Bởi vậy mà ngoài sự điều chỉnh và ghi nhận trong Luật Thương mại 2005, Bộ Luật dân sự 2005 thì nó còn chịu sự điều chỉnh bởi các văn bản pháp luật về Thương mại điện tử như: Luật Giao dị
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Người hướng dẫn: Ths.Đinh Thị Hồng Trang
Hà Nội, 5/2016
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, em có tham khảo một số tài liệu liên quan đến chuyên ngành Luật Em xin cam đoan đề tài này là do chính em thực hiện, các số liệu thu thập và kết quả phân tích trong để tài là trung thực Đề tài không trùng với bất kì đề tài nghiên cứu khoa học hay khóa luận tốt nghiệp nào Những thông tin tham khảo trong khóa luận đều được trích dẫn cụ thể nguồn sử dụng
Xác nhận của người hướng dẫn
Ths Đinh Thị Hồng Trang
Hà Nội, Ngày… tháng…… năm…
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thị Mỹ Hạnh
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ MUA BÁN HÀNG HÓA QUA MẠNG ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM 4
1 Khái niệm mua bán hàng hóa qua mạng điện tử 4
2 Đặc điểm của mua bán hàng hóa qua mạng điện tử 6
3 Các hình thức chủ yếu của hoạt động mua bán hàng hóa qua mạng điện tử 8
3.1 Website thương mại điện tử bán hàng 8
3.2 Sàn giao dịch thương mại điện tử 9
3.3 Mua bán hàng hóa qua mạng xã hội 10
4 Khái quát pháp luật về mua bán hàng hóa qua mạng điện tử 12
4.1 Đặc điểm pháp luật điều chỉnh hoạt động mua bán hàng hóa qua điện tử 12
4.2 Khung pháp lý về hoạt động mua bán hàng hóa qua mạng điện tử ở Việt Nam 12 CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ MUA BÁN HÀNG HÓA QUA MẠNG ĐIỆN TỬ 14
1 Chủ thể tham gia mua bán hàng hóa qua mạng điện tử 14
2 Hàng hóa trong mua bán hàng hóa qua mạng điện tử 15
3 Hợp đồng mua bán hàng hóa qua mạng điện tử 17
3.1 Giao kết hợp đồng 17
3.2 Hình thức của hợp đồng 22
3.3 Nội dung hợp đồng 23
3.4 Chữ ký điện tử và giá trị pháp lý của hợp đồng 24
3.5 Thực hiện, sửa đổi và chấm dứt hợp đồng 26
4 Những quy định khác của pháp luật có liên quan về mua bán hàng hóa qua mạng điện tử 28
4.1 Vấn đề về trách nhiệm của bên thứ ba 28
4.2 Vấn đề về bảo mật, an ninh thông tin 28
4.3 Vấn đề bảo vệ người tiêu dùng 29
5 Pháp luật về giải quyết tranh chấp trong mua bán hàng hóa qua mạng điện tử 31
Trang 4CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ MUA BÁN HÀNG HÓA QUA MẠNG ĐIỆN TỬ Ở VỆT NAM HIỆN NAY VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ MUA BÁN HÀNG HÓA QUA MẠNG ĐIỆN TỬ 33
1 Thực trạng pháp luật Việt Nam về mua bán hàng hóa qua mạng điện tử 331.1 Những kết quả đạt được 331.2 Một số điểm bất cập về mua bán hàng hóa qua mạng điện tử theo quy định pháp luật hiện hành và những điểm còn hạn chế 37
2 Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam về mua bán hàng hóa qua mạng điện tử 44
KẾT LUẬN 48 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 49
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Internet được cho là một trong những phát minh vĩ đại nhất của loài người trong thế kỉ XX Sự phát triển mạnh mẽ của của Internet với mạng toàn cầu World Wide Web(WWW) cùng với sự phát triển của các thiết bị điện tử trực tuyến đặc biệt là smartphone cùng hàng ngàn thẻ ngân hàng được phát hành mỗi ngày đang đứng trước thời cơ bùng nổ một cách mạnh mẽ làm thay đổi diện mạo toàn cầu và kết nối toàn thể nhân loại với nhau Sự phát triển của Internet thực sự đã ảnh hưởng
và làm biến đổi rất nhiều các hoạt động trên thế giới trong đó có hoạt động mua bán hàng hóa qua mạng điện tử Trước đây, để có thể thực hiện các giao dịch mua bán hàng hóa, người ta phải trực tiếp gặp gỡ, trao đổi, thỏa thuận với nhau thì nay phương thức truyền thống này bị ảnh hưởng rất nhiều bởi những cách biệt về địa lý
