước từ đất ẩm
d) Dùng năng lượng mặt trời chưng cất nước
III.2 Dạng một mái nghiêng (Single slope still):
Loại Single slope still là thiết bị chưng cất có một tấm kính đặt nghiêng phía trên bể chứa nước cần được chưng cất để hấp thụ các tia bức xạ mặt trời Tấm kiếng được đặt một góc nghiêng phù hợp để nước ngưng tự chảy xuống Dạng Single slope still có thể dùng một miếng bấc hoặc chia ra làm nhiều khay chứa làm tăng khả năng bay hơi của nước Lượng nước sạch thu được của Single slope still khoảng 1,5 – 2 lít/m2
/ngày
Ưu điểm lớn nhất của loại này là tính kinh kế, dễ chế tạo, dễ lắp đặt Nhược điểm: hiệu suất thấp
Trang 9c) d)
Hình2.3 : Thiết bị chưng cất nước dùng năng lượng mặt trời dạng
sin-gle slope still a)Dạng đơn giản b) Dạng có nước chảy phía trên
c)Dạng bấc d)Dạng nhiều khay
III.3 Dạng hai mái nghiêng (Double slope still):
Loại Double slope still là thiết bị chưng cất có hai tấm kính đặt nghiêng phía trên bể chứa nước cần được chưng cất để hấp thụ các tia bức xạ mặt trời, làm tăng diện tích hấp thu bức xạ và ngưng tụ Tấm kiếng được đặt một góc nghiêng phù hợp để nước ngưng tự chảy xuống Dạng Double slope still có thể dùng một miếng bấc tăng khả bay hơi của nước Hiệu suất thấp, lượng nước sạch thu được 2 – 2,5 lít/m2
slope still
Trang 10III.4 Dạng hai bể chứa (Double basin still):
Dạng Double basin still là dạng có 2 phần chứa nước và có hai lớp kính, mục đích làm tăng diện tích ngưng tụ, từ đó làm tăng lượng nước bay hơi Lượng nước sạch thu được khoảng 3 – 4 lít/m2
/ngày
Ưu điểm: tính kinh kế, dễ dàng chế tạo, lắp đặt tại Nhược điểm: cách chế tạo có phần phức tạp hơn hai loại trên và phải bố trí một số van để điều khiển lưu lượng nước
a)
Hình 2.5 : Thiết bị chưng cất nước dùng năng lượng mặt trời dạng
double basin still
IV Tổng quan về năng lượng mặt trời:
Năng lượng bức xạ mặt trời thực chất là nguồn năng lượng nhiệt hạch
vô tận của thiên nhiên Hàng năm mặt trời cung cấp cho trái đất một lượng năng lượng khổng lồ, gấp 10 lần trữ lượng năng lượng có được từ các nguồn nhiên liệu trên trái đất Trong những năm gần đây đã có nhiều quốc gia trên thế giới quan tâm nghiên cứu sử dụng nguồn năng lượng siêu sạch, vô tận này dưới nhiều hình thức khác nhau và đã đạt được nhiều kết quả
Trang 11Chương 3: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
I Nguyên lý chưng cất nước ngọt:
Nguyên lý cơ bản của chưng cất nước tương tự như quá trình nấu rượu bằng phương pháp cổ điển Ta sẽ có một nguồn nóng có nhiệt độ cao làm nước bay hơi lên, khi gặp nguồn lạnh thì lượng hơi này sẽ bị ngưng tụ lại Lượng nước này gọi là nước cất hay nước ngọt Nguồn nước dùng để chưng cất là nước phèn, nước mặn
II Cơ sở lý thuyết:
Thiết bị này tính toán ứng dụng tại Tp Hồ Chí Minh hoặc các vùng hải đảo khan hiếm nguồn nước ngọt, nơi có lượng nước phèn, mặn Đây là thiết
