Chuyên đề “Đánh giá đặc điểm sinh trưởng và phát triển của các dòng lúa QT vụ Xuân 2015 tại xã Phù Lưu Tế, huyện Mỹ Đức” được thực hiện với mục tiêu lựa chọn ra các dòng lúa QT phù hợp với điều kiện sinh thái của vùng. Thí nghiệm được bố trí theo phương pháp đánh giá dòng, không nhắc lại với 12 dòng lúa QT nhằm theo dõi các chỉ tiêu sinh trưởng, phát triển và năng suất. Kết quả thí nghiệm đã lựa chọn được 4 dòng có đặc điểm vượt trội đó là dòng A1, A2, B1 và dòng B2. Đây là 4 dòng có tiềm năng về năng suất cần được tiếp tục khảo nghiệm trên diện rộng và nghiên cứu đánh giá chi tiết để đưa ra các kết luận chính xác nhất về tất cả các chỉ tiêu cần thiết làm cơ sở cho công tác chọn giống của vùng nghiên cứu.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
KHOA LÂM HỌC
BÁO CÁO NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
SINH VIÊN
Chuyên đề: “Đánh giá đặc điểm sinh trưởng
và phát triển của các dòng lúa QT vụ Xuân 2015
tại xã Phù Lưu Tế, huyện Mỹ Đức”.
Giáo viên hướng dẫn: TS.Bùi Thị Cúc
Sinh viên thực hiện : Chẳng Thị Huyền
Phùng Thị Tuyết Nhung Trần Thị Xuân
Hà Nội, 2015
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và thực hiện chuyên đề nghiên cứu, chúngtôi đã nhận được sự giúp đỡ, những ý kiến đóng góp, chỉ bảo quý báu của cácthầy cô trong Bộ môn Khuyến nông và Phát triển nông thôn, trường Đại họcLâm nghiệp Việt Nam
Để có được kết quả nghiên cứu này, ngoài sự nỗ lực cố gắng của từng cánhân trong nhóm, chúng tôi còn nhận được sự hướng dẫn chu đáo, tận tình của
cô Bùi Thị Cúc, là người trực tiếp hướng dẫn chúng tôi trong quá trình nghiêncứu và hoàn thành báo cáo
Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới tất cả các thầy giáo, cô giáo,
cơ quan, chính quyền, người dân địa phương, gia đình, bạn bè và người thân đãquan tâm động viên trong suốt quá trình học tập và thực hiện chuyên đề
Xin trân trọng cám ơn!
Trang 3MỤC LỤC
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang 5ĐẶT VẤN ĐỀ
Cây lúa (Oryza sativa L) là cây trồng có từ lâu đời, gắn liền với quá trìnhphát triển của loài người, cây lúa đã trở thành cây lương thực chính của Châu Ánói chung, người Việt Nam ta nói riêng và có vai trò quan trọng trong nét vănhoá ẩm thực của dân tộc ta
Trên thế giới có khoảng một nửa dân số sử dụng lúa gạo và các sản phẩmchế biến từ lúa gạo cho nhu cầu lương thực hàng ngày Châu Á là nơi sản xuất
và cũng là nơi tiêu thụ đến 90% sản lượng gạo trên thế giới Trong tương lai xuthế sử dụng lúa gạo để ăn sẽ còn tăng hơn vì đây là loại lương thực dễ bảo quản,
dễ chế biến và cho năng lượng khá cao Theo tính toán của Peng et al (1999),đến năm 2030 sản lượng lúa của thế giới phải đạt 800 triệu tấn mới có thể đápứng được nhu cầu lương thực của con người
Vấn đề lúa gạo không còn là vấn đề lương thực của một quốc gia mà đãtrở thành vấn đề an ninh lương thực toàn cầu, mang tính chính trị và có ảnhhưởng sâu rộng đến sự phát triển của nền nông nghiệp nước nhà và thế giới(Phạm Quang Diệu, 2009)
Theo đà phát triển của sức sản xuất và phân công lao động quốc tế, nhucầu của con người ngày càng phong phú, đa dạng Tuy nhiên, nhu cầu về ăn vàmặc vẫn là nhu cầu cần thiết hơn cả, trong đó nhu cầu về ăn uống lại đóng vaitrò số một trong đời sống hàng ngày Bởi vậy, lương thực trở thành yếu tố đượcchú trọng hàng đầu Thực tế trong nhiều thập kỷ qua, thế giới luôn quan tâm, lolắng đến vấn đề lương thực như một đề tài thời sự cấp bách Nhiều sách báo,nhiều tổ chức và cá nhân, nhiều cuộc hội thảo quốc gia và quốc tế thường xuyên
đề cập đến chương trình an ninh lương thực quốc gia và toàn cầu
Việt Nam với dân số trên 90 triệu dân, việc đảm bảo an ninh lương thực làmục tiêu lớn được Đảng và Nhà nước đặt ra trong giai đoạn trước mắt và lâudài Vì thế, việc áp dụng các giống mới có năng suất, chất lượng được khuyếnkhích và mở rộng trên phạm vi cả nước
Với địa hình và điều kiện thời tiết thuận lợi, Mỹ Đức được đánh giá làmột huyện có khả năng phát triển một nền nông nghiệp toàn diện, trong đó lúa làcây trồng thế mạnh của vùng Mỹ Đức là huyện có truyền thống thâm canh lúa,diện tích gieo cấy lúa hàng năm lên đến 23940 ha Trong đó, vụ Xuân là 11940
Trang 6trong việc chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, đưa các giống lúa mới có sản lượng vàchất lượng cao vào sản xuất (Nguyễn Thái Dương, 2014).
Vấn đề đặt ra cho từng địa phương là lựa chọn giống lúa nào và bố trímùa vụ ra sao để có được năng suất và chất lượng lúa cao nhất Nhận thức đượctầm quan trọng và ý nghĩa của vấn đề này, nhóm nghiên cứu chúng tôi đã chọn
chuyên đề “Đánh giá đặc điểm sinh trưởng và phát triển của các dòng lúa QT
vụ Xuân 2015 tại xã Phù Lưu Tế, huyện Mỹ Đức”.
