Chương 2: THỰC TRẠNG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI, PHÁP LUẬT CỦA CỘNG ĐỒNG NGƯỜI LGBT Ở VIỆT NAM VÀ VẤN ĐỀ QUYỀN KẾT HÔN CỦA HỌ.... Một số vấn đề pháp lý về quyền kết hôn của người đồng tính, song
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LÊ THỊ HẠNH
KÕT H¤N GI÷A NH÷NG NG¦êI LGBT D¦íI GãC §é QUYÒN CON NG¦êI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LÊ THỊ HẠNH
KÕT H¤N GI÷A NH÷NG NG¦êI LGBT D¦íI GãC §é QUYÒN CON NG¦êI
Chuyên ngành: Luật dân sự và tố tụng dân sự
Mã số: 60 38 01 03
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS BÙI MINH HỒNG
HÀ NỘI - 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Lê Thị Hạnh
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các bảng
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ CỘNG ĐỒNG NGƯỜI LGBT VÀ QUYỀN
KẾT HÔN CỦA HỌ DƯỚI GÓC ĐỘ QUYỀN CON NGƯỜI 6
1.1 Đồng tính, song tính là các thiên hướng tính dục 6
1.1.1 Đồng tính và nhận thức của xã hội về người đồng tính 8
1.1.2. Song tính và nhận thức của xã hội Error! Bookmark not defined.
1.2 Người chuyển giới Error! Bookmark not defined
1.3 Người liên giới tính Error! Bookmark not defined
1.4 Những vấn đề cần giải quyết cho cộng đồng người LGBTError! Bookmark not defined
1.4.1 Những vấn đề của người đồng tính Error! Bookmark not defined
1.4.2 Những vấn đề của người song tính Error! Bookmark not defined
1.4.3 Những vấn đề của người chuyển giới Error! Bookmark not defined
1.5 Quyền con người và quyền kết hôn của người LGBT dưới
góc độ quyền con người Error! Bookmark not defined
1.5.1 Khái niệm quyền con người Error! Bookmark not defined
1.5.2 Vấn đề quyền kết hôn của người LGBT dưới góc độ quyền con ngườiError! Bookmark not defined Chương 2: THỰC TRẠNG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI, PHÁP LUẬT CỦA
CỘNG ĐỒNG NGƯỜI LGBT Ở VIỆT NAM VÀ VẤN ĐỀ
QUYỀN KẾT HÔN CỦA HỌ Error! Bookmark not defined
2.1 Khái quát thực trạng cuộc sống và tình hình phát triển của
cộng đồng người LGBT tại Việt NamError! Bookmark not defined
Trang 52.1.1 Thực trạng người đồng tính và song tính tại Việt Nam hiện nayError! Bookmark not defined
2.1.2 Thực trạng người chuyển giới tại Việt Nam Error! Bookmark not defined.
2.2 Một số vấn đề pháp lý về quyền kết hôn của người đồng tính,
song tính Error! Bookmark not defined.
2.2.1 Quyền kết hôn là quyền cơ bản của con ngườiError! Bookmark not defined
2.2.2 Thực trạng pháp luật về quyền kết hôn của người đồng tính, song tínhError! Bookmark not defined.
2.3 Vấn đề pháp lý liên quan đến người chuyển giới tại Việt Nam
hiện nay Error! Bookmark not defined
2.4 Một vài khoảng trống trong quy định pháp luật và thi hành
pháp luật đối với người LGBT Error! Bookmark not defined
Chương 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM ĐẢM BẢO QUYỀN
KẾT HÔN CỦA NGƯỜI LGBT DƯỚI GÓC ĐỘ QUYỀN
CON NGƯỜI Error! Bookmark not defined
3.1 Sự cần thiết phải thay đổi nhận thức và pháp luật ở Việt
Nam về vấn đề kết hôn giữa những người LGBTError! Bookmark not defined
3.2 Một số kiến nghị chung Error! Bookmark not defined
3.3 Một số kiến nghị cụ thể trong lĩnh vực dân sựError! Bookmark not defined
3.3.1 Về quyền của người đồng tính, song tínhError! Bookmark not defined
3.3.2 Về quyền của người chuyển giới Error! Bookmark not defined
KẾT LUẬN Error! Bookmark not defined
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 11
Trang 6
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
bảng
Tên bảng Trang
Bảng 2.1: Đặc điểm tính dục của người LGBT Error!
Bookmark not defined
Bảng 2.2: Nhân tố ảnh hưởng đến việc cởi mở về
thiên hướng tính dục
Error! Bookmark not defined
Bảng 2.3: Quan điểm của xã hội về đồng tính Error!