bị chưng cất nước đơn giản, bao gồm một thiết bị chứa nước có bọc cách nhiệt, phía trên có đậy một tấm kính có độ nghiêng phù hợp, nhưng lượng nước ngưng sẽ được quạt hút sang thiết bị ngưng tụ Ưu điểm của phương pháp này là tăng độ chênh nhiệt độ giữa nước và kính, tăng diện tích ngưng tụ của hơi nước dẫn đến tăng tỉ lệ bay hơi của nước, tránh lượng nước ngưng trên tấm kính làm giảm các tia bức xạ đến bề mặt hấp thụ Đồng thời, nhiệt năng của hơi ngưng tụ sẽ được hấp thụ bởi lượng nước cấp bổ sung cho hệ thống
II.1 Tính cường độ bức xạ đến mặt phẳng nghiêng:
Hình 3.1: Vị trí tương đối của mặt trời trên mặt phẳng ngang và mặt phẳng
Trang 12I: cường độ bức xạ lên mặt phẳng nằm ngang (j/m2
cos sinsincos sincossincos
cossinsincoscoscossinsinsin
Góc đỉnh, hợp bởi tia bức xạ và mặt phẳng nằm ngang:
: góc nghiêng của Collector 0 ≤ ≤ 900
: góc phương vị (-1800 ≤ ≤ 1800)
: góc giờ Là góc tạo bởi tia trực xạ và đường nối điểm khảo sát với
vị trí cao nhất (thiên đỉnh) của mặt trời trong ngày
: góc tới của tia bức xạ lên mặt phẳng nghiêng
z : góc thiên đỉnh Là góc tạo bởi tia trực xạ và đường thẳng góc với mặt phẳng nằm ngang tại vị trí khảo sát
n : số ngày hiện tính của năm (ngày)
= (12 – t) 15 0 (5)
t : thời điểm lúc tính (giờ)
Hay nhiệt lượng toàn phần nhận được qua tấm hấp thụ được xác định như sau:
2
Cos1
.2
Cos1
.I
IRI
)(II).(
2
Cos1
.I).(
R.I
hay QI T.( ) (8) Với :
()b : hệ số hấp thụ-truyền qua của thành phần trực xạ
()d : hệ số hấp thụ-truyền qua của thành phần khuyếch tán
()g : hệ số hấp thụ-truyền qua của thành phần phản xạ từ mặt đất
() : hệ số hấp thụ-truyền qua trung bình
Theo [11], có thể lấy giá trị () trong công thức (8) bằng với giá trị trung bình của ()b theo ngày với sai số nhỏ hơn 5%
Trang 13Theo nghiên cứu của Hadara [12], () có mối liên hệ với hệ số hấp thụ trung bình ()tb theo hệ thức () =()tb.K Với K= 0.96 cho một
tấm kính phủ
II.2 Xác định hệ số phản xạ, hấp thụ và truyền qua
Đối với kính che phủ, khả năng truyền qua của bề mặt phụ thuộc vào chiều dài bước sóng, góc tới của chùm tia bức xạ, chiết xuất của môi trường
và hệ số suy giảm K khi xuyên qua lớp vật liệu này Hiện tượng phản xạ xảy
ra trên các bề mặt phân cách giữa hai môi trường tiếp xúc nhau Gọi , và
là lần lượt là hệ số phản xạ, hệ số xuyên qua và hệ số hấp thụ của tấm phủ :
Hình 3.2: Quá trình truyền qua của tia bức xạ
Khảo sát tia bức xạ đi từ môi trường có chiết xuất n1, góc tới 1 sang môi trường có chiết xuất n2 và góc tới 1, theo định luật Snell :
1 2 2
1
sin
sinn
sin
)(
sin
r
1 2 2
1 2 2
tan
) (
tan
r
1 2 2
1 2 2
Trong kỹ thuật năng lượng mặt trời, điều quan tâm là hệ số xuyên qua
của tia bức xạ, bỏ qua sự hấp thụ của tấm phủ trong suốt ta có thể tính gần đúng hệ số rN xuyên qua N tấm phủ như sau :
rN 0,5.(rArB) (12) Trong đó :
a
a A
r)
1N.2(1
r1r
Trang 14
b
b B
r)
1N.2(1
r1r
2
cos L K
Như vậy nếu tính cả hiện tượng hấp thụ và phản xạ, ta có thể tính gần đúng hệ số xuyên qua và hệ số hấp thụ của tấm phủ như sau :
r.a
1-a
Trong tính toán hệ số phản chiếu - hấp thụ () giữa hai bề mặt song song giữa tấm hấp thụ và tấm kính phủ, tích số () được xác định như sau :
d 1
n
n d
)
1(1
.]