Trang 7CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Cơ sở khoa học
1.1.1 Vai trò của giống trong sản xuất.
Trong sản xuất nông nghiệp, giống cây trồng là yếu tố quan trọng hàng
đầu Với quan niệm “nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống” đã không còn phù
hợp với tình hình sản xuất ngày nay nữa Nếu xếp giống vào hệ thống các khâu
kỹ thuật canh tác thì giống tốt phải được xếp vào vị trí trung tâm Giống là tưliệu sản xuất vô cùng quan trọng cũng như đất đai, phân bón và công cụ sảnxuất Nếu không có giống thì không thể sản xuất ra một loại nông sản nào.Giống cây trồng chính là yếu tố quan trọng trong việc thâm canh tăng năng suất
và chất lượng nông sản phẩm Do giống là tư liệu sản xuất đặc biệt, là tư liệusống mang đầy đủ tính trạng, đặc tính về hình thái, sinh học, di truyền và kinh tếnhất định, do vậy giống gắn bó mật thiết với môi trường Muốn tăng năng suấtcần chú ý tác động đến các điều kiện trồng trọt thích hợp với yêu cầu của giống
Trong những năm gần đây, sản lượng lương thực ở một số nước tăng lênkhá nhanh, chủ yếu nhờ áp dụng trên quy mô lớn các biện pháp kỹ thuật nôngnghiệp thích hợp mà chủ yếu là cải tiến giống Vì giống là một trong những điềukiện quyết định đến năng suất và phẩm chất của sản phẩm thu hoạch
Đặc tính của giống, yếu tố môi trường sinh thái và kỹ thuật canh tác quyếtđịnh đến năng suất Kiểu gen tốt chỉ được biểu hiện trong một phạm vi nhất địnhcủa môi trường Những giống được so sánh qua một loạt môi trường thì biểuhiện năng suất thường khác nhau Vì vậy, tính ổn định và thích nghi của giốngvới môi trường thường được sử dụng để đánh giá giống
Mặc dù hầu hết các nước trên Thế giới đều nghiên cứu phát triển giốngcây trồng nói chung và giống lúa nói riêng nhưng chưa bao giờ đáp ứng đủ cho
nhu cầu sản xuất Viện nghiên cứu lúa quốc tế International Rice Research
Institute đã có chương trình nghiên cứu lâu dài về lúa, các vấn đề về chọn giống,
tạo giống nhằm đưa ra những giống có đặc trưng chính như: thời gian sinhtrưởng, tính chống sâu, bệnh hại, chất lượng gạo, tính mẫn cảm với quang chu
kỳ thích hợp nhất với những vùng trồng lúa khác nhau
Giống lúa mới được coi là tốt thì phải có độ thuần cao, thể hiện đầy đủcác yếu tố di truyền của giống đó, khả năng chống chịu tốt với các điều kiện
Trang 8ngoại cảnh bất thuận của từng vùng khí hậu, đồng thời chịu thâm canh, khángsâu bệnh hại, cho năng suất cao, phẩm chất tốt và ổn định qua nhiều thế hệ.Muốn phát huy hết tiềm năng năng suất của một giống tốt đó phải sử dụngchúng hợp lý, phù hợp với đất đai, điều kiện khí hậu và kinh tế xã hội củavùng đó.
Các giống khác nhau có khả năng phản ứng với điều kiện sinh thái ở mỗivùng khác nhau Do đó, để xác định được một số giống tốt cho từng vùng sảnxuất nông nghiệp là việc làm cần thiết và đòi hỏi có thời gian nhất định Bởi vậyviệc xác định tính thích nghi của một giống mới trước khi đưa ra sản xuất trêndiện rộng thì giống đó phải được trồng ở nhiều vùng sinh thái khác nhau Mụcđích là để đánh giá tính khác biệt, độ đồng đều, tính ổn định, khả năng thíchứng, khả năng chống chịu sâu bệnh cũng như điều kiện bất thuận và khả năngcho năng suất chất lượng, hiệu quả kinh tế của giống đó
Bên cạnh các chỉ tiêu về năng suất, chất lượng, sức chống chịu…thì sinhtưởng, phát triển tốt trong điều kiện khí hậu đất đai và điều kiện canh tác tại địaphương là một trong những tiêu chí để xác định một giống lúa có tốt hay không
1.1.2 Đặc điểm thực vật của cây lúa.
1.1.2.1. Rễ.
Bao gồm hai loại rễ: rễ mầm và rễ phụ (rễ bất định)
Nhiệm vụ: Rễ mầm mọc ra đầu tiên khi hạt nảy mầm có tác dụng hútnước cung cấp cho phôi hạt phát triển và sau một thời gian sẽ bị rễ phụ thay thế;còn rễ phụ thì mọc ra từ các đốt trên thân lúa nằm trong đất, mỗi đốt có từ 5- 10
rễ, mọc thành chùm Màu sắc rễ non có màu trắng hoặc rễ có màu vàng là sở dĩ
do (Fe2+) kết hợp với oxy tạo thành sắt (Fe3+), có nhiệm vụ hút nước và muốikhoáng
Đặc biệt, cấu tạo của rễ lúa có những ống thông khí ăn thông với thân và
lá nên giúp cây lúa sống lâu được trong điều kiện ngập nước Rễ giúp cây bámchặt vào đất Trong điều kiện bình thường rễ non có màu trắng sữa, rễ già sẽ
chuyễn sang màu vàng, nâu nhạt rồi nâu đậm (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008 Giáo
trình cây lúa).
1.1.2.2. Thân.
Trang 9Thân lúa gồm nhiều đốt và lóng, thân lóng rỗng và được ôm chặt bởi bẹ
lá Các lóng bên dưới ngắn nên rất gần nhau, khoảng 5- 6 lóng trên cùng vươndài nhanh chóng khi có đòng (tượng bông, tượng khối sơ khởi)
Tại mỗi đốt trên thân có một mầm chồi, khi cung cấp đầy đủ các điều kiệncho sinh trưởng và phát triển các mầm chồi này sẽ phát triển thành chồi hoànthiện cấp 1 (chồi sơ cấp), và có thể từ đây có thể hình thành ra chồi cấp 2 (chồithứ cấp) rồi cấp 3 (chồi tam cấp), nếu chăm sóc tốt, các chồi này sẽ mang bôngvới rất nhiều hạt (chồi hữu hiệu)
Tùy vào từng giống, mà thân lúa có từ 12- 21 đốt Độ to nhỏ của lóng thứnhất và lóng trên ngọn có liên quan đến số gié, số hoa trên bông Nếu lóng sátmặt đất to thì cây chóng đỗ ngã, lóng cổ bông to, số bó mạnh nhiều dẫn tới bôngnhiều gié và nhiều hạt Nhiệm vụ của thân lúa là giữ cho cây lúa đứng vững vàvận chuyển chất dinh dưỡng
1.1.2.3. Lá.
Cấu tạo một lá lúa bao gồm phiến lá, bẹ lá và cổ lá
Phiến lá: Là phần phơi ra ngoài ánh sáng, có một gân chính ở giữa và
nhiều gân phụ chạy song song từ cổ đến chót lá, phiến lá càng đứng và chứanhiều diệp lục (xanh đậm) sẽ quang hợp càng mạnh tạo chất khô chuyển vị nuôicây và bông lúa về sau
Bẹ lá: Là phần tiếp theo phiến lá và ôm sát thân cây lúa giúp cây càng
đứng vững và ít bị đổ ngã, là nơi trung gian tích trữ và chuyển vận không khí,dinh dưỡng cho các bộ phận khác của cây lúa
Cổ lá: Là nơi tiếp giáp giữa phiến lá và bẹ lá, cổ lá có hai bộ phận đặc biệt
là tai lá và thìa lá, đủ hai bộ phận này là đặc điểm phân biệt giữa cây lúa và cáccây cỏ cùng họ khác tương tự cây lúa
Tai lá: Là phần kéo dài của hai bên mép phiến lá có dạng lông chim vàuốn cong như hình chữ C
Thìa lá: Là phần kéo dài của bẹ lá và chẻ đôi ở cuối ngọn
1.1.2.4. Bông.
Trang 10Bông lúa gồm có: Một trục chính, có nhiều đốt và mỗi đốt có từ 7- 10 giécấp I Trên gié cấp I có những gié cấp II, mỗi gié cấp II có từ 2- 5 hoa Nhữnggiống thuộc loại hình bông to sẽ có số hoa trên bông từ 90- 160
