1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nghiên cứu, thiết kế bộ thẻ màu cho một số xe thông dụng trên thị trường việt nam

42 476 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 42
Dung lượng 2,42 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để giải quyết vấn đề trên đề tài: “Nghiên cứu, thiết kế bộ thẻ màu cho một số xe thông dụng tại thị trường Việt Nam” được chọn thực hiện với mong muốn sẽ giải quyết phần nào những khó

Trang 1

CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG

NGHIÊN CỨU, THIẾT KẾ BỘ THẺ MÀU CHO MỘT SỐ XE THÔNG DỤNG TRÊN THỊ TRƯỜNG VIỆT NAM

MÃ SỐ: T16 - 2008

Tp Hồ Chí Minh, 2008

S 0 9

S KC 0 0 2 1 8 0

Trang 2

Nghiên cứu, thiết kế bộ thẻ màu cho một số xe thông dụng tại Việt Nam 1

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ

I TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Ngành sơn ô tô là một trong những ngành mới phát triển ở nước ta trong những năm gần đây do đó về nhân lực cũng như công nghệ vẫn còn trong giai đoạn chuyển giao Trước kia, những người làm trong lĩnh vực sơn sửa chữa ô tô họ không được đào tạo qua trường lớp mà hầu hết đều là học theo những ngườiđi trước Do đó về mặt công nghệ cũng như chất lượng có phần nào hạn chế Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật và việc ứng dụng tự động hóa vào sản xuất thì những phương pháp sơn hiện nay sẽ dần dần trở nên lạc hậu

Sơn ô tô hiện nay ngoài việc đòi hỏi về độ bền, tính thẩm mỹ nó còn phải đảm bảo đến các yếu tố khác như khả năng khô nhanh, hàm lượng dung môi bay hơi thấp không gây ô nhiễm môi trường Để đảm bảo độ bền, đẹp thì yêu cầu đối với người thợ sơn là hết sức khắt khe khi tiến hành phun sơn Yêu cầu về khoảng cách từ súng sơn đến bề mặt cần sơn, tốc độ di chuyển súng cũng như độ chồng đè giữa các lớp sơn phải được duy trì một cách đều đặn Thêm vào đó khi sơn các màu Metallic (màu nhũ) hay màu Pearl (màu ngọc trai) do các màu này nó thay đổi theo góc nhìn của người quan sát nên các yêu cầu về kỹ thuật ngày càng cao hơn Ngoài những yếu tố đó thì việc pha chỉnh để tạo ra màu phù hợp với mỗi chiếc xe là hết sức quan trọng Quá trình pha chỉnh màu đòi hỏi rất nhiều thời gian và kinh nghiệm của người thợ Hiện nay thì các hãng sữa chữa ôtô chủ yếu sử dụng các phần mềm pha màu của các hãng sơn để pha màu Tuy nhiên những phần mềm pha màu hay bảng tỷ lệ màu mà hãng sơn cung cấp chỉ có tính chất tương đối mà còn phải chỉnh lại cho phù hợp với từng loại xe Ngoài ra do trình độ của người thợ có hạn nên việc sử dụng các phần mềm này cũng chưa thực sự hiệu qủa do đó rất khó khăn và tốn rất nhiều

thời gian Để giải quyết vấn đề trên đề tài: “Nghiên cứu, thiết kế bộ thẻ màu cho

một số xe thông dụng tại thị trường Việt Nam” được chọn thực hiện với mong

muốn sẽ giải quyết phần nào những khó khăn trong việc pha chỉnh màu cho người học cũng như nhưng người đang làm việc trong lĩnh vực sơn ôtô

II TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC

Trên thế giới hiện nay đã có rất nhiều những nhà máy sản xuất ô tô cũng như các hãng sản xuất sơn nên mỗi hãng sẽ có những qui trình và phương pháp tạo ra các loại màu xe khác nhau Tuy nhiên họ cũng làm theo một nguyên tắc chung đó là phối màu từ những thành phần màu gốc mà các hãng sơn đã tạo ra Rồi từ đó làm thành phần mềm pha màu cung cấp cho các xưởng dịch vụ sửa chữa xe Ngoài ra các hãng sơn vì muốn người sử dụng sơn sử dụng sản phẩm của hãng mình cũng đã làm các bộ thẻ hướng dẫn pha màu của hãng mình

Trang 3

Nghiên cứu, thiết kế bộ thẻ màu cho một số xe thông dụng tại Việt Nam 2

Ơû nước ta hiện nay về số lượng các nhà máy lắp ráp ô tô ngày càng nhiều, lượng

xe sử dụng trên thị trường đã bắt đầu gia tăng về số lượng Để đáp ứng nhu cầu thị hiếu của khách hàng thì màu của các loại xe lại càng phải nhiều hơn và đẹp hơn Chính vì vậy mà khi xe bị hư hỏng về phần sơn thì sửa chữa phải tốn thời gian nhiều hơn và tỉ mỉ hơn Hiện nay ở Việt Nam với rất nhiều hãng sơn cung cấp các sản phẩm sơn cho các hãng sửa chữa ôtô trong đó phài kể tới các hãng như PPG, DuPont, Sikken, Nippont… Để cạnh tranh các hãng cũng tạo ra các bộ công thức hướng dẫn pha màu để giúp cho người sử dụng hiểu và sử dụng sản phẩm của hãng mình

III MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Các mục tiêu cụ thể của đề tài:

Nghiên cứu thành phần của sơn, qui trìnnh sản xuất sơn và sơn xe tại các nhà máy sản xuất sơn và lắp ráp ô tô

Nghiên cứu các phương pháp pha tạo màu cho xe mới cũng như phương pháp pha chỉnh màu cho các xe đã qua sử dụng

Thiết kế, thi công bộ thẻ màu cho một số xe thông dụng tại Việt Nam

IV PHẠM VI ỨNG DỤNG CỦA ĐỀ TÀI:

Sản phẩm của đề tài là bộ thẻ màu gồm các loại màu xe thông dụng tại Việt Nam Bộ thẻ màu bao gồm 2 mặt Mặt trước là màu sơn thật của xe và thông tin về tên màu và tên loại xe sơn màu đó Mặt sau là tỉ lệ các thành phần màu gốc để pha trộn tạo ra màu đó Chính vì thế nên bộ thẻ màu có thể ứng dụng hết sức trực quan trong dạy học cũng như tại các cơ sở sửa chữa Trong dạy học thì người học có thể nhìn trực tiếp và phân tích các thành phần tạo nên màu sơn đó ngay trên tấm thẻ màu Còn trong sửa chữa thì người thợ có thể sử dụng bộ thẻ màu để rút ngắn thời gian pha chỉnh màu

V PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Với mục tiêu là thiết kế, chế tạo bộ thẻ màu cho các loại xe thông dụng trên thị trường Việt Nam để phục vụ công tác giảng dạy cũng như trong sửa chữa, nên phương pháp nghiên cứu chính ở đây là phương pháp tham khảo tài liệu kết hợp với phương pháp thực nghiệm, phù hợp với nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

Trang 4

Nghiên cứu, thiết kế bộ thẻ màu cho một số xe thông dụng tại Việt Nam 3

Dựa trên các nguồn tài liệu liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu của đề tài, tiến hành chọn lọc, phân tích, và hệ thống hóa các số liệu cùng với sự giúp đỡ của các hãng sơn để tìm ra được công thức màu cho từng loại xe

Nghiên cứu các vấn đề về cơ sở lý thuyết là cần thiết và quan trọng, vì đây là cơ sở để tiến hành công việc thiết kế từ đó tiế hành thí nghiệm và chế tạo bộ thẻ màu Sử dụng phương pháp nghiên cứu thực nghiệm để nghiên cứu và thiết kế

Trang 5

Nghiên cứu, thiết kế bộ thẻ màu cho một số xe thông dụng tại Việt Nam 4

PHẦN II: NỘI DUNG

I NGHIÊN CỨU CHUNG VỀ CÔNG DỤNG VÀ THÀNH PHẦN HOÁ HỌC CỦA SƠN VÀ PHƯƠNG PHÁP SƠN TRÊN Ô TÔ

1 SƠ LƯỢC VỀ CÔNG DỤNG CŨNG NHƯ THÀNH PHẦN HÓA HỌC CỦA SƠN

Sơn là một quá trình phun sơn dưới dạng chất lỏng lên một vật thể, để tạo ra một lớp che phủ bề mặt của vật thể sau đó làm khô nhằm bảo vệ và tạo ra vẻ đẹp cho xe

a Mục đích của sơn

Bảo vệ bề mặt: điều quan trọng nhất của sơn là bảo vệ bề mặt sản phẩm

Màng sơn mỏng hình thành trên bề mặt chi tiết cách ly với môi trường như nước, không khí, ánh sáng mặt trời và môi trường ăn mòn (như axit, kiềm, muối … ) bảo vệ được sản phẩm không bị ăn mòn Nếu như bề mặt có lớp màng cứng, có thể làm giảm sự va đập, ma sát do đó sơn còn có tác dụng bảo vệ cơ khí

Các vật liệu như thép, nhôm, gỗ, bê tông và nhựa bị xuống cấp hay hư hỏng một cách dễ dàng do ăn mòn Và không có tuổi thọ cao nếu vẫn giữ nguyên trạng thái ban đầu của chúng Tuy nhiên, bề mặt của các vật liệu này có thể bảo vệ nhờ sơn, nó ngăn khỏi hư hỏng vật liệu và kéo dài thời gian sử dụng Vì vậy, mục đích chính của sơn là bảo vệ vật thể khỏi bị ảnh hưởng của các yều tố bên ngoài

Chức năng thẩm mỹ và nhận biết: Sơn tạo ra màu, độ bóng cho vật thể, cải

thiện được tính thẩm mỹ của chúng, và ảnh hưởng đến sự dẫn của sản phẩm Nhận biết thông qua màu sắc cũng là một chức năng của sơn như xe cứu hoả và xe cứu thương được sơn màu sơn đặc biệt để phân biệt với các màu xe khác

