1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá tác động của xuất khẩu lao động đến đời sống của người dân tại xã an đồng huyện quỳnh phụ tỉnh thái bình

117 466 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 1,14 MB
File đính kèm xã an đồng.rar (155 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1.2.1 Mục tiêu chung Trên cơ sở tìm hiểu, đánh giá thực trạng hiện tượng xuất khẩu lao động và những tác động đến người dân tại địa phương, từ đó đề ra một số giải pháp nhằm giải quyết những vấn đề phát sinh trong việc đi xuất khẩu lao động tại địa phương. 1.2.2 Mục tiêu cụ thể Đánh giá thực trạng xuất khẩu lao động ở xã An Đồng huyện Quỳnh Phụ tỉnh Thái Bình trong thời gian qua (2005 – 2009). Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến việc ra quyết định đi xuất khẩu lao động của người dân địa phương. Phân tích những tác động do xuất khẩu lao động mang lại cho người dân của xã An Đồng trong thời gian qua. Đề xuất các giải pháp nhằm phát huy mặt tích cực và hạn chế những tác động tiêu cực do xuất khẩu lao động mang lại đối với người dân tại địa phương.

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan toàn bộ nội dung, các số liệu và kết quả thu được là

do tôi trực tiếp theo dõi và thu thập với một thái độ khách quan, trung thực tạiđịa phương cùng với việc tham khảo các bài viết trên sách, báo, tạp chí, cácluận văn thạc sỹ, một số luận văn tốt nghiệp của trường Đại học Nông nghiệp

Hà Nội và một số trường khác trong nước Các tài liệu đã trích dẫn của các tácgiả đều được liệt kê đầy đủ, không sao chép bất cứ tài liệu nào mà không cótrích dẫn

Tôi xin cam đoan các số liệu được sử dụng trong luận văn tốt nghiệp đạihọc của tôi là đúng sự thật và chưa được sử dụng cho một công trình nghiên cứunào khác

Hà Nội, ngày tháng năm 2010

Sinh viên

Nguyễn Thị Vân Anh

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện đề tài tốt nghiệp của mình tôi đã nhận được

sự quan tâm giúp đỡ nhiệt tình của các thầy giáo, cô giáo trong trường và tậpthể lãnh đạo UBND xã An Đồng cùng các hộ nông dân trong xã, đến nay tôi

đã hoàn thành luận văn tốt nghiệp đại học của mình

Trước hết, tôi xin gửi lời cảm ơn đến các thầy cô giáo trong khoa Kinh

tế và PTNT cũng như các thầy cô trong trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội

đã dạy dỗ, dìu dắt tôi đến ngày hôm nay

Sau nữa, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới thầy giáo PGS.TS.Nguyễn Tuấn Sơn, giảng viên khoa Kinh tế và PTNT đã tận tình hướng dẫntôi thực hiện và hoàn thành tốt đề tài này

Tôi xin cảm ơn tập thể lãnh đạo xã An Đồng cùng các hộ nông dântrong xã đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình tôi thực tập tại địaphương

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè và những ngườithân đã luôn động viên, giúp đỡ tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trongsuốt quá trình học tập và thực hiện đề tài của mình

Do điều kiện về thời gian và trình độ chuyên môn còn nhiều hạn chếnên đề tài của tôi không tránh khỏi những thiếu sót, tôi rất mong được sựđóng góp ý kiến của các thầy giáo, cô giáo và toàn thể các bạn sinh viên để đềtài được hoàn thiện hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn

Hà Nội, ngày tháng năm 2010

Sinh viên

Nguyễn Thị Vân Anh

Trang 3

TÓM TẮT

Nghiên cứu này chúng tôi tiến hành đánh giá tác động của xuất khẩu laođộng đến đời sống của người dân tại xã An Đồng - huyện Quỳnh Phụ - tỉnh TháiBình, qua đó đưa ra một số giải pháp mang tính bền vững để khắc phục nhữngmặt tiêu cực đồng thời phát huy những mặt tích cực Trên cơ sở phân tích số liệu

đã thu thập được của 60 hộ gia đình đã, đang và chưa tham gia xuất khẩu laođộng, từ đó so sánh tác động của xuất khẩu lao động đến đời sống của các hộ giađình nhằm đạt một số các mục tiêu sau: i) Đánh giá thực trạng xuất khẩu laođộng ở xã An Đồng huyện Quỳnh Phụ tỉnh Thái Bình trong thời gian qua(2005 – 2009); ii) Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến việc ra quyết định đixuất khẩu lao động của người dân địa phương; iii) Phân tích những tác động

do xuất khẩu lao động mang lại cho người dân của xã An Đồng trong thờigian qua; iv) Đề xuất các giải pháp nhằm phát huy mặt tích cực và hạn chếnhững tác động tiêu cực do xuất khẩu lao động mang lại đối với người dân tạiđịa phương

Kết quả nghiên cứu cho thấy thực trạng về số lượng xuất khẩu laođộng tại xã An Đồng huyện Quỳnh Phụ tỉnh Thái Bình là không đông so vớicác xã khác trong huyện, bình quân cứ 11 hộ gia đình thì có 1 hộ gia đình cólao động đi xuất khẩu tương ứng với cứ 43 khẩu thì có 1 khẩu đi xuất khẩulao động Số lượng lao động đi xuất khẩu của xã tăng qua các năm tuy nhiêntốc độ tăng không đồng đều giữa các năm Lượng người đi xuất khẩu laođộng của xã trong giai đoạn 2005 – 2009 chiếm 24,18% tổng số lao độngxuất khẩu của toàn huyện Thực trạng về chất lượng lao động đi xuất khẩunước ngoài cũng không khác gì tình trạng chung của các địa phương khác,lao động đi xuất khẩu đều là lao động phổ thông chưa qua đào tạo, trình độchuyên môn chưa cao, tay nghề thấp, tác phong chậm chạp, tinh thần tráchnhiệm chưa cao, chủ yếu mới qua đào tạo sơ đẳng Thực trạng về độ tuổi vàgiới tính thì phần lớn là lao động nam giới tham gia xuất khẩu chiếm53,22% tổng số Độ tuổi tham gia xuất khẩu lao động chiếm đa số ở lứa tuổi

Trang 4

từ 26 – 30 tuổi, chiếm 49,49% Thực trạng về ngành nghề công việc chủ yếu

là làm việc thủ công, ít hoặc không sử dụng công nghệ kỹ thuật cao như xâydựng, may mặc, giúp việc gia đình, điện tử… thị trường lao động tham giaxuất khẩu không nằm ngoài những thị trường truyền thống của Việt Nam,chủ yếu vẫn là những thị trường như Malaysia, Đài Loan, Hàn Quốc,…

Qua điều tra 60 hộ gia đình chia làm 3 nhóm đối tượng khác nhau:Nhóm 1 là những đối tượng đang đi xuất khẩu lao động chưa về nước;Nhóm 2 là những đối tượng đi xuất khẩu lao động đã về nước; Nhóm 3 lànhững đối tượng không tham gia xuất khẩu lao động Chúng tôi sử dụng matrận SWOT để phân tích các mặt mạnh, mặt yếu, cơ hội và thách thức để tìm

ra những mặt lợi thế của lao động địa phương trong quá trình tham giaXKLĐ làm cơ sở cho việc định hướng và đưa ra các giải pháp cho địa bàn.Đồng thời chúng tôi tiến hành tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến việc raquyết định đi XKLĐ của các hộ gia đình Kết quả điều tra cho thấy có 18yếu tố được chia làm 3 nhóm: nhóm yếu tố kinh tế, nhóm yếu tố xã hội vànhóm yếu tố chính sách có ảnh hưởng đến việc ra quyết định đi XKLĐ của

hộ gia đình

Tiến hành so sánh giữa 3 đối tượng và nhận thấy tác động của xuấtkhẩu lao động đến đời sống của người dân nơi đây là rất lớn và rõ rệt Phân tíchmặt tích cực chúng tôi nhận thấy XKLĐ góp phần giải quyết việc làm cho ngườilao động xã An Đồng, đồng thời tăng thu nhập và nâng cao mức sống cho ngườidân nơi đây Sau khi tham gia XKLĐ về nước hầu như các lao động đều có trình

độ tay nghề nhất định đáp ứng được nhu cầu của nhà tuyển dụng trong nước nênphần lớn lao động khi về nước đều được nhận ngay vào làm việc ở các khu côngnghiệp, số ít do quá tuổi nên tiếp tục tham gia sản xuất nông nghiệp chăm sócgia đình Và khoản tiền mà lao động đi XKLĐ ở nhóm 1 và nhóm 2 thu đượccao hơn rất nhiều so với lao động nhóm 3 Ngoại tệ thu được từ nước ngoài các

hộ chủ yếu sử dụng vào việc sửa sang hoặc xây mới nhà cửa và mua sắm đồdùng sinh hoạt gia đình

Trang 5

Ngoài ra, XKLĐ đã và đang bộc lộ những ảnh hưởng tiêu cực đối vớingười lao động nói riêng và đối với cộng đồng nói chung Phần lớn các hộ đượcđiều tra đều cho rằng sau khi đi XKLĐ về nước những người ở nhà đều cónhững biến đổi nhất định, gia đình bất hòa, gia đình, con cái thiếu người chămsóc, tính bền vững của gia đình bị giảm sút Người đi XKLĐ đặc biệt là đối vớilao động nữ đồng nghĩa với việc con cái ở nhà không ai chăm sóc, cha mẹ giàkhông ai phụng dưỡng Cũng chính từ đó mà gây mất trật tự an ninh xã hội và tỷ

lệ thất nghiệp tự nguyện ngày một gia tăng Thêm vào đó, XKLĐ còn làm chongười lao động chán ruộng không muốn lam lũ như trước nữa

Cuối cùng nghiên cứu của chúng tôi đưa ra một số định hướng và giảipháp nhằm khắc phục những tác động tiêu cực, phát huy những tác động tíchcực nhằm đẩy mạnh công tác XKLĐ góp phần vào công cuộc CNH - HĐHđất nước

Trang 6

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục bảng ix

Danh mục sơ đồ và bảng biểu x

Danh mục các từ viết tắt xi

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ 1

1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2

1.2.1 Mục tiêu chung 2

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2

1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 3

1.4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 3

1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 3

PHẦN II: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG 4

2.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM 4

2.1.1 Khái niệm về xuất khẩu 4

2.1.2 Khái niệm về lao động 4

2.1.3 Khái niệm về xuất khẩu lao động 5

2.2 NGUYÊN NHÂN HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN, ĐẶC ĐIỂM CỦA XKLĐ .6

2.2.1 Nguyên nhân hình thành và phát triển của xuất khẩu lao động 6

2.2.2 Đặc điểm của xuất khẩu lao động 8

2.3 VAI TRÒ VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI XKLĐ 12

2.3.1 Vai trò của xuất khẩu lao động 12

2.3.2 Những vấn đề đặt ra đối với xuất khẩu lao động 14

2.4 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH XKLĐ 17

2.4.1 Việc làm 17

2.3.2 Thu nhập thấp 18

2.4.3 Áp lực của bản thân và gia đình 19

2.4.4 Chính sách 20

2.5 THỰC TRẠNG XKLĐ CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM 21

2.5.1 Tình hình xuất khẩu lao động của một số nước trên thế giới 21

2.5.2 Thực trạng xuất khẩu lao động của Việt Nam 24

2.5.2.1 Hoạt động xuất khẩu lao động tại Việt Nam 24

2.5.2.2 Quy trình xuất khẩu lao động của Việt Nam 27

Trang 7

PHẦN III: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29

3.1 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN 29

3.1.1 Điều kiện tự nhiên 29

3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 29

3.1.2.1 Tình hình đất đai của xã 29

3.1.2.2 Tình hình dân số và lao động của xã 32

3.1.2.3 Kết quả phát triển kinh tế, xã hội của xã An Đồng 35

3.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 38

3.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 38

3.2.2 Phương pháp thu thập số liệu 39

3.2.3 Tổng hợp và xử lý số liệu 39

3.2.4 Phương pháp phân tích số liệu 39

3.2.5 Một số chỉ tiêu phân tích 40

PHẦN IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 41

4.1 TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG TẠI HUYỆN QUỲNH PHỤ 41

4.2 THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG TẠI XÃ AN ĐỒNG 43

4.2.1 Thực trạng về số lượng và chất lưọng lao động đi xuất khẩu ở xã An Đồng 44

4.2.1.1 Thực trạng về số lưtợng lao động đi xuất khẩu ở xã An Đồng 44

4.2.1.2 Thực trạng về chất lượng lao động đi xuất khẩu ở xã An Đồng 47

4.2.2 Thực trạng về độ tuổi và giới tính của người đi xuất khẩu lao động tại xã 49

4.2.2.1 Thực trạng về độ tuổi của lao động đi xuất khẩu ở xã An Đồng 49

4.2.2.2 Thực trạng về giới tính của lao động đi xuất khẩu ở xã An Đồng 51

4.2.3 Thực trạng về ngành nghề và nơi cư trú của LĐXK ở xã An Đồng 2005 – 2009 52

4.2.3.1 Thực trạng về ngành nghề của LĐXK ở xã An Đồng từ 2005 - 2009 52

4.2.3.2 Thực trạng về nơi cư trú của LĐXK ở xã An Đồng từ 2005 - 2009 54

4.3.1 Tình hình chung của các nhóm hộ điều tra 57

4.3.2 Thực trạng về lao động và tình hình thu chi của nhóm hộ điều tra 60

4.3.2.1 Thực trạng về lao động của nhóm hộ điều tra 60

4.3.2.2 Tình hình thu chi của nhóm hộ điều tra tại xã An Đồng 61

4.3.3 Thực trạng về xuất khẩu lao động của nhóm hộ điều tra 64

4.3.3.1 Độ tuổi và giới tính của lao động đi xuất khẩu của nhóm hộ điều tra 65

4.3.3.2 Nơi cư trú của lao động tham gia xuất khẩu lao động của nhóm hộ điều tra 66

4.3.3.3 Hình thức và chi phí tham gia xuất khẩu lao động ở các nhóm hộ điều tra 67

Trang 8

4.3.3.4 Trình độ học vấn, chuyên môn, ngoại ngữ của người XKLĐ nhóm hộ 69

4.4 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC RA QUYẾT ĐỊNH ĐI XUẤT KHẨU CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG 72