Bookmark not defined
Bảng 2.4: Lựa chọn của người đồng tính khi được
cho phép kết hôn
Error! Bookmark not defined
Trang 71
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đồng tính, song tính và chuyển giới (viết tắt tiếng Anh là: LGBT) là vấn đề không còn quá mới mẻ trong đời sống xã hội hiện đại Tuy nhiên, việc nhận thức một cách đầy đủ về cộng đồng người LGBT trong xã hội còn nhiều hạn chế Mặt khác, các yếu tố chính trị, lịch sử, truyền thống văn hóa, xã hội, định kiến, sự kỳ thị… ảnh hưởng rất lớn đến đời sống của người LGBT Trong những bối cảnh như vậy, quá trình đấu tranh quyền của người LGBT
và nâng cao nhận thức của xã hội về cộng đồng người này là một quá trình rất khó khăn và lâu dài Hiện nay trên thế giới còn tồn tại khá nhiều các nhận thức khác nhau về người LGBT, trong đó có nhiều nước hình sự hóa mối quan hệ của người đồng tính, cấm tuyên truyền về người đồng tính, không chấp nhận việc sống chung giữa những người đồng tính; Ngoài ra còn tồn tại nhiều quan điểm kỳ thị, coi họ như những người bệnh hoạn, xa lánh và sợ hãi… Chính vì vậy, cựu ngoại trưởng Mỹ Hillary Rodham Clinton từng phát biểu rằng quyền của người LGBT là một trong những thách thức nhân quyền còn lại của thời đại chúng ta [37]
Hiện nay, luật pháp về quan hệ người LGBT rất khác biệt ở các nước Tính đến nay (tháng 6 năm 2015), trong tổng số 207 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, có 20 quốc gia chấp nhận hôn nhân đồng tính như Mỹ, Hà Lan, Úc…, 21 quốc gia khác chấp nhận đồng tính chung sống dưới hình thức kết hợp dân sự cùng với đó là một số tiểu bang Úc và Mexico Ngược lại, có trên 80 nước xem đồng tính là tội phạm ở các mức độ khác nhau trong đó có một số nước áp dụng hình phạt tử hình dành cho tội này Tại Châu Á hiện chưa có quốc gia nào chấp nhận hôn nhân hoặc kết hợp dân sự giữa những người đồng tính
Trang 82
Ở nước ta vấn đề kết hôn giữa những người LGBT đang được khá nhiều người quan tâm, đặc biệt là khi tiến hành sửa đổi, bổ sung Bộ luật dân
sự năm 2005, Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 thì vấn đề này càng trở nên cấp thiết và thu hút sự quan tâm của không chỉ giới làm luật mà của toàn
xã hội Bởi lẽ việc cho phép hay không cho phép kết hôn giữa những người cùng giới tính ảnh hưởng không nhỏ đến quyền của cá nhân cũng như sự phát triển của xã hội Tuy nhiên, chúng ta đang chỉ đặc biệt quan tâm đến vấn đề cho phép kết hôn hay không cho phép kết hôn giữa những người LGBT mà chưa thực sự quan tâm đến việc đảm bảo quyền được kết hôn của những người này dưới góc độ là một quyền con người Trong khi đó, hôn nhân cần được xem là một quyền tự do chính đáng của mỗi người dù họ thuộc thiên hướng tính dục nào đi nữa
Xuất phát từ những lý do trên tôi chọn đề tài: “Kết hôn giữa những người LGBT dưới góc độ quyền con người” làm luận văn thạc sĩ chuyên
ngành luật Dân Sự
Qua đề tài này, tôi mong muốn góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật về đảm bảo quyền kết hôn của những người LGBT cũng như sự phát triển của xã hội
2 Tình hình nghiên cứu
Vấn đề kết hôn giữa những người LGBT đã được quan tâm, nghiên cứu dưới nhiều khía cạnh khác nhau như y học, quyền con người, quyền kết hôn
và có những tranh cãi về cho phép hay không cho phép kết hôn giữa những người LGBT Hiện nay trên thế giới đang tồn tại những quan điểm khác nhau
về vấn đề này Có một số quốc gia cho phép kết hôn giữa những người cùng giới tính (đồng tính) hoặc cho phép họ sống chung dân sự; ngược lại có một
số quốc gia lại hình sự hóa hành vi đồng tính, coi đó là một tội danh
Ở Việt Nam trong những năm gần đây vấn đề kết hôn giữa những người LGBT được khá nhiều người quan tâm, tuy nhiên các tài liệu nghiên
Trang 93
cứu, có thể nói còn chưa phổ biến, đặc biệt là nghiên cứu dưới góc độ quyền con người Các bài viết mới chỉ dừng lại ở việc đưa ra thực trạng hoặc ủng hộ
hay không ủng hộ kết hôn giữa những người cùng giới tính, như: “Kết hôn
