1.2.1 Mục tiêu chung Nghiên cứu thực trạng nuôi cá lồng của các hộ nông dân ven sông Đà khu vực thành phố Hòa Bình trong thời gian qua, nguyên nhân của các thực trạng đó, từ đó đề xuất các giải pháp chủ yếu để phát triển nuôi cá lồng tại các hộ trong thời gian tới. 1.2.2 Mục tiêu cụ thể • Hệ thống hóa cơ sở lý luận về phát triển nuôi cá lồng tại các hộ nông dân. • Phân tích thực trạng nuôi cá lồng của các hộ nông dân ven sông trong thời gian qua tìm ra các nguyên nhân, các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển nuôi cá lồng • Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển nuôi cá lồng của các hộ nông dân ven sông trong thời gian tới.
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng: Số liệu và kết quả nghiên cứu trong khóa luận này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học hàm, học vị nào
Tôi cam đoan rằng: Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện khoá luận này đã được cảm
ơn và các thông tin trích dẫn trong khóa luận đều được ghi rõ nguồn gốc
Hà nội, ngày 25 tháng 05 năm 2010
Người cam đoan
Đặng Bích Ngọc
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp đại học, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được rất nhiều sự quan tâm giúp đỡ của các tập thể cá nhân trong và ngoài trường.
Trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến thầy giáo PGS TS Quyền Đình Hà – Người đã giành nhiều thời gian trực tiếp chỉ bảo hướng dẫn giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này.
Tôi xin chân thành cảm ơn toàn thể các thầy cô giáo trong toàn trường Đại Học Nông nghiệp Hà Nội, nhất là các thầy cô giáo trong Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn đã tận tình giúp đỡ tôi trong khóa học và quá trình thực tập tốt nghiệp.
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới tập thể cán bộ Chi cục Thủy sản trực thuộc Sở nông nghiệp và PTNT tỉnh Hòa Bình và các cấp chính quyền thành phố cùng các hộ nông dân nuôi cá lồng ven sông Đà khu vực thành phố Hòa Bình – tỉnh Hòa Bình đã giúp
đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu hoàn thành
đề tài của mình.
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân cùng bạn bè đã giúp
đỡ tôi trong thời gian thực tập và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này.
Tôi xin gửi lời chúc sức khoẻ và chân thành cảm ơn!
Hà nội, ngày 25 tháng 05 năm 2010
Tác giả
Đặng Bích Ngọc
Trang 3TÓM TẮT
NTTS trong những năm gần đây, ngày càng phát triển cả về số lượng và chất lượng sản phẩm Nhất là trong những năm 2007 đến nay, diện tích nuôi trồng thủy sản tăng lên ở tất cả các tỉnh, hình thức nuôi trồng ngày càng phong phú, các loại giống thủy sản đưa vào nuôi trồng ngày càng đa dạng
Hình thức nuôi cá lồng, được biết đến là hình thức nuôi tương đối dễ dàng và phù hợp với nhiều địa hình sông suối, hồ chứa nước, nước biển Bên cạnh đó, hình thức này có thể tận dụng nguồn thức ăn tự nhiên, giúp cá lớn nhanh, năng suất cao, chất lượng tốt Do đó, cũng như các địa phương khác có điều kiện phù hợp nuôi cá lồng, các hộ nông dân ven sông Đà, khu vực thành phố Hòa Bình cũng đã phát triển nghề nuôi này từ khá lâu Tuy nhiên trong thực tế nghề nuôi còn tự phát, chưa được
quan tâm dẫn đến nhiều hạn chế Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “ Một
số giải pháp chủ yếu phát triển nuôi cá lồng tại các hộ nông dân ven sông Đà khu vực thành phố Hòa Bình tỉnh Hòa Bình”.
Sau khi tìm hiểu, cơ sở lý luận và thực tiễn các vấn đề có liên quan tới nuôi
cá lồng của các hộ nông dân, xác định phương pháp nghiên cụ thể Chúng tôi tiến hành điều tra và nghiên cứu thực trạng nuôi cá lồng của các hộ nông dân ven sông Đà khu vực thành phố Hòa Bình:
Qua nghiên cứu cho thấy nghề nuôi cá lồng của thành phố hiện nay chỉ còn tập trung và phát triển ở xã Thái Thịnh Nhìn chung tình hình cơ bản của các hộ có thể đáp ứng được yêu cầu cơ bản của nghề nuôi, do nghề khá đơn giản, nên có thể dễ dàng học hỏi qua tập huấn hoặc qua các hộ nông dân khác Vốn đầu tư cho nuôi cá lồng cũng là một vấn đề không khó khăn nhiều đối với các hộ Do các hộ chủ yếu là thuần nông, cùng với nuôi cá lồng hộ còn sản xuất các lĩnh vực nông nghiệp khác nên hầu hết các
hộ vẫn vay vốn từ Nhà nước để đầu tư phát triển Vốn hộ dùng cho nuôi cá lông cũng được hộ quan tâm dành một khoản riêng, số vồn này không lớn, nên hộ chủ yếu dùng nguồn vốn tự có để đầu tư Nhưng nếu quy mô nuôi càng cao thì hộ phải cần có vốn vay nhiều hơn để đáp ứng Tình hình chung và vốn dành cho nuôi cá tương đối thuận
Trang 4lợi, nên việc sản xuất được tiến hành không mấy khó khăn, thu được kết quả về năng suất, sản lượng và giá trị sản xuất Tuy nhiên khi phân tích các khoản chi phí đầu tư thấy rằng, chi phí đầu tư còn ở mức thấp Hộ chủ yếu còn nuôi theo tập quán, sử dụng thức ăn gia đình và thức ăn sẵn có là chính, chưa có sự đầu tư nhiều về công nghệ và
kỹ thuật nuôi Đồng thời qua phân tích các chỉ tiêu kinh tế như GO, VA, IC, MI chúng tôi tính toán được hiệu quả kinh tế của nghề nuôi Có thể thấy rằng, càng mở rộng quy
mô nuôi thì thu được hiệu quả kinh tế cao ngày càng cao Cũng như với số năm nuôi nhiều hơn, có nhiều kinh nghiệm nuôi hơn thì kết quả nuôi thu được cao hơn Do đó, chúng tôi khuyến khích các hộ nông dân mở rộng quy mô nuôi, đổng thời tập huấn, học hỏi kinh nghiệm của các hộ nuôi lâu năm để thu được HQKT cao nhất
Để có thể giúp nghề nuôi cá lồng ngày càng phát triển Sau khi xem xét cơ sở tiềm năng nuôi cá lồng và các định hướng nuôi cá lồng của thành phố và toàn tỉnh, từ
đó chúng tôi đưa ra một số giải pháp chủ yếu Các giải pháp được chia ra làm 3 nhóm chính: giải pháp về kỹ thuật, giải pháp về tổ chức sản xuất và thị trường tiêu thụ, và giải pháp về chính sách
Giải pháp về kỹ thuật với việc ứng dụng khoa học kỹ thuật mới và công nghệ tiên tiến là giải pháp có tính quyết định đối với sự pháp triển nuôi cá lồng trên địa bàn Cần mở rộng việc chuyển giao khoa học kỹ thuật, tăng cường việc đưa giống mới, vật
tư mới (thức ăn công nghiệp), và áp dụng công nghệ nuôi mới Đặc biệt là việc phổ biến các biện pháp phòng bệnh cho cá
Giải pháp về tổ chức sản xuất và thị trường tiêu thụ: Trong đó, cần có quy hoạch và tổ chức sản xuất hợp lý, đảm bảo thuận lợi trong quá trình sản xuất Đồng thời với việc hình thành và tổ chức hệ thống dịch vụ đầu vào và thành lập trung tâm tư vấn kỹ thuật cho người nuôi cá lồng là rất cần thiết Để phát triển thị trường tiêu thụ cần đầu tư và mởi rộng hệ thống giao thông và tìm hiểu nhu cầu thị trường nuôi các loại cá mới để tiêu thụ sản phẩm cá một cách dễ dàng, và đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng
Trang 5Thực hiện các giải pháp chính sách như: đầu tư, tín dụng, phát triển dân trí, môi trường Trong đầu tư và tín dụng cần đặc biệt ưu tiên cơ sở hạ tầng đầu tư giống mới
và công nghệ mới Chính sách phát triển dân trí cần tích cực chuyển giao khoa học kỹ thuật và công tác khuyến nông để nâng cao kiến thức khoa học kỹ thuật mới, tăng năng lực hiểu biết về sản xuất hàng hóa cho người nông dân Phát triển chính sách môi trường nhằm mục đích giúp người dân có ý thức bảo vệ môi trường, bảo vệ nguồn lợi thủy sản của sông Đà và phát triển nghề nuôi ngày càng bền vững
Thực hiện đồng thời 3 nhóm giải pháp và phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan chính quyền và các hộ nông dân nuôi cá lồng, nhằm đạt mục tiêu cuối cùng
là nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống cả về vật chất lẫn tinh thần cho người nông dân và phát triển ngành thủy sản thành phố.
