Màng ối tạo thành một rào cản đối với sự nhiễm khuẩn, một biến chứng phổ biến của đẻ non tự phát với ối vỡ sớm là tăng nguy cơ nhiễm khuẩn trong tử cung và đẻ non.. Cơ chế tương tự có th
Trang 1KHOA CÔNG NGHỆ SINH HỌC
- -
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Khoa: Công nghệ sinh học
HÀ NỘI - 2016
Trang 2Để hoàn thành luận văn này, em đã nhận được sự giúp đỡ quý báu của các thầy cô, gia đình và bạn bè Trước hết em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Đại
úy TS.Đỗ Minh Trung đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện trong suốt thời gian thực hiện đề tài
Em xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo Khoa công nghệ sinh học, Viện Đại học Mở Hà Nội đã truyền đạt những kiến thức quý báu, đã tạo điều kiện giúp đỡ em để
từ đó em phát triển thêm vốn hiểu biết của mình vận dụng trong quá trình hoàn thành khoá luận và trong công việc sau này
Em xin chân thành cảm ơn tới các cán bộ, nhân viên trong Trung tâm nghiên cứu Y Dược học Quân sự, Học viện Quân Y đã nhiệt tình giúp đỡ em trong quá trình thực hiện đề tài
Song do mới làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, tiếp cận với thực tế cũng như hạn chế về kiến thức và kinh nghiệm nên không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định mà bản thân chưa thấy được Em rất mong nhận được sự góp ý của quý Thầy, cô giáo và các bạn để khoá luận được hoàn chỉnh hơn
Cuối cùng, em xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đã giúp đỡ, khích
lệ tinh thần và tạo điều kiện thuận lợi cho em hoàn thành đề tài
Hà Nội, ngày tháng 5 năm 2016
Sinh viên
Lê Hoàng Huyền Trang
Trang 3ĐẶT VẤN ĐỀ 1
PHẦN I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Khái niệm về đẻ non 3
1.2 Dịch tễ học của đẻ non 5
1.3 Một số yếu tố nguy cơ của đẻ non 7
1.4 Vai trò của một số cytokine trong đẻ non 22
PHẦN 2: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
2.1 Vật liệu nghiên cứu 27
2.2 Phương pháp nghiên cứu 28
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu: 28
2.2.2 Thu thập bệnh phẩm 29
2.2.3 Phương pháp xét nghiệm nồng độ IL-17 và TNFα: 29
2.2.4 Địa điểm nghiên cứu 30
2.2.5 Xử lý số liệu 31
2.3 Đạo đức trong nghiên cứu 31
PHẦN 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 32
3.1 Đặc điểm của nhóm nghiên cứu 32
3.2 Nồng độ của IL-17 và TNF-α trong dịch ối 32
3.2.1 Nồng độ của IL-17, TNF-α trong dịch ối 32
3.2.2 Thay đổi IL-17 và TNFα theo mức độ viêm của ối, màng ối 33
3.2.3 Nồng độ của IL-17 trong dịch ối và sự thay đổi IL-17 trong dịch ối theo mức độ viêm của ối, màng ối 34
Trang 43.3 Mối tương quan giữa nồng độ IL-17 và TNF-α 35
3.3.1 Tương quan giữa nồng độ IL-17 với TNF-α trong dịch ối 35
3.3.2 Vị trí các tế bào sản xuất IL-17 trong màng ối 36
KẾT LUẬN 42
KIẾN NGHỊ 43
TÀI LIỆU THAM KHẢO 44
Trang 6Hình 1.1 Các nguy cơ đẻ non 11
Hình 1.2 Các nguy cơ đẻ non khi mang thai 18
Hình 3.1 Kết quả nhuộm hóa mô miễn dịch phát hiện IL 17 và CD 3 ở màng ối 38
DANH MỤC BẢNG BIỂU Bảng 1.1 Phân loại cytokin viêm theo hoạt động 23
Sơ đồ 2.1 Các bước tiến hành nghiên cứu 28
Bảng 3.1 Đặc điểm của nhóm nghiên cứu 32
Bảng 3.2: Giá trị của IL-17 và TNF-α 32
Bảng 3.3 Nồng độ IL-17 và TNF-α theo mức độ viêm của ối - màng ối 33
Bảng 3.4: Giá trị của IL-17 trong dịch ối 34
Bảng 3.5: Nồng độ IL-17 theo mức độ viêm của ối-màng ối 34
Bảng 3.6 Nồng độ IL-17 và TNF-α theo tuổi thai (n = 112) 35
Biểu đồ 3.1 Tương quan giữa nồng độ IL-17 và TNF-α trong dịch ối 36
Trang 7SVTH: Lê hoàng Huyền Trang GVHD: TS Đỗ Minh Trung
Theo Tổ chức Y tế Thế giới thống kê ở 184 quốc gia năm 2010 tỷ lệ đẻ non chiếm từ 5 – 18% các ca sinh Tỷ lệ đẻ non không giống nhau ở các quốc gia trên thế giới và phụ thuộc vào nhiều yếu tố như điều kiện kinh tế - xã hội, vùng miền, chủng tộc, phong tục tập quán Ở Việt Nam hiện nay, tỷ lệ đẻ non vào khoảng từ 6,5% - 16% Tỷ lệ tử vong của nhóm sơ sinh non tháng cao gấp 20 lần nhóm đủ tháng Chăm sóc và điều trị trẻ đẻ non tốn kém hơn rất nhiều về kinh tế
và thời gian so với trẻ đủ tháng
Vì vậy, hạn chế tỷ lệ dọa đẻ non và đẻ non luôn là mục đích của y học nhằm cho ra đời những đứa trẻ có thể chất khỏe mạnh, thông minh Vấn đề quan trọng để hạn chế tỷ lệ đẻ non đó là làm sao có thể dự phòng, phát hiện sớm và điều trị kịp thời cho các sản phụ có nguy cơ đẻ non cao, cũng như tiên lượng chính xác cho tình trạng dọa đẻ non và đẻ non nhằm đưa ra biện pháp điều trị phù hợp và có hiệu quả
Yếu tố nguy cơ và cơ chế bệnh sinh của đẻ non vẫn còn nhiều vấn đề cần được tiếp tục nghiên cứu Nhiều nghiên cứu cho thấy có rất nhiều yếu tố nguy cơ khác nhau ảnh có liên quan đến đẻ non như tiền sử sản khoa, số lấn