và do vậy ảnh hưởng rất nhiều tới các giá trị thương mại được hình thành Tuy nhiên với mạng Internet thì mọi cách biệt về thời gian, không gian địa lý đều được phá bỏ, chỉ cần ngồi một chỗ với thiết bị điện tử có kết nối mạng Internet là chúng
ta có thể trao đổi, thực hiện các giao dịch mua bán hàng hóa với nhau, đáp ứng được yêu cầu tính nhanh chóng, thuận tiện của mua bán hàng hóa toàn cầu một cách thức mới trong hoạt động mua bán hàng hóa đã xuất hiện – đó là các giao dịch mua bán hàng hóa thông qua phương tiện điện tử Với những ưu thế và những tiện ích to lớn của mình, mua bán hàng hóa qua mạng điện tử ngày càng trở thành một bộ phận hết sức quan trọng trong nền kinh tế Mặc dù Ngành kinh doanh trên Internet mới chỉ phát triển trong hơn một thập kỷ trở lại đây nhưng tốc độ phát triển chóng mặt của
nó cùng sự ra đời của những đứa con cưng, những gã khổng lồ, những đế chế bất khả chiến bại như: Amazon, eBay, Yahoo! Hay Google là bằng chứng không thể chối cãi về sức mạnh thần kì của nó Một trong những ông lớn có tầm ảnh hưởng toàn cầu của giới kinh doanh Internet chính là eBay – Website: ebay.com eBay là chiếc cầu nối gần 200 triệu người mua và bán trên toàn cầu, là cái “chợ”- nơi người
ta mua bán hơn 50.000 chủng loại hàng hóa, với giá trị hàng hóa giao dịch lên tới 1.6 USD mỗi giây Với mạng lưới cửa hàng eBay trực tuyến lên tới con số hơn 300.000 Hơn một nửa số giao dịch diễn ra trên ebay là giao dịch quốc tế, chứng tỏ mức độ ảnh hưởng của đế chế này đối với mua bán hàng hóa qua mạng điện tử toàn cầu Ngày nay, thương mại điện tử nói chung hay mua bán hàng hóa qua mạng điện
tử nói riêng được nhắc đến trên tất cả các phương tiện thông tin đại chúng như một công cụ kinh doanh điển hình của thế kỷ XXI Hơn bao giờ hết, vấn đề này trở nên
Trang 6nóng bỏng đối với mỗi quốc gia, mỗi tổ chức kinh tế - xã hội bởi tính tiện dụng và hữu ích của nó Mua bán hàng hóa qua mạng điện tử đang ngày càng chứng tỏ những lợi ích tiềm tàng và khả năng to lớn của mình Nhưng nó cũng là một giao dịch mua bán khá phức tạp và tiềm ẩn nhiều rủi ro bởi những đặc trưng riêng biệt của nó
Ở Việt Nam hiện nay, hoạt động mua bán hàng hóa qua mạng điện tử mới ra đời không lâu nhưng sự phát triển của nó rất mạnh mẽ và tiềm năng của nó là vô cùng to lớn Nó được điều chỉnh và ghi nhận trong rất nhiều văn bản pháp luật khác nhau bởi sự đặc trưng của nó Bởi vậy mà ngoài sự điều chỉnh và ghi nhận trong Luật Thương mại 2005, Bộ Luật dân sự 2005 thì nó còn chịu sự điều chỉnh bởi các văn bản pháp luật về Thương mại điện tử như: Luật Giao dịch điện tử và các văn bản pháp luật khác là các nghị định và thông tư về Thương mại điện tử, Công nghệ thông tin…Tuy nhiên những quy định này vẫn chưa đầy đủ, rõ ràng, và còn nhiều điểm chưa phù hợp với sự phát triển của hoạt động mua bán hàng hóa qua mạng điện tử ngày nay Bởi vậy, hoạt động mua bán hàng hóa qua mạng điện tử cũng làm nảy sinh những thách thức và những vấn đề phức tạp đối với các nền kinh tế trên thế giới – kể cả các nền kinh tế đã phát triển nói chung và đối với nền kinh tế việt nam nói riêng, trong đó có những thách thức, yêu cầu về mặt pháp lý Vì vậy, việc nghiên cứu thực trạng pháp luật điều chỉnh về hoạt động mua bán hàng hóa qua mạng điện tử là việc làm cần thiết Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề trên, kết hợp với các kiến thức đã học cộng với sự hướng dẫn nhiệt tình của Ths.Đinh Thị Hồng Trang, em đã chọn nghiên cứu đề tài: “ Những vấn đề pháp lý về hoạt động mua bán hàng hóa qua mạng điện tử ở Việt Nam cho khóa luận của mình
2 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài: tổng quan về mua bán hàng hóa qua mạng điện
tử và nội dung pháp luật liên quan đến hoạt động mua bán hàng hóa qua mạng điện tử ở Việt Nam cũng như những mặt còn tồn tại, hạn chế trong nội dung pháp luật và đưa ra yêu cầu pháp lý đối với hoạt động mua bán hàng hóa theo pháp luật Việt Nam