Mặc dù có nhiều cách khác nhau để cải thiện hình thức bên ngoài của vật thể, nhưng không có cách nào đơn giản hơn và gây ấn tượng ưu việt hơn phương pháp sơn

b Các thành phần của sơn

Sơn là một chất lỏng có độ nhớt cao, sơn có các thành phần như được nêu ra dưới đây, khi chúng được hòa trộn với nhau tạo thành một hợp chất đồng nhất Sơn

Trang 6

Nghiên cứu, thiết kế bộ thẻ màu cho một số xe thông dụng tại Việt Nam 5

thường được pha loãng với chất pha sơn để dễ sử dụng Ở trường hợp loại sơn hai

thành phần thì được bổ sung thêm chất đóng rắn (hardener)

Có nhiều loại sơn khác nhau, “sơn bóng” là sơn không có chất màu trong thành

phần của sơn Sơn bóng được phun lên lớp trên cùng để bổ sung thêm độ bóng cho

màu metallic và bảo vệ các hạt màu metallic và mica

Keo nhựa

Keo nhựa là thành phần chính của sơn, nhìn chung nó là chất lỏng có độ nhớt và

trong suốt tạo ra một lớp sơn sau khi sơn lên vật thể được làm khô Tính chất của

nhựa có ảnh hưởng trực tiếp đến đặc tính của sơn như độ cứng, sức cản dung môi

và sự thay đổi của thời tiết Và ảnh hưởng đến chất lượng như độ nhấp nhô bề mặt,

độ bóng, dễ sử dụng cũng như thời gian khô sơn

Nhựa trong sơn được chia ra làm các loại sau:

Nhựa thiên nhiên: Chủ yếu được chiết ra từ các loại cây, loại nhựa này có thành

phần phân tử cao và được dùng để đánh véc ni Loại nhựa này không được sử

dụng trong sản phẩm công nghiệp sản xuất hàng loạt

Nhựa tổng hợp: Là loại nhựa nhân tạo có thành phần phân tử cao Do có sản lượng

lớn, hầu hết các loại sơn hiện đại chủ yếu được làm từ nhựa nhân tạo

Sơn

Nhựa

Dung môi Chất màu

Chất phụ gia

Bột có màu được cho vào sơn Nó không hòa tan trong nước hay dung môi

Chất lỏng hoà tan nhựa và nhằm mục đích dễ hoà trộn chất màu và nhựa Nó bay hơi nhanh ngay khi sơn được phun

Nhiều chất khác nhau được bổ sung vào sơn với số lượng nhỏ để cải thiện đặc tính của sơn, theo mục đích và ứng dụïng của sơn

Trang 7

Nghiên cứu, thiết kế bộ thẻ màu cho một số xe thông dụng tại Việt Nam 6

Nhựa dẻo nóng: Nhựa dẻo nóng đóng rắn thông qua sự bay hơi của dung môi,

không có phản ứng hóa học xảy ra

Khi được nung nóng, nhựa dẻo nóng sẽ mềm ra biến thành dạng lỏng Chúng có độ

linh hoạt cao và dễ hoà tan trong dung môi Nhựa dẻo nóng điển hình là:

nitrcenlulo, Cenlulô Axêtát butin Acrilic và Nilông

Nhựa phản ứng nhiệt: Khi nhựa phản ứng nhiệt được nung nóng hay xúc tác,

chúng đông cứng qua phản ứng hoá học, khi đã đóng rắn, chúng không thể tan ra

bằng cách nung nóng lại Nhựa phản ứng nhiệt nhìn chung cứng và rất khó tan

Nhựa phản ứng nhiệt Amino Alkin, nhựa hai thành phần Pôli Urethan, acrilic,

Epoxy là các loại nhựa điển hình của loại này

Chất màu

Chất màu là loại hạt rất nhỏ không hoà tan trong nước, bản thân nó không dính

vào các vật thể khác Tuy nhiên, nó có thể dính với các vật thể khác khi chúng

được trộn với nhựa và các thành phần khác trong sơn

Chất màu được chia ra làm một số loại theo mục đích sử dụng của nó:

Dung môi và chất pha sơn

Chất màu

Hạt có màu

Hạt màu sáng

Hạt độn

Hạt chống gỉ

Hạt giảm bóng

Bổ sung màu vào lớp sơn và tăng độ bền va đập của sơn

Bổ sung độ óng ánh của màu metallic và màu pearl cho lớp sơn

Bổ sung độ bền và độ sệt của lớp sơn, tăng độ nhớt của nó và ngăn độ lắng của sơn

Chủ yếu dùng cho lớp sơn lót dưới cùng để chống gỉ

Dùng để giảm độ bóng của lớp sơn, loại hạt này được trộn với sơn khi muốn giảm bóng theo yêu cầu