Trang 8SVTH: Lê hoàng Huyền Trang GVHD: TS Đỗ Minh Trung
2
mang thai, sự căng thẳng thần kinh, kinh tế khó khắn, u xơ tử cung, Tham gia vào cơ chế bệnh sinh, nhiều nghiên cứu cho thấy có sự xuất hiện nhiều cytokin trong dịch ối cũng như dịch cổ tử cung như IL-8, IL-6, IL-17, TNFα, Đặc biệt có nghiên cứu cho thấy sự tăng mật độ tế bào sản xuất IL-
17 trong màng ối của thai phụ sau sinh Tuy nhiên, các yếu tố nguy cơ cũng như sự tham gia của các yếu tố miễn dịch trong đẻ non vẫn còn vấn đề đang được tiếp tục nghiên cứu Xác định chính xác yếu tố nguy cơ giúp có các biện pháp dự phòng và điều trị hiệu quả, giảm chi phí cũng như thời gian điều trị
Xuất phát từ yêu cầu đó, em tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu
mối quan hệ giữa nồng độ Interleukin 17 và TNFα trong vấn đề chẩn đoán
đẻ non, dọa đẻ non” với các mục tiêu sau
Mục tiêu:
- Định lượng nồng độ Interleukin 17 và TNFα
- Xác định mối quan hệ giữa nồng độ Interleukin 17 và TNFα trong
vấn đề chẩn đoán đẻ non, dọa đẻ non
Trang 9SVTH: Lê hoàng Huyền Trang GVHD: TS Đỗ Minh Trung
3
PHẦN I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Khái niệm về đẻ non
Từ trước đến nay có nhiều tác giả đưa ra các định nghĩa khác nhau về đẻ non Định nghĩa này thay đổi theo thời gian và phụ thuộc vào khả năng nuôi dưỡng trẻ đẻ non sau sinh
Theo định nghĩa của tổ chức y tế thế giới (WHO) năm 1961: đẻ non là trẻ
đẻ ra có trọng lượng dưới 2500g và tuổi thai dưới 37 tuần Từ 2004, định nghĩa của WHO về đẻ non là khi trẻ đẻ ra có tuổi thai từ 22 đến dưới 37 tuần Theo Creasy, đẻ non là cuốc đẻ diễn ra từ 20 đến dưới 37 tuần chậm kinh
Một số tác giả khác cho rằng đẻ non là cuộc chuyển dạ đẻ xảy ra ở tuổi thai từ 20-36 tuần Tuy nhiên ngày nay các tác giả trên thế giới đều thống nhất quan điểm đẻ non là cuộc đẻ xảy ra ở tuổi thai từ 20 – 37 tuần tính từ ngày đầu
kỳ kinh cuối [1]
Tại Hoa Kỳ, tỷ lệ đẻ non là 12-13%, ở châu Âu và các nước phát triển, báo cáo tỷ lệ thường là 5-9% [2,3] Tỷ lệ đẻ non tăng lên ở hầu hết các nước công nghiệp hóa nhất (công nghiệp phát triển nhất), với Hoa Kỳ tỷ lệ đẻ non ngày càng tăng từ 9,5% năm 1981 lên 12,7% trong năm 2005, mặc dù đã có nhiều kiến thức chuyên sâu về các yếu tố nguy cơ, cơ chế bệnh sinh đẻ non và có nhiều biện pháp can thiệp cộng đồng đã được tiến hành để giảm tỷ lệ đẻ non [3]
Đẻ non là nguyên nhân chính gây tử vong chu sinh (chiếm 75%), hơn một nửa tỷ lệ tử vong dài hạn Có 50% trẻ đẻ non bị thiểu năng hệ thần kinh bao gồm
mù, điếc bẩm sinh, chậm mọc răng, liệt não, bệnh phế quản – phổi mạn tính Có
Trang 10SVTH: Lê hoàng Huyền Trang GVHD: TS Đỗ Minh Trung
Có nhiều bằng chứng chứng minh tỷ lệ và cấu trúc viêm nhiễm ở trẻ sơ sinh cũng thay đổi
Từ nửa sau thế kỷ này, khả năng sống sót của trẻ sơ sinh được thay đổi căn bản Sự phát triển của khoa học kỹ thuật, thói quen sử dụng corticoid trước sinh, sự phát triển của các khoa cấp cứu sơ sinh, sự cộng tác giữa bác sỹ sản khoa và các bác sỹ sơ sinh đã tăng tỷ lệ sống sót ở trẻ sơ sinh Trong những năm
1980 tỷ lệ khả năng sống ở trẻ đẻ non giới hạn ở tuổi thai 26 tuần, tới nay khả năng sống của trẻ đẻ non được giới hạn ở tuổi thai 22 tuần Song song với việc tăng khả năng sống của trẻ đẻ non có tuổi thai cực thấp là sự ra tăng của tỷ lệ biến chứng muộn của hệ thần kinh và các vấn đề về sức khỏe khác xuất hiện
Trẻ đẻ non tăng cả nguy cơ biến chứng sơ sinh và mất khả năng muộn như hội chứng trầm cảm, liệt não, các vấn đề về bệnh phổi, bệnh tiêu hóa, giảm thị lực, giảm thính lực
Về lâu dài trẻ sinh non tăng nguy cơ các bệnh tim mạch, tăng huyết áp, tiểu đường và có thể tăng nguy cơ bệnh ung thư
Các thiệt hại kinh tế do ảnh hưởng của đẻ non đang là gánh nặng của xã hội như chăm sóc sức khỏe, giáo dục, dịch vụ xã hội
Suy hô hấp: trẻ đẻ non thường có biểu hiện tím tái, khó thở Nếu không được chăm sóc đặc biệt, trẻ có thể bị suy hô hấp nặng dẫn tới tử vong
Trang 11SVTH: Lê hoàng Huyền Trang GVHD: TS Đỗ Minh Trung
bị hôn mê, co giật và tử vong
Trẻ đẻ non tăng nguy cơ nhiễm trùng: do hệ miễn dịch yếu nên trẻ dễ bị nhiễm trùng phổi, nhiễm trùng máu hoặc viêm màng não…[4]
1.2 Dịch tễ học của đẻ non
Các yếu tố sản khoa dẫn đến đẻ non là: (1) Đình chỉ thai nghén do các chỉ định về phía mẹ hoặc thai nhi, trong đó có đẻ chỉ huy hoặc mổ lấy thai do vết mổ cũ; (2) Đẻ non tái diễn với màng ối còn nguyên vẹn, và (3) đẻ non với ối vỡ sớm (PPROM), kể cả đẻ đường âm đạo hay mổ lấy thai [5] Khoảng 30-35% số ca đẻ non do chỉ định sản khoa, 40-45% đẻ non tự phát, và 25-30% đẻ non với ối vỡ sớm; đẻ non tự phát và đẻ non với ối vỡ sớm được gọi chung là đẻ non nguyên phát Các nguyên nhân gây đẻ non có sự khác biệt giữa các sắc tộc Đẻ non tự phát
