Ngoài ra, Việt Nam là quốc gia đi sau trong việc ghi nhận hoạt động CTLLĐ, vì vậy, việc tiếp tục học hỏi kinh nghiệm của các nước trên thế giới để xây dựng, hoàn thiện các quy định pháp
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐẶNG THỊ OANH
SO SÁNH PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ CHO THUÊ
LẠI LAO ĐỘNG VỚI MỘT SỐ NƯỚC
TRÊN THẾ GIỚI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội – 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐẶNG THỊ OANH
SO SÁNH PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ CHO THUÊ
LẠI LAO ĐỘNG VỚI MỘT SỐ NƯỚC
TRÊN THẾ GIỚI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS Trần Thị Thúy Lâm
Hà Nội – 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nghiên cứu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực
NGƯỜI CAM ĐOAN
Trang 4MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
MỞ ĐẦU 1 Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHO THUÊ LẠI LAO ĐỘNG VÀ PHÁP LUẬT VỀ CHO THUÊ LẠI LAO ĐỘNG 8 1.1 Khái niệm cho thuê lại lao động 8
1.1.1 Quan niệm về cho thuê lại lao động 8 1.1.2 Đặc điểm của hoạt động cho thuê lại lao độngError! Bookmark
not defined
1.1.3 Phân loại hình thức cho thuê lại lao động 17 1.1.4 Phân biệt cho thuê lại lao động với một số hoạt động khác Error!
Bookmark not defined
1.2 Lợi ích và nguy cơ tiềm ẩn của hoạt động cho thuê lại lao động
Error! Bookmark not defined
not defined
1.2.2 Nguy cơ tiềm ẩn của hoạt động cho thuê lại lao động Error!
Bookmark not defined
1.3 Điều chỉnh pháp luật đối với hoạt động cho thuê lại lao động Error! Bookmark not defined
1.3.1 Vai trò của điều chỉnh pháp luật đối với hoạt động cho thuê lại lao động Error! Bookmark not defined 1.3.2 Nội dung điều chỉnh của pháp luật đối với hoạt động cho thuê lại lao động Error! Bookmark not defined
Kết luận Chương 1 Error! Bookmark not defined
Trang 5Chương 2: SO SÁNH PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ CHO THUÊ LẠI LAO ĐỘNG VỚI PHÁP LUẬT ĐỨC, NHẬT BẢN VÀ TRUNG QUỐC Error! Bookmark not defined 2.1 Điều kiện đối với doanh nghiệp hoạt động cho thuê lại lao động
Error! Bookmark not defined
2.1.1 Điều kiện cấp giấy phép hoạt động cho thuê lại lao động Error!
Bookmark not defined
2.1.2 Ngành nghề, công việc được phép cho thuê lại lao động Error!
Bookmark not defined
2.2 Hợp đồng cho thuê lại lao động Error! Bookmark not defined 2.3 Quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệ cho thuê lại lao động Error! Bookmark not defined 2.4 Xử lý vi phạm trong hoạt động cho thuê lại lao động 82 Kết luận Chương 2 Error! Bookmark not defined Chương 3: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CHO THUÊ LẠI LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT, NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ CHO THUÊ LẠI LAO ĐỘNG Error! Bookmark not defined 3.1 Thực trạng hoạt động cho thuê lại lao độngError! Bookmark not defined
3.1.1 Kết quả đạt được Error! Bookmark not defined 3.1.2 Những tồn tại và nguyên nhân Error! Bookmark not defined
3.2 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về cho thuê lại lao độngError! Bookmark not defined
3.2.1 Hoàn thiện pháp luật về cho thuê lại lao độngError! Bookmark
not defined