đồng giới theo pháp luật một số quốc gia”- Luận văn Thạc sĩ Luật học của
Ngô Thị Thanh Thúy; bài “Mọi tình yêu đều bình đẳng” góp ý cho Dự thảo
sửa đổi Luật hôn nhân và gia đình năm 2000” của tác giả Ngô Vương Anh
đăng trên Tạp chí Cộng sản ngày 3/10/2013; bài "Cơ sở khoa học của hiện
tượng đồng tính luyến ái" của tác giả Hoàng Xuân Dung trên Tạp chí tâm lý
học, số 4 (121), 4- 2009; bài viết "Về mối quan hệ sống chung của người đồng
tính trong Dự thảo Luật hôn nhân và gia đình (Sửa đổi)" của tác giả Trương
Hồng Quang đăng trên trang tin của Bộ tư pháp; các bài phát biểu tại các Hội
thảo như: Hội thảo “Lấy ý kiến cộng đồng người đồng tính về “Dự án luật sửa
đổi, bổ sung một số điều của Luật hôn nhân và gia đình” do Viện nghiên cứu
Xã hội, Kinh tế và Môi trường (iSEE) tổ chức, ngày 17/9/2014 tại Hà Nội; Thảo luận lấy kiến về dự thảo sửa đổi Luật Hôn nhân gia đình năm 2000 của cộng đồng người đồng tính, song tính và chuyển giới (LGBT) tại Tiền Giang
Những công trình, bài viết nêu trên chủ yếu xoay quanh vấn đề thừa nhận hay không thừa nhận việc kết hôn giữa những người cùng giới tính, mà chưa đi sâu nghiên cứu đảm bảo quyền kết hôn dưới góc độ quyền con người
3 Mục tiêu nghiên cứu
3.1 Mục tiêu tổng quát
Mục tiêu của luận văn là giải quyết vấn đề quyền kết hôn giữa những người LGBT Quyền kết hôn được xem là quyền tự do, chính đáng của mỗi người và quyền đó cần được đảm bảo không kể họ thuộc giới tính nào
3.2 Mục tiêu cụ thể
Để đạt được mục tiêu nêu trên, luận văn bám sát vào các mục tiêu cụ thể như:
- Làm rõ quan điểm, nhận thức về những người LGBT
Trang 104
- Cơ sở lý luận và thực tiễn về quyền của những người LGBT
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về kết hôn giữa những người LGBT
- Đánh giá thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật Việt Nam trong vấn đề kết hôn giữa những người LGBT
- Đề ra những giải pháp nhằm đảm bảo quyền kết hôn của những người LGBT và coi đó là quyền tự do chính đáng trong giai đoạn hiện nay
4 Tính mới và những đóng góp của đề tài
Đề tài đi vào nghiên cứu vấn đề quyết kết hôn của những người LGBT dưới góc độ quyền con người, khác với các công trình khác nghiên cứu về vấn
đề cho phép kết hôn hay không cho phép kết hôn giữa những người cùng giới tính mà chưa đi sâu vào vấn đề đảm bảo quyền kết hôn của cá nhân như một quyền tự do chính đáng
Đóng góp mới về khoa học của luận văn:
- Luận văn làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn của hoạt động xây dựng và áp dụng pháp luật trong việc đảm bảo quyền kết hôn như một quyền
tự do chính đáng của mỗi người không kể họ thuộc giới tính nào
- Trên cơ sở đánh giá thực trạng, chỉ ra được những bất cập hiện nay về việc kết hôn giữa những người cùng giới tính và đề ra các giải pháp có tính khả thi nhằm đảm bảo phần nào quyền con người
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
Là thực tiễn tác động của các quy định về kết hôn giữa những người LGBT đến quyền con người của cá nhân
- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn xem xét nghiên cứu việc xây dựng và
áp dụng các quy định của pháp luật về kết hôn giữa những người LGBT và ảnh hưởng của nó đối với quyền con người trên lãnh thổ nước Việt Nam trong khoảng thời gian từ năm 2009 đến năm 2015
Trang 115
6 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
* Cơ sở lý luận:
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về Nhà nước và pháp luật, trong đó có vấn đề về áp dụng pháp luật về kết hôn giữa những người LGBT
* Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu của triết học Mác - Lênin
về duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, phương pháp lịch sử và logic; phương pháp kết hợp giữa lý luận và thực tiễn; phương pháp phân tích tổng hợp thống
kê, so sánh, điều tra, khảo sát
7 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1 Tổng quan về cộng đồng người LGBT và quyền kết hôn