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN 1
LỜI CẢM ƠN 2
PHẦN 1 ĐẶT VẤN ĐỀ 9
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 9
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 10
1.2.1 Mục tiêu chung 10
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 10
1.3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 10
1.4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 11
1.4.1 Phạm vi về nội dung 11
1.4.2 Phạm vi về không gian 11
1.4.3 Phạm vi về thời gian 11
PHẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 12
CỦA ĐỀ TÀI 12
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 12
2.1.1 Hộ, nông hộ, kinh tế hộ 12
2.2.2 Nuôi trồng thủy sản, nuôi cá lồng 13
2.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN 23
2.2.1 Tình hình nuôi trồng thủy sản và các chính sách của Việt Nam tới nuôi trồng thủy sản nói chung, nuôi cá lồng nói riêng 23
2.2.2 Tình hình nuôi trồng thủy sản trên thế giới và khu vực 30
2.2.3 Các nghiên cứu của thế giới và Việt Nam về thủy sản và nuôi cá lồng 34
PHẦN 3 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 36
3.1 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 36
3.1.1 Điều kiện tự nhiên, dân số xã hội 36
3.1.2 Các chỉ tiêu kinh tế cơ bản của địa phương 38
3.1.3 Kết quả sản xuất kinh doanh các ngành kinh tế 45
3.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 49
3.2.1 Phương pháp chọn điểm và chọn mẫu nghiên cứu 49
3.2.2 Phương pháp thu thập số liệu 50
3.2.3 Phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu 51
3.2.4 Phương pháp phân tích số liệu 51
3.2.5 Hệ thống nhóm chỉ tiêu nghiên cứu phản ánh kết quả, hiệu quả nuôi cá lồng 52
PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 55
4.1 THỰC TRẠNG NUÔI CÁ LỒNG CỦA THÀNH PHỐ HÒA BÌNH – TỈNH HÒA BÌNH 55
4.1.1 Nuôi trồng thủy sản nói chung và nuôi cá lồng nói riêng của thành phố Hòa Bình – tỉnh Hòa Bình 55
4.1.2 Thực trạng nuôi cá lồng của các hộ điều tra 60
Trang 74.2 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ THỰC TRẠNG NUÔI CÁ LỒNG CỦA THÀNH PHỐ
HÒA BÌNH 84
4.2.1 Những mặt làm được 84
4.2.2 Những mặt hạn chế 86
4.2.3 Nguyên nhân của những hạn chế 86
4.3 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM PHÁT TRIỂN NUÔI CÁ LỒNG CỦA CÁC HỘ VEN SÔNG ĐÀ KHU VỰC THÀNH PHỐ HÒA BÌNH – TỈNH HÒA BÌNH 87
4.3.1 Định hướng 87
4.3.2 Một số giải pháp chủ yếu 88
PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 99
5.1 KẾT LUẬN 99
5.2 KIẾN NGHỊ 101
5.2.1 Đối với Nhà nước 101
5.2.2 Đối với chính quyền địa phương 102
5.2.3 Đối với hộ nông dân 102
TÀI LIỆU THAM KHẢO 103
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 8Trđ Triệu đồng
FAO Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp
Liên Hiệp Quốc
DANH MỤC BẢNG
LỜI CAM ĐOAN 1
Bảng 3.1: Diện tích cơ cấu đất đai của thành phố Hòa Bình năm qua 3 năm 2007 – 2009 39
Bảng 3.2: Tình hình hộ khẩu và lao động của thành phố Hòa Bình qua 3 năm 2007 – 2009 43
Bảng 3.3: Kết quả sản xuất kinh doanh các ngành kinh tế của thành phố Hòa Bình 48
qua 3 năm 2007 – 2009 48
Bảng 4.1: Kết quả nghề nuôi cá lồng của thành phố Hòa Bình 59
qua 3 năm 2007 – 2009 59
Bảng 4.2: Tiêu chí phân tổ và số hộ điều tra 61
Bảng 4.3: Tình hình cơ bản của các nhóm hộ điều tra năm 2009 63
Bảng 4.4: Tình hình vốn của các nhóm hộ điều tra năm 2009 67
Bảng 4.5: Kết quả nuôi cá lồng của nhóm hộ điều tra năm 2009 70
Bảng 4.6a: Chi phí cho nuôi cá lồng của nhóm hộ điều tra năm 2009 72
Bảng 4.6b: Chi phí cho nuôi cá lồng của nhóm hộ điều tra năm 2009 74
Sơ đồ 1: Sơ đồ tiêu thụ sản phẩm cá lồng của các nhóm hộ điều tra năm 2009 77
Bảng 4.7a: Kết quả và HQKT trong nuôi cá lồng của các nhóm hộ điều tra năm 2009 .80
Bảng 4.7b: Kết quả và HQKT trong nuôi cá lồng của các nhóm hộ điều tra năm 2009 .82
Trang 9PHẦN 1 ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Con người có những nhu cầu cơ bản như: ăn, mặc, ở, đi lại… Để đáp ứng được các nhu cầu đó con người cần nuôi trồng và sản xuất, từ đó mà các ngành nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ ra đời Nông nghiệp được coi là ngành quan trọng hàng đầu tạo ra lương thực, thực phẩm nuôi sống con người Nông nghiệp nước ta cũng như nông nghiệp trên toàn thế giới đang có rất nhiều thay đổi và phát triển để có thể đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng của con người Ban đầu, nói tới nông nghiệp chúng
ta chỉ nói tới trồng trọt, và chăn nuôi Nhưng giờ đây, nói tới nông nghiệp không thể không nói tới thủy sản (ngư nghiệp) và lâm nghiệp
Ngành thủy sản ngày nay ngày càng đi lên không chỉ là đánh bắt mà còn là nuôi trồng các loại động thực vật dưới nước, phát triển với nhiều hình thức nuôi trồng khác nhau Và đặc biệt đem lại nguồn thu nhập ngày càng cao cho các hộ nông dân cũng như mang lại nguồn GDP cho ngân sách nhà nước Trong NTTS, một trong các hoạt động tương đối phổ biến đối với các hộ nuôi trồng thủy sản ven sông, ven biển chính
là nuôi cá lồng bè Đây là một hình thức tốt giúp tận dụng tối đa nguồn mặt nước mà vẫn cho năng suất và sản lượng cao
Sông Đà là một trong nhưng con sông lớn của Việt Nam, sông chảy qua toàn bộ khu vực thành phố Hòa Bình Có thể thấy, nó đã và đang đem lại một nguồn lợi lớn cho thành phố Sông Đà không những đem lại nguồn lợi thủy điện cho Hòa Bình, giúp
Trang 10thủy điện Hòa Bình trở thành thủy điện lớn nhất Việt Nam, mà với chiều dài như vậy
nó cũng đã mang lại rất nhiều nguồn lợi thủy sản cho các hộ nông dân ven sông cũng như kinh tế của thành phố và cả tỉnh Hòa Bình
Hoạt động nuôi cá lồng của các hộ nông dân ven sông Đà tuy đã có từ lâu nhưng vẫn còn mang đậm tính tự phát, chưa được chính quyền quan tâm nhiều Do đó, chưa mang lại hiệu quả kinh tế cao cho các hộ Bên cạnh đó, nghề đã và đang đem đến một số ảnh hưởng tới các ngành kinh tế khác như: du lịch trên sông, hay giao thông đường sông Ngoài ra nuôi cá lồng tự phát còn ảnh hưởng ô nhiễm môi trường, qua đó gây ảnh hưởng tới hệ sinh thái các hệ động thực vật trên sông
Từ tình hình trên cho thấy nghiên cứu về nuôi cá lồng trên sông là rất cần thiết
Và đặc biệt hơn là cần nghiên cứu, tìm ra những giải pháp hợp lý để giải quyết các hạn chế của nghề nuôi cá lồng để nghề phát triển hơn Do đó chúng tôi tiến hành nghiên
cứu đề tài: “Một số giải pháp chủ yếu phát triển nuôi cá lồng tại các hộ nông dân ven sông Đà khu vực thành phố Hòa Bình tỉnh Hòa Bình”.
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1 Mục tiêu chung
Nghiên cứu thực trạng nuôi cá lồng của các hộ nông dân ven sông Đà khu vực thành phố Hòa Bình trong thời gian qua, nguyên nhân của các thực trạng đó, từ đó đề xuất các giải pháp chủ yếu để phát triển nuôi cá lồng tại các hộ trong thời gian tới
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
• Hệ thống hóa cơ sở lý luận về phát triển nuôi cá lồng tại các hộ nông dân
• Phân tích thực trạng nuôi cá lồng của các hộ nông dân ven sông trong thời gian qua tìm ra các nguyên nhân, các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển nuôi cá lồng
• Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển nuôi cá lồng của các hộ nông dân ven sông trong thời gian tới
1.3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu là các hộ nông dân nuôi cá lồng ven sông Đà, cùng với các vấn đề kinh tế, tổ chức kinh tế trong khu vực thành phố Hòa Bình
Trang 12PHẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN
Theo Raul năm 1989: Hộ là tập hợp những người có chung huyết tộc, có quan
hệ mật thiết với nhau trong quá trình sáng tạo ra sản phẩm để bảo tồn chính bản thân mình và cộng đồng
Theo các tác giả nhóm nhân chủng học từ năm 1982 – 1985: Hộ là đơn vị đảm bảo quá trình tái sản xuất lao động tiếp theo thông qua quá trình tổ chức nguồn thu nhập nhằm chi tiêu cho cá nhân và đầu tư vào sản xuất
Tóm lại: Hộ là một nhóm người cùng sống chung hay không sống chung, có chung một ngân quỹ, ăn chung (phân phối chung ngân quỹ đó), cùng huyết tộc hoặc không cùng huyết tộc, cùng tiến hành sản xuất chung
2.1.1.1.2 Khái niệm nông hộ
Hộ nông dân là các hộ gia đình làm nông nghiệp, tự kiếm kế sinh nhai trên những mảnh đất của mình, sử dụng chủ yếu sức lao động của gia đình để sản xuất,
Trang 13thường nằm trong hệ thống kinh tế lớn hơn nhưng chủ yếu đặc trưng bởi sự tham gia cục bộ vào các thị trường và có xu hướng hoạt động với mức độ không hoàn hảo cao.