Trang 63.2.2 Nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật cho thuê lại lao động
Error! Bookmark not defined
Kết luận Chương 3 Error! Bookmark not defined KẾT LUẬN Error! Bookmark not defined DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 11
Trang 7DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Trang 81
MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài
Thị trường lao động là nơi diễn ra các quan hệ liên quan đến việc mua
bán một loại hàng hóa đặc biệt – hàng hóa sức lao động Quá trình mua bán
này được hình thành thông qua sự thỏa thuận tự nguyện, bình đẳng giữa các
bên Tuy nhiên, do những nhu cầu khác nhau của thị trường lao động dẫn đến
nhu cầu tuyển dụng và sử dụng lao động ngày càng đa dạng, theo đó, các hình
thức pháp lý cũng trở nên phong phú nhằm phúc đáp các nhu cầu nhiều mặt
của thị trường Trong bối cảnh đó, sự xuất hiện hoạt động CTLLĐ như là một
nhu cầu tất yếu của thị trường lao động Việt Nam
Trên thế giới, CTLLĐ đã xuất hiện ở nhiều quốc gia từ những năm 60 -
70 của thế kỷ XX nhưng ở Việt Nam, hoạt động này mới bắt đầu xuất hiện từ
những năm 2000 khi làn sóng đầu tư nước ngoài ào ạt đổ vào Việt Nam Tuy
nhiên, thể chế pháp lý điều chỉnh quan hệ này hầu như không có Trước khi
BLLĐ 2012 được ban hành, hầu hết các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ
CTLLĐ hoạt động theo hình thức “chui” hoặc “lách luật”, dẫn tới tình trạng
nhiều doanh nghiệp vi phạm nghiêm trọng, xâm phạm đến quyền và lợi ích
hợp pháp của NLĐ thuê lại Trước thực tiễn đó, yêu cầu đặt ra là cần phải có
các quy định pháp luật điều chỉnh mối quan hệ xã hội trong quan hệ CTLLĐ
BLLĐ 2012 được ban hành đã ghi nhận và quy định một khung pháp lý
cho hoạt động CTLLĐ hình thành và phát triển Từ đây, hoạt động CTLLĐ đã
chính thức được luật hóa Mọi hoạt động liên quan đến CTLLĐ phải tuân thủ
và thực hiện trong phạm vi pháp luật cho phép Đây cũng là cơ sở cho cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp và xử lý vi
phạm phát sinh trong hoạt động CTLLĐ CTLLĐ hình thành như một giải
pháp thúc đẩy sự phát triển của thị trường lao động trong việc luân chuyển lao
động, khai thác đúng bản chất của loại hàng hóa đặc biệt - hàng hóa sức lao
Trang 92
động trên thị trường Đối với doanh nghiệp CTLLĐ, CTLLĐ là một phương thức kinh doanh hiệu quả, mang lại lợi nhuận cao; đối với doanh nghiệp thuê lại lao động, CTLLĐ góp phần giải quyết nhu cầu lao động ngắn hạn, bù đắp lao động thiếu hụt tạm thời do tai nạn lao động, nghỉ thai sản, đi nghĩa vụ quân sự… Đồng thời, giảm chi phí quản lý, chi phí nhân sự, thỏa mãn nhu cầu
sử dụng nhân sự có trình độ cao Đối với NLĐ, đây là cơ hội để có việc làm liên tục, được thay đổi môi trường làm việc và có cơ hội tìm kiếm công việc phù hợp với khả năng
Tuy nhiên, là một hình thức lao động mới, CTLLĐ cũng tiềm ẩn nhiều nguy cơ xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của các bên trong quan hệ CTLLĐ; công tác quản lý của cơ quan Nhà nước trong lĩnh vực CTLLĐ còn nhiều khó khăn; trong quá trình thực thi, các quy định về CTLLĐ đã bộc lộ một số hạn chế, bất cập nhất định đòi hỏi cần có sự điều chỉnh kịp thời Bên cạnh đó, trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, đặc biệt