4.4.1 Phân tích SWOT trong việc ra quyết định xuất khẩu lao động 72

4.4.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc ra quyết định đi xuất khẩu lao động của hộ 74

4.4.2.1 Nhóm yếu tố kinh tế 74

4.4.2.2 Nhóm yếu tố xã hội 76

4.4.2.3 Nhóm yếu tố chính sách 78

4.5 TÁC ĐỘNG CỦA XKLĐ ĐẾN ĐỜI SỐNG CỦA NGƯỜI DÂN 80

4.5.1 Tác động tích cực 81

4.5.1.1 Giải quyết việc làm 81

4.5.1.2 Tăng thu nhập và nâng cao đời sống của các hộ gia đình 82

4.5.1.3 Nâng cao trình độ chuyên môn và kỹ năng làm việc cho người LĐ 84

4.5.2 Tác động tiêu cực 86

4.5.2.1 Gây bất hoà trong gia đình 86

4.5.1.2 Cha mẹ già không ai phụng dưỡng, con cái thiếu sự chăm sóc 87

4.5.1.3 Ruộng đồng bị bỏ hoang 88

4.5.1.4 Tình hình mất trật tự XHi và tỷ lệ thất nghiệp tự nguyện tăng cao 89

4.6 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CHO VẤN ĐỀ XKLĐ Ở XÃ AN ĐỒNG 91

4.6.1 Một số định hướng cho vấn đề xuất khẩu lao động của xã An Đồng 91

4.6.2 Một số giải pháp điều chỉnh hiện tượng đi xuất khẩu lao động tại xã An Đồng 94

4.6.2.1 Về phía các cơ quan quản lý Nhà nước 94

4.6.2.2 Về phía người lao động 95

PHẦN V: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 97

5.1 KẾT LUẬN 97

5.2 KIẾN NGHỊ 98

5.2.1 Đối với chính quyền địa phương 98

5.2.2 Đối với hộ gia đình có người tham gia xuất khẩu lao động 98

TÀI LIỆU THAM KHẢO 99

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1: Tình hình đất đai của xã An Đồng qua 3 năm 2007 - 2009 31

Bảng 3.2: Tình hình dân số và lao động của xã An Đồng qua 3 năm 2007 -2009 34

Bảng 3.3: Kết quả sản xuất kinh doanh của xã qua 3 năm 2007 - 2009 36

Bảng 3.4: Số lượng mẫu điều tra hộ gia đình 38

Bảng 4.1: Số lượng lao động đi xuất khẩu tại xã An Đồng từ năm 2005 – 2009 45

Bảng 4.2: Số lượng xuất khẩu lao động của xã An Đồng so với huyện Quỳnh Phụ từ năm 2005 – 2009 45

Bảng 4.3: Tỷ lệ quy mô xuất khẩu lao động của xã An Đồng 46

Bảng 4.4 Chất lượng lao động đi xuất khẩu tại xã An Đồng từ 2007 - 2009 48

Bảng 4.5 Cơ cấu lao động xuất khẩu theo độ tuổi của xã An Đồng 2007 -2009 50

Bảng 4.6: Số lượng về giới tính của lao động đi xuất khẩu ở xã An Đồng từ năm 2007 – 2009 52

Bảng 4.7: Ngành nghề của lao động xuất khẩu của xã An Đồng giai đoạn 2005 – 2009 53

Bảng 4.8: Nơi cư trú của lao động xuất khẩu ở xã An Đồng giai đoạn 2005 -2009 54

Bảng 4.9: Tình hình chung về nhóm hộ điều tra 59

Bảng 4.10: Thu nhập của nhóm hộ điều tra 61

Bảng 4.11: Tình hình chi tiêu của nhóm hộ điều tra 63

Bảng 4.12: Nơi cư trú của lao động tham gia xuất khẩu 67

Trang 10

Bảng 4.13: Trình độ học vấn và chuyên môn của lao động tham gia xuất

khẩu 71

Bảng 4 14 : Ảnh hưởng của nhóm yếu tố kinh tế đến quyết định XKLĐ của hộ 75

Bảng 4.15 : Ảnh hưởng của nhóm yếu tố xã hội đến quyết định XKLĐ của các hộ gia đình 77

Bảng 4 16 : Ảnh hưởng của nhóm yếu tố chính sách đến quyết định XKLĐ của các hộ 79

Bảng 4.17: Thu nhập bình quân của các nhóm hộ 83

Bảng 4.18: Việc làm của lao động xuất khẩu sau khi về nước 85

Bảng 4.19: Tài sản mua bằng tiền xuất khẩu lao động của nhóm hộ điều tra 89

DANH MỤC BIỂU ĐỒ VÀ SƠ ĐỒ Sơ đồ 1: Quy trình xuất khẩu lao động Việt Nam trong giai đọan hiện nay 28

Biểu đồ 4.1: Cơ cấu lao động xuất khẩu theo giới tính của xã An Đồng 2005 – 2009 51

Biểu đồ 4.2: Cơ cấu ngành nghề của lao động xuất khẩu ở xã An Đồng 2005 – 2009 54

Biểu đồ 4.3: Cơ cấu nơi cư trú của lao động xuất khẩu ở xã An Đồng 2005 – 2009 56

Biểu đồ 4.4: Mô tả kết quả xuất khẩu lao động của xã An Đồng 2007 – 2009 56

Biểu 4.5: Giới tính tham gia XKLĐ của nhóm hộ điều tra 65

Biểu đồ 4.6: Độ tuổi tham gia XKLĐ của nhóm hộ điều tra tại xã An Đồng 66

Trang 11

Cơ cấuCao đẳngCông nghiệp hóa – hiện đại hóaDịch vụ

Đào tạoĐơn vị tínhĐầu tư trực tiếp nước ngoàiHiệp định chung về thương mại và dịch vụKhông ảnh hưởng

Kinh tế - xã hộiLao động

Trang 12

Số lượngThương binh xã hộiTiểu thủ công nghiệp – Công nghiệpTrung học cơ sở

Trung học phổ thôngThu nhập bình quânThuần nông

Tổ chức thương mại thế giới

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ

1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Trong quá trình toàn cầu hoá nền kinh tế như hiện nay việc người laođộng ra nước ngoài làm việc theo một tổ chức hay cá nhân tự tìm kiếm việclàm là một hiện tượng phổ biến như một tất yếu của xã hội Giải quyết việclàm thông qua xuất khẩu lao động đã trở thành một lĩnh vực hoạt động đemlại lợi ích kinh tế - xã hội quan trọng cho nhiều quốc gia Đặc biệt là tronggiai đoạn hiện nay khi giải quyết việc làm và thất nghiệp đang là một bài toánhóc búa đối với các nền kinh tế Việc tìm kiếm mọi biện pháp nhằm giảiquyết vấn đề việc làm nói chung và xuất khẩu lao động nói riêng đang đượcnhiều nước chú trọng đặc biệt là đối với các nước đang phát triển

Ở Việt Nam với dân số hơn 85 triệu người, trong đó lực lượng lao độngchiếm 60%, tỷ lệ thất nghiệp khoảng 6,3% thì sức ép của tình trạng thiếu việclàm là một vấn đề vô cùng cấp thiết Trước tình hình đó, xuất khẩu lao động là

Trang 13

một hướng đi quan trọng trong việc giải quyết việc làm cho người lao độngtrong nước, giúp họ nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống gia đình Mặt khác,xuất khẩu lao động còn góp phần giải quyết các mục tiêu kinh tế, mục tiêu xãhội, mang lại nguồn thu ngoại tệ cho quốc gia và tạo sự ổn định cho xã hội [5].

Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề xuất khẩu lao động trongviệc giải quyết việc làm và nâng cao thu nhập cho người dân, Đảng và Nhànước ta đã và đang có những chủ trương chính sách nhằm tạo điều kiện cholao động trong nước ra nước ngoài làm việc Xuất phát từ chủ trương chínhsách đó, Đảng uỷ - Ủy ban nhân dân xã An Đồng đã và đang dành sự quantâm đặc biệt cho vấn đề lao động, việc làm nói chung và xuất khẩu lao độngnói riêng nhằm giải quyết việc làm cho lao động tại địa phương

An Đồng là một xã nằm ở phía Đông Bắc của huyện Quỳnh Phụ tỉnhThái Bình – quê hương của chị Hai năm tấn, nổi tiếng với nghề trồng lúanước truyền thống Người dân nơi đây chủ yếu kiếm sống dựa vào làm nôngnghiệp là chính, tuy nhiên trong thời gian gần đây do sự khủng hoảng của nềnkinh tế, giá cả leo thang làm cho cuộc sống của người dân gặp nhiều khó khăn khichỉ dựa vào mấy sào ruộng Thêm vào đó trong quá trình hội nhập của nền kinh tế,xuất khẩu lao động đã phần nào tác động vào cuộc sống của người dân nơi đây

Từ năm 2005 cho đến nay xã đã có gần 700 người đi lao động ở một số nướcnhư Đài Loan, Hàn Quốc, Ucraina, Nhật Bản… [21] và khoản tiền mà mọingười mang về hằng năm là không nhỏ Tuy nhiên những vấn đề bất cập phátsinh từ xuất khẩu lao động cũng là điều đáng được xem xét Vấn đề đặt ra là xuấtkhẩu lao động ở đây đã và đang diễn ra như thế nào và những tác động của nóđến đời sống của người dân nơi đây ra sao thì chưa có một nghiên cứu nào bàn

về nó Chính vì những lí do trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá tác động của xuất khẩu lao động đến đời sống của người dân tại xã An Đồng - huyện Quỳnh Phụ - tỉnh Thái Bình”

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1.2.1 Mục tiêu chung

Trang 14

Trên cơ sở tìm hiểu, đánh giá thực trạng hiện tượng xuất khẩu lao động

và những tác động đến người dân tại địa phương, từ đó đề ra một số giải phápnhằm giải quyết những vấn đề phát sinh trong việc đi xuất khẩu lao động tạiđịa phương

1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu vấn đề này nhằm trả lời những câu hỏi sau:

- Xuất khẩu lao động của xã An Đồng có từ bao giờ và diễn ra như thế nào?

- Những vấn đề đặt ra cho người dân địa phương đối với vấn đề xuất khẩulao động là gì?

- Những yếu tố nào ảnh hưởng đến quyết định đi xuất khẩu lao độngcủa người dân địa phương?

- Tác động của xuất khẩu lao động đến đời sống của người dân như thếnào? Được thể hiện qua những mặt nào?

1.4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu gián tiếp là các vấn đề kinh tế - xã hội liên quanđến hiện tượng xuất khẩu lao động ở địa phương

Trang 15

- Đối tượng nghiên cứu trực tiếp là các hộ gia đình đã và đang có ngườitham gia xuất khẩu lao động ở nước ngoài trên địa bàn xã.