Hộ nông dân là những hộ sống ở nông thôn, có ngành nghề sản xuất chính là nông nghiệp, hộ nông dân còn tham gia các hoạt động phi nông nghiệp như: tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ… ở các mức độ khác nhau
2.1.1.1.3 Khái niệm kinh tế hộ nông dân
Kinh tế hộ nông dân là hình thức tổ chức kinh tế cơ sở của nền sản xuất xã hội Trong đó các nguồn lực như đất đai, lao động, tiền vốn và tư liệu sản xuất được coi là của chung để tiến hành sản xuất Có chung ngân quỹ, ngủ chung một nhà và ăn chung Mọi quyết định sản xuất kinh doanh và đời sống là tùy thuộc vào chủ hộ, được Nhà nước thừa nhận, hỗ trợ và tạo điều kiện để phát triển
- Góp phần sử dụng đầy đủ và có hiệu quả các yếu tố sản xuất như đất đai, lao động tiền vốn và tư liệu sản xuất
- Tăng thêm việc làm và nâng cao thu nhập cho người nông dân
- Vai trò của kinh tế hộ nông dân còn được thể hiện ở chỗ là thị trường rộng lớn của các ngành kinh tế quốc dân Khi người nông dân tăng thu nhập sẽ làm cho sức mua của đại đa số tầng lớp lao động tăng, tạo cho các ngành kinh tế mở rộng sản xuất, làm cho sản xuất phát triển
2.2.2 Nuôi trồng thủy sản, nuôi cá lồng
2.2.2.1 Khái niệm, vai trò, đặc điểm nuôi trồng thủy sản
2.2.2.1.1 Khái niệm nuôi trồng thủy sản
Trang 14NTTS là sự chiếm hữu và lợi dụng tự nhiên làm điều kiện sản xuất, và những điều kiện tự nhiên tiềm năng thiên nhiên và dựa vào đó các loại sinh vật sống trong môi trường nước có thể phát triển Đó là đất đai, sông ngòi, ao hồ, biển và các loại mặt nước khác Những điều kiện cần thiết có thể khai thác và sinh lợi từ nguồn tài nguyên
đó chính là sức lao động, khí hậu, thủy văn… Như vậy NTTS là mô hình sản xuất và
có thể NTTS là một hình thức tổ chức sản xuất sản phẩm thủy sản hàng hóa để bán ra thị trường, có sự tập trung mặt nước – tư liệu sản xuất chính ở một địa bàn nhất định
Theo định nghĩa của FAO (1992), NTTS là các hoạt động canh tác trên đối tượng sinh vật thủy sinh như cá, nhuyễn thể, giáp xác, thực vật thủy sinh… Quá trình này bắt đầu từ thả giống, chăm sóc, nuôi lớn cho đến khi thu hoạch xong Có thể nuôi theo từng cá thể hay cả quần thể với nhiều hình thức quảng canh, bán thâm canh, thâm canh
2.2.2.1.2 Vai trò nuôi trồng thủy sản
Nuôi thủy sản là ngành sản xuất tạo ra các loại sản phẩm cung cấp đạm động vật có nhu cầu ngày càng tăng ở thị trường trong nước và thế giới Sản phẩm của ngành thủy sản là loại thực phẩm giàu chất dinh dưỡng và dinh dưỡng có chất lượng cao
Ngoài giá trị dinh dưỡng sản phẩm thủy sản còn là nguyên liệu của một số ngành công nghiệp khác như: chế biến nước mắm, chế biến thức ăn chăn nuôi, cung cấp nhiều sản phẩm cho y học…
Hiểu rõ giá trị của thủy sản, nhu cầu của người tiêu dùng ngày càng cao, nên những năm gần đây thủy sản nước ta đã chú trọng đến việc nuôi cá nước ngọt, đặc biệt
là cá thương phẩm, mang lại sản phẩm lớn tiêu dùng trong và ngoài nước Trong giai đoạn hiện nay, phát triển NTTS không chỉ có ý nghĩa quan trọng trong việc cung cấp thực phẩm cho nhu cầu hàng ngày của nhân dân và tạo nguồn hàng xuất khẩu, đồng thời góp phần tạo nhiều công ăn việc làm, xóa đói giảm nghèo, tăng thu nhập, cải thiện mức sống cho nông dân và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn theo hướng tăng hiệu quả sử dụng các tiềm năng có sẵn Hơn nữa nó còn góp phần quan
Trang 15trọng trong việc xây dựng trật tự xã hội, an ninh nông thôn và làm giàu cho nhân dân cũng như cho đất nước Vì vậy, ngành NTTS được coi là một ngành kinh tế quan trọng trong nền kinh tế nông nghiệp nông thôn nước ta, góp phần đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước.
2.2.2.1.3 Đặc điểm ngành nuôi trồng thủy sản
- NTTS được tiến hành rộng khắp trên tất cả các vùng địa lý có mặt nước, chủ yếu tập trung ở các vùng nông thôn và ven biển
- Đối tượng của ngành NTTS là các sinh vật sống trong môi trường nước, nó là nguồn tài nguyên hết sức nhạy cảm, có khả năng tự tái tạo nhưng lại dễ dàng bị hủy diệt Những thủy sinh này là cơ thể sống trong môi trường nước nên luôn tuân theo những quy luật sinh trưởng và phát triển riêng của nó Hoạt động sống của nó nhờ vào các dinh dưỡng lấy từ động thực vật và các khí CO2, O2 hòa tan trong nước Các đối tượng này có đặc tính sinh thái khác nhau, thích hợp với các tầng, mức nước khác nhau: tầng mặt, tầng trung và tầng đáy
- Mặt nước NTTS bao gồm cả đất và nước Nó vừa là đối tượng lao động vừa là
tư liệu lao động, do đó không thể thiếu và không thể thay thế được Các thủy vực dùng
để sản xuất NTTS bao gồm nhiều loại hình: sông ngòi ao, hồ, biển với nhiều nguồn nước khác nhau như: nước ngọt, nước lợ, nước mặn
- Quá trình NTTS là quá trình tác động nhân tạo xen kẽ với tác động tự nhiên cho nên thời gian sản xuất với thời gian lao động không trùng nhau Từ đặc điểm này dẫn đến tính thời vụ trong sản xuất NTTS
- NTTS đòi hỏi các dịch vụ phụ trợ lớn đặc biệt là ngành dịch vụ về giống, thức
ăn, tín dụng, hệ thống khuyến ngư Trong NTTS tỷ lệ sống của thủy sinh cao hay thấp hoàn toàn phụ thuộc vào chất lượng giống cung cấp và môi trường nước
- Sản phẩm của ngành NTTS có tính chất khó bảo quản, dễ hư hao bởi chúng có hàm lượng nước lớn và hàm lượng dinh dưỡng cao, đó là môi trường thuận lợi cho các
vi khuẩn dễ xâm nhập và phá hủy sản phẩm Do đó, đi đôi với việc phân bổ và phát
Trang 16triển ngành NTTS phải giải quyết tốt khâu tiêu thụ, bảo quản và chế biến sản phẩm của ngành.
2.2.2.2 Khái niệm, đặc điểm, các yếu tố ảnh hưởng tới nuôi cá lồng
2.2.2.2.1 Khái niệm nuôi cá lồng
Theo kĩ thuật nuôi cá lồng (Chương trình phát triển liên hợp quốc UNDP và Bộ Thủy sản năm 2002): Nuôi cá lồng là hình thức nuôi cá cao sản phù hợp với địa hình sông suối, hồ chứa nước
Ưu điểm của nuôi cá lồng:
• Có thể nuôi với mật độ dày
• Vật liệu làm lồng dễ kiếm
• Kỹ thuật tương đối đơn giản
• Tận dụng được nhiều lao động ở nhiều độ tuổi khác nhau
• Thời gian nuôi ngắn
• Năng suất cao
Theo nghiên cứu và đánh giá hiện trạng nuôi cá lồng bè trên vịnh Hạ Long, năm 2004:
Nuôi cá lồng bè là một trong những phương thức nuôi phổ biến Đây là cách thức nuôi sử dụng lưới bao xung quanh dưới 1 bè nổi để nuôi nhốt, giữ đối tượng nuôi
ở bên trong, nhưng vẫn cho phép trao đổi nước tương đối tự do với môi trường bên ngoài
Hình thức nuôi lồng bè xuất hiện từ bao giờ thì vẫn chưa có hiệu công bố cụ thể Tuy nhiên kiểu lồng bè có lưới bao quanh đã được các ngư dân nhiều nước sử dụng từ nhiều thế kỉ trước như một dụng cụ để giữ “nhốt, thả” trong lồng bè Họ thấy các đối tượng nuôi vẫn tăng trưởng về kích thước và trọng lượng Từ đó phương thức nuôi cá lồng mới bắt đầu phát triển Nhưng chỉ tới năm 1980 nuôi cá lồng bè mới thực
sự đóng góp đáng kể vào sản lượng nuôi thủy sản
2.2.2.2.2 Đặc điểm sinh học một số loài cá là đối tượng nuôi lồng
Trang 17Theo FAO (1996), cá là một loài động vật bậc thấp, sống thủy sinh có xương sống, thân nhiệt thấp và thay đổi theo môi trường Các loài cá chiếm tỷ lện lớn (151/262) trong tổng số các loài động vật thủy sinh đang được nuôi trồng FAO đã xếp các đối tượng trong NTTS thành 5 nhóm chính: thủy sản nước ngọt, cá di cư 2 chiều,
cá biển, giáp xác, nhuyễn thể và rong tảo Trong đó thủy sản nước ngọt chiếm 44,3% trong tổng sản lượng NTTS thế giới Trong tổng số trên 100 loài cá nước ngọt được nuôi có một số loài cá luôn luôn chiếm được ưu thế, đó là: mè trắng, trắm cỏ, mè hoa,
cá chép, cá trôi Những loài cá được chọn nuôi thường có những ưu điểm sau:
• Chóng lớn, thịt thơm ngon
• Sinh sản dễ, sức sản xuất cao
• Có khả năng thích nghi với điều kiện khí hậu nước ta
• Thức ăn đơn giản, dễ kiếm, dễ gây nuôi, rẻ tiền
Nuôi lồng có thể chọn nuôi những loài cá ăn trực tiếp như cá trắm cỏ, cá rô phi,
cá chép, cá bỗng, cá lăng, cá chiên Cá mè hoa, cá mè trắng và cá trôi không nên nuôi trong lồng
o Cá trắm cỏ
Trắm cỏ là loài cá nhập nội ưa sống nơi trong sạch, trọng lượng cá lớn, có tốc
độ sinh trưởng nhanh, cá một năm tuổi có thể đạt tới 1,5 – 2,0 kg Thức ăn chủ yếu của
cá trắm cỏ là: Các loài cỏ, lá ngô non, đậu tương, lá chuối Khả năng ăn của cá trắm
cỏ rất khỏe, cá trắm cỏ 1 kg trong 24 giờ có thể ăn hết 0,5 – 0,6 kg cỏ Để có 1kg cá thịt cần có từ 40 – 45 kg cỏ các loại, hoặc 60 – 70 kg rong bèo và 1,0 kg thức ăn tinh
Đặc điểm sinh sản: Cá trắm cỏ không có khả năng sinh sản tự nhiên trong ao
Do đó muốn có cá giống phải tiến hành cho cá sinh sản nhân tạo trong ao nuôi Cá trắm cỏ ngoài tự nhiên mùa vụ sinh sản vào tháng 4 và đầu tháng 5 Trong ao cá trắm
cỏ phát dục sớm, sinh sản vào cuối tháng 3 và đầu tháng 4 Trắm cỏ là loài cá ăn tạp và
dễ nuôi, chóng lớn, nên hiện nay là đối tượng chủ yếu nuôi cá lồng ở các tỉnh miền núi phía Bắc
o Cá bỗng
Trang 18Cá bỗng là loài cá địa phương, đồng bào mường gọi là cá buôm, đồng bào Thái gọi là cá ba pộng Trọng lượng tối đa có thể đạt 20 – 30 kg tốc độ sinh trưởng của cá bỗng không lớn, cá 1 tuổi trong ao nuôi đạt 0,4 – 0,5 kg, thịt trắng ngon Thức ăn chủ yếu của cá bỗng là các loại cỏ non, lá, mần và mùn bã hữu cơ, các loại quả Trong ao nuôi cá ăn cả phân chuồng ủ mục và các loại thức ăn tinh Cá bỗng sinh sản tự nhiên trong sông và suối lớn, mùa vụ sinh sản từ tháng 5 đến tháng 12 có khi kéo dài sang đến tháng 3 năm sau.