Đề tài tập trung nghiên cứu nội dung pháp lý cơ bản liên quan đến hoạt động mua bán hàng hóa qua mạng điện tử và thực trạng pháp luật mua bán hàng hóa qua mạng điện tử của Việt Nam trên một phương diện tổng quát
3 Mục đích của việc nghiên cứu đề tài
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là làm rõ một số vấn về lý luận và pháp
lý liên quan đến hoạt động mua bán hàng hóa qua mạng điện tử ở Việt Nam; Tình hình phát triển; Những vướng mắc, hạn chế và yêu cầu về mặt pháp lý Để đạt được
Trang 7mục đích đó, khóa luận thực hiện các nhiệm vụ sau: Làm rõ một số vấn đề vấn đề lý luận về mua bán hàng hóa qua mạng điện tử ; những quy định pháp luật về mua bán hàng hóa qua mạng điện tử qua đó đưa ra thực trạng pháp luật về mua bán hàng hóa qua mạng điện tử ở việt Nam hiện nay và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam về mua bán hàng hóa qua mạng điện tử
4 Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp nghiên cứu được áp dụng để thực hiện đề tài: tổng hợp và phân tích tài liệu từ các nguồn: sách, báo, tạp chí chuyên ngành, internet; thống kê; khái quát hóa
5 Kết cấu của đề tài
Nội dung nghiên cứu của đề tài Khóa luận gồm 3 chương với các nội dung như sau:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về mua bán hàng hóa qua mạng điện
Trang 8CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ MUA BÁN HÀNG
HÓA QUA MẠNG ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM
Các hoạt động, trao đổi mua bán hàng hóa, của con người được thể hiện thông qua các hình thức: trực tiếp bằng lời nói, hành động hoặc văn bản Tuy nhiên, với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ đặc biệt là sự xuất hiện của internet, nhận thức của nhân loại về hình thức thực hiện các hoạt động trao đổi mua bán hàng hóa này cũng được thay đổi tương ứng, theo đó con người biết đến một loại hình thức khác của hoạt động mua bán hàng hóa – đó là việc thực hiện các hoạt động mua bán hàng hóa thông qua mạng điện tử Với hình thức hoạt động mua bán hàng hóa này, thì việc mua bán hàng hóa của con người đã trở nên dễ dàng hơn, thuận tiện hơn rất nhiều
1 Khái niệm mua bán hàng hóa qua mạng điện tử
Ở nước ta, theo cách hiểu phổ thông, hành vi mua bán hàng hóa là những hoạt động trao đổi hay giao lưu hàng hóa dựa trên cơ sở thuận vừa mua bán Đối với các doanh nghiệp trong lĩnh vực sản xuất, khi nói đến hành vi mua bán chính là nói đến hoạt động giao dịch mua bán liên quan đến việc mua sắm vật tư kĩ thuật cho sản xuất (Thương mại đầu vào) và quá trình tiêu thụ sản phẩm (Thương mại đầu ra) Đối với doanh nghiệp, mỗi sản phẩm được sản xuất ra là nhằm để bán cho người tiêu dùng Không phải không có cơ sở khi người ta đưa ra phương châm của sản xuất kinh doanh “phục vụ khách hàng như phục vụ thượng đế” hoặc “người tiêu dùng bao giờ cũng có lý” Nói một cách khác, người tiêu dùng giữ một vị trí trung tâm, là đối tượng chú trọng số một của sản xuất kinh doanh Hoạt động mua bán hàng hóa là bộ phận chủ yếu của hoạt động thương mại và được định nghĩa tại
khoản 8, điều 3 luật Thương mại 2005 thì: “Mua bán hàng hóa là hoạt động thương
mại, theo đó thì bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán; nhận hàng hóa và quyền sở hữu hàng hóa theo thỏa thuận.” Như vậy, theo khoản 8 điều
3 luật Thương mại 2005 thì hành vi mua bán hàng hoá thể hiện mối quan hệ kinh tế giữa các cá nhân, các đơn vị kinh doanh hợp pháp có khả năng và nhu cầu về hàng hóa và đồng thời nó cũng là mối quan hệ pháp luật rằng buộc trách nhiệm giữa người mua và người bán Mối quan hệ này có sự tương xứng về quyền và nghĩa vụ
Vậy, mua bán hàng hóa qua mạng điện tử là gì?