Trang 8

Nghiên cứu, thiết kế bộ thẻ màu cho một số xe thông dụng tại Việt Nam 7

Dung môi là một chất lỏng hoà tan nhựa và hoà trộn chất màu với nhựa trong quá trình chế tạo sơn Thông thường được trộn với các màu cơ bản

Chất pha sơn được dùng để pha loãng màu sơn cơ bản có độ( loãng ) độ nhớt thích hợp cho sơn Dung môi và chất pha sơn bay hơi khi sấy khô, và không còn lại trong lớp sơn

Có nhiều loại nhựa được sử dụng khác nhau trong sơn Và cũng có nhiều loại dung môi để hoà tan các loại nhựa đo Mỗi loại sơn có một loại chất pha sơn đặc biệt, được làm từ một số loại dung môi, và được quy định cụ thể để sử dụng cùng với loại sơn tương ứng Hơn nữa, một số chất pha sơn lại chứa các dung môi khác nhau và có tỷ lệ hỗn hợp pha khác nhau, sao cho người sử dụng có thể lựa chọn chấ pha sơn theo tốc độ bay hơi thích hợp nhất đối vời nhiệt độ môi trường đặc biệt

Chất phụ gia

Chất dẻo hoá Bổ sung độ dẻo của lớp sơn

Độ phân tán

Chất sang bằng Để sơn chảy và tạo ra lớp sơn đều không có vết chảy hay bong

Chất chống sủi

Trang 9

Nghiên cứu, thiết kế bộ thẻ màu cho một số xe thông dụng tại Việt Nam 8

Chất đóng rắn

Khi dùng loại sơn hai thành phần, phải bổ sung thêm chất đóng rắn Thêm thành phần chính vào loại sơn 2 thành phần, chất đóng rắn phản ứng với các phân tử của thành phần chính và tạo ra các phân tử lớn hơn, các mạch vòng Hợp chất Isocynate được dùng làm chất đóng rắn của sơn Urethane

c Phân Loại Sơn

Sơn dầu có nhựa

Sơn dầu bền, đẹp, bóng được sử dụng rộng rãi trong ngành giao thông vận tải Bao gồm 02 loại: loại sơn dầu có ít thành phần dầu, dùng sơn vật liệu trong nhà; loại sơn có nhiều thành phần dầu dùng để sơn sản phẩm ngoài trời

Sơn tổng hợp

Sơn tổng hợp dùng nhựa tổng hợp hoá học như: ankít, nhựa axít, vinyl… Còn các thành phần khác như dầu sơn, bột màu, chất làm khô, dung môi cả hai loại sơn dầu và sơn tổng hợp giống nhau Căn cứ vào gốc nhựa tổng hợp mà người ta đặt tên cho các loại sơn khác nhau: sơn tổng hợp Ankít, sơn ankin melamin, sơn Nitrôxenlulo…

Đặc tính của sơn tổng hợp có độ bám dính tốt, bền trong khí quyển, độ cứng và độ bóng cao, màu sắc bền

Sơn chống gỉ màu nâu chế tạo từ gốc nhựa ankít, melamin, clovinyl là loại sơn có độ bóng cao, độ bám dính tốt dùng để sơn ô tô

Sơn nitrôxenlulo là loại sơn gốc nhựa từ nitrô, có đặc tính mau khô (khoảng 20 –

25 phút để khô tự nhiên) có độ bóng cao bền về màu sắc, độ bám dính tốt Chất dung môi cho sơn xenlulo là bitin, xilen, axêtát Sơn nitrôxenlulo dùng máy phun sơn để sơn ô tô du lịch

2 CÁC PHƯƠNG PHÁP CƠ BẢN GIA CÔNG SƠN

Có nhiều phương pháp để gia công sơn căn cứ vào các điều kiện sau để chọn phương pháp gia công sơn thích hợp

Trang 10

Nghiên cứu, thiết kế bộ thẻ màu cho một số xe thông dụng tại Việt Nam 9

 Tính chất và chủng loại sơn

 Yêu cầu chất lượng sơn

 Thiết bị và công cụ mà nhà máy đang có

 Hình dáng, nguyên liệu, kích thước của bề mặt sản phẩm sơn

Mỗi phương pháp đều có ưu, khuyết điểm khác nhau Vì vậy khi chọn trước tiên cần chú ý tới phương pháp có tính kinh tế cao nhất nhưng vẫn đáp ứng được yêu cầu kỹ thuật đặt ra Khi gia công sơn thường dùng các phương pháp sau đây: Quét, nhúng, phun, phun tĩnh điện, sơn điện phân Ngoài ra còn có phương pháp khác như: lăn, phun cao áp không có không khí …

a Phương Pháp Quét :

Quét là phương pháp gia công cổ điển và phổ thông nhất Đặc điểm của phương pháp là: thiết bị giản đơn, dễ thao tác, sự linh hoạt lớn có thể gia công bất kỳ chi tiết lớn nhỏ như thế nào và có thể gia công được rất nhiều loại sơn khác nhau Phương pháp quét thường dùng để sơn lót (sơn chống gỉ), vì có khả năng làm tăng độ thấm ướt giữa bề mặt kim loại và lớp sơn lót, do đó làm tăng độ bám chắc và độ chống gỉ