1.1.2.5. Hoa.
Hoa lúa là hạt lúa khi chưa thụ phấn, thụ tinh Hoa thuộc loại dĩnh hoagồm trấu lớn (dưới) trấu nhỏ (trên) tương ứng với dĩnh dưới và dĩnh trên, một bộnhụy cái, một bộ nhị đực (hoa lưỡng tính tự thụ) Bộ nhụy cái gồm bầu nõn vàvòi nhụy chẻ đôi với 2 nuốm ở tận cùng để hứng phấn Nhị đực gồm 6 tua nhụymang 6 bao phấn, nhụy cái có vòi nhụy phân đôi hình lông chim
1.1.2.6. Hạt.
Hạt lúa gồm 2 phần: Vỏ lúa và hạt lúa
Vỏ lúa: Vỏ lúa gồm hai vỏ trấu ghép lại (trấu lớn và trấu nhỏ) Phần vỏ
chiếm khoảng 20% trọng lượng của hạt lúa
Hạt gạo: Hạt gạo bên trong vỏ lúa, hạt gạo gồm 4 phần:
Vỏ cám: Tùy theo giống mà vỏ cám có màu sắc khác nhau, có tác dụngbảo vệ, chống ẩm, chống sâu bệnh cho phôi và nội nhủ
Phôi mầm: Nằm ở góc dưới hạt gạo, chỗ dính vào đế hao và ở phía sautrấu lớn Phôi là nơi dự trữ chất dinh dưỡng của hạt và nảy mầm tạo cây mớitrong điều kiện thích hợp
Nội nhũ: Chiếm phần lớn hạt gạo chứa chất dự trữ, chủ yếu là tinh bột(phần gạo chúng ta ăn hằng ngày) Bên ngoài hạt gạo được bao bọc bởi một lớp
vỏ lụa mỏng chứa nhiều vitamin, nhất là vitamin nhóm B Khi chà trắng lớp nàytróc ra thành cám mịn
Tinh bột: Tinh bột được cấu tạo bởi 2 loại polysacchride, được gọi làamylose và amylopectin
1.1.3 Các giai đoạn sinh trưởng
Theo Nguyễn Ngọc Đệ (2008) và Nguyễn Thành Hối (2010) Thời giansinh trưởng của cây lúa chia làm 3 giai đoạn:
Trang 111.1.3.1. Giai đoạn tăng trưởng.
Giai đoạn tăng trưởng bắt đầu từ khi nảy mầm đến khi cây lúa bắt đầuphân hoá đòng Giai đoạn này, cây phát triển về thân lá, chiều cao tăng dần và ranhiều chồi mới (nở bụi) Cây ra lá ngày càng nhiều và kích thước lá ngày cànglớn giúp cây lúa nhận nhiều ánh sáng mặt trời để quang hợp, hấp thụ dinhdưỡng, gia tăng chiều cao, nở bụi và chuẩn bị cho các giai đoạn sau
Trong điều kiện đầy đủ dinh dưỡng, ánh sáng và thời tiết thuận lợi, câylúa bắt đầu nở bụi khi có lá thứ 5- 6 Chồi ra sớm trong nương mạ gọi là chồingạnh trê Sau khi cấy, cây mạ mất thời gian để hồi phục, bén rể rồi nở bụi rấtnhanh, cùng với sự gia tăng chiều cao, khích thước lá đến khi đạt số chồi tối đathì không tăng nữa mà các chồi yếu bắt đầu rụi dần (chồi vô hiệu hay còn gọi làchồi vô ích), số chồi giảm xuống Thời điểm có chồi tối đa có thể đạt trước,cùng lúc, hay sau thời kỳ bắt đàu phân hoá đòng tuỳ theo giống lúa (Nguyễn
Ngọc Đệ (Giáo trình cây lúa, 2008).
Giai Đoạn này dài hay ngắn tùy theo giống lúa, các giống cao sản ngắnngày (khoảng 100 ngày) có giai đoạn này từ 40- 45 ngày, nhưng các giống lúadài ngày có khi giai đoạn này kéo dài từ 4- 6 tháng (Nguyễn Thành Hối, 2010)
1.1.3.2. Giai đoạn sinh sản.
Giai đạn sinh sản bắt đầu từ lúc phân hoá đòng đến khi lúa trổ bông Giaiđoạn này kéo dài từ 27- 35 ngày, trung bình 30 ngày và các giống dài hay ngắnngày thường không khác nhau nhiều Lúc này số chồi vô hiệu giảm nhanh, chiềucao tăng lên rõ rệt do sự vươn dài của 5 lóng trên cùng Đòng lúa hình thành vàphát triển qua nhiều giai đoạn, cuối cùng thoát ra khỏi bẹ của lá cờ, lúa bắt đầutrỗ bông Trong gian đoạn này, nếu đầy đủ dinh dưỡng, mực nước thích hợp,ánh sáng nhiều, không sâu bệnh và thời tiết thuận lợi thì số bông sẽ hình thànhnhiều hơn và vỏ trấu sẽ đạt kích thước lớn nhất của giống, tạo điều kiện gia tăngtrọng lượng hạt sau này
Trang 12giai đoạn sau khi trỗ Do đó, các điều kiện dinh dưỡng, tình trạng sinh trưởng,phát triển của cây lúa và thời tiết từ giai đoạn lúa trổ trở đi hết sức quan trọngđối với quá trình hình thành năng suất lúa Kích thước và trọng lương hạt tăngdần làm đày vổ trấu Bông lúa nặng cong xuống nên gọi là lúa “cong trái me”.Hạt gạo chứa một dịch lỏng màu trắng đục như sữa, nên gọi là thời kỳ ngậm sữa.
Thời kỳ chín sáp: Hạt mất nước, từ từ cô đặc lại nhưng vỏ trấu vẫn cònxanh
Thời kỳ chín vàng: Hạt tiếp tục mất nước, gạo cứng dần, trấu chuyển sangmàu vàng đặc thù của giống lúa, bắt đầu từ những hạt cuối cùng ở chót bông landần xuống các hạt ở phần cổ bông nên gọi là “lúa đỏ đuôi”, lá già rụi dần
Thời kỳ chín hoàn toàn: Hạt khô cứng lại, ẩm đọ hạt khoảng 20% hoặcthấp hơn, tuỳ ẩm độ môi trường, lá xanh chuyển vàng và rụi dần Thời điểm thuhoạch tốt nhất là khi 80% hạt lúa ngả sang màu trấu đặc trưng của giống
1.1.4 Đặc tính nông học của lúa.
