Thực trạng đào tạo lý luận chính trị qua một số kết quả khảo sát từ cơ sở Các khoa học Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam chiếm tỷ lệ đá
Trang 1SỰ CẦN THIẾT ĐỔI MỚI CHẤT LƯỢNG
GIẢNG DẠY VÀ HỌC TẬP CÁC MÔN
LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ THEO NHU CẦU XÃ HỘI
Dương Thị Ngọc Dung, Lê Thị Minh Thy *
1 Thực trạng đào tạo lý luận chính trị qua một số kết quả khảo sát từ cơ sở
Các khoa học Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam chiếm tỷ lệ đáng kể trong cơ cấu chương trình đào tạo đại học (từ 8 đến 10% toàn bộ chương trình đào tạo của trường đại học, cao đẳng), trở thành môn
cơ bản đối với tất cả các ngành học và các hình thức đào tạo
Sau khoảng 6 năm (tính từ năm 2008) tích hợp các môn khoa
học Mác – Lênin thành môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa
Mác – Lênin trong đội ngũ giảng viên xuất hiện nhiều ý kiến trái
chiều xung quanh vấn đề này Đa phần các ý kiến đều nhất trí cho rằng việc giảm tải các môn lý luận chính trị là cần thiết, song vấn đề
là ở chỗ nên hiểu thế nào là giảm tải? Và giảm tải có dẫn đến giảm chất lượng đào tạo không? Điều quan trọng là làm sao kích thích tinh thần tự nghiên cứu của cả giảng viên lẫn sinh viên, nghĩa là quá trình đào tạo không chỉ co cụm trong giảng đường, mà cả ngoài
* TS Trưởng Bộ môn Mác – Lênin và ThS Phó Trưởng Bộ môn Mác – Lênin, Trường Cao đẳng kinh tế đối ngoại TP HCM
Trang 2giảng đường, không chỉ giới hạn ở khung giáo trình, mà ở những hình thức linh hoạt nhưng đảm bảo các yêu cầu chất lượng
Kết quả khảo sát ý kiến của đội ngũ giảng viên Bộ môn Lý luận chính trị Trường Cao đẳng Kinh tế đối ngoại TP Hồ Chí Minh cho thấy, 80% giảng viên cho rằng chương trình các môn Lý luận chính trị hiện nay khá thực tế, đảm bảo tính khoa học, tính tư tưởng
và tính cập nhật Song, như quan điểm chung của nhiều giảng viên trong hai đợt tập huấn gần đây (ở Nha Trang và Cửa Lò) thì kết cấu chương trình và từng chuyên đề còn có điểm chưa hợp lý, không chỉ
mang tính lắp ghép (đặc biệt trong môn Những nguyên lỳ cơ bản của
chủ nghĩa Mác – Lênin), mà cả sự manh mún ở các nội dung cần triển
khai, chưa tạo tính liên kết và thống nhất giữa các ý tưởng Xem xét quá trình thực hiện thí điểm giảng dạy và học tập theo giáo trình mới trong gần 6 năm qua, các giảng viên nhận thấy giáo trình mới so với giáo trình cũ còn hạn chế về chất lượng, về hàm lượng trí tuệ, mặc dù đội ngũ biên soạn đã có nhiều cố gắng Bên cạnh đó giáo trình còn quá nặng về tính tư tưởng nên dẫn đến sự gượng ép về mặt khoa học trong một số chương, tiết của chương trình, nhất là những nội dung
liên quan đến Chủ nghĩa xã hội khoa học và môn học Đường lối cách
mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam Phần Kinh tế chính trị học cũng