Mua bán hàng hóa qua mạng điện tử là một thuật ngữ mới Cùng với sự ra đời
và pháp triển của thương mại điện tử theo đó mà mua bán hàng hóa qua mạng điện tử cũng ra đời và phát triển Về mua bán hàng hóa theo đó ta có thể thấy, hoạt động mua bán hàng hóa qua mạng điện tử là một trong rất nhiều lĩnh vực của thương mại điện tử
Trang 9Có thể hiểu khái niệm mua bán hàng hóa qua mạng điện tử hiểu một cách đơn giản thì mua bán hàng hóa qua mạng điện tử từ cách hiểu trong mua bán hàng hóa truyền thống
là hình thức mua bán hàng hóa có sử dụng các phương tiện điện tử như mạng Internet, các website bán hàng, các phương tiện điện thoại, các phương tiện điện tử…
Phương tiện điện tử là gì? – theo khoản 10, điều 4, luật giao dịch điện tử
định nghĩa thì: “Phương tiện điện tử là phương tiện hoạt động dựa trên công nghệ
điện, điện tử, kỹ thuật số, từ tính, truyền dẫn không dây, quang học, điện từ hoặc công nghệ tương tự” Theo đó thì hiện nay các phương tiện điện tử được sử dụng
trong mua bán hàng hóa qua mạng điện tử gồm: điện thoại, máy fax, truyền hình, các hệ thống ứng dụng thương mại điện tử kĩ thuật cao và các mạng kết nối máy tính với nhau, đặc biệt và chủ yếu nhất là Internet [3]
Phương tiện điện tử là cơ sở để phân biệt sự khác nhau giữa mua bán hàng hóa qua mạng điện tử với mua bán hàng hóa truyền thống Nếu như phương tiện thực hiện trong mua bán hàng hóa truyền thống chủ yếu được thực hiện thông qua lời nói, văn bản giấy tờ thì phương tiện thực hiện trong mua bán hàng hóa qua điện tử được thực hiện thông qua phương tiện hoạt động trên công nghệ điện, điện tử, kĩ thuật số, từ tính, truyền dẫn không dây, quang học, điện từ hoặc công nghệ tương tự Ví dụ như
hệ thống các máy tính truyền dữ liệu với tốc độ ánh sáng qua các đường truyền dữ liệu cáp quang hoặc bằng tia hồng ngoại… Như vậy, có thể coi công nghệ điện tử, công nghệ thông tin là điều kiện tiên quyết trong mua bán hàng hóa qua mạng điện
tử Thông qua công nghệ điện tử, các bên tham gia mua bán có thể: Bán sách, báo, thiết bị kỹ thuật qua các website; gửi email chào mua hàng, email chào bán hàng hoặc nhận đặt hàng bằng email; gián tiếp gửi qua bưu điện, qua người trung gian hoặc trực tiếp “trao tay” nhau các đĩa từ(đĩa A), đĩa quang (CD) có chứa thư chào mua hàng hay thư chào bán hàng [7] Bằng sự phát triển của các phương tiện điện
tử, con người có thể điện tử hoá các giao dịch của mình, trong đó phương tiện giao dịch chủ yếu, phổ biến là giao dịch thực hiện trên mạng Internet Thông qua email và web, internet trở thành phương tiện trao đổi thông tin tiện lợi, nhanh chóng, ít tốn kém nhất và không thể thiếu trong đời sống xã hội hiện đại
Từ đây, ta có thể hiểu mua bán hàng hóa qua mạng điện tử là một hoạt động thương mại được thực hiện thông qua các phương tiện tử Bản chất của nó là việc thực hiện giao dịch mua bán hàng hóa bằng các phương tiện điện tử như: Điện thoại, Truyền hình, máy điện báo telex, máy tính và internet… Nay với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ không dây được tích hợp đa chức năng đang dần trở thành một phương tiện điện tử quan trọng, có khả năng kết nối internet và rất
Trang 10thuận tiện cho việc tiến hành các giao dịch mua bán hàng hóa.Bởi vậy mà mua bán hàng hóa qua mạng điện tử phát triển chủ yếu qua internet