1.1.4.1 Thời gian sinh trưởng của cây lúa.
Theo Bùi Chí Bửu (1998) cho rằng: Thời gian sinh trưởng thường donhiều gen điều kiển, cho nên sự phân ly có thể xảy ra đối với cả hai đặc tínhchín sớm và chín muộn (Bùi Chí Bửu và ctv.,1989)
Cây lúa thường chiếm 3- 6 tháng từ lúc nẩy mầm đến khi chín, phụ thuộcvào giống và môi trường sinh trưởng Trong thời kỳ ấy, cây lúa hoàn thành đượchai giai đoạn sinh trưởng chính kế tiếp nhau: Giai đoạn sinh trưởng dinh dưỡng
và giai đoạn sinh trưởng sinh thực Thời gian sinh trưởng của một giống lúa tùythuộc vào vùng và mùa vụ vì có phản ứng giữa quang chu kỳ, nhiệt độ và cácđiều kiện nhiệt độ khác (Shouichi Yoshida, 1985)
Theo Nguyễn Văn Hoan (1999), các giống lúa có thời gian sinh trưởngkhác nhau, chủ yếu do sự dài ngắn khác nhau ở thời kỳ sinh trưởng dinh dưỡng.Hai giai đoạn sau nhìn chung ổn định không phụ thuộc vào thời gian sinh trưởngcủa giống dài hay ngắn Thời gian sinh trưởng của một giống chuyên biệt caotheo vùng và theo mùa vì những tương tác giữa sự mẫn cảm quang kỳ và nhiệt
độ của giống với điều kiện thời tiết
Các giống có thời gian sinh trưởng quá ngắn có thể không cho năng suấtcao vì sự sinh trưởng dinh dưỡng hạn chế và những giống có thời gian sinh
Trang 13trưởng quá dài có thể cũng không cho năng suất cao vì sự sinh trưởng dinhdưỡng dư có thể gây đổ ngã (Shouichi Yoshida, 1981) Shouichi Yoshida (1981)còn cho rằng: Thời gian sinh trưởng tổng cộng của các giống chín sớm khoảng
90 ngày Nếu sạ thẳng dường như cần cho giống 90 ngày đủ cho sự sinh trưởngdinh dưỡng trước khi tượng bông Đối với lúa cấy, nếu thời gian sinh trưởngtổng cộng 90 ngày, thì 20 ngày ở nương mạ, 60 ngày cho sự sinh trưởng sinhdục và sự chín, còn 10 ngày cho sự sinh trưởng dinh dưỡng tích cực thì không
đủ Lúa cấy, khoảng 100 ngày là thời gian ngắn hợp lý để đạt năng suất cao
Theo Yoshida (1981), nếu thời gian sinh trưởng quá ngắn thì cây lúakhông có đủ thời gian tích lũy chất khô cho quá trình sinh trưởng dinh dưỡng vàsinh sản sinh dục thì không thể cho năng suất cao, giống có thời gian sinhtrưởng quá dài có thể không có năng suất cao do sự sinh trưởng dinh dưỡng dư
có thể gây đổ ngã Đối với các giống lúa ngắn ngày, do thời gian sinh trưởngngắn, nó cần sử dụng nhiều hơn về dinh dưỡng, năng lượng ánh sáng mặt trời đểtạo năng suất , nên phải chú ý tạo giống lúa thấp cây, lá đồng thẳng đứng (BùiChí Bửu, 1998)
Theo Võ Tòng Xuân (1986) cho rằng các giống lúa có thời gian sinhtrưởng từ 110- 135 ngày luôn luôn cho năng suất cao hơn các giống chín sớmhơn và các giống chín muộn hơn ở phần lớn điều kiện canh tác
Bên canh đó, Nguyễn Đình Giao (1997) cho rằng các giống có thời giansinh trưởng quá ngắn có thể cho năng suất không cao vì sự sinh trưởng dinhdưỡng bị hạn chế, còn những giống có thời gian sinh trưởng quá dài cũng khôngcho năng suất cao vì sự dinh dưỡng dư có thể gây đỗ ngã
Theo Nguyễn Thành Hối (2011) thì thời gian sinh trưởng cây lúa đượcchia làm bốn nhóm:
A0= cực ngắn ngày, <90 ngày
A1= nhắn ngày, 90- 105 ngày
A2= tương đối ngắn ngày, 106- 120 ngày
Trang 14Theo Nguyễn Ngọc Đệ (2008) lúa ngắn hay dài ngày là do sự kéo dài chủyếu của giai đoạn tăng trưởng Thời gian của các giai đoạn tăng trưởng có thểthay đổi một ít do phụ thuộc vào đặc tính giống, đất đai, mùa vụ trồng, phânbón, chế độ chăm sóc và nhiệt độ của môi trường.
1.1.4.2. Chiều cao cây.
Theo Bùi Chí Bửu và ctv., (1992) cho rằng: Chiều cao của cây lúa là mộtđặc tính di truyền tùy theo giống Chiều cao cây được kiểm soát bởi đa gen vàchịu ảnh hưởng của hoạt động cộng tính Có ít nhất 5 nhóm gen điều khiển tínhtrạng chiều cao cây lúa Chiều cao cây được kiểm soát bởi đa gen và chịu ảnhhưởng hoạt động của gen cộng tính
Theo Jennings el al (1979), thân mạ thấp và cứng là hai yếu tố quyết địnhtính đỗ ngã Thân cây lúa dày hơn thì có nhiều bó mạch hơn, nó sẽ cung cấp vàtạo khả năng vận chuyển chất khô tích lũy tốt hơn Thân cứng và dày có ý nghĩarất quan trọng trong việc chống đỗ ngã và dẫn đến chỉ số thu hoạch cao hơn.Nếu thân lá không dày, thân không cứng và khỏe thì cho nên dù cây có tổng hợpđược nhiều chất xanh cũng dẫn đến đỗ ngã, che khuất lẫn nhau làm gia tăng một
số dịch hại dẫn đến năng suất giảm
Cây cao 90- 100 cm được coi là lý tưởng cho năng suất cao Cây có chiềucao thích hợp từ 80- 100 cm là thích hợp, tuy nhiên cây lúa có thể cao tới 120
cm trong một số điều kiện nào đó (Jennings và ctv.,1979)