- Phạm vi về không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu các hộ gia đình

đã và đang có người tham gia xuất khẩu lao động tại xã

PHẦN II: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG

2.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM

2.1.1 Khái niệm về xuất khẩu

Quốc gia cũng như cá nhân không thể sống một cách riêng rẽ mà cóđược đầy đủ mọi thứ hàng hoá Việc bán hàng hoá, dịch vụ của quốc gia nàycho quốc gia khác trên cơ sở dùng tiền để thanh toán được gọi là xuất khẩu

Mục đích của xuất khẩu là khai thác được lợi thế của từng quốc giatrong phân công lao động quốc tế Dựa trên cơ sở là sự phát triển hoạt độngmua bán hàng hoá trong nước, hơn bao giờ hết xuất khẩu đã và đang diễn ramạnh mẽ cả về chiều rộng lẫn chiều sâu trong tất cả các ngành, các lĩnh vực,dưới mọi hình thức đa dạng và phong phú cả về hàng hoá hữu hình và hànghoá vô hình với mục tiêu nhằm đem lại lợi ích cho tất cả các bên tham gia

Có hai hình thức xuất khẩu chủ yếu là xuất khẩu trực tiếp và xuất khẩu gián

Trang 16

tiếp Xuất khẩu trực tiếp là việc nhà sản xuất trực tiếp tiến hành các giaodịch với khách hàng nước ngoài thông qua các tổ chức của mình Xuất khẩugián tiếp là việc nhà sản xuất thông qua các dịch vụ của các tổ chức độc lậpđặt ngay tại các nước xuất khẩu để tiến hành xuất khẩu các hàng hoá dịch vụcủa mình ra nước ngoài Ngoài ra còn có một số hình thức xuất khẩu khácnhư xuất khẩu tại chỗ, xuất khẩu theo nghị định thư (xuất khẩu trả nợ), giacông quốc tế, tái xuất khẩu… [6]

2.1.2 Khái niệm về lao động

Theo từ điển Tiếng Việt, lao động là hoạt động có mục đích của conngười nhằm tạo ra những của cải vật chất, tinh thần cho xã hội [19]

Theo giáo trình kinh tế chính trị Mác – Lênin, lao động là hoạt động cómục đích, có ý thức của con người nhằm thay đổi những vật thể tự nhiên chophù hợp với nhu cầu của con người [4]

Như vậy, lao động chính là hoạt động có mục đích, có ý thức của conngười nhằm thay đổi những vật thể tự nhiên, biến đổi tự nhiên để phù hợp vớimục đích nhất định của mình Lao động là sự vận động của sức lao động, làquá trình kết hợp giữa sức lao động và tư liệu sản xuất tạo ra của cải vật chấtcho xã hội, lao động là yếu tố chủ yếu của hoạt động sản xuất kinh doanh.[11]

2.1.3 Khái niệm về xuất khẩu lao động

Xuất khẩu lao động (XKLĐ) là một trong những chính sách lớn củaNhà nước ta Trong những năm gần đây Nhà nước ta luôn tạo điều kiện thuậnlợi để công dân Việt Nam có đủ điểu kiện đi làm việc ở nước ngoài, Nhà nướcluôn bảo hộ quyền lợi và lợi ích hợp pháp cho những người lao động, các tổchức sự nghiệp, những doanh nghiệp đi làm việc ở nước ngoài XKLĐ vừa làmột chính sách vừa mang tính kinh tế, vừa mang tính xã hội giữ vai trò quantrọng không chỉ đối với người lao động, các doanh nghiệp mà còn đối vớiNhà nước và xã hội Hiện nay chưa có một khái niệm chuẩn nào về XKLĐ.Đây là một trong những thuật ngữ được tiếp cận dưới nhiều góc độ khácnhau

Trang 17

Hiểu theo nghĩa rộng, XKLĐ là việc đưa người lao động sang làm việctại nước ngoài Theo nghĩa hẹp XKLĐ được hiểu là hoạt động trao đổi, muabán hay thuê mướn hàng hoá sức lao động giữa chính phủ một quốc gia hay tổchức, cá nhân cung ứng sức lao động của nước đó với chính phủ, tổ chức, cánhân sử dụng sức lao động nước ngoài trên cơ sở hiệp định hay hợp đồng cungứng lao động Khi hoạt động XKLĐ được thực hiện sẽ có sự di chuyển lao động

có thời hạn và có kế hoạch từ một nước sang một nước khác Trong hành vi traođổi này, nước đưa lao động đi được coi là nước XKLĐ, nước tiếp nhận sức laođộng được coi là nước nhập khẩu lao động Trên thực tế có trường hợp xuất hiệnvai trò của nước thứ ba làm nhiệm vụ trung gian, môi giới hoặc kinh doanh [6]

Theo tổ chức lao động quốc tế (ILO) thì XKLĐ là hoạt động kinh tếcủa một quốc gia thực hiện việc cung ứng lao động cho một quốc gia kháctrên cơ sở những hiệp định hoặc hợp đồng có tính chất pháp quy được thốngnhất giữa các quốc gia đưa và nhận lao động Trong nền kinh tế thị trường,XKLĐ là một hoạt động kinh tế đối ngoại, mang đặc thù của xuất khẩu nóichung Thực chất XKLĐ là một hình thức di cư quốc tế Tuy nhiên, đây chỉ là

sự di cư tạm thời và hợp pháp [6]

Theo chỉ thị số 41 – CT/TW ngày 29/09/1998 của Bộ chính trị cho rằngXKLĐ được hiểu là việc đưa lao động và chuyên gia Việt Nam đi làm việc có thờihạn ở nước ngoài Đây là một hoạt động kinh tế – xã hội của Nhà nước nhằm gópphần phát triển nguồn nhân lực, giải quyết việc làm, tăng thu nhập và nâng cao trình

độ tay nghề cho người lao động, tăng nguồn thu nhập ngoại tệ cho đất nước, đồngthời tăng cường mối quan hệ hợp tác giữa nước ta với các nước trên thế giới [7]

Như vậy, có thể nói rằng XKLĐ là hoạt động xuất khẩu đặc biệt trong đóhàng hoá được được bán là sức lao động của con người, chính vì vậy Nhà nước,doanh nghiệp XKLĐ cũng như chính bản thân người lao động cần hết sức chú ýđến hoạt động này, nó không chỉ mang lại thu nhập cho người lao động mà cònđóng vai trò vô cùng quan trọng trong sự phát triển của mỗi quốc gia

Trang 18

2.2 NGUYÊN NHÂN HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦAXUẤT KHẨU LAO ĐỘNG

2.2.1 Nguyên nhân hình thành và phát triển của xuất khẩu lao động

Trong tác phẩm “Phép biện chứng tự nhiên”, F.Ăng - ghen đã viết:

“Con người sống lan rộng ra tất cả những nơi nào có thể được và con người làloại động vật duy nhất làm được điều đó một cách độc lập và tự chủ” Ngay từbuổi bình minh của loài người đã xuất hiện sự di chuyển của nguồn lao độngđến những miền đất tốt đẹp hơn [4] Như vậy, sự di chuyển lao động quốc tế

từ nước này sang nước khác thể hiện tính tất yếu và tác dụng tiến bộ của lịch

sử Chính sự phân bố không đồng đều về dân cư, về điều kiện tự nhiên (tàinguyên, khí hậu) và sự bùng nổ dân số trên thế giới đã hình thành luồng dichuyển lao động ở những nước kinh tế chậm phát triển đến những nước cóđời sống kinh tế khá hơn, lao động ở nước nghèo tài nguyên di chuyển đếnnhững nước có điều kiện thiên nhiên thuận lợi, dân cư ở nước có mật độ cao

di chuyển đến những nước có mật độ dân cư thấp Như vậy, việc di chuyểnlao động trước hết là một hiện tượng khách quan trong quá trình làm việc củabản thân người lao động

Ngoài ra, XKLĐ còn bị chi phối bởi các yếu tố chủ quan khác như:chính sách của quốc gia, ý chí của Nhà nước, của các tổ chức cung ứng

và tiếp nhận lao động

Phân tích cụ thể, ta thấy những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự hìnhthành và phát triển XKLĐ là do:

Thứ nhất, do có sự mất cân đối về số lượng lao động, khi nguồn lao

động một nước không đáp ứng đủ hoặc vượt quá nhu cầu sử dụng trong nước

Sự dư thừa lao động, vượt quá nhu cầu sử dụng trong nước của một nước cóthể là do nước đó có tỷ lệ phát triển dân số cao nền sản xuất trong nước lạchậu, kém phát triển nên nhu cầu sử dụng lao động thấp hoặc do nước đó có sựchuyển đổi cơ chế kinh tế mà trong giai đọan chuyển tiếp nền kinh tế chưa thểphù hợp ngay với cơ chế mới nên đã giảm sút nghiêm trọng, sản xuất bấp

Trang 19

bênh, số lao động dư thừa tăng nhanh Trong khi đó, nhiều nước có nền kinh

tế phát triển nhanh, nhu cầu sử dụng lao động lớn trong khi tốc độ tăng dân sốlại quá thấp nên đã xảy ra hiện tượng thiếu lao động

Thứ hai, do có sự mất cân đối về cơ cấu ngành nghề nhất định mà

trong nước không có hoặc không đủ Ví dụ: ở một số nước phát triển rấtthiếu lao động trong các ngành nặng nhọc, độc hại còn ở nước nghèo lạithiếu các chuyên gia, cán bộ kỹ thuật có trình độ cao Trong khi trình độphát triển kinh tế và tiến bộ khoa học kỹ thuật của mỗi quốc gia không thểgiải quyết hết sự mất cân bằng này, đòi hỏi phải có sự trao đổi lao độngvới các quốc gia khác Hành vi trao đổi này dẫn đến sự ra đời và pháttriển của XKLĐ

Thứ ba, do có sự chênh lệch giá cả sức lao động trong nước và sức lao

động nước ngoài Nhiều nước mặc dù không dư thừa lao động cũng tiến hànhXKLĐ vì có lợi cho cán cân thanh toán do họ có được những hợp đồngXKLĐ có giá cao và bù lại họ nhập khẩu lao động từ những nước có giá cảthấp hơn Điều này lý giải vì sao có những nước vừa nhập khẩu lại vừaXKLĐ như: Cuba, Malaysia, Bungari

Thứ tư, do có sự chênh lệch về mức thu nhập và mức sống giữa người

lao động trong nước và người lao động đi làm việc ở nước ngoài Vì lý do này

mà nhiều người dù không thuộc đội quân thất nghiệp nhưng vẫn muốn điXKLĐ để tăng thêm thu nhập, cải thiện đời sống cho bản thân và gia đình

Thứ năm, do xu hướng quốc tế hoá đời sống kinh tế, lực lượng sản xuất

phát triển, nền sản xuất lớn không thể bó hẹp trong phạm vi biên giới quốc gia

mà mở rộng ra nhiều nước, việc sử dụng lao động mang tính quốc tế Hơnnữa, việc tăng cường xuất khẩu công nghệ, bao thầu công trình quốc tế sẽ tấtyếu kèm theo việc phát triển XKLĐ

2.2.2 Đặc điểm của xuất khẩu lao động

Không như xuất khẩu các loại hàng hoá khác, XKLĐ là một hoạtđộng xuất khẩu hàng hoá đặc biệt vì hàng hoá xuất khẩu là sức lao động

Trang 20

của con người, mà sức lao động gắn liền với con người là chủ thể mọi hoạtđộng sản xuất, có tư duy và khả năng làm chủ bản thân Cho nên trong hiệpđịnh hay hợp đồng cung ứng lao động, ngoài những điều khoản chung cònphải đề cập đến đời sống chính trị, văn hoá, tinh thần, sinh hoạt của ngườilao động Những điều này bị chi phối bởi phong tục, tập quán, tôn giáo, vănhoá của các quốc gia tham gia vào lĩnh vực này Do đó, xuất nhập khẩu laođộng có một số đặc điểm đặc biệt sau:

* XKLĐ mang tính tất yếu khách quan

XKLĐ diễn ra chủ yếu là do giữa các nước trên thế giới có sự chênh lệch

về kinh tế - xã hội Những nước giàu có nền kinh tế phát triển mạnh thường cónhiều lao động có tay nghề cao, nhiều chuyên gia giỏi có trình độ cao mà lạithiếu những lao động phổ thông, lao động cho những công việc vất vả, nặngnhọc, độc hại hoặc những công việc có thu nhập thấp so với thu nhập chungcủa xã hội Điều ngược lại lại diễn ra tại những quốc gia nghèo đang phát triển,nơi mà dân số đông nên rất dồi dào về lao động song do nền kinh tế chậm pháttriển nên trình độ lao động còn thấp chủ yếu là lao động đơn giản thủ công làchính cộng thêm với thu nhập thấp, thiếu việc làm, thiếu hụt những chuyên giagiỏi có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao Và do đó, lao động từ chỗ dư thừa sẽchảy về chỗ thiếu hụt như một quy luật tất yếu Sự di chuyển lao động nàycũng tuân theo quy luật cung - cầu của nền kinh tế thị trường

* XKLĐ là một hoạt động xuất khẩu đặc biệt

Trong hoạt động XKLĐ, người lao động sẽ đem bán sức lao động củamình cho chủ sử dụng lao động ở nước ngoài và nhận về một khoản tiền công

là tiền lương được trả Chính vì sức lao động là một hàng hoá đặc biệt nêntính chất của XKLĐ không chỉ đơn thuần như hoạt động xuất khẩu hàng hoáthông thường, tranh chấp về những hàng hoá xuất khẩu giữa các nước đã khógiải quyết bao nhiêu thì tranh chấp và những vi phạm trong việc XKLĐ giữacác nước lại càng khó giải quyết và khó xử lý hơn rất nhiều