Hiện nay cá bỗng đã giảm dần ngoài tự nhiên, do đó Nhà nước đang có biện pháp kế hoạch sản xuất nhân tạo để phục hồi loài cá này Cá bỗng đang được nuôi nhiều ở xã Vạn Mai huyện Mai Châu Loài cá có khả năng kháng bệnh tốt và là đối tượng nuôi ở các tỉnh: Cao Bằng, Hà Giang, Yên Bái
o Cá Trôi ấn
Cá trôi ấn độ (cá rô hu và Mrygal) là hai loài nhập nội, 2 loài cá này thịt thơm ngon, trọng lượng tối đa 4 – 5 kg, cá 1 năm tuổi nuôi tốt 0,7 – 0,8 kg
Thức ăn chủ yếu là phân hữu cơ mục, các loại rau, bèo thái nhỏ Các loại thức
ăn tinh để nuôi cá trôi ấn gồm: Cám gạo, cám ngô, bột sắn, bột đậu tương Cá trôi ấn
độ nuôi trong lồng có thể dùng thức ăn công nghiệp dạng nôit với hệ số thức ăn 2,5 kg/1kg tăng trọng
Cá trôi sinh sản ngoài tự nhiên vào tháng 4 và tháng 5 Mùa sinh sản nhân tạo sớm hơn bắt đầu từ 15 tháng 4 đến 30 tháng 5, để tận dụng lượng thức ăn cá trôi cũng
có thể ghép 1 tỷ thấp trong quá trình nuôi cá lồng
Trang 19Một số dạng lồng nuôi:
Lồng tre: Kích thước lồng nuôi cá khoảng 3,5m x 2,3m x 1,5m Khung lồng cần phải được làm bằng tre hoặc hóp tốt, các nan lồng đan ngang và được nẹp bằng các thanh gỗ hoặc tre, khoảng cách giữa các nan là 1 – 2 cm để có thể giữ cá trong lồng
Lồng gỗ: Kích thước lồng 3,5m x 2,3m x 1,.5m Lồng được làm bằng gỗ tốt (kể
cả khung và nan) Các nan phải được sắp xếp theo hàng ngang để dễ thay thế khi cần Đáy lồng được đóng kít, phía ngoài nan đóng nẹp gỗ để cho chắc chắn thêm
Lồng lưới: Lưới phải chắc chắn, có độ bền cao Kích thước mắt lưới từ 13 – 20
mm Kích thước lồng lưới: 2m x 2m x 1,5m Nắp lồng cách thành lồng khoảng 20cm Lồng được buộc cố định ở các góc thành lồng
Lồng gỗ/tre + lưới: Khung lồng bằng gỗ hoặc tre nhưng khoảng cách các nan thưa hơn 3 – 4 cm Dùng lưới có kích thước cỡ mắt lưới từ 13 – 25 mm được buộc cố định ở phía trong lồng Loại lồng này có thể dùng để ương, nuôi cá
- Vị trí đặt lồng
Lồng phải được đặt ở nơi có nguồn nước sạch Không nên đặt lồng ở gần các cống, mương thoát nươc của các nhà máy, lò mổ và các khu dân cư Vị trí đặt lồng nên cách xa tuyến giao thông đường thủy và các bến tàu thủy
Khoảng cách giữa lồng và đáy hồ từ 50 cm trở lên
Lồng này cách lồng kia ít nhất từ 10 đến 15 mét
Nếu đặt lồng theo cụm thì khoảng cách giữa các cụm lồng ít nhất phải từ 150 đến 200 mét
- Tiêu chuẩn về cá giống
Đối tượng nuôi phổ biến ở miền núi là cá trắm cỏ Yêu cầu giống phải có kích
cỡ đều nhau, không sây xát, không bị dị tật, không có triệu chứng bệnh
- Mật độ và quy cỡ thả
Mật độ cá thả nuôi trong lồng khá cao, có thể 20 – 30 kg cá giống/m3 đối với lồng loại 1m3 hay 10 – 15kg/m3 đối với lồng loại trên 50m3 Cỡ cá thả phải lớn vì thời gian nuôi ngắn và tập trung Quy cỡ một số loài cá nuôi lồng như sau:
Trang 20Đối với cá chép, rô phi cho ăn bằng thức ăn chế biến, lượng cho ăn khoảng 4 – 6% trọng lượng cá thả Thức ăn cho cá có thể tự chế hoặc mua sẵn Ví dụ như: thức
ăn tự chế dùng 30% bột đậu tương, 3% bột cá, 50% cám gạo và 17% bột sắn Nếu có thể, nên nấu thức ăn trước khi cho cá ăn Nên dùng sàn ăn để cho cá ăn
Sàn ăn có thể làm bằng lồng bàn, thong nhoe, mẹt hay sàn tự tạo lấy để cho ăn.Nên cho cá ăn ngày 2 lần vào buổi sáng và buổi chiều; thời gian cho ăn tùy thuộc vào công việc gia đình Không nên cho cá ăn vào ban đêm
2.2.2.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng tới quá trình nuôi cá lồng
Trang 21Ngành NTTS nói chung và nuôi cá lồng nói riêng có đối tượng sản xuất là sinh vật cho nên phân bố và phát triển của nó phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế xã hội Những yếu tố này ảnh hưởng trực tiếp tới ngành NTTS.
a Yếu tố về môi trường tự nhiên
* Yếu tố nhiệt độ
Cá là động vật máu lạnh, nhiệt độ cơ thể cá phụ thuộc và biến đổi theo nhiệt độ môi trường nước Do vậy, nhiệt độ nước cao quá hay thấp quá đều có ảnh hưởng tác động xấu đến sinh trưởng và phát triển của cá Đa số các loài cá nước ngọt nước ta phát triển thuận lợi trong môi trường nước có nhiệt độ từ 20 – 300C Theo chu kỳ một năm, nhiệt độ nước cao về mùa hè và thấp vào mùa đông Khi nhiệt độ nước quá cao hoặc quá thấp cá thường tránh nóng hay tránh lạnh ở tầng nước đáy
* Yếu tố ánh sáng
Ánh sáng rất cần cho sự phát triển của tảo nước và thực vật thủy sinh Dưới tác động của ánh sáng, tảo nước và các loài thực vật thủy sinh thông qua hoạt động quang hợp đã biến đổi các yếu tố dinh dưỡng vô cơ lấy được từ môi trường thành các vật thủy sinh và cá
* Yếu tố độ PH
Chỉ số PH thể hiện tính chất của môi trường chua (axit, PH<7) hay nồng (kiềm, PH>7) Môi trường có độ PH = 7 là môi trường trung tính, không chua cũng không nồng Đa số các loài cá thích hợp với môi trường nước có nồng độ PH từ 6,5 – 8,5
* Các muối hòa tan
Thực tế tới 95% các chất hòa tan trong nước tồn tại ở dạng 8 ion và 4 anion, các ion đó hình thành ba đặc tính quan trọng của nước là độ cứng, độ kiềm và độ mặn Ngoài ra trong môi trường nước, các chất hòa tan còn lại ở dạng vi lượng
- Độ cứng: ảnh hưởng đến cá ở vai trò thẩm thấu ảnh hưởng đến điều hòa lượng
Ca2+ của máu, ảnh hưởng đến tính độc hại của một số khoáng chất và thuốc trừ sâu
Trang 22- Độ kiềm: giữ vai trò quan trọng trong việc duy trì hệ đẹm của môi trường nước, nó được xem là yếu tố quan trọng làm cho PH môi trường nước ít biến động và không gây sốc đối với cá.
- Độ mặn: có ảnh hưởng trực tiếp đến việc điều hòa áp suất thẩm thấu Các thay đổi độ mặn vượt ra ngoài giới hạn thích ứng của cá dễ gây sốc làm giảm khả năng đề kháng đối với các loại bệnh của chúng
* Các chất khí hòa tan: gồm O2, CO2, N2
Dưỡng khí O2: Cá có khả năng tự điều chỉnh tùy thuộc vào lượng ôxi hòa tan trong nước qua kiểm soát của các hoocmôn Trong trạng thái ít hoạt động hoặc nhu cầu dưỡng khí thấp, chúng có khả năng giảm lượng máu lên mang, giảm lượng nước
di chuyển qua mang thông qua sự điều tiết chính bởi các hoocmôn Vậy khi dưỡng khí xuống quá mức chịu đựng sẽ ảnh hưởng đến sự tăng trưởng, sinh sản của các loại thủy sản và dễ bị tấn công
- Thán khi CO2: CO2 là sản phẩm của quá trình hô hấp của các động vật Các loại thủy sản bắt đầu bị sốc khi hàm lượng CO2 quá 20mg/lít do việc cản trở khả năng tiếp nhận O2 của chúng làm chúng bị chết
- Amoniac, nitric, nitrat:
Amoniac là sản phẩm của quá trình tiêu hóa protein, với nồng độ NH3, tự do là 0,06 mg/lít đã làm chậm mức tăng trưởng và lớp mô bên ngoài cơ thể các loài thủy sản
bị phá hủy, làm rối loạn chức năng điều hòa áp suất thẩm thấu
Nitic và nitrat được hình thành do sự ôxi hóa amoniac Khi hàm lượng nitric và nitrat là 0,6 mg/lít sẽ gây sốc cho các loại thủy sản, làm máu mất khả năng vận chuyển ôxi
- Khí H2S gây độc hại cho các loại thủy sản Nó tồn tại nhiều trong môi trường nước khi độ PH xuống dưới 6,5
b Yếu tố điều kiện kinh tế xã hội
* Yếu tố thị trường
Trang 23Thị trường là yếu tố hết sức quan trọng ảnh hưởng đến sự phát triển của ngành nuôi cá, kể cả thị trường cung cấp các yếu tố đầu vào cho sản xuất và yếu tố tiêu thụ sản phẩm do ngành nuôi cá tạo ra.