1.1.4.3. Số nhánh.
Nhánh được hình thành từ các mắt trên thân (mầm mắt) Các mầm này cóthể phát triển tạo thành nhánh khi gặp điều kiện thuận lợi Khả năng đẻ nhánhnhiều hay ít phụ thuộc vào đặc điểm di truyền của từng giống, vào tuổi mạ, kỹthuật cấy, điều kiện dinh dưỡng, nước, điều kiện ngoại cảnh…
Cây lúa non hoặc cây mạ được gọi là thân chính Các nhánh mọc ra từthân chính được gọi là nhánh nguyên thuỷ (cây lúa thường có từ 5- 7 nhánhnguyên thuỷ) Các nhánh mọc ra từ nhánh nguyên thuỷ được gọi là nhánh cấp 2
và các nhánh mọc ra từ nhánh cấp 2 được gọi là nhánh cấp 3 Nhánh nguyênthuỷ phát triển ở giữa thân chính và lá thứ hai kể từ gốc Mặc dù vẫn dính liềnvào thân cây mẹ tới tận những giai đoạn phát triển sau, nhưng nhánh nguyênthuỷ vẫn độc lập kể từ khi nó có rễ riêng
Trang 15Thời gian đẻ nhánh của cây lúa được tính từ khi lúa bén rễ hồi xanh đếnkhi làm đốt, làm đòng Tuy nhiên ở ruộng mạ cũng có hiện tượng đẻ nhánh nếu
mạ gieo thưa, hoặc những cây mạ quanh bờ có thể đẻ 1- 2 nhánh đầu tiên khi có4- 5 lá (gọi là mạ ngạnh trê), nhưng ngay lúc đó mật độ cây trong ruộng mạ tănglên và quá trình đẻ nhánh ngừng lại Về khả năng đẻ nhánh của cây lúa thì phụthuộc vào phạm vi mắt đẻ (tức là số lá trên cây mẹ, tuổi mạ và số lóng đốt kéodài) và điều kiện ngoại cảnh
Theo Yoshida (1981), về mặt lý thuyết ở điều kiện đặc biệt, một cây lúa
có thể mọc ra 40 chồi Tuy nhiên, trong thực tế tất cả những mầm chồi khôngnhất thiết phát triển thành chồi Khoảng cách trồng, ánh sáng, nguồn dinh dưỡng
và điều kiện môi trường, kỹ thuật canh tác ảnh hưởng đến sự nảy chồi
Chồi hình thành bông (chồi hữu hiệu hay chồi hữu ích) thấp hơn so với sốchồi tối đa và ổn định khoảng 10 ngày trước khi đạt được số chồi tối đa Cácchồi ra sau đó thường sẽ tự rụi đi không thành bông được do chồi yếu không đủkhả năng cạnh tranh dinh dưỡng, ánh sáng với các chồi khác gọi là chồi vô hiệu(Nguyễn Ngọc Đệ, 2008)
Người ta cũng phân biệt thời gian đẻ nhánh hữu hiệu và vô hiệu Trên câylúa, thông thường chỉ có những nhánh đẻ sớm, ở vị trí mắt đẻ thấp, có số lánhiều, điều kiện dinh dưỡng thuận lợi mới có điều kiện phát triển đầy đủ để trởthành nhánh hữu hiệu (nhánh thành bông) Còn những nhánh đẻ muộn, thời giansinh trưởng ngắn, số lá ít thường trở thành nhánh vô hiệu
Võ Tòng Xuân (1986) cho rằng giống có nhiều chồi rất cần thiết cho sảnlượng tối đa trong quần thể dày hoặc trung bình Tuy nhiên, khả năng nảy chồitrung bình cũng được xem là tốt đối với những giống lúa cho năng suất cao
1.1.4.4. Chiều dài bông
Chiều dài bông do đặc tính di truyền quyết định nhưng chịu ảnh hưởngmạnh của điều kiện môi trường, nhất là điều kiện dinh dưỡng trong giai đoạnđầu hình thành bông (Trương Thị Ngọc Sương, 1991) Và chiều dài bông đượctính từ đốt cổ bông đến chót bông
Trong chọn giống việc chọn tạo cây lúa có chiều dài bông bằng nữa chiềucao thân lúa là tốt nhất Giống có bông dài hạt xếp khít, tỷ lệ hạt chắc cao, khốilượng 1000 hạt cao sẽ cho năng suất cao (Vũ Văn Liết và ctv., 2004) Chiều dài
Trang 16bông thay đổi tùy vào giống và góp phần gia tăng năng suất Do vậy trong tươnglai việc chọn tạo cây lúa có chiều dài bông bằng nữa chiều cao cây là tốt nhất.
1.1.5 Một số đặc tính ảnh hưởng đến năng suất lúa.
1.1.5.1. Số bông/m 2
Theo Nguyễn Ngọc Đệ (2008) Số bông trên đơn vị diện tích được quyếtđịnh vào giai đoạn sinh trưởng ban đầu của cây lúa (giai đoạn tăng trưởng) Sốbông trên đơn vị diện tích tùy thuộc vào mật độ sạ cấy và khả năng nở bụi củalúa Và phụ thuộc vào nhiều yếu tố như đặc tính di truyền, kỹ thuật canh tác,môi trường đất, môi trường nước, mùa vụ… (Trần Thanh Hoàng, 2005) TheoNguyễn Thị Lang (1994) cho rằng Số bông/bụi mang đặc tính di truyền địnhlượng và còn chịu điều khiện canh tác
Theo Shouichi Yoshida (1981) trong canh tác lúa cấy, số bông/m2 tùythuộc nhiều vào sự đâm chồi, nó được xác định phần lớn ở 10 ngày sau giaiđoạn trổ tối đa Tuy nhiên, ở hệ thống sạ thẳng, số bông/m2 tùy thuộc nhiều vàolượng giống để sạ và phần trăm nẩy mầm Số bông/m2 chịu ảnh hưởng bởi:
- Kỹ thuật canh tác- khoảng cách (mật độ sạ) và sự bón đạm
- Đặc điểm sinh trưởng- sự đâm chồi (mọc của mạ)
- Điều kiện khí hậu- bức xạ mặt trời và nhiệt độ
Nguyễn Như Hà (1999), tăng mật độ cấy làm cho việc đẻ nhánh của mộtbụi giảm Số bông trên đơn vị diện tích tùy thuộc vào mật độ sạ cấy và khả năng
nở bụi của lúa thay đổi theo giống, điều kiện đất đai, thời tiết, lượng phân bónnhất là phân đạm và chế độ nước
Số bông trên đơn vị diện tích có ảnh hưởng thuận với năng suất Đối vớilúa sạ phải đạt 500- 600 bông/m2, lúa cấy phải đạt 350- 450 bông/m2 mới có thểcho năng suất cao (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008)
Lê Xuân Thái (2003) lại cho rằng: Cây lúa chỉ cần có bông vừa phải, giatăng số hạt chắc trên bông thì tốt hơn là gia tăng số bông trên đơn vị diện tích.Các giống lúa cải tiến ngày nay có thể đẻ nhánh từ 20- 25 nhánh trong điều kiệnđầy đủ dinh dưỡng nhưng chỉ khoảng 14- 15 nhánh cho bông hữu hiệu
Như vậy, số bông trên đơn vị diện tích là yếu tố rất quan trọng trongthành phần năng suất Ở mức độ nhất định, số bông trên đơn vị diện tích càngtăng thì năng suất lúa càng cao nên ngoài yếu tố giống cần có biện pháp canh
Trang 17tác thích hợp như bón phân đúng thời điểm, điều chỉnh mực nước ruộng hợplý, giúp lúa tăng số chồi hữu hiệu, tăng số bông trên đơn vị diện tích vànâng cao năng suất.
Số bông/m2 là một chỉ tiêu quan trọng ảnh hưởng đến năng suất Nhiềunhà nghiên cứu trước đây cố gắng tăng cao năng suất thông qua việc gia tăng sốbông/m2 Tuy nhiên, số bông/m2 của một giống thường bị tác động do nhiều yếu
tố khác nhau: Giống, kỹ thuật canh tác, môi trường đất, mùa vụ, Đối với lúamùa, số bông/m2 biến thiên từ 40- 256 bông Số bông trung bình của các giống
là 119 bông/m2 thường tập trung nhiều ở khoảng 81- 160 bông/m2 (Nguyễn VănSánh, 1981)
Số bông trên đơn vị diện tích có ảnh hưởng thuận với năng suất Cácgiống lúa cải thiện thấp cây có số bông/m2 trung bình phải đạt 500- 600 bông/m2
đối với lúa sạ, 350- 450 bông/m2 đối với lúa cấy mới có thể cho năng suất cao(Nguyễn Ngọc Đệ, 2008)
Số bông/đơn vị diện tích cũng ảnh hưởng bởi yếu tố mùa vụ, trong đó vụĐông Xuân có số bông/m2 cao hơn vụ Hè Thu vì vụ Hè Thu mưa nhiều nên làmảnh hưởng đến khả năng quang hợp, do đó làm giảm khả năng nảy chồi
Nguyễn Đình Giao (1997) đã khẳng định, số bông có quan hệ nghịch với
số hạt/bông và trọng lượng hạt Vì vậy, khi tăng mật độ sạ, số bông/m2 sẽ tăngnhưng số lượng hạt/bông và trọng lượng hạt sẽ giảm
Cây lúa chỉ cần có số bông vừa phải, gia tăng số hạt chắc trên bông thì tốthơn gia tăng số bông trên đơn vị diện tích (Bùi Chí Bửu, 1997)