* XKLĐ là một hoạt động kinh tế mang tính lợi ích cao

Trang 21

Ở nhiều nước trên thế giới, XKLĐ là một trong những giải pháp quantrọng thu hút lực lượng lao động đang tăng lên của nước họ và thu ngoại tệ bằnghình thức chuyển tiền về nước của người lao động và các lợi ích khác Những lợiích này đã buộc các nước xuất khẩu phải chiếm lĩnh ở mức cao nhất thị trườnglao động ở nước ngoài, mà việc chiếm lĩnh được hay không lại dựa trên quan hệcung cầu sức lao động - nó chịu sự điều tiết, sự tác động của các quy luật củakinh tế thị trường Bên cung phải tính toán mọi hoạt động của mình làm sao để

bù đắp được chi phí và có phần lãi vì vậy cần phải có cơ chế thích hợp để tăngkhả năng tối đa về cung lao động Bên cầu cũng phải tính toán kỹ lưỡng hiệu quảcủa việc nhập khẩu lao động Như vậy, việc quản lý Nhà nước, sự điều chỉnhpháp luật luôn luôn bám sát đặc điểm này của hoạt động XKLĐ làm sao để mụctiêu kinh tế phải là mục số một của mọi chính sách pháp luật về XKLĐ

XKLĐ mang lại một khoản thu cho ngân sách Nhà nước nhờ khoảnthuế thu từ hoạt động của các công ty, doanh nghiệp XKLĐ

Đối với các doanh nghiệp, công ty XKLĐ hoạt động XKLĐ mang lạilợi nhuận trước hết cho nhân viên của doanh nghiệp nhờ vào các khoản thu từchi phí đưa người đi lao động đi làm việc ở nước ngoài như phí môi giới, phíđào tạo… sau đó là mang lại lợi ích cho chủ doanh nghiệp nhờ khoản lợinhuận thu được từ hoạt động của doanh nghiệp

Đối với người đi XKLĐ và người thân của họ khoản lợi ích mà họ nhậnđược chính là khoản tiền lương mà họ nhận được và gửi về nước cho ngườithân Một lợi ích nữa là mà họ nhận được từ việc đi XKLĐ là được nâng caotrình độ tay nghề, ý thức lao động, kỷ luật cho bản thân họ điều mà khi ởtrong nước họ không thể có được

Không chỉ mang lại lợi ích lớn cho các quốc gia đưa lao động đi xuất khẩu

mà đối với các nước tiếp nhận hoạt động này cũng mang lại những lợi ích khôngnhỏ Trước tiên là nó bù đắp được một khối lượng lao động đang bị thiếu hụt ởnhững nước này Kế đến là khoản tiền lương phải trả cho lao động nước ngoàicũng thấp hơn so với lao động trong nước nên tiết kiệm được một khoản chi phí

Trang 22

* XKLĐ là một hoạt động thể hiện rõ tính chất xã hội

Thực chất, XKLĐ không tách rời khỏi người lao động Do vậy, mọichính sách pháp luật trong lĩnh vực XKLĐ phải kết hợp với các chính sách xãhội Phải đảm bảo làm sao để người lao động ở nước ngoài được lao động nhưcam kết trong hợp đồng lao động, cũng như đảm bảo các hoạt động côngđoàn… hơn nữa, người lao động xuất khẩu dẫu sao cũng chỉ có thời hạn, dovậy, cần phải có những chế độ tiếp nhận và sử dụng người lao động sau khi

họ hoàn thành hợp đồng lao động ở nước ngoài và trở về nước

Bên cạnh đó, việc XKLĐ giúp cho các quốc gia giải quyết được phần nàohạn chế của thị trường lao động như giải quyết việc làm cho những lao động dưthừa, giảm thiểu thất nghiệp ở những quốc gia đưa lao động đi xuất khẩu và giảiquyết được tình trạng thiếu hụt lao động ở những nước tiếp nhận Hoạt động XKLĐkhông chỉ đơn giản là đem sức lao động của người lao động từ nước này sang nướckhác, biên giới giữa các quốc gia không chỉ là mốc ngăn cách các quốc gia với nhau

mà còn ngăn cách cả nền văn hoá, lối sống, tín ngưỡng, phong tục, tập quán… củacác quốc gia đó Chính vì lẽ đó hoạt động XKLĐ cũng kèm theo nó là một loạtnhững xáo trộn về xã hội của nước XKLĐ và nơi tiếp nhận lao động xuất khẩu

XKLĐ cũng góp phần cải thiện đời sống của nhân dân thông qua khoảnthu nhập mà người lao động gửi tiền về cho gia đình và người thân Đây cũng

là một trong những biện pháp hiệu quả để thực hiện chương trình xoá đóigiảm nghèo cho nhân dân của Đảng và Nhà nước ta

* XKLĐ diễn ra trong một môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt

Cũng như mọi hoạt động kinh tế khác, hoạt động XKLĐ cũng đặttrong môi trường cạnh tranh gay gắt Sự cạnh tranh gay gắt trước hết là từphía những người lao động với nhau Bởi số lượng người lao động đượcchọn đi xuất khẩu sang các nước là có hạn trong khi số lượng người laođộng muốn đi xuất khẩu lại lớn Bên cạnh đó, sự cạnh tranh gay gắt này còndiễn ra giữa những doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực XKLĐ để sao chothu được nhiều lợi nhuận nhất, hoạt động sao cho có hiệu quả nhất Họ phải

Trang 23

cạnh tranh nhau khi cùng xuất khẩu vào một thị trường, cùng hoạt động trênmột địa bàn Sự cạnh tranh nhau còn diễn ra trên toàn thế giới chứ khônghạn hẹp trong phạm vi của một quốc gia khi mà nhiều nước trên thế giớicùng cố gắng thúc đẩy hoạt động XKLĐ.

Tính gay gắt trong cạnh tranh của XKLĐ xuất phát từ hai nguyênnhân chủ yếu Một là, XKLĐ mang lại lợi ích kinh tế khá lớn cho các nướcđang có khó khăn về giải quyết việc làm Do vậy, đã buộc các nước XKLĐphải cố gắng tối đa để chiếm lĩnh thị trường ngoài nước Nghĩa là, họ phảiđầu tư nhiều cho chương trình marketing, cho chương trình đào tạo, tập

huấn nhằm tăng giá trị sử dụng của sức lao động Hai là, XKLĐ đang diễn

ra trong môi trường suy giảm kinh tế trong khu vực Nhiều nước trước đâythu nhận nhiều lao động nước ngoài như Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan vàmột số thị trường các nước Châu Phi…cũng đang phải đối đầu với tỷ lệthất nghiệp ngày càng gia tăng Mặt khác các thị trường trọng điểm nhậpnhiều lao động đã bị các nước khác chiếm lĩnh từ nhiều năm trước Điềunày hạn chế rất lớn đến việc tiếp nhận lao động nước ngoài trong thời gian

từ 5 - 10 năm đầu của thế kỷ XXI

Như vậy, các chính sách và pháp luật của Nhà nước cần phải lườngtrước được tính chất gay gắt trong cạnh tranh XKLĐ để có chương trình dàihạn cho marketing, đào tạo nguồn lao động chất lượng cao để xuất khẩu

* XKLĐ là một hoạt động đầy biến đổi

Sự biến đổi này được thể hiện trước hết là hoạt động xuất khẩu phụ thuộcvào nước có nhu cầu nhập khẩu lao động và nước XKLĐ Chỉ có những nước cónền kinh tế cao và thiếu lao động thì mới có khả năng nhập khẩu lao động, đồngthời chỉ có những nước đã chuẩn bị được đội ngũ lao động có tay nghề thích hợpmới có điều kiện thuận lợi trong việc chiếm lĩnh thị trường lao động ở nước ngoài

Bên cạnh đó, XKLĐ còn biến đổi theo các chính sách phát triển củamỗi quốc gia XKLĐ là một hoạt động có liên quan đến mối quan hệ hợp tácgiữa các quốc gia với nhau bởi thế chính sách của mỗi quốc gia thay đổi có

Trang 24

tác động trực tiếp đến hoạt động này Chính sách, pháp luật của quốc gia đưalao động đi xuất khẩu và nước tiếp nhận xuất khẩu quyết định đến sự khuyếnkhích hay hạn chế XKLĐ Ví dụ một quốc gia đưa ra chính sách hạn chếlượng người nước ngoài nhập cư thì ngay lập tức sẽ hạn chế hoạt động xuấtkhẩu của những nước có lao động đi làm việc tại nước này và ngược lại [10].

2.3 VAI TRÒ VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI XUẤT KHẨU LAO

ĐỘNG

2.3.1 Vai trò của xuất khẩu lao động

XKLĐ đóng vai trò hết sức quan trọng trong tiến trình phát triển của mỗiquốc gia đặc biệt là những nước có nền kinh tế chậm và đang phát triển như ViệtNam Với ý nghĩa đó trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 – 2010Đảng ta đã xác định: “ Giải quyết việc làm là yếu tố quyết định để phát huy nhân

tố con người, ổn định và phát triển kinh tế, nhằm làm lành mạnh hoá văn hoá xãhội, đáp ứng nguyện vọng chính đáng và yêu cầu bức xúc của nhân dân”… “ Đẩymạnh XKLĐ, xây dựng và thực hiện đồng bộ chặt chẽ cơ chế chính sách về đàotạo nguồn lao động, đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài và tăng cường bảo vệquyền lợi, uy tín của người lao động Việt Nam ở nước ngoài” [11] Trong đó,Đảng và Nhà nước đã xác định rõ vai trò to lớn của việc XKLĐ Cụ thể như sau:

Trước hết, về mặt xã hội XKLĐ có vai trò đặc biệt trong việc giải quyếtviệc làm và ổn định thị trường lao động Đối với các quốc gia có nền kinh tếchưa phát triển khối lượng việc làm tạo ra trong xã hội là rất hạn chế so vớikhối lượng lao động trong độ tuổi rất dồi dào của họ bởi vậy thất nghiệp vàgiải quyết việc làm luôn là vấn đề đau đầu của các nhà lãnh đạo quốc gia

Ở Việt Nam, hiện nay có gần 700.000 lao động và chuyên gia làm việctại trên 40 quốc gia có nền kinh tế và vùng lãnh thổ với nhiều nhóm ngànhnghề khác nhau Theo cục Quản lý lao động ngoài nước và Bộ Lao độngthương binh – Xã hội, năm 2007 Việt Nam đã đưa được 85.000 lao động đixuất khẩu ở các nước trên thế giới, năm 2008 con số xuất khẩu lao động đãtăng lên đến 87.000 người trong khi đó kế hoạch đề ra là 85.000 người vượt

Trang 25

so với kế hoạch là 2,35% có thể nói đây là năm thành công nhất của xuất khẩulao động Việt Nam, đến năm 2009 do khủng hoảng của nền kinh tế toàn cầucon số này đã giảm xuống rất nhiều, Việt Nam chỉ xuất khẩu được 75.000 laođộng sang các nước trong khi chỉ tiêu đặt ra là 90.000 lao động [3] Tuynhiên, với những con số ấn tượng như trên chúng ta có thể thấy rằng XKLĐ

đã giải quyết được việc làm cho khối lượng lớn lao động, tỷ lệ lao động đượcxuất khẩu trong tổng số lao động được giải quyết việc làm trong giai đoạn

2001 – 2005 khoảng 3,5% và giai đoạn 2006 – 2009 là 4,97%

Tuy chưa phải là một con số cao song chỉ vậy thôi cũng cho thấy rằngXKLĐ đã góp phần đáng kể vào việc giải quyết việc làm cho nước ta trongthời gian qua Còn đối với các quốc gia nhập khẩu lao động thì việc nhậnthêm lao động sẽ giúp họ giải quyết được tình trạng thiếu hụt lao động trongnhững ngành nghề mà lao động trong nước không muốn làm hoặc không đápứng được nhu cầu về lao động do nguồn lao động trong nước ít

Không chỉ đơn thuần mang tính chất giải quyết việc làm cho số lao động

dư thừa mà XKLĐ còn đóng góp phần lớn vào công cuộc xoá đói giảm nghèocủa đất nước nhờ có khoản thu nhập cao hơn rất nhiều mức lương trong nước,điển hình như thu nhập bình quân của lao động tại Malaysia là 2 – 3 triệuđồng/tháng, tại Đài Loan là 300 – 500 USD/tháng, tại Hàn Quốc là 900 – 1000USD/tháng [5]

XKLĐ là một chính sách mà Nhà nước dùng làm kênh hạn chế các vấn đềnảy sinh trong xã hội có thể xảy ra như thất nghiệp, các tai tệ nạn xã hội… Hoạtđộng XKLĐ cũng là cầu nối để các quốc gia tăng cường quan hệ hợp tác về mọimặt, giúp cho sự giao lưu giữa các nền văn hoá trên thế giới ngày càng được mởrộng, thắt chặt mối quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và các nước trên thế giới