là nguyên nhân thường gặp nhất gây đẻ non ở phụ nữ da trắng, nhưng ở phụ nữ da đen hay gặp đẻ non tự phát với ối vỡ sớm [6] Đẻ non cũng có thể được phân chia theo tuổi thai: khoảng 5% số ca đẻ non xảy ra dưới 28 tuần (đẻ cực non), khoảng 15% ở 28 - 33 tuần (đẻ rất non), khoảng 80 - 90% ở 34 tuần đến 36 tuần 6 ngày (đẻ non muôn) Phần lớn sự gia tăng tỷ lệ đẻ non đơn thai được giải thích bởi số lượng ngày càng tăng của các ca đẻ sớm do chỉ định sản khoa [7] Một số lớn các trường hợp đẻ non đa thai có liên quan đến các công nghệ hỗ trợ sinh sản cũng là một đóng góp quan trọng vào sự gia tăng chung tỉ lệ đẻ non Thụ tinh trong ống nghiệm cũng làm tăng nguy cơ đẻ non [8]
Trang 12SVTH: Lê hoàng Huyền Trang GVHD: TS Đỗ Minh Trung
6
Đẻ non tự phát vỡ ối sớm được định nghĩa là màng ối vỡ tự phát ở tuổi thai dưới 37 tuần ít nhất là 1h trước khi khởi phát các cơn co tử cung Nguyên nhân của vỡ màng ối trong nhiều trường hợp là không rõ, nhưng nhiễm trùng trong tử cung không có triệu chứng là yếu tố thường gặp Các yếu tố nguy cơ cho
đẻ non tự phát với ối vỡ sớm nói chung tương tự như những người đẻ non tự phát với màng ối còn nguyên, mặc dù nhiễm trùng và tiếp xúc với thuốc lá đóng vai trò quan trọng Hầu hết phụ nữ đẻ non tự phát với ối vỡ sớm bắt đầu chuyển
dạ một cách tự nhiên trong vòng vài ngày, nhưng một phần nhỏ phụ nữ vẫn chưa
đẻ trong vài tuần hoặc vài tháng Màng ối tạo thành một rào cản đối với sự nhiễm khuẩn, một biến chứng phổ biến của đẻ non tự phát với ối vỡ sớm là tăng nguy cơ nhiễm khuẩn trong tử cung và đẻ non
Đẻ non thường được định nghĩa là các cơn co tử cung đi kèm với thay đổi
cổ tử cung ở tuổi thai dưới 37 tuần Sinh bệnh học của đẻ non không được hiểu
rõ, nhưng đẻ non có thể đại diện cho kích hoạt tự phát sớm của quá trình chuyển
dạ bình thường hoặc kết quả của các chấn thương bệnh lý Vai trò đối với thai nhi trong việc xác định thời gian của sự khởi đầu của chuyển dạ đã được đưa ra trên cơ sở các nghiên cứu ở cừu [10] Cắt bỏ tuyến yên hoặc tuyến thượng thận thai nhi, hoặc cả hai, ngăn cản sự khởi đầu của quá trình chuyển dạ, do đó cortisol thai nhi là trung tâm khởi phát chuyển dạ ở cừu Cơ chế tương tự có thể liên quan đến quá trình sinh đẻ ở phụ nữ, như đề xuất các báo cáo về những thai
kỳ kéo dài với một bào thai vô sọ [11] Các học thuyết được đề xuất để giải thích
sự khởi phát đẻ non: (1) sự sụt giảm progesterone, (2) sự gia tăng của oxytocin,
và (3) sự kích hoạt màng rụng Lý thuyết về sự sụt giảm progesterone bắt nguồn
từ nghiên cứu ở cừu [10,12] Khi quá trình chuyển dạ sắp xảy ra, trục thai
Trang 13nhi-SVTH: Lê hoàng Huyền Trang GVHD: TS Đỗ Minh Trung
7
thượng thận trở nên nhạy cảm với hormon vỏ thượng thận, tăng tiết cortisol Cortisol thai nhi kích thích 17α-hydroxylase nhau thai hoạt hóa, làm giảm bài tiết progesterone và làm tăng sản xuất estrogen Sự đảo ngược trong các kết quả tỷ lệ estrogen/progesterone tăng tạo thành prostaglandin, bắt đầu một chuỗi các sự kiện lên đến đỉnh điểm trong chuyển dạ.Trong cơ thể người, nồng độ progesterone huyết thanh không giảm khi chuyển dạ [12] Tuy nhiên, vì các thuốc đối kháng progesterone như RU486 khởi động qua trình đẻ non và các tác nhân của giai đoạn progesterone ngăn ngừa đẻ non, giảm nồng độ progesterone địa phương hoặc số lượng các thụ thể, là một cơ chế chính khởi phát quá trình chuyển dạ [12,13,14] Do tiêm oxytocin tĩnh mạch làm tăng tần số và cường độ của các cơn co thắt tử cung, một giả thuyết cho rằng oxytocin đóng vai trò trong khởi phát chuyển dạ Tuy nhiên, nồng độ oxytocin trong máu không tăng trước khi chuyển dạ và độ thanh thải của oxytocin vẫn không đổi, do đó oxytocin không làm khởi phát chuyển dạ
Một con đường quan trọng dẫn đến khởi phát chuyển dạ liên quan đến kích hoạt viêm màng rụng Mặc dù vào giai đoạn đó, màng rụng kích hoạt có vẻ
là ít ảnh hưởng nhất trong thành phần hệ thống ức chế thai màng rụng (có thể thông qua đó giảm nồng độ progesterone địa phương), trong nhiều trường hợp dọa đẻ non sớm, màng rụng kích hoạt nảy sinh trong trong bối cảnh chảy máu trong tử cung hoặc nhiễm trùng trong tử cung tiềm ẩn
1.3 Một số yếu tố nguy cơ của đẻ non
Theo thống kê chung, khoảng 50% số trường hợp đẻ non không rõ nguyên nhân và yếu tố nguy cơ gây ra Những trường hợp xác định được bao gồm các nguyên nhân, yếu tố như: mẹ bị hở eo tử cung, mẹ có tiền căn sản giật nặng, tử
Trang 14SVTH: Lê hoàng Huyền Trang GVHD: TS Đỗ Minh Trung
8
cung dị dạng, đa thai, nhiễm trùng ối Ngoài ra, còn có các yếu tố khác như: tuổi thai phụ, tiền sử đẻ non, tình trạng kinh tế gia đình, cân nặng của mẹ, mắc bệnh đái tháo đường, nghề nghiệp, điều kiện làm việc Theo nghiên cứu của các nước châu Âu, đẻ non có liên quan đến điều kiện làm việc ở những phụ nữ mang thai sau: có thời gian làm việc quá 42 giờ trong tuần, công việc phải đứng nhiều (trên