1.1.5.2. Hạt chắc/bông.
Theo Shouichi Yoshida (1981), đặc tính số hạt trên bông chịu tác độnglớn của điều kiện môi trường, số hạt trên bông tùy thuộc vào gié hoa phân hóa
và gié hoa không phân hóa
Số hạt trên bông được quyết định từ lúc tượng cổ bông đến năm ngàytrước khi trổ nhưng quan trọng nhất là thời kì phân hóa hoa và giảm nhiễm tíchcực Số hạt trên bông được quyết định trong giai đoạn sinh trưởng sinh dục.Khởi đầu sự sinh trưởng sinh dục, số hạt tối đa được xác định bởi sự phân hoácác nhánh và hạt (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008)
Trang 18Đối với những giống lúa bông to, kỹ thuật canh tác tốt, bón phân đầy đủ,chăm sóc đúng mức, thời tiết thuận lợi thì số hoa phân hóa càng nhiều, số hoathoái hóa càng ít, nên số hạt cuối cùng trên bông cao (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008).
Số hạt chắc trên bông là yếu tố quan trọng góp phần làm tăng năng suất hoặcgiảm năng suất cây lúa Các giống có số hạt chắc/bông cao sẽ có tiềm năng chonăng suất cao
Số bông có thể đóng góp 74% năng suất, trong khi đó số hạt và trọng
lượng hạt đóng góp 26% (Nguyễn Đình Giao, 1997) Theo Nguyễn Ngọc Đệ
(2008) cho rằng: Ở các giống lúa cải thiện, số hạt trên bông từ 80- 100 hạt đốivới lúa sạ hoặc 100- 120 hạt đối với lúa cấy là tốt trong điều kiện đồng bằngsông Cửu Long
Các giống lúa mùa có số hạt trên bông biến thiên từ dưới 90 hạt đến trên
200 hạt, tập trung trong khoảng 101- 150 hạt (Nguyễn Văn Sánh, 1981) Nếu lúanảy chồi kém hoặc ruộng có ít chồi thì năng suất sẽ không cao dù có cố gắngtăng trọng lượng hạt hoặc tăng số hạt trên bông
1.1.5.3. Tỷ lệ hạt chắc.
Theo Nguyễn Đình Giao và ctv (1997) tỷ lệ hạt chắc được quyết định vàothời kỳ trước và sau trổ bông, có ba thời kỳ quyết định trực tiếp là giảm nhiễm,trổ bông và chín sữa Nguyên nhân hạt lép là do quá trình thụ phấn, thụ tinhkhông thuận lợi, khi ra hoa gặp rét hoặc quá nóng, ẩm độ không khí quá thấphoặc quá cao, làm cho hạt phấn mất khả năng nẩy mầm, hoặc trước đó nhị vànhụy phát triển không hoàn toàn, tế bào mẹ hạt phấn bị hại, Xu hướng chọngiống hiện nay là chọn giống có mật độ hạt trên bông cao cùng với tỷ lệ hạt chắccao (Vũ Văn Liết và Nguyễn Văn Hoan, 2007)
Phần trăm hạt chắc được xác định trước, trong và sau khi trổ gié Đánhgiá ngắn về mọi yếu tố ảnh hưởng đến phần trăm hạt chắc như sau (Yoshida vàParao, 1976) (trích Bùi Chí Bửu và Nguyễn Thị Lang, 2011):
- Mức bón đạm cao: Vài giống có thể có phần trăm hạt chắc thấp hơn nhữnggiống khác ở mức đạm cao Ở mức đạm cao, sự đổ ngã hoặc thân cong làm giảmphần trăm hạt chắc Sự đổ ngã giảm phần trăm cắt ngang của bó mạch làm rốiloạn sự vận chuyển chất đồng hóa và dưỡng chất hấp thu qua rễ Hiện tượng nàycũng làm rối loạn sự sắp xếp lá và tăng bóng rợp
Trang 19- Bức xạ mặt trời thấp: Phần trăm hạt chắc được xác định bởi sự hoạt động tươngđối giữa nguồn và kích thước của sức chứa (số bông), khả năng số hạt nhậncarbohydrat, và sự vận chuyển chất đồng hóa từ lá vào hạt Khi bức xạ mặt trờithấp, sự hoạt động của nguồn không đủ tạo carbohydrat cho sự sinh trưởng củacác hạt Kết quả, số hạt lép có thể tăng.
- Nhiệt độ thấp: Nhiệt độ không khí dưới 200C có thể làm phần trăm bất thụ caonếu nhiệt độ này kéo dài hơn vài ngày ở giai đoạn ngậm đòng và trổ bông
- Nhiệt độ cao: Nhiệt độ cao rút ngắn giai đoạn chắc hạt Nhiệt độ lớn hơn 350Ckhi trổ bông có thể làm phần trăm bất thụ cao
- Gió mạnh: Gió mạnh có thể làm bất thụ khi trổ bông vì làm khô cây, làm hại sựsinh trưởng của hạt do tác động cơ học ở bề mặt hạt và làm cây đổ ngã Khôngkhí nóng, khô được gọi là foehn thường gây bạc đầu, đặc biệt nó xảy ra lúc nhúbông Gió mạnh từ bờ biển thường chứa nước mặn và làm hạt bất thụ.
- Độ mặn của đất: Độ mặn cao trong đất làm phần trăm bất thụ cao
- Hạn: Hạn khi trổ bông thường làm phần trăm bất thụ cao
- Tỷ lệ hạt chắc chịu ảnh hưởng lớn của điều kiện ngoại cảnh nên cần gieo sạđúng thời vụ để lúa trổ và chín trong điều kiện thời tiết tốt, mật độ sạ, cấy vừaphải tránh đổ ngã Đồng thời, bón phân nuôi đòng, nuôi hạt đầy đủ để lúa trổbông, thụ phấn, thụ tinh và vào hạt đầy đủ ạnh từ bờ biển thường chứa nướcmặn và làm hạt bất thụ
1.1.5.4. Trọng lượng 1000 hạt.
Theo Nguyễn Ngọc Đệ (2008) trọng lượng hạt được quyết định ngay từthời kỳ phân hóa hoa đến khi lúa chín, nhưng quan trọng nhất là thời kỳ giảmnhiễm tích cực và vào chắc rộ Trọng lượng hạt chủ yếu do đặc tính di truyềncủa giống quyết định, điều kiện môi trường có ảnh hưởng một phần vào thời
kỳ giảm nhiễm (18 ngày trước khi trổ) trên cỡ hạt; cho đến khi vào chắc rộ(15- 25 ngày sau khi trổ) trên độ nảy của hạt Đặc tính trọng lượng 1000 hạt ítchịu tác động của điều khiện môi trường và có hệ số di truyền cao (Nguyễn
Đình Giao, 1997).