Quan trọng hơn cả XKLĐ có vai trò đặc biệt trong phát triển kinh tế.Với con số ngoại tệ gửi về nước mỗi năm lên đến 1.5 tỷ USD [6] XKLĐ ởViệt Nam đã trở thành một trong những ngành nghề mang lại nguồn thu ngoại

tệ cao cho quốc gia Không dừng lại ở đó, XKLĐ còn góp phần làm tăng thu

Trang 26

ngân sách Nhà nước nhờ những khoản thuế thu từ hoạt động của các doanhnghiệp XKLĐ và từ khoản ngoại tệ lao động gửi về nước Đồng thời, XKLĐcòn giúp các doanh nghiệp làm XKLĐ thu được một khoản lợi nhuận đáng kể

để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của mình XKLĐ còn là mộttrong những công cụ hữu hiệu cho việc chuyển giao công nghệ tiên tiến hiệnđại của nước ngoài thông qua quá trình đào tạo và làm việc ở nước ngoài củangười lao động Thông qua đó quốc gia có lao động đi xuất khẩu sẽ có đượcđội ngũ lao động có tay nghề và trình độ cao, có tác phong công việc và ýthức kỷ luật cao Bên cạnh đó đời sống của người lao động và người thântrong gia đình họ cũng được cải thiện rõ rệt Như vậy, XKLĐ vừa trực tiếp lạivừa gián tiếp góp phần thúc đẩy sự phát triển và ổn định xã hội

2.3.2 Những vấn đề đặt ra đối với xuất khẩu lao động

Một trong những thành tựu lớn của các cuộc đàm phán phương mại đaphương của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) là đã đưa được dịch vụ vào hệthống thương mại thế giới trong vòng đàm phán Urugoay (1986 - 1993) thôngqua Hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATS), có hiệu lực từ ngày01/01/1995 và đã đạt được các cam kết đầu tiên thông qua các cuộc đàm phán

mở rộng giữa các nước thành viên WTO Sự ra đời của GATS không chỉ có tácđộng thúc đẩy tự do hóa thương mại toàn cầu mà còn có ảnh hưởng lớn tới lĩnhvực lao động - việc làm của các quốc gia, trong đó có vấn đề di chuyển quốc tếcủa người lao động Sự liên quan trực tiếp của GATS tới sự tự do di chuyển củangười lao động giữa các quốc gia là qui định về “tự do hóa sự di chuyển của conngười để cung cấp dịch vụ giữa các thành viên WTO” của GATS [17]

Với tư cách là thành viên WTO, Việt Nam chịu tác động, ảnh hưởng củacác quy định chung được áp dụng cho hoạt động thương mại toàn cầu của WTO.Việt Nam đã thực hiện đưa người lao động ra nước ngoài làm việc từ những năm

1980 nhưng vấn đề di chuyển con người để cung cấp dịch vụ vẫn còn rất mới,được đề cập đến trong thời gian gần đây gắn với quá trình gia nhập WTO củaViệt Nam Chính vì vậy mà đến nay, cũng như nhiều nước trên thế giới, ViệtNam cũng chưa có sự phân biệt chính thức, rõ giữa nhà cung cấp dịch vụ vàngười lao động xuất khẩu Các văn bản pháp luật thời gian qua cũng chỉ điềuchỉnh chung hoạt động đưa người lao động và chuyên gia Việt Nam ra nước

Trang 27

ngoài làm việc Người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo các công việc,ngành nghề, lĩnh vực khác nhau, trong đó được gọi chung là lao động haychuyên gia xuất khẩu Thực tế đó đã gây khó khăn cho việc xác định trường hợpnào người thuộc diện di chuyển con người để cung cấp dịch vụ và trường hợpnào thuộc diện xuất khẩu lao động [17].

Từ tình hình nêu trên, theo chúng tôi một số vấn đề sau đây cần đượcquan tâm, nghiên cứu trong quá trình xây dựng chính sách quản lý và điều tiếthoạt động thương mại quốc tế cũng như lĩnh vực lao động và việc làm, trong

đó có hoạt động xuất khẩu lao động của Việt Nam thời gian tới như sau:

Thứ nhất, phân biệt rõ hai hình thức xuất khẩu lao động và di chuyển con

người để cung cấp dịch vụ trong hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làmviệc ở nước ngoài hiện nay Trên cơ sở đó, sớm đầu tư nghiên cứu xây dựng cácquy định riêng rẽ cho từng hình thức, tránh tạo ra những rào cản không cần thiếttrong quan hệ thương mại cũng như hợp tác lao động của Việt Nam với cácnước Trước mắt, trong khi thực hiện Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc

ở nước ngoài theo hợp đồng cần hướng tới việc quy định, phân tách riêng hainhóm đối tượng chính là lao động thuộc diện di chuyển con người để cung cấpdịch vụ theo GATS Về lâu dài, nghiên cứu xây dựng các văn bản luật điềuchỉnh riêng cho từng nhóm đối tượng này để phù hợp với các quy định trongWTO cũng như tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy hoạt động xuất khẩu lao độngcủa Việt Nam, phát huy được lợi thế về nguồn lao động dồi dào khi Việt Namtham gia mạnh mẽ hơn vào quá trình phân công lao động quốc tế Song song vớiquá trình này, cần cập nhật và thống kê riêng hoạt động của hai nhóm đối tượngnày để tránh sự trùng lặp, tạo điều kiện thuận lợi cho việc nghiên cứu, đánh giáhiệu quả kinh tế - xã hội của các nhóm lao động này đem lại cho đất nước trongquá trình hội nhập kinh tế quốc tế

Thứ hai, với tư cách là thành viên WTO, trong các cuộc đàm phán về tự

do hóa thương mại dịch vụ trong WTO, Việt Nam cần tranh thủ sự đồngthuận của các quốc gia đang phát triển, nhất là các nước đang xuất khẩu laođộng đối với các đề xuất, cam kết của Việt Nam về tự do hóa của GATS,đồng thời ủng hộ ý kiến của nhóm nước này về yêu cầu các thành viên, nhất

là các nước phát triển dỡ bỏ rào cản đối với quá trình tự do hóa di chuyển củalao động, nhất là lao động trình độ thấp như yêu cầu về kinh nghiệm, kiểm tranhu cầu kinh tế, hạn chế thị thực, hạn chế thời gian lưu trú hoặc công nhận tay

Trang 28

nghề lẫn nhau trong khu vực và của các ngành trên phạm vi toàn cầu để có cơhội đưa ra được những quy định, ý kiến có lợi cho Việt Nam với các nước đểtạo điều kiện thuận lợi cho người lao động Việt Nam dễ dàng tiếp cận thịtrường lao động các nước này cũng như thị trường lao động quốc tế, góp phầngia tăng lợi ích quốc gia khi tham gia vào quá trình phân công lao động toàncầu Để thực hiện được những điều này, vấn đề cần thiết đặt ra là phải nhanhchóng đổi mới phương pháp giáo dục hướng nghiệp và đào tạo, dạy nghề hiệnnay ở Việt Nam theo hướng tăng cường thực hành, thực nghiệm, tiếp cận với

hệ thống tiêu chuẩn bằng cấp, trình độ tay nghề của khu vực và thế giới Do

đó, cần tăng cường sự phối hợp, liên kết, liên doanh giữa các trường học, các

cơ sở đào tạo dạy nghề với các cơ sở sản xuất, các doanh nghiệp, các việcnghiên cứu, trung tâm ứng dụng khoa học của Việt Nam và nước ngoài tạiViệt Nam trong giáo dục đào tạo, dạy nghề; đẩy mạnh sự hợp tác quốc tế, liênkết, liên doanh với các đối tác nước ngoài trong việc đào tạo và dạy nghề,công nhận trình độ, bằng cấp, chứng chỉ tay nghề cho lao động Việt Nam đểphù hợp với các tiêu chuẩn khu vực và quốc tế

Thứ ba, nới lỏng hay hạn chế sự di chuyển quốc tế của người lao động

Việt Nam theo các cam kết quốc tế không chỉ có các tác động, ảnh hưởng trựctiếp đến lợi ích của người lao động mà còn liên quan đến các lĩnh vực chínhtrị, kinh tế, xã hội, anh ninh của đất nước Do đó, cam kết tự do hóa đầy đủcủa GATS hay thực hiện chiến lược đẩy mạnh xuất khẩu lao động của ViệtNam cần dựa trên chiến lược phát triển kinh tế - xã hội tổng thể trong từnggiai đoạn, phù hợp với sự phát triển của đất nước trong từng thời kỳ và phảigắn với các vấn đề kiểm soát sự di chuyển tự do lao động qua biên giới, lợiích cộng đồng và an ninh quốc gia Vì vậy, song song với việc thực hiện camkết quốc tế về và đẩy mạnh xuất khẩu lao động, cần có những điều chỉnh hợp

lý, kịp thời các chính sách phát triển kinh tế - xã hội vĩ mô để tạo ra sự cânbằng cung - cầu trên thị trường lao động trong nước, ảnh hưởng xấu đến môitrường đầu tư của Việt Nam Thực hiện chính sách thu hút nhân tài, khuyếnkhích người lao động Việt Nam khi ra nước ngoài làm việc chú ý học tập, tiếpthu các kiến thức khoa học công nghệ tiên tiến của nước ngoài về phục vụphát triển kinh tế - xã hội đất nước, có chính sách khuyến khích và sử dụnghợp lý họ sau khi hết hợp đồng lao động ở nước ngoài về nước nhằm tránhlãng phí tài nguyên Song song với đó, quản lý, giám sát chặt chẽ và tăng

Trang 29

cường kiểm tra, thanh tra hoạt động đưa người Việt Nam ra nước ngoài làmviệc, áp dụng các chế tài xử lý nghiêm khắc, công minh đối với các trườnghợp vi phạm pháp luật Việt Nam trong hoạt động này nhằm đảm bảo quyền tự

do di chuyển để tìm việc làm của người lao động, phát huy hiệu quả kinh tế

-xã hội của việc thực hiện các cam kết tự do của GATS hay đẩy mạnh xuấtkhẩu lao động, hạn chế tình trạng chảy máu chất xám của Việt Nam, đảm bảo

an ninh và trật tự xã hội cũng như các lợi ích khác của cộng đồng, nhất là đốivới tầng lớp lao động nghèo, người lao động ở vùng sâu, vùng xa

2.4 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG

2.4.1 Việc làm

Việt Nam là một nước có nền kinh tế nông nghiệp, lực lượng lao độngtập trung chủ yếu ở nông thôn Vì vậy, vấn đề lao động và việc làm ở nôngthôn vốn tồn tại nhiều khó khăn, nay lại càng trở nên khó khăn hơn do ảnh

hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu Có thể nói rằng khu vực nông

thôn ở Việt Nam đang rất dễ tổn thương trước tác động của toàn cầu hóa.Thêm vào đó, việc đình đốn sản xuất ở các doanh nghiệp trong nước dẫn đếntình trạng mất việc làm, trực tiếp thu hẹp quy mô việc làm ở cả nông thôn vàthành thị Theo Hiệp hội các doanh nghiệp vừa và nhỏ, cả nước hiện cókhoảng 350.000 doanh nghiệp, hàng năm, đóng góp khoảng 40% - 50% việclàm mới cho người lao động Nhưng hiện nay, hơn 200.000 doanh nghiệp(60%) đang gặp khó khăn kéo theo khoảng 70.000 lao động bị mất việc làmvào năm 2008 và có trên 90.000 lao động mất việc làm tính đến năm 2009[11] Thất nghiệp thành thị đang gây ra một dòng di chuyển lao động “ngược”

về nông thôn khiến cho việc làm ở nông thôn trước kia đã khó khăn bây giờlại càng trở nên nan giải hơn

Mặt khác, sụt giảm xuất khẩu hàng hóa do khủng hoảng kinh tế thếgiới, đặc biệt là hàng hóa nông lâm sản đã ảnh hưởng mạnh đến sản xuất nôngnghiệp trong nước Xu hướng này sẽ không chỉ làm giảm cầu lao động trongsản xuất công nghiệp, đặc biệt là các ngành gia công, chế biến mà còn giảm

cả cầu lao động trong sản xuất nông nghiệp quy mô hộ gia đình

Trang 30

Để giải quyết vấn đề việc làm trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế, bêncạnh những nhóm giải pháp lớn của Chính phủ như: thúc đẩy sản xuất kinhdoanh và xuất khẩu; thực hiện các biện pháp kích cầu đầu tư; chính sách tàichính hỗ trợ doanh nghiệp; đảm bảo an sinh xã hội có thể xem xét thêm mộtgiải pháp cụ thể hơn đối với vấn đề lao động, việc làm nông thôn Đó là vấn đềxuất khẩu lao động.