6 giờ mỗi ngày), thai phụ không hài lòng với công việc của mình, công việc đòi hỏi về thể lực
Đẻ non được cho là một hội chứng khởi phát bởi nhiều cơ chế, bao gồm nhiễm trùng hoặc viêm, thiếu máu cục bộ tuần hoàn tử cung - rau hoặc xuất huyết, tử cung căng phồng quá mức, căng thẳng, và các quá trình miễn dịch qua trung gian khác [22,24] Không thể thiết lập một cơ chế chính xác cho hầu hết các trường hợp; bởi vậy, có nhiều yếu tố nguy cơ liên quan đến đẻ non, nhưng không có quan hệ nhân quả rõ ràng, được đưa ra để cố gắng giải thích nguyên nhân đẻ non Số lượng ngày càng tăng các yếu tố nguy cơ được nghĩ tới là nguyên nhân chuyển tử cung từ trạng thái yên lặng sang đẻ non hoặc đẻ non tự phát với ối vỡ sớm Có rất nhiều yếu tố nguy cơ là kết quả của quá trình tăng lên của viêm hệ thống, sự kích thích của quá trình nhiễm khuẩn hoặc sự viêm nhiễm giải thích phần nào sự gia tăng của đẻ non liên quan tới nhiều yếu tố nguy cơ
[Error! Reference source not found.] Xác định yếu tố nguy cơ dự đoán đẻ non
là một mục tiêu hợp lý vì nhiều lý do Đầu tiên, xác định các phụ nữ có nguy cơ
cho phép bắt đầu điều trị nguy cơ cụ thể [Error! Reference source not found.]
Thứ hai, các yếu tố nguy cơ có thể xác định một quần thể hữu ích cho nghiên cứu can thiệp cụ thể Cuối cùng, xác định các yếu tố nguy cơ có thể cung cấp những hiểu biết quan trọng về cơ chế dẫn đến đẻ non Có nhiều đặc điểm của mẹ
Trang 15SVTH: Lê hoàng Huyền Trang GVHD: TS Đỗ Minh Trung
9
hoặc thai nhi có liên quan với đẻ non, bao gồm các đặc điểm dân số của mẹ, tình trạng dinh dưỡng, lịch sử mang thai, đặc điểm mang thai hiện nay, đặc điểm tâm
lý, hành vi bất lợi, nhiễm trùng, các cơn co thắt tử cung và chiều dài cổ tử cung,
và marker sinh học và di truyền [23]
Yếu tố nguy cơ về phía mẹ
Ở Mỹ và ở Anh, phụ nữ được phân loại là người da đen, người Mỹ gốc Phi và người gốc Phi-Caribê luôn có nguy cơ đẻ non cao hơn: tỷ lệ đẻ non phụ
nữ da đen trong khoảng từ 16%-18% so với 5%-9% đối với phụ nữ da trắng Phụ
nữ da đen có nhiều khả năng đẻ non tháng rất sớm gấp 3-4 lần hơn so với phụ nữ
từ các nhóm chủng tộc hoặc dân tộc khác [Error! Reference source not
found.,Error! Reference source not found.] Một phần của sự khác biệt trong
tỷ lệ đẻ non giữa Mỹ và các nước khác có thể được giải thích bởi tỷ lệ đẻ non trong dân số Mỹ da đen Theo thời gian, sự chênh lệch về tỷ lệ đẻ non giữa phụ
nữ da đen và trắng vẫn phần lớn không thay đổi và không giải thích được, góp phần vào một chu kỳ bất lợi sinh sản với hậu quả sâu rộng đến xã hội và y tế
[Error! Reference source not found.] Phụ nữ Đông Á và gốc Tây Ban Nha
thường có tỷ lệ sinh non thấp Phụ nữ từ Nam Á, bao gồm cả tiểu lục địa Ấn Độ,
có tỷ lệ đẻ non cao, trọng lượng thai nhi lúc sinh thấp gây ra sự kém phát triển của thai nhi, nhưng tỷ lệ đẻ non dường như không tăng đáng kể Các đặc điểm dân số khác của mẹ có liên quan với đẻ non bao gồm tình trạng kinh tế xã hội và giáo dục, độ tuổi mẹ quá thấp và cao, tình trạng bà mẹ đơn thân Các cơ chế gây
đẻ non liên quan đến các đặc điểm dân số của mẹ cũng chưa được rõ ràng [25] Nghiên cứu quan sát các loại công việc và hoạt động thể chất liên quan đến đẻ non đã tạo ra những kết quả mâu thuẫn nhau [26] Điều tra nguy cơ liên
Trang 16SVTH: Lê hoàng Huyền Trang GVHD: TS Đỗ Minh Trung
10
quan đến công việc khó thực hiện bởi các yếu tố gây nhiễu; tuy nhiên, sau khi tính toán cho sự khác biệt dân số, làm việc nhiều giờ và lao động thể chất nặng nhọc trong điều kiện căng thẳng có thể liên quan với sự gia tăng đẻ non Mức độ hoạt động thể chất không liên quan đến tỷ lệ đẻ non Tuy có sự khác biệt về đặc điểm dân số, xã hội, hoặc kinh tế, không có bảo hiểm y tế, không có một mạng lưới mạnh mẽ hỗ trợ an sinh kinh tế và xã hội nhưng sự chênh lệch về tỷ lệ đẻ non giữa Mỹ và các nước phát triển khác là không rõ ràng Ngưỡng giới hạn tuổi thai để xác định đẻ non thấp hơn được sử dụng ở Mỹ có thể giải thích một phần của sự khác biệt trong tỷ lệ đẻ non Một điều rõ ràng là trong nhiều nhóm người nhập cư Mỹ có thời gian sống càng dài ở Mỹ thì tỷ lệ đẻ non càng cao nhưng chưa có lý giải cho phát hiện này
Một nguy cơ làm tỷ lệ đẻ non tăng lên là đẻ non phát sinh do mang thai quá gần lần mang thai trước đó Thời gian giữa các lần mang thai ít hơn 6 tháng