Khi nuôi cá cần phải tiến hành tìm hiểu, nghiên cứu một cách kỹ lưỡng xem thị trường cần loại sản phẩm nào Từ đó tiến hành đầu tư nâng cao năng suất sản lượng sản phẩm đó Mặt khác, cần phải xem xét các thị trượng địa phương khác nhau để nắm được các thông tin cần thiết trên thị trường tiêu thụ sản phẩm Từ đó có kế hoạch chiến lược nuôi phù hợp nhằm đáp ứng được yêu cầu của thị trường đặt ra
* Yếu tố vốn đầu tư
Vốn là yếu tố ảnh hưởng đến quá trình sản xuất kinh doanh của tất cả các ngành nói chung và nghề nuôi cá lồng nói riêng Tạo được vốn và sử dụng vốn một cách có hiệu quả, cân đối giữa đầu vào và đầu ra là một vấn đề cần thiết đặt ra đối với những người nuôi cá
* Yếu tố khoa học kỹ thuật và công nghệ
Yếu tố này tác động trực tiếp vào quá trình sản xuất và phát triển của ngành nuôi cá Ngành càng phát triển đòi hỏi phải biết áp dụng tiến bộ vào khoa học kỹ thuật
và công nghệ mới vào sản xuất thì mới đạt được năng suất chất lượng cao
2.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN
2.2.1 Tình hình nuôi trồng thủy sản và các chính sách của Việt Nam tới nuôi trồng thủy sản nói chung, nuôi cá lồng nói riêng
2.2.1.1 Tình hình nuôi trồng thủy sản ở Việt Nam
Từ sau năm 1954, xác định được khả năng đóng góp mà nghề cá có thể mang lại cho nền kinh tế quốc dân, cùng với quá trình khôi phục và bước đầu phát triển kinh
tế ở miền Bắc, Đảng và Nhà nước ta đã chú trọng phát triển nghề cá Vụ Ngư nghiệp thuộc Bộ Nông Lâm đã được thành lập Đây là cơ quan quản lý nhà nước đầu tiên của nghề cá miền Bắc, đánh dấu cách nhìn nhận mới đối với nghề cá nước ta
Vụ Ngư nghiệp cũng chính là cơ quan thủy sản đầu tiên của nước ta, và sau này phát triển là Bộ Thủy Sản Tới tháng 8/2007, Bộ Thủy sản hợp nhất với Bộ Nông
Trang 24nghiệp và Phát triển nông thôn thành Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn mới Tuy ngành thủy sản nước ta trải qua nhiều khó khăn, thử thách nhưng trong nhiều năm qua, ngành Thủy sản cũng đã và đang có những bước phát triển nhanh và ổn định, góp phần quan trọng vào sự tăng trưởng của nền kinh tế quốc dân Tỷ trọng của thủy sản trong khối nông, lâm và ngư nghiệp và trong nền kinh tế quốc dân tăng dần qua các năm Ngành thủy sản đã trở thành ngành kinh tế quan trọng, góp phần chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp nông thôn, tham gia xoá đói giảm nghèo, cải thiện cuộc sống của cộng đồng cư dân không chỉ vùng nông thôn ven biển, mà cả ở các vùng núi, trung du
và Tây nguyên Sự hiện diện dân sự của tàu thuyền khai thác hải sản trên biển đã đóng góp vào việc giữ gìn an ninh, bảo vệ chủ quyền vùng biển, đảo của Tổ quốc
Theo số liệu đã công bố của Tổng Cục Thống kê, GDP của ngành Thuỷ sản giai đoạn 1995 - 2003 tăng từ 6.664 tỷ đồng lên 24.125 tỷ đồng Trong các hoạt động của ngành, khai thác hải sản giữ vị trí rất quan trọng Sản lượng khai thác hải sản tăng liên tục với tốc độ tăng bình quân hằng năm khoảng 7,7% (giai đoạn 1991 - 1995) và 10% (giai đoạn 1996 - 2003) Tuy nhiên, nuôi trồng thuỷ sản đang ngày càng có vai trò quan trọng hơn khai thác hải sản cả về sản lượng, chất lượng cũng như tính chủ động trong sản xuất Năm 2007 - năm đầu tiên Việt Nam gia nhập WTO, sản lượng nuôi trồng thủy sản lần đầu tiên đã vượt sản lượng khai thác, đạt 2,1 triệu tấn Năm 2008, tổng sản lượng thủy sản của Việt Nam đạt 4,6 triệu tấn, trong đó nuôi trồng đạt gần 2,5 triệu tấn và khai thác đạt trên 2,1 triệu tấn Và tới năm 2009 sản lượng thuỷ sản nuôi trồng năm ước tính đạt 2,569 triệu tấn, chủ yếu do các địa phương tiếp tục chuyển đổi
và mở rộng diện tích nuôi trồng theo hướng kết hợp đa canh, đa con Bên cạnh đó, mô hình nuôi thuỷ sản lồng, bè tiếp tục phát triển, đặc biệt là nuôi lồng, bè trên biển ở các tỉnh: Kiên Giang, Quảng Nam, Ninh Thuận, Phú Yên, Hải Phòng Tính chung số lồng
bè nuôi thuỷ sản năm 2009 của cả nước đạt 98,4 nghìn chiếc, tăng 12,6 nghìn chiếc (tăng 14,7%) so với năm 2008
Trong năm 2010, thuỷ sản Việt Nam đang đứng trước khó khăn phải đối mặt với những rào cản kỹ thuật từ phía nhà nhập khẩu, đặc biệt là luật mới: Luật IUU (Quy
Trang 25định về hoạt động đánh bắt cá bất hợp pháp, không có báo cáo và không theo quy định) bắt đầu có hiệu lực từ 1.1.2010 Theo luật này, các sản phẩm thuỷ sản nhập khẩu vào EU phải có giấy chứng nhận đánh bắt Cơ quan chức năng của nước có tàu đánh bắt phải xác nhận thuỷ sản đánh bắt được trên tàu là phù hợp với quy định của pháp luật và các quy định quốc tế về quản lý vào bảo tồn nguồn lợi thuỷ sản Đặc biệt, luật nêu rõ các quốc gia thành viên EU phải áp dụng việc xử phạt ở mức tối thiểu gấp 5 lần giá trị của sản phẩm thuỷ sản sai phạm thu hồi được khi phát hiện vi phạm quy định nói trên…
Năm 2010, xuất khẩu thủy sản dự kiến tăng trưởng 10%, để tiếp tục tạo đà cho thủy sản Việt Nam phát triển mạnh trong năm 2010, đặc biệt là đối với lĩnh vực xuất khẩu, ngành thủy sản cần tiếp tục đầu tư cho sản xuất nguyên liệu, ưu tiên đầu tư các sản phẩm chủ lực như: tôm, cá tra, cá ngừ, nhuyễn thể… Cùng với đó, ngành Thủy sản cần có giải pháp hỗ trợ về kỹ thuật, tổ chức sản xuất và tín dụng, tăng cường kiểm tra giám sát chất lượng và an toàn thực phẩm ở tất cả các khâu cung cấp giống và thức ăn, nuôi thuỷ sản, thu hoạch, xử lý, chế biến và phân phối sản phẩm
Ngoài ra, tiếp tục đẩy mạnh thực hiện các chương trình xúc tiến thương mại, tổ chức các hoạt động quảng bá sản phẩm thủy sản của Việt Nam tại nước ngoài với nội dung và hình thức đổi mới Tăng cường hoạt động xúc tiến thương mại, dự báo thị trường, mối liên kết trong nuôi trồng thủy sản, quan tâm công tác quản lý Nhà nước về kiểm soát dịch bệnh và thú y thủy sản, an toàn vệ sinh thực phẩm…
2.2.1.2 Tình hình phát triển nuôi cá lồng ở một số tỉnh
Nuôi cá lồng ở nước ta hiện nay đang phát triển rộng khắp Cứ nơi nào có sông, biển có điều kiện thuận lợi là có thể phát triển nuôi cá lồng bè Do đó mà tình hình nuôi cá lồng bè phát triển ở khắp các tỉnh từ Bắc vào Nam: Thanh Hóa, Quảng Ngãi, Kiên Giang, Tiền Giang… Các loài cá để nuôi lồng cũng trở nên phong phú và đặc trưng đối với mỗi vùng Nhưng hầu hết nuôi cá lồng ở các tỉnh mang lại hiệu quả kinh
tế nhưng vẫn tồn tại hạn chế, và đang cần có những bước cải tiến để phát triển
Trang 26Trong những năm gần đây nghề nuôi cá lồng ở Nghi Sơn phát triển mạnh vì lợi nhuận mang lại từ nghề này là khá lớn Đây là nơi có nguồn thức ăn cho cá rất dồi dào
và sẵn có, điều kiện khí hậu và môi trường thuận lợi cho việc nuôi cá, hơn nữa nơi đây giao thông đi lại thuận tiện nên người nuôi cá có thể mua tận gốc, bán tận ngọn, nhất là những mặt hàng thuỷ sản xuất khẩu, chính vì vậy nên giá trị kinh tế mang lại là rất cao
Mặc dù hiệu quả kinh tế từ nghề nuôi cá lồng là khá cao, thế nhưng các hộ trực tiếp tham gia nuôi cá vẫn thấy phập phù, thấp thỏm với nghề, nhất là trong một vài năm trở lại đây, dịch bệnh xảy ra liên tục khiến cho không ít hộ điêu đứng vì cá chết, năm 2006 chỉ trong 2 ngày cả xã đã bị thất thiệt hàng chục tỷ đồng do cá chết hàng loạt, mà nguyên nhân chủ yếu cũng bởi do môi trường nước nuôi, điều này cho thấy rõ thực trạng hiện nay nghề nuôI cá lồng ở Nghi Sơn đã và đang bộc lộ nhiều nguy cơ tiềm ẩn, phát triển thiếu tính bền vững
Với diện tích cả vùng là 200 ha, trong đó có 6 ha diện tích mặt nước là đảm bảo điều kiện tốt nhất để nuôi thuỷ sản, nếu chỉ duy trì từ 100 – 150 lồng bè thì sẽ tạo môi trường tốt cho con cá sinh trưởng và phát triển Tuy nhiên hiện nay việc phát triển nhanh, có quá nhiều ô lồng nuôi cá đã làm ảnh hưởng đến dòng chảy và luồng lạch, sự trao đổi nguồn nước từ bên ngoài vào trong vịnh bị hạn chế, thêm nữa lượng thức ăn cho cá hàng ngày dư thừa là rất lớn vì vậy dẫn đến tình trạng nguồn nước ô nhiễm, khi
có dịch bệnh xảy ra các lồng cá nuôi gần nhau rất dễ bị nhiễm bệnh đồng loạt Với
Trang 27hàng trăm phương tiện tàu thuyền khai thác thuỷ sản ra vào vịnh mỗi ngày, lượng nước thải cũng như dầu mỡ do tàu thuyền thải ra rất lớn, nên đã làm giảm lượng ôxy hoà tan trong nước, nếu cá nuôi gặp phải váng dầu mỡ tất yếu sẽ dẫn đến chết ngạt Bụi khí thải từ nhà máy xi măng Nghi Sơn cũng là một tác nhân có thể gây hại đến nguồn nước nuôi cá lồng Cộng thêm một bộ phận người dân của chính địa phương xả rác bừa bãi ra nguồn nước, làm cho môi trường sống của cá nuôi ngày càng bị thắt chặt.