của họ dưới góc độ quyền con người
Chương 2 Thực trạng đời sống xã hội, pháp luật của cộng đồng
người LGBT ở Việt Nam và vấn đề quyền kết hôn của họ
Chương 3 Một số kiến nghị nhằm đảm bảo quyền kết hôn của người
LGBT dưới góc độ quyền con người
Trang 126
Chương 1
TỔNG QUAN VỀ CỘNG ĐỒNG NGƯỜI LGBT VÀ QUYỀN KẾT
HÔN CỦA HỌ DƯỚI GÓC ĐỘ QUYỀN CON NGƯỜI
1.1 Đồng tính, song tính là các thiên hướng tính dục
Nhiều người thường quan niệm rằng đồng tính hoặc song tính là giới tính thứ ba bên cạnh hai giới tính khác là nam và nữ, song thực tế trong xã hội chỉ tồn tại hai giới tính là nam và nữ, còn đồng tính, song tính không phải là giới tính mà nó liên quan đến một khái niệm khác gọi là thiên hướng tính dục
Thiên hướng tính dục (hay còn gọi là xu hướng tính dục) là khái niệm dùng để chỉ việc chịu sự hấp dẫn về tình cảm, sự lãng mạn, trìu mến và hấp dẫn về tình dục của một người đối với những người cùng giới tính, khác giới tính hay cả hai giới tính… Trên thực tế hiện nay có bốn thiên hướng tính dục chính là dị tính, đồng tính, song tính và vô tính
Tồn tại phổ biến trong xã hội và dễ nhận thấy nhất đó là thiên hướng tính dục dị tính là những người bị hấp dẫn về mặt tình cảm và tình dục với những người khác giới tính và không mong muốn mình có giới tính khác với giới tính khi được sinh ra Ví dụ như nam thì bị hấp dẫn bởi nữ và nữ thì bị hấp dẫn bởi nam Chính vì đây là thiên hương tính dục phổ biến trong xã hội nên việc quan niệm và xây dựng mô hình gia đình với sự kết hợp giữa một nam và một nữ đã trở thành xu hướng đông đảo nhất và trở thành quan niệm truyền thống của nhiều quốc gia trên thế giới
Thiên hướng tính dục đồng tính là những người bị hấp dẫn bởi những người cùng giới tính với mình, không mong muốn có giới tính khác với giới tính của mình khi được sinh ra Đồng tính có ở cả nam giới (tiếng anh gọi là Gay) và nữ giới (tiếng anh gọi là Lesbian)
Thiên hướng tính dục song tính là những người không cho rằng bản
Trang 137
thân họ mang giới tính khác với giới tính sinh học từ khi được sinh ra nhưng
họ lại bị hấp dẫn tình cảm và tình dục bởi cả hai giới tính nam và nữ Song tính khác với thuật ngữ lưỡng tính, lưỡng tính thường được hiểu là một người mang cả giới tính nam và nữ, đây là một hiện tượng rất hiếm gặp trong cuộc sống, người lưỡng tính thực sự thì trong cơ thể có cả buồng trứng và tinh hoàn, còn song tính là người có hai thiên hướng tính dục đồng tính và dị tính không phải mang hai giới tính
Vô tính được xem là thiên hướng tính dục thứ tư, là những người không
bị hấp dẫn bởi bất cứ giới nào (asexual- vô tính), đây là thiên hướng tính dục chưa được nghiên cứu nhiều lắm
Như vậy, đồng tính và song tính là hai trong số bốn thiên hướng tính dục của loài người, không liên quan đến vấn đề giới tính ở đây Một người mang giới tính nam hoàn toàn có thể là người đồng tính, song tính hay dị tính
Trên thực tế không phải lúc nào thiên hướng tính dục cũng được biểu lộ
rõ ràng để mọi người nhận thấy mà nhiều khi nó được dấu kín, đặc biệt là đối với các thiên hướng tính dục chiếm số ít như đồng tính và song tính Xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau như: thiên hướng tính dục đó chiếm số
ít trong xã hội, dễ bị kỳ thị, xa lánh nên những người mang thiên hướng tính dục đồng tính, song tính thường không muốn công khai thiên hướng tính dục của mình Theo kết quả điều tra của Viện nghiên cứu xã hội, kinh tế và môi trường (iSEE) năm 2009 với người đồng tính nam, chỉ có 2,5% số người được hỏi là công khai hoàn toàn về thiên hướng tính dục của mình và 5% thì gần như là công khai Trong khi đó có 32,5% đang hoàn toàn bí mật về thiên hướng tính dục của mình và 35% thì gần như là hoàn toàn bí mật Số 25% còn lại thì lúc bí mật, lúc công khai tùy thuộc vào môi trường, hoàn cảnh
Sự hình thành và phát triển của thiên hướng tính dục ở mỗi người khác nhau là khác nhau, nó phát triển như thế nào ở mỗi người cũng chưa được bản