sẽ làm tăng gấp đôi nguy cơ đẻ non sau khi hiệu chỉnh các biến nhiễu [31] Hơn thế, phụ nữ có lần sinh đầu là đẻ non có khoảng thời gian giữa các lần mang thai ngắn hơn so với phụ nữ đã có lần sinh đầu tiên là sinh thường làm nguy cơ đẻ non trầm trọng hơn Mặc dù cơ chế này là chưa rõ ràng, có thể giải thích do tử cung cần có thời gian để trở về trạng thái bình thường, bao gồm phục hồi tình trạng viêm liên quan đến lần sinh trước Tình trạng cạn kiệt của người mẹ có thể
là một nguyên nhân vì mang thai tiêu tốn rất nhiều các vitamin, khoáng chất và các axit amin dự trữ của người mẹ Khoảng cách các lần mang thai ngắn làm giảm cơ hội bổ sung chất dinh dưỡng Tình trạng dinh dưỡng trong thai kỳ có thể được mô tả bởi các chỉ số về kích thước cơ thể như chỉ số khối cơ thể (BMI), chế
độ dinh dưỡng và các chất được phân tích trong huyết thanh [25] Ví dụ: chỉ số
Trang 17SVTH: Lê hoàng Huyền Trang GVHD: TS Đỗ Minh Trung
11
BMI của mẹ trước khi mang thai thấp có liên quan với nguy cơ cao đẻ non tự phát, trong khi béo phì có thể có tác dụng bảo vệ [28] Phụ nữ có nồng độ thấp sắt, folate, kẽm trong máu có nhiều nguy cơ đẻ non hơn những sản phụ có các giá trị này trong giới hạn bình thường [27] Có nhiều cơ chế mà tình trạng dinh dưỡng của mẹ có thể ảnh hưởng đến đẻ non như: đẻ non tự phát có thể xảy ra khi
mẹ gầy, liên quan đến thể tích máu giảm và làm giảm lưu lượng máu qua tử cung [28] Phụ nữ gầy tiêu thụ nhiều vitamin và khoáng chất hơn, nồng độ thấp các chất liên quan đến giảm lưu lượng máu và tăng nguy cơ nhiễm khuẩn của mẹ [29] Phụ nữ béo phì có nhiều khả năng sinh những đữa trẻ có dị tật bẩm sinh (khuyết tật ống thần kinh) [30] Phụ nữ béo phì dễ bị tiền sản giật và tiểu đường gây biến chứng đẻ non
Hình 1.1 Các nguy cơ đẻ non
Trang 18SVTH: Lê hoàng Huyền Trang GVHD: TS Đỗ Minh Trung
12
Nguy cơ tái phát đẻ non khoảng 15%-50% phụ thuộc vào số lượng và tuổi thai của những lần đẻ trước Mercer và cộng sự thấy rằng với phụ nữ có tiền sử
đẻ non trước đó có nguy cơ đẻ non tăng 2,5 lần trong lần mang thai tiếp theo của
họ Nguy cơ đẻ non tỉ lệ nghịch với tuổi thai của lần đẻ non trước Cơ chế của sự tái phát không rõ ràng, phụ nữ đẻ non tự phát nhiều khả năng đẻ non tự phát ở lần mang thai kế tiếp, những phụ nữ được chỉ định đẻ non cũng luôn có xu hướng lặp lại như lần sinh trước Nhiễm khuẩn tử cung kéo dài dai dẳng hoặc tái phát giải thích cho việc lặp đi lặp lại nhiều lần đẻ non tự phát Các rối loạn tiềm
ẩn gây chỉ định đẻ non như tăng huyết áp, tiểu đường, béo phì… thường xuyên kéo dài giữa các thai kỳ [32,33]
Những đặc điểm khi mang thai
Đa thai chiếm 2-3% số thai kỳ và là nguy cơ đáng kể gây đẻ non, chiếm 15-20% các ca đẻ non Gần 60% các cặp song sinh là đẻ non Khoảng 40% các cặp song sinh có đẻ non tự phát hoặc đẻ non tự phát với ối vỡ sớm trước 37 tuần Những trường hợp khác có chỉ định đẻ non do tiền sản giật, do các rối loạn khác của mẹ hoặc thai nhi Trong đa thai tử cung căng quá mức dẫn đến các cơn co tử cung và vỡ ối sớm gây tăng tỷ lệ đẻ non tự phát [34]
Chảy máu âm đạo do bởi rau bong non, rau tiền đạo là nguy cơ cao gây đẻ non Tuy nhiên chảy máu trong 3 tháng đầu và 3 tháng giữa thai kỳ không liên quan đến rau bong non hoặc rau thai tiền đạo mà thường liên quan với các lần đẻ non kế tiếp sau đó [35] Thể tích ối: đa ối hoặc thiểu ối có liên quan với đẻ non
và đẻ non tự phát với ối vỡ sớm Phẫu thuật bụng ở thai phụ trong 3 tháng giữa
và 3 tháng cuối thai kỳ có thể kích thích các cơn co mà đỉnh cao là đẻ non Người mẹ có rối loạn bệnh lý: bệnh tuyến giáp, hen suyễn, tiểu đường và cao
Trang 19SVTH: Lê hoàng Huyền Trang GVHD: TS Đỗ Minh Trung
cơ đẻ non Các bà mẹ trải căng thẳng tâm lý nguy cơ đẻ non tăng (thường > 2 lần), ngay cả sau khi đã điều chỉnh những ảnh hưởng của dân số - xã hội, yếu tố nguy cơ bệnh và các hành vi có nguy cơ [37] Sự tiếp xúc với điều kiện khách quan căng thẳng, như sự bất ổn định về nhà ở và vật chất khó khăn nghiêm trọng cũng liên quan tới đẻ non [38] Mặc dù cơ chế tiềm ẩn giải thích mối liên hệ giữa căng thẳng tâm lý hoặc xã hội gây tăng nguy cơ đẻ non là không rõ ràng, vai trò của hormone giải phóng corticol đã được đề xuất [39,40] Phụ nữ tiếp xúc với điều kiện căng thẳng xuất hiện sự gia tăng nồng độ của các dấu hiệu viêm trong huyết thanh như protein C phản ứng… tạo thành quá trình viêm [41,42] Những phát hiện này cho rằng hệ thống viêm có thể là một con đường mà căng thẳng có thể làm tăng nguy cơ đẻ non Một nghiên cứu lâm sàng trong thai kỳ cho thấy có 16% phụ nữ mang thai có triệu chứng trầm cảm [43] Dù không rõ ràng nhưng
đã thấy có mối liên hệ (nguy cơ tăng 2 lần) giữa trầm cảm và đẻ non Trầm cảm
có liên quan với sự gia tăng sử dụng thuốc lá, ma túy và rượu, do đó, mối quan
hệ giữa trầm cảm và đẻ non có thể được giải thích qua trung gian những hành vi này [44,45] Trong một số nghiên cứu điều chỉnh cho hút thuốc lá, ma túy và sử dụng rượu, sự liên quan giữa trầm cảm và đẻ non tiếp tục tồn tại, cho thấy mối quan hệ này còn được gây ra bởi nhiều yếu tố khác nữa Mặc dù, các cơ chế tiềm