Trọng lượng 1000 hạt không đổi của một giống không có nghĩa là từnghạt giống có cùng trọng lượng Trọng lượng từng hạt thay đổi ở vài trường hợpnhưng giá trị trung bình không đổi phụ thuộc vào giống, so với các yếu tố kháccủa thành phần năng suất thì chỉ tiêu này ít biến động Theo Shouichi Yoshida(1981), (trích Nguyễn Ngọc Đệ, 2008) trọng lượng 1000 hạt là đặc tính ổn địnhcủa giống vì kích thước hạt bị kiểm tra chặt chẽ bởi vỏ trấu Do đó, không thể
Trang 20sinh trưởng lớn hơn khả năng vỏ trấu dù các điều kiện thời tiết thuận lợi vànguồn cung cấp dinh dưỡng tốt.
Theo Lê Xuân Thái (2003) chọn giống có trọng lượng 1000 hạt cao là rấtcần thiết trong việc gia tăng năng suất lúa, nhưng không nên chọn những giốnglúa có trọng lượng 1000 hạt quá cao vì như thế sẽ kèm theo độ bạc bụng nhiều
Theo Lê Trọng Nguyễn (2011) cũng cho rằng khối lượng 1000 hạt củamột giống có thể thay đổi trong một thời gian nhất định nhưng giá trị trungbình thì luôn ổn định Tính trạng trọng lượng ngàn hạt có hệ số di truyền cao
và ít chịu tác động của môi trường nên việc chọn giống có trọng lượng 1000hạt cao là rất cần thiết, Tuy nhiên không nên chọn các giống có hạt quá to, vìhạt to thường kéo theo bạc bụng nhiều và giá trị xuất khẩu thấp (Nguyễn Đình
Giao, 1977).
Ở phần lớn các giống lúa trọng lượng 1000 hạt thường dao động từ 20- 30gam (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008) Theo Nguyễn Văn Sánh (1981) các giống lúamùa có trọng lượng 1000 hạt biến thiên từ dưới 23 gam đến trên 29 gam, tậptrung nhiều nhất ở cỡ hạt 25- 27 gam
Trọng lượng 1000 hạt là yếu tố cuối cùng tạo nên năng suất lúa So vớicác yếu tố khác thì trọng lượng 1000 hạt tương đối ít biến động, nó phụ thuộcchủ yếu vào yếu tố giống Trọng lượng 1000 hạt do hai bộ phận cấu thành: trọnglượng vỏ trấu và trọng lượng hạt gạo Trọng lượng vỏ trấu thường chiếm 20% vàtrọng lượng hạt chiếm 80% trọng lượng toàn hạt Muốn có trọng lượng hạt caocần phải tác động vào cả hai yếu tố này (Nguyễn Đình Giao, 1997)
1.1.5.5. Mối quan hệ giữa các thành phần năng suất.
Trên đồng ruộng các yếu tố năng suất có mối quan hệ lẫn nhau rất chặtchẽ Muốn tăng năng suất lúa không thể chỉ tác động riêng rẽ từng yếu tố màphải tác động tổng hợp vào chúng Khi thay đổi mật độ cấy (số rảnh cơ bản)
sẽ tạo ra quá trình đẻ nhánh và hình thành số bông khác nhau, từ đó sẽ ảnhhưởng đến trọng lượng hạt và năng suất Trong các yếu tố năng suất thì sốbông biến động mạnh nhất, kế đến là số hạt trên bông, còn trọng lượng hạt ítbiến động nhất
Theo nghiên cứu của Đào Thế Tuấn (1970) (trích Nguyễn Đình Giao vàctv., 1997) số bông có quan hệ nghịch với số hạt trên bông và trọng lượng hạt.Còn số hạt trên bông và trọng lượng hạt lại có quan hệ thuận Nếu tăng mật độ
Trang 21gieo sạ, số bông trên đơn vị diện tích sẽ tăng nhưng số hạt chắc trên bông vàtrọng lượng 1000 hạt sẽ giảm Nếu mật độ quá dày, đầu tư phân bón cao sẽ dẫnđến gia tăng sâu bệnh trên cây lúa.
Đó là khả năng tự điều tiết của quần thể cây trồng, khi yếu tố này tăng lạigiảm yếu tố khác và ngược lại Kết quả là tích số của chúng (năng suất) lại ítthay đổi (Nguyễn Đình Giao và ctv., 1997) Trong thực tế sản xuất không thể coinhẹ tác động của con người, tức là tác động của các yếu tố kỹ thuật theo hướng
có lợi nhất nhằm đạt năng suất cao
1.1.6 Ảnh hưởng của điều kiện khí hậu đến năng suất.
1.1.6.1 Nhiệt độ.
Nhiệt độ là yếu tố có tác dụng quyết định đến quá trình sinh trưởng củacây lúa Tùy từng giai đoạn phát triển của cây lúa mà ảnh hưởng của nhiệt độ cókhác nhau (Đinh Thế Lộc, 2006)
Theo Nguyễn Ngọc Đệ (2008), nhiệt độ có tác dụng quyết định đến tốc độsinh trưởng của cây lúa nhanh hay chậm, tốt hay xấu Trong phạm vi giới hạn(20- 300ºC), nhiệt độ càng tăng cây lúa phát triển càng mạnh Nhiệt độ trên400°C hoặc dưới 170ºC, cây lúa tăng trưởng chậm lại Dưới 130ºC cây lúangừng sinh trưởng Nếu kéo dài một tuần cây lúa sẽ chết
Theo Trương Đích (2000) nhận định: Nhiệt độ tương quan chặt với bức
xạ mặt trời, mà bức xạ mặt trời là yếu tố khí hậu cơ bản quyết định năng suấtcây trồng, do vậy nhiệt độ và năng suất cây trồng có mối tương quan thuận và cónhiều trường hợp nhiệt độ tương quan chặt với năng suất Trong phạm vi nhiệt
độ thích hợp thì sự chênh lệch lớn giữa nhiệt độ ban ngày và ban đêm sẽ thuậnlợi cho lúa làm hạt, chín và dễ đạt năng suất cao hơn trong những vùng mà nhiệt
độ ngày và đêm chênh lệch ít
Tóm lại, nhiệt độ có ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng và phát triển của câylúa Nhiệt độ thích hợp sẽ giúp lúa phát triển tốt, thúc đẩy quang hợp cho năngsuất cao Ngược lại, nhiệt độ ngoài giới hạn sẽ làm lúa sinh trưởng chậm lạihoặc ngừng sinh trưởng
Do đó, mỗi địa phương cần bố trí lịch thời vụ thích hợp để gieo trồng, tạođiều kiện thuận lợi về nhiệt độ và các yếu tố môi trường khác cho lúa sinhtrưởng, phát triển tốt
Trang 22Theo Trương Đích (2000) nhận định rằng: Bức xạ mặt trời là yếu tố khítượng quan trọng nhất quyết định năng suất lúa, đặc biệt ở giai đoạn hình thànhsản lượng, kế đến là giai đoạn chín, còn giai đoạn sinh trưởng dinh dưỡng ảnhhưởng không đáng kể.