nảy sinh những bất cập đáng tiếc, đó là: thiếu tính hệ thống, gắn kết giữa những vấn đề của của kinh tế chính trị thời trước và kinh tế chính trị hiện đại, thiếu hẳn những vấn đề của đời sống kinh tế đất nước, và một số quan điểm chỉ phù hợp với những năm 20 của thế kỷ trước Nói cách khác, nội dung và quan điểm trong các giáo trình chưa theo kịp diễn biến của thực tiễn, chưa có những điều chỉnh, bổ sung nhằm khắc phục mâu thuẫn giữa lý luận và thực tiễn (thực tiễn biến đổi, lý luận không đổi mới, khiến cho nhiều quan điểm được thể hiện trong bài giảng trở nên lạc hậu, nếu không nói là có hại cho nhận thức của người học trong điều kiện hội nhập, toàn cầu hóa, trong điều kiện Nhà nước pháp quyền XHCN) Một số ví dụ minh họa trong các bài giảng vừa thiếu tính thuyết phục, vừa tỏ ra tầm thường, không phù
hợp với tầm mức của Giáo trình Về thời lượng, có hai nhóm ý kiến
trái ngược nhau trong việc xác định bất cập của khối lượng kiến thức
được đưa vào giáo trình: nhóm thứ nhất (chiếm 40%) cho rằng, khối
lượng kiến thức trong giáo trình quá lớn so với thời lượng phân bố
Trang 3môn học; nhóm thứ hai (chiếm 50%, số còn lại không có ý kiến) trên
cơ sở nhấn mạnh đổi mới phương pháp giảng dạy, học tập, nghiên cứu các môn lý luận chính trị, gắn với nhu cầu tự nghiên cứu của sinh viên và đổi mới phương pháp giảng dạy của giảng viên, yêu cầu không nên cắt bỏ nhiều nội dung đã từng được đề cập ở các giáo trình
cũ, mà nên quy định rõ phần nào giảng, phần nào tự nghiên cứu để sinh viên có điều kiện đào sâu hơn nữa kiến thức lý luận, nâng cao năng lực tư duy
Về phía người học, khảo sát hơn 700 phiếu thăm dò từ sinh viên năm thứ nhất và năm thứ hai của Trường Cao đẳng Kinh tế đối ngoại trong năm học 2013 – 2014 cho thấy, 60% sinh viên cho rằng việc học tập các môn Lý luận chính trị là cần thiết, trong đó 45% nhận thấy các môn Lý luận chính trị trang bị cho các em thế giới quan và phương pháp luận khoa học, đồng thời tạo điều kiện cho sinh viên vững tin hơn trong cuộc sống, trong việc xử lý các tình huống cấp bách, cũng như nhận thức và giải quyết các vấn đề thực tiễn Một số ý kiến (15% trong số 60% vừa nêu) cảm nhận tính hữu ích của việc học tập các môn Lý luận chính trị trong công việc tổ chức quản lý kinh tế, kinh doanh, đối ngoại, nghĩa là trong hoạt động nghề nghiệp sau này Kết quả học tập các môn Lý luận chính trị nhìn chung khá tốt: 85% sinh viên đạt kết quả trên trung bình ngay từ lần học đầu tiên (không phải đóng tiền học lại lần thứ 2), trong số đó có 9% đạt loại tốt, 51% đạt loại khá, số còn lại đạt điểm trung bình Tuy nhiên một bộ phận không nhỏ sinh viên chỉ học các môn Lý luận chính trị vì đó là môn bắt buộc, nghĩa là học để đối phó, để đạt đủ số tín chỉ cần thiết Thử đặt câu hỏi: tại sao một bộ phận sinh viên không mặn mà với các môn khoa học cơ bản, nhất là các môn lý luận chính trị, mặc dù xét về chức năng những môn học ấy không chỉ trang bị tri thức lý luận, thế giới quan khoa học, lý tưởng nhân văn và bản lĩnh chính trị cho người học, mà còn gợi mở không gian sáng tạo, tư duy phản biện cho họ?