ẩn giải thích mối liên quan giữa trầm cảm và đẻ non chưa rõ ràng, nhưng có mối
Trang 20SVTH: Lê hoàng Huyền Trang GVHD: TS Đỗ Minh Trung
và carbon monoxide là 2 tác nhân co mạch mạnh mẽ và có liên quan với tổn thương rau thai và giảm tuần hoàn tử cung rau dẫn đến hạn chế tăng trưởng bào thai và đẻ non theo chỉ định Hút thuốc cũng liên quan với một hệ thống phản ứng viêm và có thể gia tăng đẻ non tự phát thông qua con đường đó Nghiện rượu nặng có liên quan với đẻ non và được coi như là một yếu tố nguy cơ đẻ non Sử dụng cocaine và heroin liên quan với đẻ non ở một số nghiên cứu Nhiễm khuẩn tử cung là một cơ chế thường xuyên và quan trọng dẫn đến đẻ non [46] Các cơ chế nhiễm trùng trong tử cung dẫn đến đẻ non có liên quan để kích hoạt hệ thống miễn dịch bẩm sinh [47,48] Vi sinh vật được nhận diện bởi các thụ thể nhận diện mẫu ví dụ như các thụ thể tiếp nhận, từ đó suy ra mức giải phóng các chemokine và cytokine viêm, chẳng hạn như interleukin 8, interleukin 1β và yếu tố hoại tử khối u (TNF) α Nội độc tố vi sinh vật và các cytokine tiền viêm kích thích sự sản xuất prostaglandin, các chất trung gian hóa học viêm và làm giảm enzym kết dính Prostaglandins kích thích co bóp tử cung, trong khi sự suy thoái của chất nền ngoại bào trong màng ối bào thai dẫn đến đẻ non tự phát với ối vỡ sớm [49,50] Nghiên cứu về lĩnh vực vi sinh vật cho thấy nhiễm trùng trong tử cung có thể chiếm 25-40% số ca đẻ non, tuy nhiên, 25-40% có thể là chỉ
Trang 21SVTH: Lê hoàng Huyền Trang GVHD: TS Đỗ Minh Trung
15
là một ước tính tối thiểu vì nhiễm trùng trong tử cung khó phát hiện với kỹ thuật nuôi thông thường [51] Một số nghiên cứu đã xác định các dấu ấn của vi sinh vật trong khoang ối bằng cách sử dụng các kỹ thuật vi sinh phân tử [24] Ví dụ, những thai phụ có kết quả dương tính với Ureaplasma urealyticum PCR, nhưng nuôi cấy âm tính có tỷ lệ đẻ non tương tự phụ nữ với nuôi cấy dương tính với cùng loại vi sinh vật Hơn nữa, tỷ lệ nhiễm khuẩn màng ối tăng gấp đôi khi thấy
vi khuẩn trong khoang ối [50] Nhiều bằng chứng cho thấy nhiễm khuẩn ối là một quá trình mãn tính [46]
Phụ nữ dương tính với U urealyticum trong nuôi cấy nước ối hoặc PCR dương tính với U urealyticum vào ba tháng giữa của thai kỳ, nếu chọc ối xác định gen thường gây đẻ non tự phát hoặc đẻ non tự phát với ối vỡ sớm vào những tuần sau khi làm thủ thuật [50] Điều quan trọng ở những phụ nữ đẻ non nếu tuổi thai càng nhỏ thì tần suất nhiễm khuẩn tử cung càng cao Ở tuổi thai 21-
24 tuần hầu hết đẻ non tự phát liên quan đến nhiễm khuẩn màng ối so sánh với khoảng 10% đẻ non tự phát liên quan đến nhiễm khuẩn ở tuổi thai 35-36 tuần [40] Các vi sinh vật phổ biến nhất được báo cáo trong khoang ối là Mycoplasma spp sinh dục và đặc biệt là U urealyticum… nhiều vi khuẩn khác cũng đã được xác định [41] Một số vi sinh vật ít phổ biến ở đường sinh dục, như Streptococcus agalactiae, hiếm thấy trong khoang ối trước khi vỡ màng ối [46] Các vi khuẩn Mycoplasma sinh dục và các vi sinh vật khác phát hiện trong tử cung trước khi vỡ màng ối thường có độc tính thấp, có thể do nhiễm trùng mạn tính trong tử cung và không có các dấu hiệu lâm sàng của nhiễm trùng [52] Nhiễm trùng trong tử cung có thể được hạn chế trong màng rụng rồi qua khoảng trống giữa các màng ối và màng đệm đi tới khoang ối và thai nhi [46] Khoang ối
Trang 22SVTH: Lê hoàng Huyền Trang GVHD: TS Đỗ Minh Trung
Giai đoạn quan trọng của nhiễm trùng trong tử cung tăng dần là nhiễm trùng bào thai Rose-Marie Holst và cộng sự [58] báo cáo nhiễm khuẩn thai chiếm 33% khi nuôi cấy nước ối dương tính so với 4% với nuôi cấy nước ối âm tính Trong một nghiên cứu khác, các loài mycoplasma sinh dục đã được phát hiện
Trang 23SVTH: Lê hoàng Huyền Trang GVHD: TS Đỗ Minh Trung
17
trong 23% nuôi cấy dây rốn trẻ sơ sinh sinh ở tuổi thai dưới 32 tuần [59] Cả hai nghiên cứu cho thấy nhiễm trùng bào thai cận lâm sàng phổ biến hơn so với truyền thống được công nhận Vi sinh vật xâm nhập khoang ối thường gây nhiễm khuẩn ối và nhiễm khuẩn thai nhi [60] Phản ứng viêm của thai nhi có liên quan đến sự khởi đầu của đẻ non, tổn thương thai và tàn tật, bao gồm cả hoại tử chất trắng, bại não, và bệnh phổi mãn tính [61] Nhiễm khuẩn âm đạo, một rối loạn được xác định bởi sự thay đổi hệ sinh thái vi khuẩn của âm đạo được chẩn đoán lâm sàng bởi sự hiện diện của các tế bào manh mối, pH âm đạo > 4.5, khí hư màu trắng nhiều và có mùi tanh cá khi dịch âm đạo tiếp xúc với kali hydroxide [22] Trong phòng thí nghiệm, viêm âm đạo do vi khuẩn được xác định theo các tiêu chí Nugent trong đó gam màu smears được ghi trên cơ sở số lượng