Do hoạt động mua bán hàng hóa qua mạng điện tử cũng chính là một hoạt
động thương mại, nên nó có những điểm giống với hoạt động bán hàng trong thương mại truyền thống Điểm khác biệt là do sử dụng các phương tiện điện tử và mạng internet để tiến hành mua bán hàng hóa, do đó có những yêu cầu và cách thức khác nhau để có thể tiến hành được hoạt động mua bán hàng hóa qua mạng điện tử Ngoài ra nó cần cũng phải đáp ứng được những yêu cầu đặc trưng mà thương mại điện tử đòi hỏi
2 Đặc điểm của mua bán hàng hóa qua mạng điện tử
Mua bán hàng hóa qua mạng điện tử là một hình thức giao dịch mua bán rất đặc biệt và có những đặc điểm khác với mua bán hàng hóa truyền thống bởi đặc thù của nó là được giao dịch qua mạng điện tử Theo đó mà mua bán hàng hóa có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, về Chủ thể tham gia, nếu trong mua bán hàng hóa truyền thống
thì phải có ít nhất hai chủ thể tham gia bao gồm người mua-người bán Thì ngược lại, trong mua bán hàng hóa qua mạng điện tử phải có ít nhất ba chủ thể tham gia vào giao dịch mua bán Ngoài hai chủ thể cơ bản là bên mua và bên bán, trong mua bán hàng hóa qua mạng điện tử phải có thêm một chủ thể thứ ba là các nhà cung cấp dịch vụ mạng và cơ quan chứng thực ì để các thông điệp dữ liệu điện tử có thể truyền đi giữa các bên tham gia giao dịch mua bán hàng hóa, phải có một cơ quan cung cấp dịch vụ mạng tiến hành kết nối các chủ thể tham gia giao dịch với nhau Hơn nữa, vấn đề an ninh bảo mật là yếu tố quan trọng hàng đầu quyết định tới sự thành công của giao dịch, do đó phải có sự tham gia của cơ quan chứng thực để xác nhận độ tin cậy của các thông tin giao dịch mua bán hàng hóa qua mạng điện tử
Thứ hai, về phạm vi hoạt động, hoạt động mua bán hàng hóa qua mạng điện
tử không còn tồn tại khái niệm biên giới địa lý, văn hóa mà chỉ tồn tại duy nhất một thị trường đó là thị trường toàn cầu, nơi mà bất cứ ai ở bất cứ nơi nào cũng có thể tham gia và tiến hành các hoạt động mua bán hàng hóa với mức chi phí giao dịch được giảm tối đa do mua bán hàng hóa qua mạng điện tử có mức độ bao phủ rộng lớn Điều này thể hiện ở chỗ mọi người ở tất cả các quốc gia trên khắp toàn cầu không phải di chuyển tới bất kì địa điểm nào mà vẫn có thể tham gia vào cùng một giao dịch mua bán bằng cách truy cập vào các website thương mại hoặc vào các trang mạng xã hội [4] Trong khi đó, các hoạt động mua bán hàng hóa truyền thống, điều này gặp nhiều khó khăn, vì để thực hiện các giao dịch diễn ra trong phạm vi
Trang 11một khu vực, một quốc gia hay giữa nhiều chủ thể từ nhiều quốc gia khác nhau, các bên tham gia phải gặp gỡ nhau trực tiếp để đàm phán, trao đổi rồi đi đến ký kết, mua bán hàng hóa
Thứ ba, Thời gian thực hiện giao dịch mua bán không giới hạn Nhờ việc sử
dụng các phương tiện điện tử với công nghệ hiện đại và công nghệ truyền dẫn không dây…, giúp người tham gia giao dịch tiến hành tự động hóa một số bước trong giao dịch thương mại điện tử (như mua hàng trực tuyến qua website) và loại bỏ sự chênh lệch về thời gian giữa các quốc gia Do đó dù ở bất cứ nơi đâu, vào bất cứ thời điểm nào các cá nhân, doanh nghiệp cũng có thể tiến hành được các giao dịch thương mại điện tử [4]Các bên tham gia vào mua bán hàng hóa qua mạng tử đều có thể tiến hành các giao dịch suốt 24 giờ 7 ngày trong vòng 365 ngày liên tục ở bất cứ nơi nào có mạng viễn thông và có các phương tiện điện tử kết nối với các mạng này, đây là các phương tiện có khả năng tự động hóa cao giúp đẩy nhanh quá trình giao dịch mua bán