Khuyết điểm của phương pháp này là: thao tác thủ công, cường độ lao động lớn, năng suất thấp, không thích hợp với mang sơn khô nhanh Ngoài ra nếu thao tác không thành thạo, màng sơn không đông đều, có vết …

Chổi sơn là công cụ chủ yếu để gia công sơn Căn cứ vào đối tượng gia công khác nhau mà chọn chổi sơn có hình dáng, kích thước khác nhau Chổi sơn thường có ba loại: tròn, dẹt, gấp khúc, chổi sơn có loại cứng, loại mềm tuỳ theo nguyên liệu làm chổi Khi thao tác cần quét ít sơn, thông thường phần ngập chổi sơn vào sơn không lớn hơn 1/2 độ dài phần chổi sơn, khi thao tác quét từ trên xuống dưới, từ trái qua phải, trước khó sau dễ Sau đó quét nhẹ phần gốc cạnh, làm cho màng sơn mỏng bóng, đồng đều

b Phương Pháp Nhúng

Nhúng là phương pháp nhúng sản phẩm vào trong thùng sơn, sau đó lấy ra, để dung dịch sơn còn thừa trên bề mặt tự nhiên rơi xuống, sau đó sấy khô Đặc điểm của phương pháp này là: năng suất cao, có thể cơ giới hoá, tự động hoá, kỹ thuật

giản đơn, thao tác thuận lợi

Nhưng phương pháp nhúng không thích hợp với loại sơn có dung môi bay hơi nhanh, chất màu lắng đọng Ngoài ra, gia công bằng phương pháp nhúng, màng sơn không bằng phẳng, trên mỏng, dưới dày, chảy vệt ở biên…, chỉ dùng cho sản

Trang 11

Nghiên cứu, thiết kế bộ thẻ màu cho một số xe thông dụng tại Việt Nam 10

phẩm yêu cầu kỹ thuật không cao Tuỳ theo số lượng và kích thước sản phẩm mà dùng phương pháp nhúng thủ công, cơ giới hoá, tự đông hoá

c Phương Pháp Phun

Phun là phương pháp dùng súng phun sơn, nhờ dòng không khí nén, dung dịch sơn thành dạng sơn mù bám đồng đều trên bề mặt cần sơn

Đặc điểm

 Dùng cho hầu hết các loại sơn và thích ứng với nhiều loại sản phẩm có hình dáng phức tạp, đặc biệt sản phẩm có diện tích lớn, khô nhanh, màng sơn phân bố đồng đều, bằng phẳng, bóng

 Khuyết điểm là hiệu suất sử dụng thấp vì nó cần nhiều dung môi, toàn bộ dung môi bay hơi, tổn thất lớn, lượng sơn bay ra ngoài không khí chiếm khoảng 20% Khi phun phải phun thành nhiều lần vì phun một lần mỏng

 Khi phun, dung môi bay hơi ảnh hưởng đến sức khoẻ công nhân, vì vậy cần phải có thiết bị hút độc tốt

 Khi phun trong điều kiện thông gió không tốt dễ bắt lửa, thậm chí nổ vì thế phun sơn sản lượng lớn cần có buồng phun sơn có cấu tạo đặc biệt

II PHƯƠNG PHÁP PHỐI TẠO MÀU TRÊN XE Ô TÔ

1 Khái quát chung về phương pháp pha màu trên ô tô

Pha màu là một quá trình mà hai hay ba màu sơn được trộn vơi nhau để tạo ra một màu mong muốn Quá trình này là cần thiết vì có hơn 100 màu gốc khác nhau đã được sử dụng trên các loại xe ngày nay Khi số màu này được kết hợp với nhau và chúng được sử dụng trên hàng ngàn loại xe khác nhau có màu sắc khác nhau Tổng số các màu trên thị trường sẽ trở nên lớn hơn khi bổ sung thêm các màu đã được các nhà sản xuất ôtô áp dụng Vì vậy, thực tế không thể lưu giữ các màu đó trong kho để phục vụ cho mục đích sửa chữa Do vậy nhà sản xuất sơn cung cấp một số loại sơn chỉ chứa một số màu cơ bản và danh sách pha màu theo số các loại màu cơ bản và tỷ lệ pha màu của chúng Cần thiết để tạo ra các loại màu sơn khác nhau

Sau đó nhà sản xuất cung cấp công thức pha màu này (bảng tỷ lệ pha màu) cho người sử dụng sơn, gồm cả phân xưởng sửa chữa Thợ sơn tham khảo bảng này để tạo ra màu sơn mong muốn Trong lý thuyết pha màu, người ta gọi “pha màu theo phương pháp cân”, quá trình này tạo ra được màu sơn thích hợp, ngoài ra còn có quá trình khác gọi là “pha chỉnh màu” Trong quá trình này, màu sau khi thực hiện ở quá trình pha màu theo phương pháp cân được pha để đạt được màu giống với màu mong muốn