Đã 22 năm trôi qua, tính từ Nghị quyết 01 của Bộ Chính trị (28/3/1992), những bất cập trong công tác lý luận chính trị vẫn chưa được khắc phục nhiều, đó là điều nhức nhối đối với những người tham gia trực tiếp vào công tác giảng dạy các môn lý luận chính trị Ngay từ lúc đó, Bộ Chính trị đã chỉ ra hạn chế, bất cập trong công tác
Trang 4đào tạo đội ngũ làm công tác lý luận Nghị quyết nêu rõ: “Trong nhiều năm qua, nội dung đào tạo đội ngũ cán bộ lý luận hầu như chỉ
bó hẹp trong các bộ môn khoa học Mác - Lênin, chưa coi trọng việc nghiên cứu các trào lưu khác và tiếp nhận những thành tựu khoa học của thế giới Hậu quả là số đông cán bộ lý luận thiếu hiểu biết rộng rãi
về kho tàng tri thức của loài người, do đó khả năng phát triển bị hạn chế…Công tác lãnh đạo, tổ chức và quản lý các hoạt động lý luận còn chậm được đổi mới”
2 Kiến nghị về giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo lý luận chính trị theo nhu cầu xã hội
Nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập phù hợp với những đòi hỏi của thực tiễn luôn biến động là nhiệm vụ không thể trì hoãn của các nhà giáo – nhà khoa học, cũng như bộ máy quản lý, tổ chức Thực tiễn xã hội đặt ra nhiều vấn đề đối với công tác lý luận nói chung, việc giảng dạy và học tập các môn lý luận chính trị nói riêng Theo chúng tôi, đổi mới chương trình, giáo trình các môn lý luận chính trị không có nghĩa là “tích hợp” các môn sao cho gọn, đảm bảo
tỷ lệ giữa các môn lý luận cơ bản với các môn giáo dục chuyên ngành, mà là làm sao để công tác đào tạo lý luận chính trị đáp ứng được các nhu cầu xã hội, sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước, trong đó có, thứ nhất, nhu cầu về giáo dục, bồi dưỡng, củng cố thế giới quan khoa học, tiên tiến; thứ hai, nhu cầu ổn
định và thống nhất tư tưởng, góp phần ổn định xã hội vì mục tiêu phát triển bền vững, bảo vệ các giá trị của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và thành quả cách mạng Việt Nam, chống cả
“diễn biến hòa bình” lẫn “tự diễn biến”; thứ ba, nhu cầu nâng cao
năng lực tư duy và sự tự tin của mỗi cá nhân trong việc xử lý các tình
huống do thực tiễn đặt ra; thứ tư, nhu cầu “liên minh” giữa lý luận
chính trị với trình độ nhận thức chung và thành quả của công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thành quả khoa học, công nghệ hiện đại, để tư duy
lý luận không bị lạc hậu trước sự phát triển tiến bộ trong các lĩnh vực
của đời sống xã hội; thứ năm, nhu cầu giao lưu, đối thoại trong điều
kiện hội nhập, toàn cầu hóa Với nhu cầu cuối cùng, công tác lý luận chính trị cũng cần phải hướng đến, bởi lẽ việc học tập, đối thoại tư tưởng, hiểu biết và tiếp thu có chọn lọc tinh hoa tinh thần của nhân
Trang 5loại luôn luôn cần thiết, nhằm tạo nên nguồn năng lượng mới cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ làm công tác lý luận chính trị
Việc thực hiện Hướng dẫn số 127 (ngày 30/6/2014) của Ban Tuyên giáo Trung ương về giữ nguyên tên gọi các học phần của chủ nghĩa Mác - Lênin, không “khai tử” chúng một cách vội vã sẽ góp phần làm cho việc đào tạo, nghiên cứu lý luận đi vào chiều sâu, nâng cao mặt bằng về tư duy lý luận của xã hội, thu hút nguồn lực trí tuệ vào việc phát triển tư duy lý luận nước nhà Bên cạnh đó, từ góc nhìn của đào tạo lý luận chính trị, việc thống nhất “đầu vào” và “đầu ra”,