1.1.6.3 Lượng mưa.
Lượng mưa trong năm là nguồn nước chủ yếu cung cấp cho cây lúa Vìvậy, lượng mưa và sự phân bố của nó có tính chất quyết định đến vụ lúa trongnăm Ngoài việc cung cấp đầy đủ nước cho sinh trưởng phát triển của cây lúa,nước mưa còn có tác dụng làm thay đổi điều kiện tiểu khí hậu trong ruộng lúa vàmang theo nguồn đạm từ khí trời
Theo các tài liệu quan trắc và tính toán được, ở nước ta nước mưa hàngnăm đã cung cấp thêm khoảng 16 kg đạm vơ cơ cho một ha (Định Thế Lộc,2006) Trong điều kiện thủy lợi chưa hoàn chỉnh lượng mưa là một trongnhững yếu tố khí hậu có tính chất quyết định đến việc hình thành các vùngtrồng lúa và các vụ lúa trong năm Nếu công tác thủy lợi tốt, ruộng lúa chủđộng được nước thì mưa nhiều không có lợi cho sự gia tăng năng suất lúa.Ngược lại mưa nhiều, gió to, trời âm u, ít nắng cây lúa phát triển không thuậnlợi Mưa còn tạo điều kiện ẩm độ thích hợp cho sâu bệnh phát triển làm hại lúa(Nguyễn Ngọc Đệ, 2008)
1.1.6.4. Gió.
Giai đoạn làm đòng và trổ, gió mạnh ảnh hưởng xấu đến quá trình hìnhthành và phát triển của đòng lúa, sự trổ bông, thụ phấn, thụ tinh và sự tích lũychất khô trong hạt bị trở ngại làm tăng tỷ lệ hạt lép, hạt lửng (gạo không đầy
vỏ trấu) làm giảm năng suất lúa Tuy nhiên, gió nhẹ giúp cho quá trình traođổi không khí trong quần thể ruộng lúa tốt hơn, tạo điều kiện thuận lợi choquá trình quang hợp và hô hấp của ruộng lúa góp phần tăng năng suất
Trang 23(Nguyễn Ngọc Đệ, 2008).
1.1.7 Các quan điểm về đặc điểm của cây lúa cho năng suất cao.
Xuất phát từ thực tế sản xuất với nhiều yếu tố tự nhiên bất lợi khôngngừng tác động trong quá trình sinh trưởng và phát triển của cây lúa làm giảmđáng kể năng suất Nhiều nhà khoa học đã nghiên cứu và đưa ra những kết luận
về đặc điểm cây lúa giúp cho việc hạn chế những tác động bất lợi của môitrường ở từng điều kiện cụ thể và phù hợp với kỹ huật thâm canh cho năng suấtcao Cụ thể:
Theo Võ Tòng Xuân (1981), ngoài những đặc tính như thân ngắn, mọcthẳng để dễ quang hợp, có chiều cao trung bình trên dưới 1m để chống đổ ngã,
có bẹ ôm sát thân, lá cờ thẳng và có đặc tính giấu bông để tránh chim chuột thìcây lúa năng suất cao cần phải nở bụi nhiều và mạnh để để cây có nhiều bông,bông phải nhiều và hạt lớn, hạt gạo dài, trắng trong và thơm, chống được cácloại sâu bệnh và côn trùng phổ biến
Theo Matsushima (1970) (trích theo Đặng Văn Bân, 2013) đưa ra 6 đặcđiểm về kiểu hình cây lúa lý tưởng như sau:
- Cây có đủ số hạt cần thiết trên đơn vị diện tích để đạt được năng suất như mongmuốn
- Thân thấp, bông ngắn, và có nhiều bông để tránh đổ ngã và gia tăng phần trămhạt chắc
- Ba lá trên cùng phải ngắn, dày và thửng đứng để tăng hiệu quả sử dụng ánh sáng
- Năng suất cao, hạt dài, không bạc bụng, cơm ngon
- Ít nhiễm bệnh, kháng rầy nâu
- Phù hợp với điều kiện tại địa phương
Trang 24Viện Nghiên cứu lúa quốc tế IRRI (1994) (trích theo Ngô Văn Nhiều,2012) đã nghiên cứu cho ra kiểu hình của cây siêu lúa đươc trồng ở nhiều nướctrên thế giới siêu lúa gồm những đặc tính sau đây:
- Đâm chồi kém để sản xuất những chồi ta và mạnh: 6- 10 chồi hữu hiệu
- Loại gié to với nhiều nhánh đầu tiên: 200- 250 hại mỗi gié
- Những bó mộc của cuống gié to để vận chuyển các chất quang hợp đến hạt lúa
- Thân lúa dày và cứng, có nhiều bó mộc để chống đổ ngã, hỗ trợ gié lúa to và cóthể cung cấp nơi tích tụ chất quang hợp
- Lá dày, xanh đậm và thẳng để nhận ánh sáng tốt hơn và mức độ quang hợp caohơn trên đơn vị diện tích lá
- Bẹ của lá cờ xanh đậm để tăng sản xuất chất quang hợp
- Cây lúa lâu già để tăng sản xuất chất quang hợp và kéo dài thời kỳ làm đầy hạt
- Mức quang hợp cao và khả năng phản xạ ánh sáng thấp để cung cấp chất tinhbột cho gié không bị giớ hạn trong mùa mưa
- Thời kỳ sinh trưởng trung bình có tích tụ tinh bột trước khi trỗ bông (nhữnggiống lúa sớm không có tích tụ này)
- Hệ thống rễ mạnh
- Khă năng kháng nhiều loại sâu bệnh
- Chất lượng gạo được chấp nhận
Tuy có nhiều ý kiến khác nhau về kiểu hình lúa cho năng suất cao, nhưng
có một dặc điểm chung của hầu hết các nhà chọn tạo giống là chọn ra giống lúa
có chỉ tiêu sinh trưởng ngắn ngày đến trung bình, chiều cao cây thấp đến trungbình để hạn chế sự đổ ngã, phẩm chất tốt, kháng được nhiều sâu bệnh và đặcbiệt là phù hợp với điều kiện sinh thái, kỹ thuật canh tác tại địa phương Trên cơ
sở đó tiến hành thâm canh cho năng suất lúa cao
1.2 Tình hình nghiên cứu các giống lúa ở Việt Nam.
Vai trò của cây lúa đối với đời sống của người dân Việt Nam là không thểthay thế Có thể nói ngành sản xuất lúa là xương sống của nền Nông nghiệpViệt Nam, nó không những đáp ứng nhu cầu ăn của một nước đông dân nhưnước ta mà còn góp phần quan trọng vào thị trường gạo trên Thế giới Chính vìtầm quan trọng của cây lúa như vậy nên Đảng và Nhà nước ta một mặt đầu tưvào sản xuất, mặt khác còn đầu tư vào công tác nghiên cứu toàn diện về cây lúa,trong đó có công tác giống
Việc đưa các giống lúa mới vào sản xuất có khả năng cho năng suất caothích hợp với điều kiện khí hậu, đất đai và kỹ thuật canh tác của từng địaphương là vấn đề rất quan trọng để nhanh chóng tạo ra bước nhảy vọt về năng