Trang 12

Nghiên cứu, thiết kế bộ thẻ màu cho một số xe thông dụng tại Việt Nam 11

Thợ sơn nhờ vào mắt của họ để đánh giá sự khác nhau giữa màu theo phương pháp cân và màu mong muốn và bổ sung thêm màu cơ bản khi cần

Như vậy để tạo ra được màu sắc của các loại xe nhu hiện nay thì các hãng sơn đã sản xuất ra các lon sơn màu gốc Những màu này được phối màu từ ba màu cơ bản: Đỏ-Vàng-Xanh dương Khi pha những màu này với những tỷ lệ khác nhau sẽ tạo ra được các màu thuộc những nhóm màu gốc Đỏ, Vàng, Xanh lá và Xanh dương Từ đó xây dựng được vòng tròn màu hay quả cầu màu và bảng tính chất màu gốc giúp ích rất nhiều cho việc pha chỉnh màu trên xe

Vòng tròn sắc màu

Khi các màu tách biệt nhau như màu vàng và

màu xanh khi pha trộn chúng trở thành màu

vàng_xanh Tương tự, khi màu vàng trộn với

màu đỏ trở thành màu vàng - đỏ (màu cam)

Theo chức năng này, sắc màu được nối lại với

nhau tạo thành vòng tròn được gọi là vòng

tròn sắc màu

Trong khi pha chỉnh màu thì chú ý quan trọng

là các màu đối diện trong vòng tròn màu thì

có xu hướng khử lẫn nhau

Trang 13

Nghiên cứu, thiết kế bộ thẻ màu cho một số xe thông dụng tại Việt Nam 12

Từ vòng tròn màu ta thấy mỗi một màu đều có thể mang hai tính chất Ví dụ như màu vàng kết hợp với màu xanh thì tạo ra màu Vàng-xanh Như vậy để đánh giá và nhận biết được chính xác màu sắc của vật thể thì người ta dựa vào các yếu tố sau:

a Sắc màu

Hầu hết chúng ta đều cảm nhận màu của lá

là màu xanh và màu của nước biển là màu

xanh dương mặc dù nhìn gần màu lá của

cây hoa huệ khác với màu lá của cây hoa

tulip các lá nhòin chung là màu xanh Chưa có

ai khẳng định màu lá của các lá trên là màu

đỏ hay vàng

Thuộc tính mà chúng ta có thể phân loại màu

sắc trong chức năng này gọi là sắc màu

b Giá trị màu

Màu có thể lá màu đỏ chói như màu của bình cứa

hoả hay đỏ thẫm như quả táo Ví chúng ta quan

sát màu sắc của vật thể quanh chúng ta , chúng ta

phát hiện rằng chúng thay đổ theo độ sáng thậm

chí sắc màu của nó có thể như nhau

Thuộc tính mà chúng ta phân loại sắc màu theo

độ sáng gọi là giá trị màu

c Sắc độ

Thậm chí sắc màu và giá trị của nó là như nhau, màu

của quả chanh xuất hiện chói hơn màu của quả lê

Thuộc tính mà chúng ta có thể phân loại màu sắc

theo độ chói của nó, không phụ thuộc vào sắc màu

và giá trị màu gọi là sắc độ

Tuy nhiên không phải tất cả các màu đều có đủ 3

thuộc tính trên Các màu như màu trắng, màu xám

hay màu đen, không có sắc màu hay sắc độ được gọi

là vô sắc Ngược lại, màu mà có tấ cả 3 thuộc tính được gọi là có sắc

2 Dụng cụ và thiết bị phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài

a Bảng tính chất màu gốc

Trang 14

Nghiên cứu, thiết kế bộ thẻ màu cho một số xe thông dụng tại Việt Nam 13

Đối với mỗi hãng sản xuất sơn thì do họ chế tạo ra các màu gốc với những tỷ lệ thành phần khác nhau nên để hiểu và sử dụng những sản phẩm màu gốc trong khi pha màu thì người pha màu phải nắm rõ bảng tính chất màu gốc của hãng đó Bảng tính chất màu gốc được dùng để nhận biết được tính chất màu của các dòng sản phẩm : 2K( P420, P421, P422) ; Aquabase( P965) ; 2K HS( P471) Bảng tính chất màu gốc giúp xác định nhanh chóng và chính xác các tone màu gốc khi cần cho thêm vào một màu náo đó bằng cách quan sát tính chất của mỗi tone màu được thề hiện bằng một mẫu thẻ màu nhỏ được dán trên bảng

Bảng tính chất màu gốc rút ngắn thời gian pha màu và giảm lượng màu tiêu hao

Những màu gốc chưa pha giảm cường độ được thể hiện bằng những thẻ màu lớn nhất ở ngoài cùng của bánh xe mau Những màu này được pha giảm cường độ với những màu chuẩn để thể hiện các tính chất màu của chúng Những thông tin về những màu được sử dụng để làm giảm cường độ được thể hiện bên trong khu vực trung tâm của bánh xe màu