sự phân ngành trong giảng dạy sẽ giảm thiểu tình trạng thả nổi chất lượng như hiện nay (giảng không theo chuyên ngành được đào tạo)
Tiếp theo Hướng dẫn 127 (ngày 30/6/2014) của Ban Tuyên giáo Trung ương thực hiện Kết luận số 94 (28/3/2014) của Ban Bí thư “về việc tiếp tục đổi mới học tập lý luận chính trị trong hệ thống giáo dục quốc dân”, ngày 09/10/2014 Bộ Chính trị đã đưa ra Nghị quyết về công tác lý luận và định hướng nghiên cứu đến năm 2030” (Nghị quyết số 37/NQ-TW), trong đó nhấn mạnh sự cần thiết
“đổi mới nội dung, chương trình giáo dục chủ nghĩa Mác – Lê nin
và tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, gắn lý luận với thực tiễn, khắc phục
sự trùng lắp, khép kín…”1 Đó là định hướng cơ bản đối với việc nâng cao chất lượng đào tạo lý luận chính trị theo nhu cầu xã hội Trên cơ sở đó, chúng tôi mạnh dạn nêu lên một số kiến nghị nâng cao chất lượng đào tạo lý luận chính trị trong điều kiện hiện nay:
Một là, chương trình và giáo trình không thể rập khuôn một
bộ khung duy nhất, vì nó trái với tính phong phú, đa dạng của đời sống xã hội Để thích ứng với đời sống xã hội, chương trình, giáo trình cũng phải được chuyên biệt hóa, bám sát nhu cầu của từng lĩnh vực Nội dung giáo trình hiện nay chỉ nên gọi là bộ khung kiến thức
cơ bản, vì nó quá trừu tượng, không sát với từng ngành học Để lý luận gắn liền với thực tiễn, những nội dung trong giáo trình cần tính
1 Đảng Cộng sản Việt Nam Nghị quyết của Bộ Chính trị về công tác lý luận và định hướng nghiên cứu đến năm 2030 (Nghị quyết số 37/NQ-TW, ngày 09/10/2014)
Trang 6đến môi trường ứng dụng cụ thể (trên cơ sở bộ khung giáo trình chung), chẳng hạn giáo trình dành cho khối kỹ thuật, khối kinh tế - tài chính, khối khoa học tự nhiên, khối khoa học xã hội và nhân văn
…Hơn nữa, những người biên soạn giáo trình cho từng khối ngành cũng phải am hiểu các ngành tương ứng, chịu sự phản biện của các chuyên gia trong ngành về mặt sử dụng các minh chứng tương thích
Hai là, đề cao và tôn trọng tính chủ động của giảng viên,
thường xuyên cập nhật những vấn đề của thế giới hiện đại và những vấn đề “nóng” của đất nước vào bài giảng, xử lý các vấn đề nảy sinh một cách nhạy bén và tinh tế, có tính thuyết phục Vấn đề chủ quyền biển đảo, chống tham nhũng, “diễn biến hòa bình” và “tự diễn biến, tự chuyển hóa”… đang được xã hội quan tâm, vì thế nên đưa vào bài giảng, thảo luận, phụ lục hoặc tài liệu đọc dưới các hình thức khác nhau Tuy nhiên, chương trình và giáo trình không thể đáp ứng trọn vẹn yêu cầu này, mà đòi hỏi sự chủ động từ phía giảng viên Muốn như vậy, trong tổ chức và quản lý việc giảng dạy các môn lý luận chính trị, cần dành cho giảng viên một không gian mở thực sự, không
áp đặt hoặc quy chụp những cách tiếp cận ngoài giáo trình, sách giáo khoa “chính thống” Việc xem nhẹ cập nhật kiến thức, lệ thuộc quá nhiều vào sách giáo khoa dẫn đến chỗ giảng viên ngại trả lời những câu hỏi từ phía người học, thậm chí có trường hợp còn cấm người học đặt câu hỏi Chúng tôi cho rằng hiện tượng né tránh người học, không
đủ bản lĩnh tiếp cận và xử lý các vấn đề nảy sinh trong quá trình giảng dạy, e ngại đối thoại với người học là hiện tượng khá phổ biến Điều đáng lo ngại nhất là sự phản ứng của xã hội thông qua người học đối với thứ tri thức không được “làm mới thường xuyên”, xa rời thực tiễn