Phát triển nuôi trồng thuỷ sản gắn liền với việc với bảo vệ môi trường, mang tính bền vững đang được các cấp chính quyền đặt ra Nếu chỉ phát triển với lợi ích trước mắt, giải quyết nhu cầu tức thời mà không tính đến những hệ luỵ thì hậu quả sẽ rất khó lường Hiện nay chính quyền xã Nghi Sơn đang cảnh báo cho người nuôi cá không nên phát triển thêm lồng cá tại khu vực vịnh Xã cũng đã tính đến phương án vươn ra khơi xa, tìm những nơi có điều kiện thích hợp để bà con phát triển ngành nghề
Trong thời gian tới, nếu dự án đưa các hộ nuôi trồng thuỷ sản của Nghi Sơn tiến
ra khơi xa được triển khai thì không những giải quyết được bài toán về môi trường mà còn là tiền đề để Nghi Sơn phát triển mở rộng nghề nuôi cá lồng Tuy nhiên hiện nay vấn đề về vốn, kỹ thuật của người dân còn khó khăn do đó song song với công tác chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật đến người dân, địa phương cần có sự đấu mối với các tổ chức tín dụng tạo điều kiện về vốn vay ưu đãi để người dân thực sự yên tâm sản xuất
* Quảng Ngãi
Tận dụng lợi thế mặt nước sông Trà Khúc, những năm gần đây hàng chục hộ dân ở xóm Vĩnh Phước, thôn Tây, xã Tịnh Sơn (Sơn Tịnh) đã đầu tư nuôi cá nước ngọt bằng hình thức thả lồng bè trên sông Qua đó góp phần cải thiện cuộc sống và nâng cao thu nhập cho người dân địa phương
Như một số vùng quê trong tỉnh, bao đời nay người dân ở xóm Vĩnh Phước, thôn Tây (Tịnh Sơn) gắn bó với nghề nông Làm lụng cật lực, nhưng thu nhập chẳng
Trang 28đáng là bao nên nhiều người phải hành hương vào phương Nam tìm kế mưu sinh Thế nhưng khoảng 4 năm trở lại đây, người dân địa phương "sáng kiến" ra một cách làm ăn mới, bằng cách tận dụng mặt nước trên sông Trà Khúc làm nơi nuôi cá lồng Với người dân xóm Vĩnh Phước thì đây là nghề mới, là nghề phụ, nhưng thu chính Bởi nghề này không tốn nhiều công sức và chi phí đầu tư, nhưng hiệu quả khá lớn, góp phần giải quyết việc làm, cải thiện thu nhập và nâng cao đời sống cho bà con.
Thời gian thả nuôi bắt đầu từ tháng 11 (âm lịch), đến tháng chạp năm sau là thu hoạch Năng suất bình quân đạt khoảng 2 tạ/lồng Với giá bán từ 45.000đ - 50.000đ/kg, thì mỗi hộ thu về từ 15 - 20 triệu đồng Quan trọng hơn là việc tiêu thụ cá được bán đúng vào dịp gần tết, nên giá cả thường đạt khá cao Tuy nhiên, điều lo lắng hiện nay là vào mùa lũ, các lồng bè nuôi cá rất dễ bị nước cuốn trôi và cá cũng dễ bị nhiễm bệnh chết hàng loạt, gây thiệt hại nặng cho đời sống, sản xuất.…"
Nhờ nghề nuôi cá lồng này mà đến nay ở xóm Vĩnh Phước có nhiều hộ đã có cuộc sống no đủ, vươn lên khá giả Đặc biệt mới đây tỉnh đã đầu tư xây dựng một bờ
kè chống sạt lở dài 1km (tổng vốn trên 8 tỷ đồng), ven sông Trà, thuộc xóm Vĩnh Phước Kè chống sạt lở này được xây dựng giúp bà con nơi đây ổn định đời sống, sản xuất, đồng thời giúp họ có điều kiện thuận lợi đầu tư thâm canh và mở rộng diện tích nuôi cá lồng trên sông Trà Khúc, góp phần tạo thêm nguồn thu nhập, cải thiện cuộc sống cho người dân
(www.quangngai.gov.vn)
* Tiền Giang
Tiền Giang là tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long, có hệ thống sông ngòi chằng chịt với lưu tốc dòng chảy vừa phải và thủy triều lên xuống theo chế độ bán nhật triều nên điều kiện tự nhiên rất thuận lợi cho hoạt động nuôi cá lồng bè trên sông phát triển
Làng cá nuôi lồng bè Tiền Giang (khu vực Cù lao Thới Sơn và Cồn Tân Long) hình thành năm 2001 với khoảng 30 lồng bè với các loài cá nuôi như: cá rô phi đen,
cá lóc, cá tra Sau đó, một số ngư dân chuyển sang nuôi cá điêu hồng có hiệu quả
Trang 29kinh tế rất cao nên có nhiều bà con trong và ngoài tỉnh đầu tư nuôi cá bè - cao trào nhất là những năm 2005 - 2007 Đến nay, tổng số lồng - bè trên địa bàn tỉnh là 1.444 lồng - bè với sản lượng cá thịt cung cấp cho thị trường hàng năm khoảng 18.000 tấn,
bè được đóng với kích thước lớn hơn dao động từ 100 - 112m3, lồng bè ngoài phân bố trên địa bàn thành phố Mỹ Tho và huyện Châu Thành thì còn phát triển thêm ở bờ Bắc và Nam của Cù lao Ngũ Hiệp - huyện Cai Lậy, bờ sông khu vực xã Tân Thanh - huyện Cái Bè Năm nay, hoạt động nuôi cá bè trên địa bàn tỉnh cần trên 35,5 triệu con giống, chủ yếu là nuôi cá điêu hồng, Ngoài ra, cũng có một số bè nuôi các đối tượng khác như: cá lóc bông, chim trắng, cá tra, chình nhưng số lượng không đáng kể
Do đối tượng nuôi chính trên lồng - bè là cá điêu hồng, chủ yếu tiêu thụ nội địa nên khi thu hoạch rộ, thường hay xảy ra hiện tượng cung vượt cầu ,dẫn đến giá cá cũng ít khi tăng cao Nhìn chung, qua khảo sát giá cá điêu hồng nuôi lồng-bè hiện nay
có cao hơn các năm trước, dao động từ 23.000 - 24.000 đồng/kg nhưng do chi phí đầu vào như thức ăn, thuốc thú y, nhân công tăng, đặc biệt là giá thức ăn, có thời điểm giá thức ăn cao gần gấp đôi làm giá thành sản xuất cá tăng cao khoảng 24.000 đồng/kg nên người nuôi không có lãi nhiều Do đó chính quyền và nhân dân đang cố gắng tìm
ra hướng phát triển mới
2.2.1.3 Các chủ trương của Đảng, Nhà nước, ngành thủy sản liên quan tới nuôi trồng thủy sản nói chung nuôi cá lồng nói riêng ở Việt Nam
* Các chủ trương của Đảng và Nhà nước về sử dụng đất và mặt nước, thuế khuyến khích NTTS, mở rộng thị trường sản phẩm thủy sản bao gồm:
- Quyết định số 224/TTg ngày 08/12/1999 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chương trình phát triển NTTS thời kỳ 1999 – 2010 Mục tiêu của quyết định này là phát triển NTTS nhằm đảm bảo an ninh thực phẩm và tạo nguồn hàng chủ yếu cho xuất khẩu Phấn đấu đến năm 2010 tổng kim ngạch xuất khẩu đạt trên 2500 triệu USD, tạo việc làm và thu nhập cho khoảng 2 triệu người, góp phần tích cực vào phát triển kinh tế xã hội đất nước
Trang 30- Quyết định số 103/2000 QĐ – TTg ngày 25/08/2000 của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách khuyến khích phát triển giống thủy sản.
- Nghị định số 86/2001/NĐ – CP ngày 16/11/2002 về điều kiện kinh doanh các ngành nghề thủy sản
- Các chính sách về trợ cước, trợ giá giống thủy sản cho vùng sâu vùng xa
* Các chủ trương chính sách của ngành Thủy sản
Ngoài chương trình phát triển NTTS đã được Chính phủ phê duyệt, ngành thủy sản đã chỉ đạo xây dựng các quy hoạch phát triển, ban hành các thông tư, quyết định tạo điều kiện cho phát triển ngành Các quy hoạch, thông tư quyết định có liên quan trực tiếp đến phát triển NTTS bao gồm:
- Quyết định số 03/2002/QĐ – BTS ngày 23/01/2002 về việc ban hành Quy chế quản lý thuốc thú y thủy sản
- Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội ngành thủy sản đến 2010
- Quy hoạch phát triển NTTS đến năm 2010 các vùng đồng bằng sông Cửu Long, Bắc Bộ và Trung Bộ
2.2.2 Tình hình nuôi trồng thủy sản trên thế giới và khu vực
* Trung Quốc
Trong xuốt 20 năm qua, Trung Quốc sản xuất phần lớn thủy sản toàn cầu, chiếm 70% tổng sản lượng toàn cầu Trong năm 1990, Trung Quốc bắt đầu trở thành nước đầu tiên trên thế giới có sản lượng thuỷ sản nuôi trồng cao hơn sản lượng đánh bắt Năm 1986, Trung Quốc khuyến khích và thực hiện “Luật nghề cá”, nghị định hướng dẫn “nuôi trồng thuỷ sản” đầu tiên Và thành lập hệ thống quản lý bao gồm cả Cục quản lý cấp phép đánh bắt thuỷ sản Tất cả các biện pháp này thúc đẩy sự phát triển nhanh và bền vững của ngành thuỷ sản Hiện tại, Trung Quốc sản lượng thủy sản nuôi trồng của Trung Quốc chiếm 70% tổng sản lượng thuỷ sản nước này Các mô hình tiết kiệm nước, hiệu quả, sinh thái và khoẻ mạnh đã trở thành phương thức chính của Trung Quốc Công xuất và trình độ chế biến thuỷ sản của Trung Quốc đã phát triển lên mức cao của thế giới
Trang 31Theo báo cáo mới nhất của ngân hàng Glitnir, ngành thuỷ sản Trung Quốc trong mấy năm tăng trưởng rất mạnh thể hiện ở cả sản lượng và lượng tiêu thụ Trung Quốc
là nước duy nhất trên thế giới có sản lượng nuôi trồng vượt quá sản lượng khai thác Năm 2004, tổng sản lượng thủy sản của Trung Quốc đạt 49 triệu tấn, trong đó 64% là thủy sản nuôi Thủy sản nước mặn chiếm 56% tổng thủy sản nuôi, trong đó phần lớn là thủy sản có vỏ; thủy sản nước ngọt chiếm 44%, chủ yếu là họ cá chép
Năm 2008, có 9.971 xí nghiệp chế biến thuỷ sản tại Trung Quốc với tổng công xuất 21,97 triệu tấn Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp sản lượng thuỷ sản đầu người của Trung Quốc năm 2008 là 36kg, cao gấp 1,6 lần mức trung bình của thế giới Năm