là việc Việt Nam gia nhập Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương – TPP,
sự thành của Cộng đồng Kinh tế Asean – AEC với sự dịch chuyển lao động mạnh mẽ, việc sử dụng lao động, cho thuê lại lao động là một trong những vấn đề được quan tâm hơn bao giờ hết Ngoài ra, Việt Nam là quốc gia đi sau trong việc ghi nhận hoạt động CTLLĐ, vì vậy, việc tiếp tục học hỏi kinh nghiệm của các nước trên thế giới để xây dựng, hoàn thiện các quy định pháp luật điều chỉnh hoạt động CTLLĐ ở Việt Nam hiện nay là một trong những vấn đề cần thiết và hoàn toàn phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội, thị trường lao động trong giai đoạn hiện nay Đây cũng chính là lý do mà tôi lựa
chọn đề tài “So sánh pháp luật Việt Nam về CTLLĐ với một số nước trên
thế giới” để nghiên cứu
Trên cơ sở đó, tôi đã lựa chọn so sánh pháp luật Việt Nam về CTLLĐ với pháp luật của Cộng hòa Liên bang Đức, Nhật Bản và Trung Quốc để thấy được sự tương đồng và khác biệt trong các quy định của các quốc gia, từ đó,
Trang 103
rút ra những điểm tích cực, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của Việt Nam; đồng thời, làm rõ hơn một số một số vấn đề lý luận về CTLLĐ và điều chỉnh pháp luật về CTLLĐ cũng như làm rõ hơn thực trạng pháp luật CTLLĐ
ở Việt Nam hiện nay, từ đó, đề xuất sửa đổi, bổ sung nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật về CTLLĐ và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về CTLLĐ của
Việt Nam
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
CTLLĐ là hoạt động khá phổ biến trên thế giới, được pháp luật nhiều nước ghi nhận và biểu hiện qua không ít các công trình nghiên cứu của các chuyên gia trong và ngoài nước
Các tài liệu nghiên cứu, bài báo, chuyên đề của các học giả, nhà nghiên cứu nước ngoài như:
- Tài liệu ILO: “Hướng dẫn cho các cơ quan việc làm tư nhân – Quy
chế giám sát và thực thi”;
- Báo cáo nghiên cứu của chuyên gia Nhật Bản – “Thực trạng và các
vấn đề của phái cử lao động Nhật Bản”;
- Báo cáo nghiên cứu của chuyên gia Hàn Quốc – “Hệ thống phái cử
lao động ở Hàn Quốc”;
- Temporary Employment Relationships: Review of the Joint Employer Doctrine under the NLRA (những quan hệ lao động tạm thời: Học thuyết người sử dụng lao động chung theo quy định của Luật quan hệ lao động Quốc gia) – Kenneth A Jenero và mark A Spognardi đang trên tạp chí Employee Relations L.J/Vol.21,No.2/Autumn 1995 trang 128-138
- Employee Leasing: Implications for State Unemployment Insurance Program- Final Report, submitted to: Unemployment Insurance Services Department of Labor under contract No K-4280-3-00-80-30, August 31,
1996 ( Cho thuê lao động: sự liên quan đến chương trình bảo hiểm thất nghiệp liên bang – báo cáo cuối cùng, đệ trình tới Ủy ban bảo hiểm thất nghiệp, Bộ
Trang 114
Lao động Liên bang theo hợp đồng số K-4280-3-00-80-30 ngày 31/8/1996)
Ở Việt Nam, trong giai đoạn chuẩn bị cho việc xây dựng các quy định của pháp luật về CTLLĐ trong BLLĐ 2012, Bộ LĐ – TB & XH và ILO đã
phối hợp xuất bản cuốn “Tài liệu nghiên cứu CTLLĐ” đã tổng hợp được các
kinh nghiệm của một số nước về vấn đề CTLLĐ và thực trạng hoạt động CTLLĐ ở Việt Nam để làm tài liệu tham khảo
Năm 2010, Bộ LĐ – TB & XH đã xuất bản cuốn “Tài liệu tham khảo
pháp luật lao động nước ngoài” NXB Lao động – Xã hội, đã đề cập khái quát