Để tạo bước đột phá trong tư duy, rất cần hình thành một sân chơi trí tuệ phong phú, đa dạng, có định hướng, để biến những bài giảng khô khan thành không gian sống động của sinh hoạt học thuật, sự đối thoại mang tính mở giữa thầy và trò
Ba là, tăng cường quá trình tự đào tạo của người giảng viên,
tính cạnh tranh, sự thích ứng và làm chủ các phương tiện khoa học, công nghệ hiện đại trong đào tạo lý luận chính trị Sự tự đào tạo trước hết gắn với việc tiếp cận, nắm bắt các thành quả của khoa học, công nghệ, vận dụng vào bải giảng, làm cho những vấn đề lý luận được
Trang 7minh chứng bằng những chất liệu sống động của tiến bộ khoa học, công nghệ, và cả những hệ lụy, mặt trái của nó Nắm bắt và xử lý tốt các thành quả của khoa học, công nghệ hiện đại chính là điều kiện quan trọng để nhà giáo – nhà khoa học chủ động hơn trong cuộc đấu tranh tư tưởng, chống lại các quan điểm sai trái và thù địch, đồng thời
tự điều chỉnh phương pháp giảng dạy, trong đó có việc vận dụng những phương pháp mới, hữu ích hơn, tiện lợi hơn Tính cạnh tranh lành mạnh phải gắn với việc thực hiện nghiêm túc quy trình tín chỉ hóa việc giảng dạy, qua đó sàng lọc đội ngũ bằng chính sự thẩm định của người học Người học có quyền chọn người giảng, đó chính là
“quyền lực mềm” của người học, buộc người thầy phải nâng cao trình
độ, kỹ năng, phương pháp, trong đó có trình độ ngoại ngữ, trình độ tin học, phương pháp sư phạm, và điều này góp phần kéo sinh viên đến giảng đường, chứ.không cần đến biện pháp hành chính hóa, phân công lớp “cứng” như hiện nay
Bốn là, thay đổi phương thức biên soạn giáo trình, tài liệu
tham khảo, phương thức đánh giá các môn lý luận chính trị Hiện nay việc biên soạn giáo trình đang rơi vào tình trạng “bao sân”, đơn điệu
và cứng nhắc Mặc dù cơ quan quản lý cao nhất gửi các bản thảo giáo trình đến các đơn vị và cá nhân để xin ý kiến phản biện, góp ý, nhưng việc tiếp thu các ý kiến đánh giá, phản biện chưa thực sự hiệu quả vì vướng vào các quy định của cơ chế, và vướng cả cách tiếp cận cũ, thậm chí chưa thể hiện kịp thời quan điểm đổi mới của Đảng Vì vậy,
để bám sát nhu cầu xã hội cần tạo điều kiện cho các nhà giáo – nhà khoa học từ các cơ sở đào tạo thể hiện tiếng nói của mình thông qua biên soạn giáo trình và tài liệu hướng dẫn học tập phù hợp với điều kiện cụ thể Khung giáo trình chung và tài liệu giáo trình dùng cho từng đối tượng chắc chắn không thể trùng hợp hoàn toàn, mà cái sau bao giờ cũng sinh động và giàu ý tưởng hơn, vì đó là tâm huyết của người thầy đối với sự nghiệp trồng người Để bao quát được các vấn
đề lý luận cơ bản, có thể biên soạn nội dung bài giảng tại lớp và nội dung tự đọc với sự hướng dẫn của giảng viên Cùng với điều dó, cần thay đổi phương thức đánh giá, đánh giá nhiều lần, đánh giá cả phần học tại lớp và phần tự nghiên cứu, tạo điều kiện để nâng cao tính toàn diện trong kiến thức về lý luận chính trị; đưa một số nội dung vào phần phụ lục
Trang 8Càng chậm trễ trong việc làm mới nội dung giáo trình, đổi mới cách tiếp cận các vấn đề do thực tiễn xã hội đặt ra cho phù hợp với điều kiện hiện tại, chúng ta càng bị tụt hậu xa hơn về tư duy lý luận so với thế giới
Năm là, đối với sinh viên, chú trọng phát triển kỹ năng mềm
(soft skills) trong việc học tập các môn lý luận chính trị Nội hàm khái niệm kỹ năng mềm khá rộng, song nó bao hàm những khía cạnh cơ bản như sự chủ động của người học, tinh thần đối thoại và