Thứ tƣ, Về hình thức giao dịch mua bán hàng hóa qua mạng điện tử là hoàn
toàn qua mạng Trong hoạt động mua bán hàng hóa truyền thống các bên phải gặp
gỡ nhau trực tiếp để tiến hành đàm phán, giao dịch và đi đến ký kết hợp đồng Còn trong hoạt động mua bán hàng hóa qua mạng điện tử nhờ việc sử dụng các phương tiện điện tử có kết nối với mạng toàn cầu, chủ yếu là sử dụng mạng internet, mà giờ đây các bên tham gia vào giao dịch không phải gặp gỡ nhau trực tiếp mà vẫn có thể đàm phán, giao dịch được với nhau dù cho các bên tham gia giao dịch đang ở bất cứ quốc gia nào í dụ như trước kia muốn mua một quyển sách thì bạn đọc phải ra tận của hàng để tham khảo, chọn mua một cuốn sách mà mình mong muốn Sau khi đã chọn được cuốn sách cần mua thì người đọc phải ra quầy thu ngân để thanh toán mua cuốn sách đó Nhưng giờ đây với sự ra đời của thương mại điện tử thì chỉ cần
có một chiếc mày tính và mạng internet, thông qua vài thao tác kích chuột, người đọc không cần biết mặt của người bán hàng thì họ vẫn có thể mua một cuốn sách mình mong muốn trên các website mua bán trực tuyến như amazon.com; vinabook.com.vn [4]
Thứ năm, trong mua bán hàng hóa qua mạng điện tử hệ thống thông tin
chính là thị trường Trong mua bán hàng hóa truyền thống các bên phải gặp trực tiếp nhau để tiến hành đàm phán, giao dịch mua bán, ký kết hợp đồng Còn trong mua bán hàng hóa qua mạng điện tử các bên không phải gặp gỡ nhau trực tiếp mà vẫn có thể tiến hành đàm phán, ký kết hợp đồng Để làm được điều này các bên phải truy cập vào hệ thống thông tin của nhau hay hệ thống thông tin của các giải pháp tìm kiếm thông qua mạng internet…để tìm hiểu thông tin về nhau từ đó tiến hành đàm
Trang 12phán ký kết hợp đồng [4] Ví dụ giờ đây người tiêu dùng muốn mua một sản phẩm hàng hóa như: quần áo, giày dép, sách…hay là một phần mềm điện tử, sách điện tử,…thì người tiêu dùng hoàn toàn có thể truy cập trực tiếp vào một website bán hàng hay một sàn giao dịch điện tử như: rongbay.com.vn; eBay.com; amazon.com; Tiki.vn…để trực tiếp giao kết hợp đồng mua bán trên đó
Thứ sáu, về hàng hóa, nếu trong mua bán hàng hóa truyền thống thì hàng hóa
chỉ là những hàng hóa hữu hình như: sách, vở, hàng tiêu dùng, máy tính, mỹ phẩm, quần áo v.v thì trong mua bán hàng hóa qua mạng điện tử không chỉ có hàng hóa hữu hình là đối tượng của hoạt động mà còn có cả hàng hóa số như: tin tức, các chương trình phát thanh truyền hình, các chương trình phần mềm.v.v Đây là một loại hàng hóa đặc biệt và ngày càng được mở rộng trong mua bán hàng hóa qua mạng điện tử
Thứ bảy, về cách thức bán hàng, trong mua bán hàng hóa qua mạng điện tử
giờ đây cách thức bán hàng là hoàn toàn mới, không phải là việc bán hàng tại cửa hàng, bán hàng hóa trưng bày thực tế tại các gian hàng như trong mua bán hàng hóa truyền thống mà hàng hóa trong mua bán hàng hóa qua mạng điện tử được bán qua các không gian bán hàng trên mạng thông qua Web Bán hàng dựa trên thông tin và hình ảnh
3 Các hình thức chủ yếu của hoạt động mua bán hàng hóa qua mạng điện tử 3.1 Website thương mại điện tử bán hàng