một số quy định của Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc về CTLLĐ
Năm 2011 trường Đại học Luật Hà Nội đã nghiệm thu đề tài nghiên
cứu khoa học cấp trường: “CTLLĐ – Một hướng điều chỉnh của pháp luật lao
động Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế” do TS
Nguyễn Xuân Thu làm chủ nhiệm đề tài, đã đề cập đến một số vấn đề mang tính lý luận về CTLLĐ, phân tích, đánh giá quy định của pháp luật Việt Nam
về hoạt động dịch vụ việc làm và kinh nghiệm của ILO cũng như một số quốc gia, đề xuất giải pháp cụ thể cho việc điều chỉnh của pháp luật đối với hoạt động CTLLĐ tại Việt Nam
Bên cạnh đó, các bài viết về các khía cạnh CTLLĐ trên các báo, tạp chí cũng
đã đề cập, đánh giá thực trạng hoạt động cho thuê lại trong thời gian qua như:
- “CTLLĐ và những yêu cầu đặt ra đối với việc điều chỉnh pháp luật lao động Việt Nam” của PGS.TS Lê Thị Hoài Thu đăng trên Tạp chí Khoa
học ĐHQGHN, Luật học 28 (2012);
- Nguyên tắc, nội dung và hình thức pháp luật điều chỉnh hoạt động CTLLĐ của PGS.TS Nguyễn Hữu Chí đăng trên Tạp chí Nhà nước và Pháp
luật số tháng 7 năm 2012;
- Lao động cho thuê lại ở Việt Nam của TS Nguyễn Xuân Thu, tham
luận tại Hội thảo Việt - Đức: Pháp luật lao động, Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2010;
Trang 12Có thể nói, những tài liệu, công trình nghiên cứu trên đã cung cấp khái niệm cơ bản ban đầu cho sự hình thành một khuôn khổ pháp lý hoàn thiện về
CTLLĐ Nhìn chung, các bài viết đều đưa ra các đề xuất nhằm đóng góp vào
quá trình pháp điển hóa các quy định pháp luật về CTLLĐ và nâng cao hiệu
quả điều chỉnh pháp luật về CTLLĐ ở Việt Nam hiện nay
Đặc biệt, đề tài Luận văn Thạc sỹ của tác giả Hồ Thị Quỳnh Trang về
“So sánh các quy định pháp luật về CTLLĐ trong BLLĐ Việt nam và pháp luật Trung Quốc” là một trong những công trình nghiên cứu về CTLLĐ trên
cơ sở so sánh với quốc gia khác khi vấn đề này được ghi nhận trong BLLĐ
2012 Luận văn đã đưa ra được tổng quan về CTLLĐ và pháp luật về CTLLĐ hiện nay, trong đó, tác giả đã khái quát đưa ra khái niệm CTLLĐ; bản chất và các loại hình CTLLĐ; so sánh các quy định pháp luật về CTLLĐ của Việt Nam với Trung Quốc; nêu lên thực trạng pháp luật CTLLĐ ở Việt Nam và một số kiến nghị đảm bảo thực hiện pháp luật CTLLĐ ở Việt Nam
Những kết quả mà tác giả Hồ Thị Quỳnh Trang nghiên cứu được trong
đề tài trên khá thành công, đã giúp cho người đọc hiểu rõ hơn sự giống và khác nhau giữa pháp luật CTLLĐ ở Việt Nam và Trung Quốc Tuy nhiên, phạm vi so sánh của Luận văn mới chỉ dừng lại ở một quốc gia là Trung Quốc Vì vậy, trên cơ sở đó, tôi muốn tiếp tục nghiên cứu đề tài về CTLLĐ trên góc độ so sánh pháp luật Việt Nam về CTLLĐ với một số quốc gia, không chỉ là quốc gia phương Đông và mở rộng ra quốc gia phương Tây – nơi
có sự hình thành và phát triển sớm của hoạt động CTLLĐ
Trang 13những điểm tích cực Việt Nam cần học hỏi; từ đó, đề xuất, kiến nghị nhằm
tiếp tục hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về CTLLĐ ở Việt Nam
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chủ yếu của đề tài là:
- Các văn bản pháp luật về CTLLĐ ở Việt Nam;
- Các văn bản pháp luật về CTLLĐ của Đức, Nhật Bản và Trung Quốc quy định về CTLLĐ/phái cử lao động;