Thẻ màu ở giữa thể hiện màu gốc ban đầu đã được pha giảm cường độ với màu bạc P425-986

Những thẻ màu bên trong cùng thể hiện màu gốc ban đầu đã được pha giảm cường độ với màu trắng P420-900

Nếu một màu gốc nào đó được khuyến khích sử dụng trong màu Metallic thì không được giảm cường độ với màu trắng Vì thế ở phần trong cùng sẽ được bỏ trống và đánh ấu X Tương tự như vậy nếu một màu gốc nào đó chỉ được sử dụng cho màu Solid thì không được pha giảm cường độ với màu bạc P425-985

Trang 15

Nghiên cứu, thiết kế bộ thẻ màu cho một số xe thông dụng tại Việt Nam 14

Các màu Pearl (màu camy) giảm cường độ được với màu đen Riêng các màu bạc thì phải giảm cường độ với màu xanh dương sau đó mới tới màu đen

Oû bốn góc của bảng tính chất màu gốc là những vòng tròn màu mô tả tính chất của các tông màu trong cả hai góc nhìn thẳng và nhìn nghiêng của những nhóm sắc màu riêng biệt như Đỏ, Vàng, Xanh lá, Xanh dương Điều này rất quan trọng đối với việc pha chỉnh màu Metallic và màu Pearl

b Máy khuấy sơn và các mầu gốc

 Tính chất của từng màu gốc cụ thể

Nhóm màu trắng

SP

Tên màu Nhìn thẳng Nhìn nghiêng Chú ý

900 Màu trắng Đục Sáng hơn Màu phân tán chỉ nên

thêm rất ít

Trang 16

Nghiên cứu, thiết kế bộ thẻ màu cho một số xe thông dụng tại Việt Nam 15

902 Trắng nhạt

938 Đục Làm sáng và thô hạt bạc

Màu phân tán sử dụng tối đa 30% trong màu

Metallic Không sử dụng trong màu Solid

Nhóm màu đen

933 Đen xanh Đục hơn 948

948 Đen Đục và hơi vàng Đậm hơn 933

Vàng hơn và đen hơn

933 Là màu sử dụng chính trong màu Solid, Metallic và Pearl

950 Đen tuyền vàng trên mặt Đục và hơi

Đậm hơn 948

chỉ sử dụng ở những màu đòi hỏi mặt nghiêng rất đậm

Đen hơn 948 khi cần thiết có thể sử dụng trong màu xanh solid đậm và đen Khuyến khích sử dụng cho các màu solid

904 Đen trong Màu đã được giảm cường độ màu

Nhóm xanh lá

954 Xanh lá Hơi xanh Đậm và hơi xanh ở góc

nghiêng

Độ bền màu cao

975 Xanh đồng

thiếc vàng ở bề mặt Xanh lá ánh

Xanh lá ánh vàng ở góc nghiêng

Độ bền màu cao

Trang 17

Nghiên cứu, thiết kế bộ thẻ màu cho một số xe thông dụng tại Việt Nam 16

Nhóm vàng

905 Vàng Oxide Đục trên mặt

Tái nhợt và vàng ở góc nghiêng Đục và đỏ hơn 937

Vàng tông đỏ Màu phân tán và co độ bền màu cao

937 Vàng nhạt Đục mặt Sáng và vàng ở góc nghiêng

Vàng tông xanh lá Màu phân tán nên sử dụng với số lượng ít

927 Vàng tươi Đục mặt Sáng và vàng ở góc nghiêng

Vàng lemon chrom Màu phân tán nên sử dụng với số lượng ít

928 Vàng rực Đục mặt Sáng và vàng ở góc nghiêng

Màu chrome trung bình Màu phân tán nên sử dụng với số lượng ít

982 Vàng oxide

trong

Đục hơn và xanh hơn 983 ở mặt thẳng

Đục hơn và đậm hơn 983 ở góc nghiêng Độ bền cao

983 Vàng mạnh

(vàng nghệ) Đỏ ánh vàng sạch

Hơi xanh lá ở góc nghiêng

Nhìn nghiêng tươi, xanh lá và sáng hơn 982

918 Vàng trung

bình

Là loại màu ít sử dụng Nên dùng những màu 937, 905 để thay

thế

Nhóm xanh dương

Tím nhưng hơi vàng hơn 930 ở góc nghiêng

Có tông đỏ hơn 930 để đạt được góc nghiêng đục và vàng

Trang 18

Nghiên cứu, thiết kế bộ thẻ màu cho một số xe thông dụng tại Việt Nam 17

hơn trong màu xanh metallic, ta trộn 920 và 922 Có độ bền cao

góc nghiêng đậm hơn 957

Đỏ hơn và đục hơn

Tông đỏ Nhìn nghiêng 974>957>922 sẽ đỏ hơn

Chỉ sử dụng trong những màu Metallic có tính chất hai tông màu Không sử dụng cho màu Solid