tư duy phản biện, làm việc nhóm, tính linh hoạt và sự tập trung cao, chịu được áp lực, xử lý tình huống, nghiên cứu và chi tiết hóa công việc, thường xuyên học hỏi, tiếp nhận và chia sẻ thông tin, nhạy bén
sử dụng các công cụ hỗ trợ, kỹ năng “phản xạ”… Cập nhật hóa kiến thức đi đôi với tăng cường phương pháp đối thoại với người học là một trong những yêu cầu cơ bản đối với giảng viên trong điều kiện bùng nổ thông tin như hiện nay Cập nhật hóa kiến thức giúp giảng viên tự tin hơn trong đối thoại, đồng thời thông qua đối thoại người thầy cũng định hướng tư tưởng cho người học giữa một rừng thông tin, với khá nhiều thông tin bị nhiễu, thiếu kiểm chứng Quan điểm xem người học là trung tâm cũng đồng thời góp phần vào việc nuôi dưỡng và phát triển năng lực tư duy lý luận cho người học, cho xã hội2 4 mục tiêu trong học tập mà UNESCO nêu ra – học để biết (Learning to Know), học để làm (Learning to Do), học để chung sống (Learning to Live Together), học để tự khẳng định (tự lập, Learning to Be) – không chỉ thể hiện một cách cô đọng những yêu cầu của thời đại, mà còn có tính định hướng và ý nghĩa nhân văn sâu sắc Sự tự khẳng định của mỗi cá nhân bắt đầu từ trong nhà trường, trong quá trình học tập, rèn luyện, để ươm mầm cho những mùa bội thu trong tương lai
2 Dẫn http://ueb.vnu.edu.vn/Sub/20/newsdetail/kynangsv/11051/ky-nang-mem su-can-thiet-cho-sinh-vien.htm (ngày 10/3/2014 Xem thêm: R H Ennis: Critical Thinking Assessment; D Fasko: Critical Thinking and Reasoning: Current Research, Theory, and Practice; Hampton Press, 2003)
Trang 93 Lời kết
Để nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập các môn lý luận chính trị, điều cần thiết trước tiên là thay đổi một triết lý, một cách tiếp cận, để công tác đào tạo lý luận chính trị thực sự góp phần vào việc nâng cao trình độ tư duy lý luận cho xã hội, góp phần vào sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Chúng tôi cho rằng, việc “nhận thức lại” một lần nữa vấn đề này là cần thiết và cấp bách, tạo nên cú hích đầy ý nghĩa cho quá trình đổi mới căn bản
và toàn diện nền giáo dục nước nhà, đồng thời tạo nên kích thích tố cho đội ngũ giảng viên lý luận chính trị trong quá trình tự bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn và bản lĩnh chính trị, đáp ứng những đòi hỏi của thực tiễn luôn biến đổi
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Đảng Cộng sản Việt Nam Nghị quyết của Bộ Chính trị số 01-NQ/TW(28/3/1992) “Về công tác lý luận trong giai đoạn hiện nay”
2 Đảng Cộng sản Việt Nam Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 khóa XI (Nghị quyết số 29-NQ/TW, ngày 04/11/2013) “về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa – hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”
3 Đảng Cộng sản Việt Nam Ban Tuyên giáo Trung ương Hướng dẫn 127 (ngày 30/6/2014) thực hiện Kết luận số 94 (28/3/2014) của Ban
Bí thư “Về việc tiếp tục đổi mới học tập lý luận chính trị trong hệ thống giáo dục quốc dân”
4 Đảng Cộng sản Việt Nam Nghị quyết của Bộ Chính trị về công tác lý luận và định hướng nghiên cứu đến năm 2030 (Nghị quyết số 37/NQ-TW, ngày 09/10/2014)
5 H Ennis: Critical Thinking Assessment; D Fasko: Critical Thinking and Reasoning: Current Research, Theory, and Practice; Hampton Press, 2003
6 http://ueb.vnu.edu.vn/Sub/20/newsdetail/kynangsv/11051/ky-nang-mem su-can-thiet-cho-sinh-vien.htm (ngày 10/3/2014)