2008, giá trị sản lượng thuỷ sản của Trung Quốc chiếm 10% tổng giá trị sản phẩm nông nghiệp, tạo ra việc làm cho 14,54 triệu người Thu nhập trung bình của người nuôi trồng thuỷ sản là 7.575 NDT, cao hơn so với mức trung bình của nông dân 2.000 NDT
Dự báo, tiêu thụ thủy sản bình quân trong nước của Trung Quốc sẽ tăng mạnh trong thời gian tới, từ 25 kg/người năm 2004 lên 36 kg/người vào năm 2020 Nuôi trồng thủy sản phát triển mạnh đã góp phần thúc đẩy phát triển ngành chế biến thủy sản của Trung Quốc
* Thái Lan
Ngành nuôi trồng thủy sản Thái Lan được xem như bắt đầu phát triển từ đầu thế
kỉ 19 Nghề nuôi trồng thủy sản nước ngọt đã phát triển trước đó trong một thời gian dài, nhưng nghề nuôi thủy sản nước mặn ngày càng mở rộng trong thời gian gần đây Trong năm 2003, sản lượng nuôi trồng thủy sản đạt khỏang 1.064 triệu tấn và đạt giá trị 1.46 tỉ USD được tính trên 1 quý của tổng sản phẩm thủy sản Sự họat động của nghành nuôi trồng thủy sản ở Thái Lan có thể được chia thành hai nhóm: thủy sản nước ngọt và thủy sản nước mặn
Nghề nuôi trồng thủy sản nước ngọt, chủ yếu là trong các ao, hồ và trên cánh đồng lúa, đã tồn tại ở Thái Lan trên 80 năm Sự phát triển nghề nuôi thủy sản nước ngọt bắt đầu vào năm 1922 sau khi sự nhập khẩu cá chép Trung Quốc để làm cá nuôi
Trang 32lan rộng toàn Bangkok Năm 1951, Bộ thủy sản đã thiết lập một chương trình quảng
bá nghề nuôi trồng thủy sản Hiện nay, có hơn 50 loài thủy sản nước ngọt đã và đang được nuôi trồng Có 5 loài quan trọng, nuôi hàng năm thu sản phẩm có giá trị cao: cá
rô sông Nile, cá trê lai, cá ngạnh bạc, tôm càng xanh, cá rô phi
Nghề nuôi thủy sản nước mặn thường ở vùng duyên hải có truyền thống sử dụng công cụ để đánh bắt cá như: bẫy cá bằng tre, lưới cá, dụng cụ chài lưới Những loài thân mềm (nghêu, sò…) cũng được thu lượm bằng tay từ nguồn lợi tự nhiên Gần đây, nghề nuôi trồng thủy sản ven biển bắt đầu được phổ biến với kỹ thuật thâm canh
và bây giờ đã trở nên rất thành công cho những vụ nuôi Nó cũng được khuyến khích bởi vì nó hạn chế sự khai thác quá mức nguồn lợi ven biển và sự ô nhiễm môi trường Một trong những loài thủy sản nước mặn quan trọng là: cá vược, cá mú, tôm he, nghêu, sò, cua, ghẹ Nó bao gồm hai hệ thống nuôi cá giống từ cá bột ở biển và những con đang thành thục mắc trong bẫy nhưng là trường hợp của loài cua bùn Nghề nuôi trồng nghêu, sò và tôm mang lại hiệu quả cao nhất
Ở dọc bờ biển trải dài hơn 3.000 km, với một đời sống sinh vật biển phong phú, Thái Lan là một trong những nhà sản xuất và xuất khẩu thủy sản lớn nhất trên thế giới Tuy nhiên, với nhu cầu ngày gia tăng liên tục mà lượng cung cấp hải sản thì không đủ, quốc gia này đang được khuyến khích để quản lý các nguồn tài nguyên biển bằng cách thúc đẩy phát triển thêm nghề nuôi trồng thủy sản
Thái Lan có một lợi thế đáng kể trong ngành nuôi trồng thủy sản và nên tận dụng để phát triển lĩnh vực này Thái Lan có một bờ biển dài với những tiềm năng lớn
có thể cung cấp cho ngành nuôi trồng thủy sản Thái Lan đang được yêu cầu lập kế hoạch để có thể tận dụng và quản lý những nguồn tài nguyên tiềm, theo đề nghị của Goh Chong Theng, tổng giám đốc chi nhánh Singapore của khối ngân hàng quốc tế sở hữu tư nhân Hà Lan
Theo điều tra bởi các ngân hàng, tổng sản lương hải sản của Thái Lan được gần
4 triệu tấn / năm, chủ yếu là tôm và cá thu đóng hộp Tuy nhiên, với nhu cầu lớn cho các sản phẩm hải sản trên toàn thế giới, các quốc gia phải đối mặt với những thách
Trang 33thức trong việc duy trì và bảo vệ các nguồn tài nguyên biển để giữ cho lĩnh vực này có lợi nhuận trong thời gian dài
Nuôi trồng thủy sản ở Thái Lan đã góp một phần lớn vào sự gia tăng sản xuất của nước này Một báo cáo của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp của LHQ năm nay dự báo rằng nuôi trồng thủy sản sẽ đóng góp được gần một nửa tổng sản lượng sản xuất của đất nước này vào năm 2010, so với chỉ một vài phần trăm vào năm 1990
* Philippin
Giám đốc Cục Nghề cá và Nguồn lợi Thủy sản Philippn (BFAR) Malcolm Sarmiento Jr cho biết sản lượng thủy sản nuôi đạt 516.000 tấn, tăng 2,63% so với cùng kỳ năm ngoái Tổng sản lượng tôm quý II/2008 cũng tăng 39,73% so với cùng kỳ năm ngoái
Sở dĩ Philippin đạt được mức tăng trưởng này là do 2.309 ha ao nuôi cá nước lợ tại Bulacan, nhiều nhất là tại hai thành phố Hagonoy và Paombong được chuyển sang nuôi tôm sú Từ mức 136,93 tấn tôm trong quý II/2007, sản lượng đã tăng lên 3163,99 tấn cùng kỳ năm nay
Tương tự, tại Lanao del Norte, Zamboanga Sibugay, và Pampanga, sản lượng tôm sú cũng tăng lần lượt 34.76%, 6.45%, và 5.93% do nguồn lợi tăng, quy trình nuôi tốt, con giống chất lượng và tỉ lệ sống sót cao
Sản lượng cua bùn tăng 16,29% so với cùng kỳ năm 2007 nhờ sự sẵn có cua giống, quản lý nuôi trồng tốt và nhờ sự hỗ trợ kĩ thuật từ BFAR và nhu cầu thị trường cao
Tại các vùng Bulacan, Davao City, Laguna, Iloilo và Camarines Xur, sản lượng catfish quý II năm nay của Philippin cũng tăng 44,3% so với cùng kỳ năm ngoái
Tại Bulacan, sản lượng catfish tăng 132,94%, tạo nhiều nguồn dự trữ và giá bán cao Một số người nuôi cá rô phi đã chuyển sang nuôi catfish
Sản lượng cá chép quý II/2008 tăng 1,56% so với cùng kỳ năm ngoái Sản lượng các loài thủy sản nuôi tăng khiến tổng sản lượng thủy sản tăng cao, đạt 2994,46 tấn
Trang 34Sarmiento cho rằng các biện pháp can thiệp của BFAR như là chương trình thả con giống theo đợt trong những bể nuôi nhân tạo nhỏ và thuận lợi về thời tiết (mưa sớm) cũng khiến sản lượng tăng tại tỉnh Cagayan Sản lượng cá chép tại các tỉnh trên tăng là do nhu cầu thay thế cá chép cho các loại thịt và các sản phẩm hải sản giá cao.
Philippin dự kiến sản lượng thuỷ sản năm 2009 chỉ tăng nhẹ do ảnh hưởng của những trận lũ lụt và các yếu tố khác Tuy nhiên sản lượng năm nay bị ảnh hưởng bởi thiên tai, lũ lụt khiến BFAR phải hạ mức dự báo tăng trưởng sản lượng xuống 5-6%
* Indonexia
Với diện tích 7,7 triệu km2, trong đó 5,8 triệu km2 biển, với nguồn lợi tự nhiên phong phú, điều kiện khí hậu tốt, Indonexia có tiềm năng lớn để phát triển nuôi trồng thuỷ sản Mặc dù được coi là hoạt động có nhiều hứa hẹn, nhưng việc khai thác tiềm năng nuôi trồng thủy sản vẫn thấp
Để phát triển nuôi trồng thuỷ sản, chính quyền Trung ương đã thành lập 12 trung tâm phát triển nuôi trồng thuỷ sản (4 trung tâm nuôi nước ngọt, 4 trung tâm nuôi nước lợ và 4 trung tâm nuôi hải sản) ở cả 3 miền Tây, Trung và Đông của đất nước Bên cạnh đó mỗi tỉnh có thể thành lập trung tâm của địa phương nhằm phát triển nuôi các loài bản địa Ngoài ra Indonexia hiện có 3 viện nghiên cứu quốc gia về nuôi trồng thuỷ sản và nhiều trạm nghiên cứu khác
Các trung tâm nghiên cứu và phát triển của Indonexia đã xây dựng và phổ biến rộng rãi công nghệ nuôi thuỷ sản đến những người nuôi và hiện đang áp dụng với ít nhất 25 loài Công tác phổ biến công nghệ được thực hiện thông qua đào tạo, thông tin, trình diễn, giám sát
2.2.3 Các nghiên cứu của thế giới và Việt Nam về thủy sản và nuôi cá lồng
* Nghiên cứu ở các nước
Những năm gần đây, tổ chức FAO cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu thủy sản ở Việt Nam và đã khởi xướng chiến lược “ NTTS bền vững để xóa đói giảm nghèo” Mạng lưới các trung tâm NTTS Châu Á Thái Bình Dương (NACA) cũng đã
Trang 35chiến lược quốc gia đã được đưa ra nhằm tăng cường sự đóng góp của NTTS vào công trình quốc gia xóa đói giảm nghèo của Chính phủ Năm 2000 nhóm hợp tác và đối tác
do tổ chức FAO thành lập đã cùng Bộ Thủy Sản tiến hành nghiên cứu và đưa ra một
số chính sách nhằm phát triển NTTS và cùng với UNDP, NACA giúp đỡ Cính phủ Việt Nam hình thành chiến lược quốc gia về chứng nhận sức khỏe và chất lượng động vật thủy sinh, đồng thời giúp Việt Nam xây dựng luật Thủy sản Việt Nam
* Nghiên cứu ở Việt Nam
Với sự giúp đỡ của FAO viện nghiên cứu NTTS I cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu về NTTS theo các góc độ cả về kỹ thuật và kinh tế xã hội