Website bán hàng là hình thức doanh nghiệp sử dụng website để trưng bày hình ảnh hàng hoá giao dịch và bán hàng hoá cho người tiêu dùng Đây chính là sự thể hiện của phương thức giao dịch giữa doanh nghiệp với người tiêu dùng Website bán hàng có ưu thế trong việc kinh doanh những món hàng có giá trị nhỏ
và vừa, những mặt hàng tiêu dùng thường gặp trong đời sống hàng ngày Bên cạnh những hàng hoá hữu hình, hàng hoá có thể số hoá và dịch vụ cũng là đối tượng của website bán hàng Phần mềm, trò chơi, phim là những mặt hàng số hoá có doanh số phân phối qua mạng cao
Trong khung pháp lý nước ta cũng đã đưa ra khái niệm về website thương
mại điện tử bán hàng Theo quy định tại Khoản 1, Điều 25 NĐ 52/2013: “Website
thương mại điện tử bán hàng là website thương mại điện tử do các thương nhân, tổ chức, cá nhân tự thiết lập để phục vụ hoạt động xúc tiến thương mại, bán hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ của mình” Từ quy định trên có thể thấy, đây là loại hình
Website do các thương nhân, tổ chức, cá nhân tự thiết lập, tự lập nên và cũng để phục vụ cho hoạt động của chính mình chứ không phải cho một thương nhân, tổ
Trang 13chức, cá nhân nào khác Một số Website thương mại điện tử bán hàng tiêu biểu có thể kể tới như: thegioididong.com của Công ty CP Thế giới di động, nguyenkim.com của Công ty CP Thương mại Nguyễn Kim
Theo đó, Website thương mại điện tử bán hàng phải cung cấp đầy đủ thông tin
về người sở hữu website, hàng hóa, dịch vụ và các điều khoản của hợp đồng mua bán
áp dụng cho hàng hóa, dịch vụ được giới thiệu trên website theo quy định với các chức năng: hiển thị thông tin sản phẩm bao gồm giá cả, giới thiệu về sản phẩm, chức năng mua hàng,… giao dịch mua bán sẽ được thanh toán qua các cổng thanh toán trực tuyến như Ngân Lượng, Bảo Kim hoặc chuyển khoản qua ngân hàng; đăng và quản lý sản phẩm, giỏ hàng, thanh toán trực tuyến, đăng nhập và đăng ký, quản lý đơn hàng
3.2 Sàn giao dịch thương mại điện tử
Khái niệm: Sàn giao dịch thương mại điện tử (viết tắt: GDTMĐT) là một thị
trường trực tuyến, một “địa điểm họp chợ” được thực hiện trên mạng Internet mà ở
đó những người tham gia có thể tìm kiếm thông tin về thị trường và sản phẩm, thiết lập các quan hệ cũng như tiến hàng đàm phán tiền giao dịch Còn theo quy định tại Khoản 2, Điều 25, NĐ 52/2013/NĐ-CP của Chính Phủ quy định về Thương mại điện tử, Sàn GDTMĐT là dạng website cung cấp dịch vụ thương mại điện tử do thương nhân, tổ chức thiết lập để cung cấp môi trường cho các thương nhân, tổ chức, cá nhân khác tiến hành hoạt động thương mại [2]
Theo đó, Sàn giao dịch thương mại điện tử có những đặc điểm[2]:
- Sàn GDTMĐT là một tổ chức kinh doanh dịch vụ đóng vai trò là một môi giới
- Các phương thức giao dịch tại các sàn GDTMĐT rất phong phú, gồm cả mua bán thực và giao dịch khống
- Sàn GDTMĐT thiết lập các quy tắc cho thành viên của mình và áp dụng các hình thức thưởng phạt đối với các thành viên vi phạm
- Số lượng người mua, người bán, nhà cung cấp tham gia rất lớn
- Người tham gia có thể là người mua, có thể là người bán hoặc cả hai và có quyền tự do khai thác các cơ hội mua bán hàng hóa, dịch vụ
- Tất cả các quy trình mua bán, giao dịch, đàm phán, thanh toán,… đều được thực hiện trực tuyến qua mạng internet
- Người tham gia có thể tham gia giao dịch mua bán ở bất cứ nơi đâu và bất