2.3.2 Thu nhập thấp

Một người có việc làm hay không trước hết phụ thuộc vào quyết địnhcủa họ có đi làm hay là không Quyết định này lại phụ thuộc vào nhiều yếu tố,trong đó một yếu tố quan trọng là mức thu nhập mà một người muốn đi làm,hay là một mức thu nhập tối thiểu để người đó chấp nhận hy sinh thời giannghỉ ngơi, học tập, làm nội trợ, chăm sóc con cái để đi làm

Việt Nam là một nước nông nghiệp với nghề trồng lúa nước truyềnthống, người dân nơi đây nhất là người dân ở các vùng nông thôn gặp rất nhềukhó khăn trong việc đảm bảo cuộc sống gia đình họ, phần vì con cái đông, giađình nhiều thế hệ trong khi đó thu nhập của họ lại rất thấp không đủ đáp ứngcho nhu cầu của cuộc sống Đặc biệt là trong thời kỳ khủng hoảng tài chính vàsuy thoái nền kinh tế toàn cầu như hiện nay chúng ta có thể nhận thấy rằngkinh tế nông thôn Việt Nam hiện đang phải chịu gánh nặng từ những tháchthức thị trường do ảnh hưởng từ việc leo thang giá cả thế giới trong thời gianqua Lạm phát gia tăng, trong khi đó mức tăng nông sản không bù đắp nổi giátăng nguyên liệu đầu vào Nông thôn Việt Nam đang đuối sức, thu nhập củangười nông dân ngày một khó khăn hơn Trong khi đó, nhu cầu của cuộc sốngluôn thay đổi và ngày càng có xu hướng tăng cao hơn nữa Do đó, cuộc sốnggia đình của người dân vốn đã khó khăn nay lại càng trở nên cực khổ hơn.Trước tình hình đó, một trong những giải pháp mà người dân lựa chọn để giảiquyết khó khăn cho mình là tham gia xuất khẩu lao động để tăng thêm thunhập cho gia đình mình

2.4.3 Áp lực của bản thân và gia đình

Trang 31

Lao động xuất khẩu Việt Nam đa số xuất thân từ nông thôn, chủ yếukhông nghề không ngoại ngữ, không tác phong công nghiệp, ý thức tổ chức kỷluật kém Trong khi đó, tại các thị trường lao động ngoài nước nhu cầu laođộng có tay nghề rất lớn Điều này đã gây áp lực rất lớn cho người lao độngcủa nước ta Trong khi đó, xã hội không ngừng phát triển, những phương tiệnsản xuất ngày càng hiện đại hơn đòi hỏi người lao động cũng phải có trình độ

để sử dụng Mà muốn tiếp cận và sử dụng công nghệ hiện đại, công nhân phảinâng cao trình độ học vấn, tay nghề Chính vì lẽ đó, xu hướng xuất khẩu laođộng nhằm nâng cao tay nghề không phải là lạ ở các địa phương

Bên cạnh đó, tình trạng thiếu việc làm và thất nghiệp vẫn chưa được cảithiện nhiều, trong đó số người ở lứa tuổi thanh niên chiếm tỷ lệ đáng kể.Nguyên nhân dẫn đến tình trạng thất nghiệp có nhiều, trong đó có việc chuyểnđổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp phục vụ cho quá trình đô thị khiến một

bộ phận lao động di chuyển từ nông thôn ra đô thị để kiếm việc làm giải quyếtvấn đề kinh tế đã tạo nên sức ép lớn về việc làm Chính vì lẽ đó mà XKLĐ làmột trong những giải pháp cho việc giải quyết sức ép về việc làm của nước tađặc biệt là ở các vùng nông thônn của nước ta

Mặt khác có thể thấy trong giai đoạn hiện nay, người nông dân đangphải đối mặt với tình trạng ruộng đất ngày càng bị thu hẹp dẫn đến tình trạngthiếu hoặc không có đất để sản xuất nông nghiệp Và điều đó có thể thấy rằngnguyên nhân chủ yếu khiến các hộ nông dân đưa ra quyết định đi XKLĐ là dokhó khăn về kinh tế điều này cũng dễ giải thích vì việc làm của hộ nông dânchủ yếu là sản xuất nông nghiệp công việc mang tính chất thời vụ không ổnđịnh, thu nhập lại thấp, kinh tế gia đình khó khăn, không đủ trang trải chocuộc sống gia đình

2.4.4 Chính sách

Chính sách của địa phương luôn là những định hướng, những đường lối vànhững giải pháp giúp người dân thực hiện được mong muốn, nguyện vọng củamình Trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, chính quyền địa phương luôn có

Trang 32

một vai trò vô cùng quan trọng, giúp truyền đạt những chủ trương chính sách củaĐảng và Nhà nước đến với mọi người dân, định hướng cho sự phát triển của địaphương Chính sách của địa phương cũng góp phần chăm lo cho đời sống của nhândân, giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội cho người dân, giúp người dân tháo gỡkhó khăn vướng mắc trong cuộc sống chính vì thế mà trong nhận thức của ngườidân, chính sách của chính quyền địa phương có vai trò đặc biệt quan trọng trongviệc định hướng và tạo niềm tin cho người dân Khi chính sách tốt sẽ khuyến khíchngười dân đi theo và trong XKLĐ cũng vậy, một trong những yếu tố tác động đếnquyết định XKLĐ của các hộ nông dân là chính sách của chính quyền địa phương.Bên cạnh đó cũng phải kể đến các chính sách đào tạo nghề của nhà tuyển dụng.Nhờ các chính sách đào tạo nghề của nhà tuyển dụng mà người lao động cảm thấyyên tâm hơn, thấy dễ thích nghi và làm quen với công việc ở nước ngoài hơn.

Như vậy, chúng ta có thể thấy, các chính sách của chính quyền địaphương và của nhà tuyển dụng có vai trò vô cùng quan trọng trong việc raquyết định của hộ nông dân

2.5 THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG Ở CÁC NƯỚC TRÊN THẾGIỚI VÀ Ở VIỆT NAM

2.5.1 Tình hình xuất khẩu lao động của một số nước trên thế giới

Như chúng ta đã nói ở trên, những nước nhập khẩu lao động trên thếgiới có hai loại một là nước có dân số ít mà lại giàu tài nguyên như ở các nướcTrung Đông, ở những nước này thường thiếu lao động ở các ngành nghề xâydựng, dịch vụ nhất là các dịch vụ tại tư gia Hai là những nước đã phát triển kể

cả những nước công nghiệp mới như Hàn Quốc, Đài Loan, Singapo Trongnhững nước thứ hai có cơ cấu kinh tế chuyển dịch nhanh chóng sang sử dụngtiến bộ khoa học công nghệ và lao động tri thức trong quá trình sản xuất kinhdoanh và chuyển sang nước ngoài dưới dạng đầu tư trực tiếp (FDI) nhữngngành có hàm lượng lao động giản đơn cao Mặt khác, tại những nước côngnghiệp mới những ngành dùng nhiều lao động giản đơn có quy mô khá nên

Trang 33

không thể chuyển hết ra nước ngoài buộc các nhà sản xuất trong nước phảinhập khẩu lao động.

Ở đây cần lưu ý một điểm là ở các nước đã phát triển không phải làkhông còn tồn tại lao động mà tại các nước này vẫn còn tồn tại một bộ phậnkhông nhỏ số người mới ở trình độ giáo dục phổ cập Tuy nhiên vì tiền lươngtrung bình tăng cao theo mức sống của xã hộ nên các xí nghiệp có khuynhhướng thuê mướn lao động nước ngoài để giảm chi phí Mặt khác, lao độngbản xứ có khuynh hướng tránh những loại công việc mà môi trường lao độngkhông tốt dễ gặp tai nạn như ở các công trường xây dựng, mỏ than Ví dụnhư ở Nhật Bản có ba yếu tố khiến cho nước này phải nhập khẩu lao độngnước ngoài mà không sử dụng lao động bản sứ đó là vì: sự nguy hiểm, môitrường lao động không sạch sẽ và điều kiện lao động khắc nghiệt [5]

Về phía các nước XKLĐ, nói chung đây là những nước kém phát triển hoặcphát triển với tốc độ chậm mà lại không ưu tiên đẩy mạnh các ngành dùng nhiều laođộng Cho đến nay những nước XKLĐ vừa nhiều về số lượng lao động xuất khẩuvừa có tỷ lệ cao trong tổng dân số nước đó như các nước Lebanon, El Salvador,Columbia, Pakistan Riêng Philipin hiện nay có khoảng 8 triệu lao động đi làmviệc ở nước ngoài, bằng khoảng 10% dân số của nước này Hằng năm ngoại hối gửi

về theo đường chính thức khoảng 10 tỷ USD sấp xỉ bằng 10% GDP [5]

Sau đây chúng tôi xin đưa ra kinh nghiệm của một số nước trên thế giới

về xuất khẩu lao động:

* Thái lan

Thái Lan bắt đầu XKLĐ từ năm 1970 khi ở Trung Đông bùng nổ công trìnhkhai thác dầu lửa Số lượng lao động xuất khẩu trong 10 năm gần đây của Thái Lanbình quân 20.000 người/năm Trong đó hơn 50% đến làm việc tại Đài Loan, lượngngoại tệ do lao động xuất khẩu ở Thái Lan gửi về qua hệ thống ngân hàng tăng từ

52 tỷ bạt năm 1997 lên đến 60 tỷ bạt năm 1999 tương đương với 1.5 tỷ USD [12]

Về cơ cấu lao động xuất khẩu phần lớn lao động đi xuất khẩu là laođộng không nghề, có trình độ học vấn thấp khoảng 50% chủ yếu từ các vùng

Trang 34

nông thôn trong đó phần lớn từ vùng Đông Bắc Thái Lan nơi người dân cónhiều khó khăn về kinh tế.

Về chính sách, Thái Lan thực hiện chính sách tự do hoá XKLĐ Thời kỳđầu, hoạt động XKLĐ do cá nhân người lao động và các đại lý môi giới tư nhânthực hiện, nhiều lao động Thái Lan ra nước ngoài bằng visa du lịch rồi ở lại làmviệc bất hợp pháp Sau đó, để bảo vệ quyền lợi người lao động ở nước ngoàiTổng cục lao động Bộ nội vụ, Văn phòng quản lý giám sát hoạt động của các đại

lý tuyển mộ lao động tư nhân, xây dựng các tiêu chuẩn, điều kiện XKLĐ Tuynhiên hiện tượng lừa đảo người lao động để chiếm đoạt tiền đặt cọc và dịch vụ phícủa người lao động muốn đi xuất khẩu vẫn tồn tại Trong nhiều trường hợp chínhphủ cũng không thể can thiệp để bảo vệ người lao động vì thực tế các công ty nàygiải thể rất nhanh, đôi khi các công ty hoạt động không có giấy phép kinh doanh

Về chủ trương chính sách và định hướng chung, chính phủ Thái Lan áp dụngtriệt để và nhất quán các biện pháp nhằm thúc đẩy việc XKLĐ để giảm tình trạng thấtnghiệp trong nước và tăng nguồn thu ngoại tệ Hiện nay chính phủ Thái Lan cũng đã

và đang quan tâm đến việc nâng cao chất lượng và thay đổi cơ cấu cho LĐXK

* Hàn Quốc

Đặc điểm cơ bản của XKLĐ ở Hàn Quốc là lĩnh vực xuất khẩu chủ yếu làngành xây dựng, trong khi đó Hàn Quốc lại nhập khẩu rất nhiều lao động ở cácngành nghề khác nhau để đáp ứng nhu cầu sử dụng lao động trong nước [12].Chính phủ Hàn Quốc thực hiện hai chức năng chính là quản lý khu vực tư nhântham gia quá trình XKLĐ và thực hiện việc tuyển dụng và bố trí làm việc cho laođộng nhập khẩu và Hàn Quốc Chính phủ thực hiện đẩy mạnh việc XKLĐ bằngcách chỉ đạo Bộ xây dựng tham gia đấu thầu xây dựng ở nước ngoài, Bộ ngoạigiao hướng dẫn Đại sứ quán tìm kiếm thị trường, Bộ lao động hỗ trợ các đại lýtuyển mộ lao động duy trì lực lượng lao động để thực hiện các công trình lao động

ở nước ngoài Công dân đủ tuổi đi lao động ở nước ngoài phải đăng kí danh sáchtại cơ quan lao động và được giải quyết các thủ tục nhanh chóng Công tác đào tạolao động xuất khẩu được đặc biệt quan tâm Chính phủ xác định các loại hình đào

Trang 35

tạo và yêu cầu các công ty tuyển mộ phải thực hiện việc đào tạo công nhân Bêncạnh đó, chính phủ rất quan tâm đến vấn đề phúc lợi xã hội và bảo vệ quyền lợicủa công dân, quy định các điều kiện cơ bản và tối thiểu về thời gian làm việc, chế