sử dụng để chẩn đoán viêm âm đạo và có liên quan với sự tăng 1,5-3 lần tỷ lệ đẻ non [63] Phụ nữ da đen Mỹ và Anh bị viêm âm đạo do vi khuẩn gấp 3 lần phụ
nữ da trắng điều này giải thích các phụ nữ da đen đẻ non cao 50% so với da trắng [65] Cơ chế nhiễm khuẩn âm đạo có liên quan với đẻ non có thể do vi sinh vật từ âm đạo xâm nhập gây nhiễm trùng tử cung trước khi hoặc trong khi mang thai [66]
Những nhiễm khuẩn sinh dục khác liên quan đến đẻ non là khá rõ ràng [63] Đối với nhiều loại nhiễm khuẩn, nhiều nghiên cứu đã được công bố, từ ít có liên quan đến liên quan chặt chẽ với đẻ non Phụ nữ nhiễm khuẩn sinh dục thường có các yếu tố nguy cơ khác và nhiều nghiên cứu đã không xem xét các biến nhiễu Tuy nhiên, nhiễm Trichomonas liên quan với đẻ non với nguy cơ
Trang 24SVTH: Lê hoàng Huyền Trang GVHD: TS Đỗ Minh Trung
18
tương đối khoảng 1-3 [67] Chlamydia liên quan với đẻ non trong sự hiện diện của một phản ứng miễn dịch của mẹ và hầu hết có lẽ với một RR khoảng 2 [68] Bệnh giang mai và bệnh lậu liên quan với đẻ non với một RR khoảng 2 [57]
Liên cầu nhóm B, U urealyticum và colonisations M hominus làm tăng nguy cơ
đẻ non Một số bệnh nhiễm trùng đường niêu-sinh dục (như viêm bể thận không
có triệu chứng nhiễm trùng), viêm phổi và viêm ruột thừa có thể dẫn đến đẻ non [66] Một số nghiên cứu về bệnh nha chu cho thấy tăng nguy cơ nhiễm khuẩn và
đẻ non do các vi sinh vật có ở kẽ hở nướu qua máu và rau thai làm tử cung bị nhiễm trùng [69] Tuy nhiên trong 1 nghiên cứu khác, bệnh nha chu được cho là không liên quan đến tăng vi khuẩn trong tử cung hoặc nhiễm khuẩn ối [70] Các con đường sinh học cơ bản về mối quan hệ giữa bệnh nha chu và đẻ non vẫn còn chưa được hiểu biết rõ ràng
Hình 1.2 Các nguy cơ đẻ non khi mang thai
Trang 25SVTH: Lê hoàng Huyền Trang GVHD: TS Đỗ Minh Trung
19
So với nhiễm khuẩn, có ít bằng chứng cho thấy nhiễm virus dẫn đến đẻ
non Tuy nhiên, khi thai phụ nhiễm vi rút nặng, chẳng hạn Varicella gây viêm
phổi hoặc hội chứng hô hấp cấp tính nặng có thể gây ra đẻ non [71] Trong một
số nghiên cứu chẩn đoán nhiễm vi rút không triệu chứng dựa trên xét nghiệm DNA virus bằng kỹ thuật PCR trong dịch ối cho thấy ít có liên quan đến đẻ non Dường như nhiễm virus mẹ đóng vai trò quan trọng liên quan đến đẻ non, nhưng vấn đề này còn nhiều ý kiến khác nhau và cần tiếp tục nghiên cứu [72]
Một số nghiên cứu đã chỉ ra mối liên quan giữa tần số co bóp tử cung và
đẻ non [73] Tuy nhiên, các cơn co tử cung không là tiêu chí dự đoán đẻ non ở phụ nữ đơn thai vì sự khác biệt là không rõ rệt trong tần số co bóp tử cung của thai kỳ bình thường và thai phụ đẻ non [74] McGregor và các cộng sự [57] báo cáo kết quả tương tự khi nghiên cứu ở các cặp song sinh
Khi chuyển dạ, cổ tử cung rút ngắn, mềm, ngả trước và xóa Siêu âm kiểm tra cổ tử cung đã chỉ ra cổ tử cung rút ngắn là một yếu tố nguy cơ đẻ non [15] Siêu âm hữu ích trong hai trường hợp: đầu tiên là ở thai phụ không có triệu chứng, thứ hai là những người xuất hiện các cơn co thắt Với thai phụ không có triệu chứng, ở tuần thai 24, chiều dài cổ tử cung < 25 mm xác định nguy cơ tăng của đẻ non Cổ tử cung càng ngắn, nguy cơ đẻ non càng cao [15] Phụ nữ với các cơn co thắt sớm thường có bệnh cảnh lâm sàng khá phức tạp: 60% phụ nữ số này không cần điều trị, vẫn sinh đủ tháng Những thai phụ này thường được theo dõi trong vài giờ trước khi bắt đầu điều trị thuốc giảm co, corticosteroid hoặc cho bệnh nhân xuất viện Chiều dài cổ tử cung khác biệt rõ rệt giữa phụ nữ không chuyển dạ và những người mang nguy cơ sinh sớm Với chiều dài cổ tử cung lớn
Trang 26SVTH: Lê hoàng Huyền Trang GVHD: TS Đỗ Minh Trung
Dấu ấn sinh học và di truyền
Dịch sinh học (nước ối, nước tiểu, chất nhầy cổ tử cung, dịch tiết âm đạo, huyết thanh, huyết tương, nước bọt) được sử dụng đánh giá giá trị của dấu ấn sinh học cho dự báo đẻ non [75] Các cytokine, chemokine, oestriol và các chất điện giải khác cũng được đánh giá Nhiều chất, đặc biệt các chất liên quan đến viêm cho thấy có liên quan với đẻ non Các nghiên cứu về dấu ấn sinh học từng bước được cải tiến chứng minh những hiểu biết về các cơ chế sinh của bệnh đẻ non tự phát nhưng chỉ có ít dấu ấn sinh học được sử dụng trong lâm sàng
[Error! Reference source not found.] Một vấn đề quan trọng bên cạnh đặc tính
đặc hiệu và nguồn gốc của chất phân tích, việc đánh giá thời gian liên quan đến tuổi thai của quá trình tích lũy và chuyển dạ cũng là vấn đề quan trọng Ví dụ, nồng độ chất nền metalloproteinase-9 trong huyết thanh tăng đáng kể trong khoảng 24 giờ trước khi bắt đầu chuyển dạ [20,61] Việc tiên lượng sinh non muộn như vậy là ít giá trị trong việc dự phòng và điều trị, nhưng có thể hỗ trợ trong nghiên cứu về sinh lý bệnh của đẻ non Oestriol nước bọt tập trung dự đoán muộn đẻ non khá tốt, nhưng không đặc biệt hữu ích cho dự báo các trường hợp