Các công trình nghiên cứu NTTS nói chung nuôi cá lồng nói riêng ngày càng nhiều và đáp ứng được yêu cầu của người nông dân Các công trình này không những được Viện nghiên cứu thủy sản quan tâm, mà còn được chi cục thủy sản các tỉnh, phòng kinh tế các huyện quan tâm và phát triển Các nghiên cứu như: Kỹ thuật nuôi cá lồng – Dự án phát triển nuôi trồng thủy sản các tỉnh miền núi phía Bắc – NXB Nông nghiệp – năm 2002; Nghiên cứu đặc điểm sinh học và môi trường nuôi cá lồng ở vùng nước ngọt – lợ – mặn của tác giả KS Trần Thị Thu Hà – Sở thủy sản Bình Định…
Một số các nghiên cứu về kỹ thuật nuôi các loại cá trong lồng cũng được phát triển: “Kỹ thuật nuôi cá chẽm trong lồng”, “Nuôi cá lăng nha trong lồng bè”… của trung tâm khuyến nông Việt Nam
Qua những nghiên cứu trên đây cho thấy, có rất nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề NTTS và nuôi cá lồng Tuy nhiên hầu hết các công trình nghiên cứu trên là các
đề tài nghiên cứu kỹ thuật, rất ít đề tài mang tính kinh tế xã hội Trên cơ sở kế thừa và phát huy những kết quả, các phương pháp nghiên cứu các đề tài khoa học được công
bố, đề tài của chúng tôi đi nghiên cứu tình hình thực trạng nuôi cá lồng của các hộ nông dân ven song Đà khu vực thành phố Hòa Bình, nhằm đưa ra một số giải pháp chủ yếu để phát triển nghề nuôi cá lồng trên địa bàn hơn nữa
Trang 36PHẦN 3 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
3.1.1 Điều kiện tự nhiên, dân số xã hội
3.1.1.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1.1.1 Vị trí địa lý
Thành phố Hòa Bình là trung tâm kinh tế văn hóa, chính trị của tỉnh Hòa Bình Cách thủ đô Hà Nội khoảng 76 km về phía Tây Nằm ở vị trí cửa ngõ Tây Bắc, thành phố Hòa Bình nói riêng, tỉnh Hòa Bình nói chung có hệ thống giao thông nối trong tỉnh với các tỉnh vùng Tây Bắc, Hà Nội, vùng đồng bằng sông Hồng và các tỉnh dọc dãy Trường Sơn khá thuận lợi
- Phía Bắc giáp huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ
- Phía Nam giáp huyện Cao Phong
- Phía Đông giáp huyện Kim Bôi, Kỳ Sơn
- Phía Tây giáp huyện Đà Bắc
Thành phố Hòa Bình với vai trò quan trọng chiến lược phát triển kinh tế của vùng Tây Bắc, có vị trí hết sức quan trọng về an ninh quốc phòng, và góp phần quan trọng trong việc ngăn chặn thiên tai cho vùng đồng bằng sông Hồng, mà còn có nhiều lợi thế để phát triển kinh tế của tỉnh theo hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa và sản xuất hàng hóa
3.1.1.1.2 Khí hậu thời tiết
Trang 37Khí hậu ở đây nằm trong vùng vành đai nhiệt đới bắc bán cầu, nên mang khí hậu nhiệt đới gió mùa Trong năm có hai mùa rõ rệt, mùa nóng mưa nhiều từ tháng 4 đến tháng 10 và mùa lạnh từ tháng 11 đến tháng 3
Nhiệt độ trung bình là 23,2 độ C, nhiệt độ trung bình cao nhất là 28,8 độ C vào tháng 7, nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất là 16,2 độ C vào tháng 1
Lượng mưa hàng năm xấp xỉ 1.901 mm, nhưng phân bố không đều giữa các tháng trong năm Mưa tập trung chủ yếu vào các tháng từ tháng 5 đến tháng 8, chiếm 75% tổng lượng mưa Các tháng còn lại mưa ít chỉ chiếm 25% tổng lượng mưa Vào các tháng mùa khô mưa rất ít đặc biệt là tháng 11 và tháng 12 Lượng bốc hơi bình quân là 760 mm, có 5 tháng lượng mưa bốc hơi lớn hơn lượng mưa Khu vực quanh hồ thủy điện khí hậu tương đối mát mẻ, mưa nhiều
Tổng số giờ nắng trung bình là 1,636 giờ Tháng có số giờ nắng cao nhất là tháng 7, với 236 giờ Tháng ít nhất là tháng 3 với số giờ nắng là 70 – 90 giờ
Hướng gió chia làm 2 mùa rõ rệt Mùa nóng thình hành là gió Đông Nam, mùa khô hướng gió thịnh hành là gió mùa Đông Bắc
Độ ẩm không khí trung bình là 83%, độ ẩm không khí thấp nhất là 77% vào tháng 12, độ ẩm không khí cao nhất là 88% vào tháng 3, tháng 4
Một vấn đề ở đây đáng quan tâm là khí hậu tiểu vùng có sự bất thường, mưa nắng trái quy luật, giông nhiệt đới thường kèm theo lốc đột ngột gây ảnh hưởng cho sản xuất và sinh hoạt
3.1.1.1.3 Đất đai, địa hình
Thành phố Hòa Bình nằm ở sau đập thủy điện Hòa Bình, một công trình thủy điện lớn bậc nhất Việt Nam, ở giữa là sông Đà, hai bên bờ sông Đà là vùng thung lũng bằng phẳng
Thành phố Hòa Bình nằm ở tọa độ địa lý 200 30’- 200 50’ vĩ bắc và 1050 15’ -
1050 25’ kinh đông Có địa hình núi chiếm ưu thế (chiếm 75% diện tích tự nhiên), phân
bố bao quanh và ôm trọn khu vực trung tâm Phần chuyển tiếp là kiểu địa hình đồi, có
Trang 38độ cao trung bình 100 – 150 m Tiếp đến là phần trung tâm thành phố, có địa hình tương đối bằng phẳng, thuận lợi cho việc xây dựng và phát triển đô thị
Trên bản đồ hành chính hiện nay, sông Đà chia thành phố thành hai phần: bên
bờ phải và bên bờ trái Hiện nay thành phố Hòa Bình bao gồm 15 đơn vị hành chính gồm 8 phường: Phương Lâm, Đồng Tiến, Chăm Mát, Thái Bình, Tân Thịnh, Tân Hòa, Hữu Nghị, Thịnh Lang và 7 xã: Dân Chủ, Sủ Ngòi, Thống Nhất, Hòa Bình, Yên Mông, Thái Thịnh, Trung Minh
3.1.1.1.4 Thủy văn
Là địa bàn có nhà máy thủy điện Hòa Bình lớn nhất trên cả nước nên chế độ thủy văn không chỉ phụ thuộc vào chế độ mưa mà còn phụ thuộc vào sự điều tiết của nhà máy thủy điện Hòa Bình
Nguồn nước mặt: Đoạn sông Đà chảy qua thành phố Hòa Bình dài 23 km có hồ Hòa Bình, nhiệm vụ của hồ chứa là điều tiết nước chống lũ cho đồng bằng sông Hồng vào mùa mưa, cung cấp nước sản xuất vào mùa khô
Nguồn nước ngầm: Mực nước ngầm trung bình của thành phố ở độ sâu 10 m Nhìn chung chế độ thủy văn khá ổn định đáp ứng được nhu cầu sản xuất và sinh hoạt của người dân Tuy nhiên sau khi có đập thủy điện Hòa Bình mực nước ngầm bị hạ thấp
Vào mùa lũ lưu lượng nước sông Đà trong các tháng này từ 3.300 m3/giây đến
2000 m3/giây Tháng 7 là tháng có lưu lượng nước lớn nhất
Vào mùa cạn từ tháng 12 đến tháng 3 năm sau lưu lượng nước sông Đà trong các tháng này thường từ 700 – 900 m3/giây
Chế độ thủy văn chủ yếu là chủ động ở những vùng đồng bằng ở những xã vùng cao vẫn phải phụ thuộc vào tự nhiên
3.1.2 Các chỉ tiêu kinh tế cơ bản của địa phương
3.1.2.1 Tình hình phân bổ và sử dụng đất
Theo số liệu thống kê tới tháng 07 năm 2009 có:
Trang 39Bảng 3.1: Diện tích cơ cấu đất đai của thành phố Hòa Bình năm qua 3 năm 2007 – 2009
Diện tích (ha)
Cơ cấu (%)
Diện tích (ha)
Cơ cấu (%)
Diện tích (ha)
Cơ cấu (%) 08/07 09/08 BQ
Trang 40Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt chủ yếu không thể thiếu được và nó càng trở nên quan trọng cả về số lượng và chất lượng trong sản xuất nông nghiệp Vì vậy khi nghiên cứu tình hình sử dụng đất đai cần đánh giá được thực trạng về khả năng sản xuất của cơ sở sản xuất và địa phương cũng như cần có biện pháp khai thác các tiềm năng đó, trước hết là đất đai.
Qua bảng ta thấy: Tổng diện tích tự nhiên của thành phố qua 3 năm không có
sự thay đổi nhiều, năm 2009 là 13275,78 km2 (chiếm 2,9% diện tích toàn tỉnh) Năm
2007 đất nông nghiệp chiếm diện tích tương đối nhỏ 1541,09 ha chiếm 11,59%, nhưng đến năm 2009 đã giảm xuống còn 1079,7 ha chiếm 8,13 % Bình quân mỗi năm giảm 3,7% Nguyên nhân giảm là do một phần đất nông nghiệp chuyển mục đích sang đất thổ cư do dân số tăng và nhu cầu đất ở tăng, phần nữa là chuyển sang làm các công trình Trong cơ cấu đất nông nghiệp cũng có sự chênh lệch lớn Đất canh tác và đất vườn tạp giảm dần, trong khi đất NTTS có xu hướng tăng lên Năm
2007 diện tích đất NTTS là 171 ha chiếm 11,10 % diện tích đất nông nghiệp, năm
2008 tăng lên 188,7 ha và giữ nguyên đến năm 2009 Bình quân qua 3 năm tăng lên 5,05% Đây là xu hướng tốt đối với việc khai thác tiềm năng NTTS và nuôi cá lồng của thành phố
Qua bảng ta thấy đất chuyên dùng và đất thổ cư đều tăng, đất chuyên dùng qua 3 năm tăng bình quân là 10,49% và đất thổ cư qua 3 năm tăng là 22,51% Đây là
do xu hướng đô thị hóa của thành phố đang ngày càng phát triển Diện tích đất lâm nghiệp vẫn có xu hướng giảm vì diện tích trồng rừng chưa được nhiều
Các chỉ tiêu bình quân diện tích đất nông nghiệp/khẩu giảm, nguyên nhân giảm là do số nhân khẩu tăng nhưng diện tích đất nông nghiệp lại giảm qua các năm Chỉ tiêu đất nông nghiệp/lao động cũng giảm tương tự do diện tích đất nông nghiệp giảm Riêng chỉ tiêu đất NTTS/hộ lại tăng lên, là do diện tích NTTS của thành phố qua 3 năm tăng lên
3.1.2.2 Tình hình biến động hộ khẩu và lao động
Lao động là yếu tố quan trọng trực tiếp tạo ra của cải vật chất cho xã hội