độ nghỉ phép và quy định một số ưu đãi về tỷ suất thuế thu nhập về nhà ở sau khi

về nước khuyến khích họ làm việc tốt

* Philipin

Philipin là một nước có hệ thống XKLĐ có tổ chức và là một mô hình tốtcho các nước XKLĐ ở Châu Á Bộ lao động và việc làm có trách nhiệm xây dựngcác chính sách, phối hợp và quản lý tất cả các vấn đề liên quan đến lao động vàviệc làm ở Philipin Chính phủ Philipin quy định chức năng của văn phòng dịch

vụ việc làm và tuyển chọn tư nhân và lập ra ban phát triển việc làm ngoài nước đểtuyển mộ công nhân làm việc ở nước ngoài, đồng thời chính phủ thành lập ra hai

cơ quan thuộc Bộ lao động và việc làm chịu trách nhiệm về XKLĐ để bảo vệquyền lợi, giúp người lao động có được các điều kiện làm việc công bằng và nhậncác dịch vụ hỗ trợ Đối với các công tác tuyển dụng lao động chính phủ quy địnhchỉ những công ty Philipin hoặc những công ty liên doanh và ngư dân Philipin giữ75% vốn pháp định trở nên mới được cấp giấy phép hoạt động XKLĐ [12] Bêncạnh đó, chính phủ Philipin đưa ra các biện pháp để chống lại việc vi phạm quyđịnh về XKLĐ Các hành vi như: tuyển lao động không có giấy phép kinh doanh,cung cấp các thông tin không đúng, thu nhận tiền qua mức quy định của Nhànước… sẽ có những mức phạt cụ thể

2.5.2 Thực trạng xuất khẩu lao động của Việt Nam

2.5.2.1 Hoạt động xuất khẩu lao động tại Việt Nam

Việt Nam bắt đầu đưa chuyên gia và lao động đi làm việc có thời hạn ở nướcngoài từ năm 1980 [16] Từ đó đến nay, cùng với sự đổi mới về cơ chế quản lý kinh

tế chung của đất nước, cơ chế XKLĐ của ta cũng đã qua nhiều lần thay đổi, phù hợpvới tình hình phát triển của đất nước và quan hệ quốc tế của ta trong từng thời kỳ.Hoạt động XKLĐ của Việt Nam có thể chia thành hai thời kỳ:

a Thời kỳ hợp tác lao động quốc tế theo cơ chế bao cấp (1980-1990)

Trang 36

Thời kỳ này, lao động Việt Nam chủ yếu được đưa sang các nước xã hộichủ nghĩa Đông Âu, gồm: Liên Xô (cũ), Cộng hoà dân chủ Đức (cũ), Tiệp Khắc(cũ) và Bungari Một bộ phận công nhân xây dựng với số lượng đáng kể được đưa

đi làm việc ở Irăc, Libya, Angiêri cùng với một số chuyên gia trong các lĩnh vực y

tế, giáo dục và nông nghiệp sang làm việc tại những nước Châu Phi khác (Ăng

-gô - la, Mô - zăm – bich, Công – -gô, Y- ê –men, Madagasca ) [6]

Đối với các nước xã hội chủ nghĩa, khi đó nước ta là thành viên của Hộiđồng tương trợ kinh tế (SEV) nên hoạt động XKLĐ mang tính chất hợp tác laođộng, giúp đỡ lẫn nhau: bạn cần lao động để bù đắp sự thiếu hụt lao động trongphát triển kinh tế đất nước, ta cần bạn giúp đỡ về quá trình đào tạo và nâng caotay nghề cho người lao động và giải quyết việc làm cho bộ phận lao động này.Nền kinh tế nước ta, đặc biệt là kinh tế đối ngoại, liên kết chặt chẽ với các nướcthành viên khác của SEV, cơ chế quản lý kinh tế của ta cũng tương tự như cơchế quản lý của các nước đó mang tính quản lý tập trung, bao cấp

Vì vậy, cũng như các quan hệ kinh tế khác, quan hệ hợp tác sử dụng laođộng giữa ta và các nước này đều thông qua các Hiệp định chính phủ, thoảthuận giữa ngành với ngành Trong bối cảnh đó, cơ chế hợp tác sử dụng laođộng và chuyên gia theo mô hình Nhà nước trực tiếp ký kết và tổ chức thựchiện đưa người lao động và chuyên gia đi làm việc ở nước ngoài

Số lượng lao động và chuyên gia Việt Nam đi làm việc ở nước ngoàitrong thời kỳ này là gần 300.000 người, trong đó đi lao động ở 4 nước xã hộichủ nghĩa (Liên Xô cũ, Cộng hoà dân chủ Đức cũ, Tiệp Khắc cũ và Bungari)

là 261.605 người; đi làm chuyên gia ở các nước Châu Phi là 7.200 người, đilàm công nhân xây dựng ở Trung Đông khoảng 18.000 người, ngoài ra còn có23.713 thực tập sinh và học sinh học nghề tại các nước Đông Âu đã chuyểnsang lao động trong những năm 80 [6]

b Thời kỳ XKLĐ theo cơ chế thị trường (1991 – nay)

Trong thời kỳ này, do khủng hoảng kinh tế, chính trị; ở Irăc xảy rachiến tranh nên phần lớn các nước này không còn nhu cầu nhận tiếp lao động

Trang 37

và chuyên gia Việt Nam hoặc nếu có nhu cầu thì cũng không nhận lao động

và chuyên gia theo cơ chế như trước đây nữa Đồng thời, cơ chế quản lý kinh

tế của nước ta thời kỳ này đang từng bước đổi mới chuyển dần sang nền kinh

tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước Trước tình hình đó một cơ chế mới

về hoạt động XKLĐ và chuyên gia được hình thành, trong đó phân định rõchức năng quản lý Nhà nước và chức năng kinh doanh dịch vụ XKLĐ Nhànước thống nhất quản lý XKLĐ bằng các chính sách và quy định pháp lý Các

tổ chức kinh tế thực hiện hoạt động kinh doanh dịch vụ XKLĐ thông qua cáchợp đồng cung ứng lao động ký với bên nước ngoài

Trong thời gian đầu chuyển đổi sang cơ chế mới, do các doanh nghiệpmới thoát ra khỏi sự bao cấp của Nhà nước nên gặp nhiều khó khăn, bỡ ngỡtrong việc tìm kiếm thị trường lao động ngoài nước, đôi khi thậm chí trôngchờ, ỷ lại vào sự hỗ trợ của các cơ quan Nhà nước, chưa có sự chủ độngtrong việc khai thác hợp đồng Các thị trường chủ yếu tiếp nhận lao độngcủa ta lâu nay do những biến động về chính trị, kinh tế, xã hội đã không cònkhả năng tiếp nhận lao động Việt Nam như trước đây Đối với thị trườngmới, ta còn chưa quen, thiếu nhiều thông tin, kinh nghiệm và kiến thức Hơnnữa, quan hệ đối ngoại trong môi trường quốc tế những năm đầu thập niên

90 (1991 -1993) chưa thuận lợi đối với ta Trong tình hình đó, chỉ có một số

ít doanh nghiệp là ký hợp đồng đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài với sốlượng nhỏ, khoảng hơn 5000 lao động cho cả 3 năm này Những năm sau đó,các doanh nghiệp đã bước đầu có sự chủ động trong nghiên cứu, tiếp thị vàhọc tập kinh nghiệm từ các nước có truyền thống XKLĐ và từng bước hoànhập thị trường lao động quốc tế Cho đến nay, chúng ta đã tiếp cận và thâmnhập được vào thị trường lao động thuộc trên 40 nước và khu vực trên thếgiới như khu vực Đông và Đông Nam Á, Trung Đông, Bắc Phi, ngoài ra tađang từng bước mở rộng thị trường lao động đến một số đảo Nam Thái BìnhDương và khu vực Bắc Mỹ [18]

Trang 38

Số lượng lao động Việt Nam được đưa đi làm việc ở nước ngoài tăngnhanh qua các năm kể từ năm 1994, có giảm đáng kể vào năm 1998 do ảnhhưởng của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu Á nhưng lại đặc biệt tăngmạnh từ thời điểm năm 1999 trở lại đây Trong vòng hơn 12 năm qua, Việt Nam

có xấp xỉ 1/4 triệu người đi XKLĐ [6]

Thời kỳ này, số lượng người đi XKLĐ tăng mạnh qua từng năm cho thấy

sự đi lên về chất lượng cũng như nhận thức của người lao động, sự cố gắng củaNhà nước cùng với sự vươn lên của các doanh nghiệp XKLĐ Hiện có gần 200doanh nghiệp đã được Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội cấp giấy phéphoạt động XKLĐ và đa phần các doanh nghiệp này hoạt động khá hiệu quả Cácdoanh nghiệp lớn như: VINACONEX, LOD, VIETRACIMEX, SIMCO,SOVILACO bình quân hàng năm đưa được 1000 – 2000 lao động ra nướcngoài làm việc Ngành nghề XKLĐ cũng rất đa dạng, có đến trên 30 ngành nghềthuộc nhiều lĩnh vực khác nhau như: xây dựng, cơ khí, giúp việc gia đình, điện

tử, dệt may, chế biến thuỷ sản, dịch vụ, vận tải biển, đánh bắt chế biến hải sản,chuyên gia y tế, giáo dục, nông nghiệp, tin học… Tuy nhiên, cần nhận thấy đâyvẫn chỉ là những bước đi khởi đầu để tạo đà cho các doanh nghiệp XKLĐ ViệtNam tiếp tục phấn đấu, mở rộng thêm thị trường lao động và tăng số lượng cũngnhư chất lượng lao động xuất khẩu trong thời gian tới [6]

Tuy nhiên hoạt động XKLĐ của nước ta cũng còn nhiều bất cập, nhiềutồn tại cần khắc phục Đầu tiên phải kể đến công tác quản lý XKLĐ chưa thực

sự đáp ứng được yêu cầu thực tế Việc tuyển chọn và làm thủ tục cho lao động

dù đã có sự cải thiện nhiều trong những năm qua nhưng hiện vẫn còn qua rấtnhiều khâu trung gian nên người lao động phải mất nhiều thời gian và chi phí bấthợp lý Cá biệt vẫn có tình trạng lừa đảo, thu tiền bất chính từ người lao động.Thêm vào đó, công tác đào tạo chuẩn bị nguồn lao động trước khi đi cũng nhưquản lý lao động tại nước đến chưa được sự quan tâm đúng mức từ phía doanhnghiệp, lao động trình độ tay nghề, trình độ ngoại ngữ còn yếu, ý thức chấp hànhnội quy và pháp luật nước sở tại rất kém, dẫn đến tình trạng tỷ lệ lao động pháhợp đồng, bỏ trốn ra ngoài làm việc hay bị trả về nước do không đạt yêu cầu còn

Trang 39

cao Đây là những vấn đề bức thiết mà chúng ta cần phải khắc phục và phải khắcphục nhanh để hoạt động XKLĐ của nước ta thực sự đạt đến hiệu quả kinh tế -

xã hội tương xứng với tiềm năng và cơ hội của mình

2.5.2.2 Quy trình xuất khẩu lao động của Việt Nam

Trong mỗi một giai đoạn, xuất khẩu lao động đều có một quy trình xuấtkhẩu riêng, phù hợp với tính chất của từng giai đoạn Trong thời kỳ đầu (1980 –1990), quy trình xuất khẩu lao động được thực hiện chủ yếu trêu cơ sở HiệpĐịnh được ký kết giữa hai Chính phủ, thoả thuận ngành với ngành Cơ chế xuấtkhẩu lao động dựa trên mô hình nhà nước trực tiếp ký kết và tổ chức thực hiệnđưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài, các doanh nghiệp không trực tiếptham gia đàm phán, ký kết hợp đồng, đồng thời các công đoạn cũng ít phức tạphơn… Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay quy trình xuất khẩu lao động ViệtNam đã có nhiều thay đổi, các doanh nghiệp phải tự vận động tìm kiếm và xúctiến xuất khẩu lao động Nhà nước chỉ đóng vai trò hỗ trợ trong việc đàm phán

cấp cao chứ không đóng vai trò chủ đạo như trước kia Quy trình XKLĐ ở Việt

Nam có thể tóm tắt ở sơ đồ sau [17]:

Sơ đồ 1: Quy trình xuất khẩu lao động Việt Nam trong giai đọan hiện nay

Ký Hiệp định hợp tác XKLĐ

Doanh nghiệp

Việt Nam

Doanh nghiệp nước ngoài Tìm kiếm thị trường, đối tác

Ký kết thoả thuận hợp tác hai bên

Tuyển chọn lao động

Tổ chức khám tuyển

Đào tạo, giáo dục

Tổ chức đưa LĐ đi Tổ chức tiếp nhận LĐ

lý do nào đó

Tái xuất

(được ký tiếp hợp đồng hoặc

đi lao động tại nước khác).