đẻ non sớm [69] Dự đoán đẻ non muộn ít quan trọng vì tỷ lệ bệnh ở trường hợp sinh này là thấp
Trang 27SVTH: Lê hoàng Huyền Trang GVHD: TS Đỗ Minh Trung
21
Chất sinh hóa có giá trị nhất dự đoán đẻ non là fibronectin của bào một glycoprotein khi hiện diện trong chất lỏng cổ tử cung âm đạo là một dấu hiệu của sự rối loạn màng rụng [45,55,67] Thông thường, fibronectin của bào thai không có trong các chất tiết cổ tử cung âm đạo từ 24 tuần cho đến gần sinh, tuy nhiên có 3-4% phụ nữ trải qua kiểm tra tại tuần 24-26 fibronectin dương tính
thai-và tăng đáng kể nguy cơ đẻ non Đối với chăm sóc lâm sàng, một đặc tính quan trọng của xét nghiệm fibronectin thai nhi là giá trị tiên đoán âm tính của nó Trong trường hợp dọa đẻ non, chỉ có khoảng 1% phụ nữ có xét nghiệm âm tính chuyển dạ trong tuần kế tiếp [76]
Mỗi cơ chế của bệnh có liên quan đến đẻ non và PPROM đều có tiềm năng có yếu tố di truyền Thai phụ có chị em ruột đã đẻ non trước thì 80% sẽ đẻ non [76] Bà của những thai phụ này có một lần đẻ non là dấu hiệu sinh ra những phụ nữ đẻ non [77] Nghiên cứu liên quan đến di truyền đã được sử dụng để xác định các polynucleotide trong một số các gen liên quan với đẻ non và PPROM [78] Các kiểu gen của thai nhi và bà mẹ thay đổi nguy cơ đẻ non [79] Tương tác gen-môi trường đã chỉ ra mối liên quan giữa người mẹ mang một alen của gen TNF-α và bệnh viêm âm đạo do vi khuẩn [80] Mặc dù đặc tính không phải đơn có liên quan với đẻ non tự phát nhưng sự kết hợp này làm tăng nguy cơ đẻ non Tương tự như vậy, bà mẹ chỉ mang một đa hình trong gen IL-6 không gây tăng nguy cơ đẻ non tự nhiên cho phụ nữ da trắng hoặc da đen [76] Tuy nhiên, phụ nữ da đen mang alen IL-6 và nhiễm khuẩn âm đạo có có nguy cơ đẻ non lớn hơn hai lần so với những người có các đột biến gen nhưng không có nhiễm trùng Một tương tác giữa hút thuốc lá của thai phụ và sự đình gen liên quan đến cân nặng thai nhi cũng đã được mô tả [41]
Trang 28SVTH: Lê hoàng Huyền Trang GVHD: TS Đỗ Minh Trung
22
Các dữ liệu cung cấp bằng chứng về tương tác giữa môi trường-gen trong
đẻ non tự phát Công nghệ tiên tiến và hoàn thiện của dự án HapMap có thể triển khai nghiên cứu toàn bộ hệ gen người [70] Do đó, yếu tố di truyền được chứng minh từ việc tiếp cận một gen đích trong số đa hình DNA của các gen quan tâm
là một phương pháp tiếp cận di truyền thực sự nhằm mục đích để kiểm tra toàn
bộ bộ gen Kỹ thuật aray độ phân giải cao cho phép kiểm tra đồng thời 500.000 hoặc nhiều hơn đa hình ADN trong cùng một cá nhân Tuy nhiên các nghiên cứu như vậy vẫn chưa được triển khai trong việc xác định mối liên quan giữa gen với
đẻ non
Proteomics là toàn bộ các protein được mã hóa bởi bộ gen và proteomics
là nghiên cứu của tập toàn bộ của protein Phân tích nước ối và huyết thanh từ phụ nữ đẻ non và PPROM đã thực hiện để xác định các dấu ấn sinh học đối với
đẻ non và PPROM Trong một nghiên cứu, vi khuẩn được cấy vào ối của khỉ nâu
và các proteomic phản ứng theo dõi theo thời gian Nhiều dấu ấn nhiễm khuẩn mới đã được xác định Các protein tương tự xác định trong nước ối của phụ nữ mang thai với nhiễm khuẩn màng ối liên quan đến đẻ non Vì vậy, kỹ thuật proteomic có thể được sử dụng để xác định các chỉ dấu sinh học với phụ nữ đẻ non và PPROM
Các nghiên cứu bổ sung xác định cơ chế, yếu tố nguy cơ liên quan đến đẻ non là rất quan trọng Những hiểu biết về các cơ chế bệnh sinh đẻ non cho phép các bác sĩ lâm sàng thiết kế các phương pháp can thiệp thích hợp để giảm tỷ lệ
đẻ non và trẻ sinh non qua đó làm giảm tỷ lệ mắc bệnh và tử vong sơ sinh
Trang 29SVTH: Lê hoàng Huyền Trang GVHD: TS Đỗ Minh Trung
23
1.4 Vai trò của một số cytokine trong đẻ non
Cytokine đóng vai trò then chốt trong điều hòa đáp ứng miễn đối với nhiễm khuẩn cũng như tự miễn, chức năng sinh lý của bánh rau, yếu tố tăng sinh mạch Nhiều nghiên cứu cho thấy cytokin đóng vai trò quan trọng trong phát triển thai nhi, nó được biết đến như các tế bào của hệ thống tự miễn có thể nhận dạng các kháng nguyên bánh rau và thai nhi Trong đáp ứng miễn dịch, các tế bào này tạo ra các chất trung gian hóa học và cytokine cho phép phát triển nhau thai và thai nhi
Bảng 1.1 Phân loại cytokin viêm theo hoạt động
IL-10 TGF-β IL-4
Sau khi kích thích, các tế bào macrophage và tế bào phân hủy khác bài tiết cytokine tiền viêm (proinflammatory cytokine) Interleukin-1 (IL-1) và yếu tố hoại tử khối (TNF α) là những cytokin đại diện cho những cytokine này Chúng