- Các công trình nghiên cứu, quan điểm, bình luận của các tác giả trong
Trang 147
4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được triển khai trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng
và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và Pháp luật; dựa trên việc sử dụng phương pháp phân tích, so sánh, chứng minh, tổng hợp để phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài:
- Phương pháp phân tích: Được sử dụng trong tất cả các chương để phân tích, đánh giá các tài liệu, số liệu phục vụ cho việc nghiên cứu;
- Phương pháp so sánh: Được sử dụng để so sánh, đối chiếu, đánh giá các quy định pháp luật về CTLLĐ của Việt Nam so với các quốc gia (Đức, Nhật Bản, Trung Quốc), từ đó rút ra các bài học kinh nghiệm làm luận cứ cho các đề xuất hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả điều chỉnh của pháp luật về CTLLĐ ở Việt Nam;
- Phương pháp chứng minh: Được dùng để chứng minh cho các luận điểm, luận cứ được đưa ra trong Luận văn;
- Phương pháp tổng hợp: Được sử dụng để tổng hợp các luận điểm, căn
cứ lý luận được đưa ra trong Luận văn để đưa ra các kết luận của từng chương
và kết luận chung của Luận văn
5 Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn gồm 03 chương:
- Chương 1: Một số vấn đề lý luận về CTLLĐ và pháp luật về CTLLĐ;
- Chương 2: So sánh pháp luật Việt Nam về CTLLĐ với pháp luật Đức, Nhật Bản và Trung Quốc;
- Chương 3: Thực trạng hoạt động CTLLĐ ở Việt Nam và một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về CTLLĐ
Trang 158
Chương 1:
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHO THUÊ LẠI LAO ĐỘNG VÀ
PHÁP LUẬT VỀ CHO THUÊ LẠI LAO ĐỘNG
1.1 Khái niệm CTLLĐ
1.1.1 Quan niệm về CTLLĐ
Trên thế giới, CTLLĐ là một khái niệm không còn xa lạ và tương đối phổ biến, tồn tại dưới những hình thức khác nhau như cho thuê nhân viên hay cho thuê lao động phổ thông theo thời vụ… Ở Mỹ và các nước Tây Âu, cho thuê lao động đã trở thành một xu hướng khá thịnh hành từ những năm 60 –
70 của thế kỷ XX Một số liệu thống kê tại Mỹ đã chỉ ra rằng, nếu trong năm
1992, con số nhân viên thời vụ chỉ chiếm khoảng 17% tổng số nhân viên nói chung thì tới năm 2000, con số này đã xấp xỉ lên tới 50% [30, tr.28] Còn theo báo cáo của CIETT – Tổ chức quốc tế của các doanh nghiệp CTLLĐ, khảo sát tại 34 quốc gia cho thấy, có 71.000 công ty, 9.5 triệu NLĐ cho thuê lại tương đương làm việc trọn thời gian Con số này đã tăng gấp đôi từ năm 1998 đến năm 2008 Thực tế đó đã đặt ra yêu cầu các quốc gia cần ban hành những quy định pháp luật riêng để điều chỉnh vấn đề này Nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ đã ban hành luật riêng để điều chỉnh về vấn đề này như: Mỹ, Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc; ở Trung Quốc là một chương của Luật Hợp đồng lao động hay Thái Lan, Singapore…cũng có những quy định cụ thể về hoạt động CTLLĐ
Vậy, CTLLĐ là gì?
CTLLĐ được biết dưới nhiều tên gọi khác nhau Mỗi cách gọi phản ánh những khái niệm, ý nghĩa và mục đích nhấn mạnh tính chất, thời hạn công việc khác nhau Đối với các nước Châu Âu, Châu Mỹ, tên gọi phổ biến nhất
là “lao động cho thuê tạm thời”, trong khi đó, các nước Châu Á như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc… thường gọi là “lao động phái cử” hay “cung