Ký kết hợp đồng XKLĐ

Trang 40

PHẦN III: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN

3.1.1 Điều kiện tự nhiên

An Đồng là một xã thuộc huyện Quỳnh Phụ tỉnh Thái Bình với tổngdiện tích đất tự nhiên là 616,704 ha Xã được chia làm 6 xóm, có ranh giớitiếp giáp với các xã, tỉnh như sau:

Phía Đông giáp với huyện Vĩnh Bảo tỉnh Hải Phòng

Phía Tây giáp với huyện Ninh Giang tỉnh Hải Dương

Phía Nam giáp với xã An Hiệp – An Thái

Phía Bắc giáp với xã An Khê

An Đồng nằm ở phía Đông Bắc của huyện Quỳnh Phụ tỉnh Thái Bìnhcách trung tâm thành phố Thái Bình 30km về phía Nam, là xã giáp với haihuyện của tỉnh Hải Dương và Hải Phòng nên tình hình kinh tế xã hội của

xã đã và đang phát triển theo hướng tích cực, là nơi giao lưu trao đổi hànghoá của các thương lái, bên cạnh đó người dân cũng được tiếp cận nhiềuvới các dịch vụ về XKLĐ đồng thời cũng nắm bắt được nhiều thông tin vềXKLĐ do các công ty, các tổ chức cung cấp

3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

3.1.2.1 Tình hình đất đai của xã

Đất đai là một trong những nguồn tài nguyên chủ yếu và vô cùng quantrọng vì nó tham gia vào mọi quá trình của hoạt động sản xuất kinh doanh củacon người Do đó, việc khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên đất đai đòi hỏiphải hợp lý và hiệu quả.

Tổng diện tích đất tự nhiên của cả xã đến năm 2009 là 616,704 ha,trong đó bao gồm các loại: đất nông nghiệp, đất thổ cư (đất ở) và đất chuyêndùng Do quá trình đô thị hoá cùng với sự gia tăng dân số một phần đất nôngnghiệp bị thu hồi để chuyển sang mục đích sử dụng khác như xây nhà, trường

Ngày đăng: 03/09/2016, 18:37

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Báo cáo của Tổ chức Health Birdge Canada & Trung tâm nghiên cứu phụ nữ tỉnh Thái Bình (2008), “Nghiên cứu tác động của xuất khẩu lao động đến cuộc sống gia đình” và “Xuất khẩu lao động làm tan vỡ 30 – 40 % số gia đình” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nghiên cứu tác động của xuất khẩu lao động đến cuộc sống gia đình”" và "“Xuất khẩu lao động làm tan vỡ 30 – 40 % số gia đình
Tác giả: Báo cáo của Tổ chức Health Birdge Canada & Trung tâm nghiên cứu phụ nữ tỉnh Thái Bình
Năm: 2008
3. Đặng Đình Đào, “Một số vấn đề xuất khẩu lao động ở Việt Nam”, Tạp chí kinh tế và phát triển, số 92 tháng 2 năm 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề xuất khẩu lao động ở Việt Nam”
5. Kim Ngọc Huyền (2006), “Thực trạng xuất khẩu lao động của Việt Nam sang các nước Đông và Đông Nam Á cùng một số kiến nghị”, Đại học Ngoại thương Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Thực trạng xuất khẩu lao động của Việt Nam sang các nước Đông và Đông Nam Á cùng một số kiến nghị
Tác giả: Kim Ngọc Huyền
Năm: 2006
6. Lê Văn Tùng (2003), “Xuất khẩu lao động Việt Nam – Thực trạng và triển vọng đến 2010”, Đại học Ngoại Thương, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Xuất khẩu lao động Việt Nam – Thực trạng và triển vọng đến 2010”
Tác giả: Lê Văn Tùng
Năm: 2003
8. Minh Sơn, “Đẩy mạnh công tác xuất khẩu lao động giai đoạn 2006 – 2010”, http://www.thaibinh.gov.vn/end - user/index.asp?website_id=39&menu_id=511&parent_menu_id=511&article_id=2591&fuseaction=DISPLAY_SINGLE_ARTICLE Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Đẩy mạnh công tác xuất khẩu lao động giai đoạn 2006 – 2010
9. Nguyễn Đình Quyết (2009), “Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến việc ra quyết định đi xuất khẩu lao động của các hộ nông dân trên địa bàn huyện Quảng Xương tình Thanh Hóa”, Báo cáo tốt nghiệp, Trường Đại học Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến việc ra quyết định đi xuất khẩu lao động của các hộ nông dân trên địa bàn huyện Quảng Xương tình Thanh Hóa”
Tác giả: Nguyễn Đình Quyết
Năm: 2009
10. Nguyễn Hương Lý (2009), “Nghiên cứu hiện tượng đi xuất khẩu lao động và những tác động của xuất khẩu lao động đến hộ nông dân ở xã Tân Hội – huyện Đan Phượng – Hà Nội”, Luận văn thạc sỹ kinh tế, Trường Đại học Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nghiên cứu hiện tượng đi xuất khẩu lao động và những tác động của xuất khẩu lao động đến hộ nông dân ở xã Tân Hội – huyện Đan Phượng – Hà Nội”
Tác giả: Nguyễn Hương Lý
Năm: 2009
11. Nguyễn Tiệp (2007), “Thực trạng và giải pháp tạo việc làm cho lao động thanh niên”, tạp trí kinh tế và phát triển số 124 – 10/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và giải pháp tạo việc làm cho lao động thanh niên”
Tác giả: Nguyễn Tiệp
Năm: 2007
12.Nguyễn Thị Hồng Bích (2007), “XKLĐ của một số nước Đông Nam Á kinh ngiệm và bài học”, Trung tân nghiên cứu quốc tế và khu vực Sách, tạp chí
Tiêu đề: XKLĐ của một số nước Đông Nam Á kinh ngiệm và bài học”
Tác giả: Nguyễn Thị Hồng Bích
Năm: 2007
13. Phạm Hà Dung, “Hội nông dân tỉnh: công tác xuất khẩu lao động đạt nhiều hiệu quả”, http://www.thaibinh.gov.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Hội nông dân tỉnh: công tác xuất khẩu lao động đạt nhiều hiệu quả”
15. “Thực trạng về lao động việc làm và vấn đề giải quyết việc làm ở tỉnh Thái Bình”, http://reportshop.com.vn/chi-tiet-tai-lieu/445/676.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Thực trạng về lao động việc làm và vấn đề giải quyết việc làm ở tỉnh Thái Bình”
16. Trần Thanh Hải (2007), “XKLĐ của Việt Nam. Thực trạng và giải pháp”, đề án môn học, Trường Đại học Kinh tế quốc dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: “XKLĐ của Việt Nam. Thực trạng và giải pháp”
Tác giả: Trần Thanh Hải
Năm: 2007
17. Trần Văn Thọ, “Vấn đề xuất khẩu lao động tại Việt Nam”, http://www.diendan.org Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Vấn đề xuất khẩu lao động tại Việt Nam”
18. Trung tâm thông tin và dự báo kinh tế - xã hội quốc gia, “Một số vấn đề đáng chú ý của thị trường lao động khu vực Châu Á – Thái Bình Dương”http://ncseif.gov.vn/OpenFile.aspx?id=1105 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Một số vấn đề đáng chú ý của thị trường lao động khu vực Châu Á – Thái Bình Dương”
22.Viện chiến lược phát triển, “Cơ sở khoa học của một số vấn đề trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam năm 2010 và tầm nhìn 2020”, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Cơ sở khoa học của một số vấn đề trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam năm 2010 và tầm nhìn 2020”
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
23. Vũ Mạnh, “Thực trạng lao động và việc làm tại Quỳnh Phụ”, http:// thaibinhtv.com/?option=com_news&task=view&cat=8&id=2469 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Thực trạng lao động và việc làm tại Quỳnh Phụ”
2. Bộ luật lao động nước CHXHCN Việt Nam (2007), NXB Tài chính, Hà Nội Khác
4. Giáo trình kinh tế chính trị Mác – Lênin (2006), NXB Chính trị quốc gia Khác
14. Sở Lao động thương binh và xã hội huyện Quỳnh Phụ, Báo cáo tình hình xuất khẩu lao động và một số định hướng giai đoạn 2005 – 2010 Khác
20. UBND huyện Quỳnh Phụ (2009), Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội của huyện giai đoạn 2005 – 2010 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1: Tình hình đất đai của xã An Đồng qua 3 năm 2007 - 2009 - Đánh giá tác động của xuất khẩu lao động đến đời sống của người dân tại xã an đồng   huyện quỳnh phụ   tỉnh thái bình
Bảng 3.1 Tình hình đất đai của xã An Đồng qua 3 năm 2007 - 2009 (Trang 39)
Bảng 3.2: Tình hình dân số và lao động của xã An Đồng qua 3 năm 2007 - 2009 - Đánh giá tác động của xuất khẩu lao động đến đời sống của người dân tại xã an đồng   huyện quỳnh phụ   tỉnh thái bình
Bảng 3.2 Tình hình dân số và lao động của xã An Đồng qua 3 năm 2007 - 2009 (Trang 42)
Bảng 4.4: Chất lượng lao động đi xuất khẩu tại xã An Đồng từ 2007 - 2009 - Đánh giá tác động của xuất khẩu lao động đến đời sống của người dân tại xã an đồng   huyện quỳnh phụ   tỉnh thái bình
Bảng 4.4 Chất lượng lao động đi xuất khẩu tại xã An Đồng từ 2007 - 2009 (Trang 56)
Bảng 4.6: Số lượng về giới tính của lao động đi xuất khẩu ở xã An Đồng từ năm 2007 – 2009 - Đánh giá tác động của xuất khẩu lao động đến đời sống của người dân tại xã an đồng   huyện quỳnh phụ   tỉnh thái bình
Bảng 4.6 Số lượng về giới tính của lao động đi xuất khẩu ở xã An Đồng từ năm 2007 – 2009 (Trang 59)
Bảng 4.8 cho ta thấy, phần lớn lao động của địa phương đi xuất khẩu lao  động giai đoạn 2005 – 2009 chủ yếu tập trung nhiều nhất tại thị trường Đài Loan - Đánh giá tác động của xuất khẩu lao động đến đời sống của người dân tại xã an đồng   huyện quỳnh phụ   tỉnh thái bình
Bảng 4.8 cho ta thấy, phần lớn lao động của địa phương đi xuất khẩu lao động giai đoạn 2005 – 2009 chủ yếu tập trung nhiều nhất tại thị trường Đài Loan (Trang 63)
Bảng 4.9: Tình hình chung về nhóm hộ điều tra - Đánh giá tác động của xuất khẩu lao động đến đời sống của người dân tại xã an đồng   huyện quỳnh phụ   tỉnh thái bình
Bảng 4.9 Tình hình chung về nhóm hộ điều tra (Trang 68)
Bảng 4.10: Thu nhập của nhóm hộ điều tra - Đánh giá tác động của xuất khẩu lao động đến đời sống của người dân tại xã an đồng   huyện quỳnh phụ   tỉnh thái bình
Bảng 4.10 Thu nhập của nhóm hộ điều tra (Trang 71)
Bảng 4.11: Tình hình chi tiêu của nhóm hộ điều tra - Đánh giá tác động của xuất khẩu lao động đến đời sống của người dân tại xã an đồng   huyện quỳnh phụ   tỉnh thái bình
Bảng 4.11 Tình hình chi tiêu của nhóm hộ điều tra (Trang 73)
Bảng 4.12: Nơi cư trú của lao động tham gia xuất khẩu - Đánh giá tác động của xuất khẩu lao động đến đời sống của người dân tại xã an đồng   huyện quỳnh phụ   tỉnh thái bình
Bảng 4.12 Nơi cư trú của lao động tham gia xuất khẩu (Trang 77)
Bảng  4.13 cho ta thấy số lượng lao động tham gia XKLĐ có trình độ  chuyên môn, kỹ thuật cao là tương đối thấp - Đánh giá tác động của xuất khẩu lao động đến đời sống của người dân tại xã an đồng   huyện quỳnh phụ   tỉnh thái bình
ng 4.13 cho ta thấy số lượng lao động tham gia XKLĐ có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao là tương đối thấp (Trang 79)
Bảng 4. 14 : Ảnh hưởng của nhóm yếu tố kinh tế đến quyết định XKLĐ của hộ - Đánh giá tác động của xuất khẩu lao động đến đời sống của người dân tại xã an đồng   huyện quỳnh phụ   tỉnh thái bình
Bảng 4. 14 : Ảnh hưởng của nhóm yếu tố kinh tế đến quyết định XKLĐ của hộ (Trang 85)
Bảng 4.15: Ảnh hưởng của nhóm yếu tố XH đến quyết định XKLĐ của các hộ - Đánh giá tác động của xuất khẩu lao động đến đời sống của người dân tại xã an đồng   huyện quỳnh phụ   tỉnh thái bình
Bảng 4.15 Ảnh hưởng của nhóm yếu tố XH đến quyết định XKLĐ của các hộ (Trang 87)
Bảng 4. 16 : Ảnh hưởng của nhóm yếu tố chính sách đến quyết định XKLĐ của các - Đánh giá tác động của xuất khẩu lao động đến đời sống của người dân tại xã an đồng   huyện quỳnh phụ   tỉnh thái bình
Bảng 4. 16 : Ảnh hưởng của nhóm yếu tố chính sách đến quyết định XKLĐ của các (Trang 89)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w