)
1[(
)
II.3.1 Hệ thống đối lưu tự nhiên:
Quá trình truyền nhiệt và truyền khối trong thiết bị trình bày tại hình 3.3 Để đưa ra được các phương trình cân bằng năng lượng thì ta có các giả thiết sau:
- Lượng nước tổn thất do bay hơi rất nhỏ so với lượng nước có trong thiết bị chưng cất
- Lượng nhiệt cần thiết để làm nóng nước bổ sung không đáng kể
w a
w
pw T T h
- Thiết kế tốt nên không có sự rò rỉ nước ra môi trường bên ngoài
- Diện tích tấm phủ, diện tích bề mặt nước và bể chứa là như nhau
- Bỏ qua Gradient nhiệt độ dọc theo chiều dày tấm phủ và chiều sâu của nước
Trang 15Hình 3.3: Quá trình truyền nhiệt trong thiết bị đối lưu tự nhiên
Với những giả thiết trên và hình 3.3: Phương trình cân bằng năng lượng tại kính, nước và bể chứa:
q q q
w b w rw ew cw T
b b b w T
) 10
9 268 (
) 15 273 )(
( ) (
884 0
3 / 1
w
w g w g
w
p
t p p t
Trang 16 4 4
) 15 273 (
) 15 273
8 3 7 5
q (23) Với h w b : hệ số truyền nhiệt từ nước ra vách bể chứa (W / m2.0 C )
- q b: lượng nhiệt truyền từ đáy bể chứa ra môi trường xung quanh (W/m2):
) (b a
insul : chiều dày lớp cách nhiệt của bể chứa ( m )
k insul : hệ số dẫn nhiệt của lớp cách nhiệt ( W/ m.0 C )
h i : hệ số truyền nhiệt kết hợp đối lưu và bức xạ giữa lớp cách nhiệt và môi trường
Trang 17- M g, M w, M b: nhiệt dung trên một đơn vị diện tích của tấm phủ, nước
và bể chứa (J/ m2
.0 C)
- t g , t w ,t b: nhiệt độ tức thời của tấm phủ, nước và bể chứa (0 C)
Các công thức (15a), (16a), (17a) có thể được viết lại như sau:
Để đơn giản, thuận tiện cho việc tính toán thì các giá trị Q T, Q T', Q T''
được lấy tương đương với Q T Nếu các giá trị g, w, b được xem như là những hệ số truyền qua của tấm phủ, nước và bể chứa thì các công thức thức (15b), (16b), (17b) được viết lại như sau:
Trang 18Hình 3.4 Sự phân bố của tia tới
Qua trên, hệ số truyền qua của tấm phủ:
g ( 1 R1)g g( 1 R R1) 2g( 1 g) ( 2 1 R R R)
1 1 2 (25a) Trong thực tế, các giá trị g,R1, R2 thường có giá trị bé nên công thức trên có thể được viết lại:
w w
n 61504 lnH 0 3577 ( 28 ) Với H w : chiều cao lớp nước trong bể chứa ( mm )
Theo [17] thì hệ số hấp thụ của nước đối với góc của tia tới bất kỳ:
w w n 1 2 0345 10. 31990 10. 425 324 10. 634 799 10. 84
(29) Với : góc của tia tới so với bề mặt của nước (độ)
Dựa vào công thức (15c), (16c), (17c) thì nhiệt độ tức thời của tấm phủ, nước và bể chứa sẽ được tính toán Lượng nước cất thu tại khoảng thời gian t:
A: diện tích của bể chứa ( m2 )
Hiệu suất tức thời của thiết bị chưng cất:
h
q AQ
Trang 19Hình 3.5: Sự phân bố góc của tia tới
Theo hình 3.5 trên ta có: tổng bức xạ tới thiết bị, ta có tỉ lệ theo các góc trong tam giác
(32 a) Lên tấm phủ 2:
(32 b) Theo Cooper [13] hệ số của tia bức xạ qua từng tấm phủ:
1
1
khi 1
) - 180 (
<
khi ) 1 /(
1
) - 180 ( khi 0
) - 180 (
<
khi ) 1 /(
khi 0
1
1 2
f (33 b)
Với : góc cao độ của mặt trờistheo phương thẳng đứng đối với hai
bề mặt nghiêng của tấm phủ