957 Xanh Tông xanh lá tươi Tông xanh lá tươi

Là màu chính trong công thức màu xanh tông xanh lá

922 Xanh dương

Tông đỏ nhìn thẳng 922>957>974 sẽ đỏ hơn

Xanh lá, nhìn nghiêng 922>957>974 sẽ xanh lá hơn

Chỉ sử dụng trong màu Metallic có hai tông màu Sử dụng hơn 50% trong những màu solid thì độ bóng và độ dàn trải của sơn sẽ

kém

952 Xanh dương Nhìn thẳng hơi đỏ hơn 957 hơi đỏ hơn 957 Nhìn nghiêng hiện nay ít sử dụng mà Màu tương tự 957

dùng 957 thay thế

910 Xanh trong Màu đã đựơc giảm cường độ màu

Trang 19

Nghiên cứu, thiết kế bộ thẻ màu cho một số xe thông dụng tại Việt Nam 18

đục hơn 925 ở góc nghiêng cao

925 Cam Đục trên mặt

Cam tươi và sáng ở góc nghiêng Tươi hơn 907

Màu phân tán Thông thường sử dụng với số lượng rất ít

921 Tím tươi

(cánh sen) Tông xanh tươi Tông xanh tươi

Trộn với 941 hay 925 cho những màu solid đỏ tươi Sáng hơn và xanh hơn 977 trong màu metallic

976

Tím magenta

(tím xậm)

Tông xanh đục hơn 921 khi nhìn thẳng

Tông xanh góc nghiêng đậm hơn 921

Trộn với 941 hay 921 cho màu solid đỏ tươi

926 Đỏ supper

Hơi xanh nhìn thẳng thì tươi hơn nhiều so với 925 >907 sáng hơn 977

Vàng ở góc nghiêng Nhìn nghiêng sáng hơn 977 rất nhiều

Màu tươi và sáng Độ che phủ kém Không được sử dụng với số lượng nhiều Độ bền tốt trong những màu

nhạt

941 Đỏ mạnh

Khó sản xuất và rất đắt tiền Không khuyến khích sử dụng trong màu metallic Chỉ sử dụng trong màu

Nâu ánh vàng

Đục hơn 977 không sử dụng trong màu

solid

Trang 20

Nghiên cứu, thiết kế bộ thẻ màu cho một số xe thông dụng tại Việt Nam 19

980 Đỏ mạnh Tương tự như 941 Tương tự như 941 mới không chứa hàm Loại đỏ công nghệ

lượng chì

981 Nâu đỏ sẫm

(Maroon) Tông vàng hơn 977 Tông vàng hơn 977

Vàng hơn và đậm hơn

971 không sử dụng trong màu solid

943

Nâu đỏ

trong (Marron)

Màu nâu đỏ tông xanh tươi

Màu nâu đỏ tông xanh tươi ở mặt nghiêng, được thêm vào cho góc nghiêng đậm lên

Tương tự như 977 nhung trong hơn và tươi hơn Không sử dụng trong màu solid

923

Nâu đỏ sáng

(Maroon

light) Sáng hơn 943

Sạch hơn, sáng hơn và vàng hơn 943 khi pha với 986

Hiệu quả màu mạnh hơn 943 khoảng 10%

977 Nâu đỏ

mạnh Màu nâu đỏ có tông xanh tươi Màu nâu đỏ có tông xanh tươi

Màu chính sử dụng trong các công thức

màu

966 Đỏ nho Tươi

Vàng hơn và sáng hơn 977 ở góc nghiêng

Dùng cho những màu có tính chất nhìn thẳng xanh và nhìn nghiêng vàng Không sử dụng trong màu solid Có độ bền màu kém

971 Đỏ rực Đỏ tươi vàng tươi ở góc Đỏ có tông

nghiêng

Tươi hơn, sáng hơn và vàng hơn 977 xanh hơn 944

908 Nâu đỏ Được giảm cường độ

960 Đỏ rượu Màu được giảm cường

Trang 21

Nghiên cứu, thiết kế bộ thẻ màu cho một số xe thông dụng tại Việt Nam 20

Trắng Trắng sáng hơn PP06 Thêm vào những màu sơn bạc cần độ sáng

tươi hơn

PP06

Ca may

trắng nhuyễn

Trắng Trắng sáng hơn PP05 Thô hơn PP60

mịn Đỏ Xanh lá

Hiệu quả ngược với

PP65

PP65

Ca may

xanh lá

trung bình Xanh lá Đỏ

Hiệu quả ngược với

Aùnh vàng Aùnh xanh

Hiệu quả tương ứng với HE01 Dưới kính hiển vi PP09 có thể thấy nhưng HE01 thì không thấy

HE04 Ca may

vàng

Nhìn thẳng ánh vàng

Nhìn nghiêng đậm

Ngày đăng: 04/09/2016, 10:43

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng tính chất màu gốc rút ngắn thời gian pha màu và giảm lượng màu tiêu hao. - nghiên cứu, thiết kế bộ thẻ màu cho một số xe thông dụng trên thị trường việt nam
Bảng t ính chất màu gốc rút ngắn thời gian pha màu và giảm lượng màu tiêu hao (Trang 14)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w