cứ khi nào
- Chủng loại hàng hóa rất đa dạng cả hữu hình lẫn vô hình
Trang 14- Các thành viên tham gia sàn giao dịch được quyền khai thác thông tin về thị trường, sản phẩm, chính sách và pháp luật của các nước trong khu vực và trên thế giới cũng như là sử dụng các công cụ hỗ trợ để xây dựng gian hàng trực tuyến
Sàn giao dịch thương mại điện tử có các hình thức hoạt động như sau [2]:
- Website cho phép người tham gia được mở các gian hàng trên đó để trưng bày, giới thiệu hàng hóa (như lazada.vn, tiki.vn )
- Website cho phép người tham gia được lập các website nhánh để trưng bày, giới thiệu hàng hóa
- Website có chuyên mục mua bán trên đó cho phép người tham gia đăng tin mua bán hàng hóa và dịch vụ (như webtretho.com, lamchame.com )
- Các loại website khác do Bộ Công Thương quy định
Như vậy có thể thấy, khác với Website thương mại điện tử bán hàng, Sàn giao dịch thương mại điện tử là dạng website chuyên cung cấp dịch vụ thương mại điện tử, được các thương nhân, tổ chức thiết lập để cung cấp môi trường cho các thương nhân,
tổ chức, cá nhân khác tiến hành hoạt động thương mại chứ không đơn thuần chỉ để phục vụ cho hoạt động của chính thương nhân, tổ chức thiết lập nên Sàn giao dịch thương mại điện tử cũng giới hạn về chủ thể được thiết lập, chỉ gồm thương nhân, tổ chức mà không gồm cả cá nhân như Website thương mại điện tử bán hàng So với Website thương mại điện tử bán hàng thì Sàn giao dịch thương mại điện tử hướng tới đối tượng sản phẩm cũng như khách hàng phong phú hơn Có thể lấy ví dụ về một số Sàn giao dịch thương mại điện tử như: Lazada.vn, Zalora.vn của Công ty TNHH MTV Recess, Sendo.vn của Tập đoàn FPT
3.3 Mua bán hàng hóa qua mạng xã hội
Mạng xã hội (Social network sites), mạng xã hội trên internet, mạng xã hội trực tuyến hay mạng xã hội ảo là một khái niệm mới được hình thành trong thập niên cuối của thế kỷ XX, bắt đầu bằng sự ra đời của Classmate.com (1995), SixDegrees (1997), kế đến là sự nở rộ của một loạt các trang mạng khác như Friendster (2002), mySpace, Bebo, Facebook (2004) và tại Việt Nam là Yobanbe (2006), Zing me (2009) Với sự phát triển nhanh chóng của hình thức mạng xã hội
ảo này, mạng xã hội được định nghĩa rất khác nhau tùy theo hướng tiếp cận [8]
Một cách chung nhất, mạng xã hội là tập hợp các cá nhân với các mối quan
hệ về một hay nhiều mặt được gắn kết với nhau
Nhìn từ nhiều phía, mạng xã hội là một đại diện tiêu biểu của Web 2.0 mô phỏng các mối quan hệ xã hội thực Mạng xã hội tạo ra một hệ thống trên nền
Trang 15internet kết nối các thành viên cùng sở thích trên Internet với những mực đích khác nhau không phân biệt không gian và thời gian qua những tính năng như kết bạn, chat, e-mail, phim ảnh, voice chat nhằm phục vụ những yêu cầu của cộng đồng cung và những giá trị của xã hội [8] Theo đó mà bất kì website nào mang tính chất cộng đồng được xây dựng nhằm mục tiêu thu hút người sử dụng Internet tham gia dựa trên một đặc điểm về sở thích nào đó thì cũng được gọi chung là mạng xã hội Những người tham gia vào mạng xã hội được gọi chung là “cư dân mạng” ề cơ bản, mạng xã hội giống như một trang web mở với nhiều ứng dụng khác nhau Mạng xã hội khác với trang web thông thường ở cách truyền tải thông tin và tích hợp ứng dụng
Thứ hai, có sự tham gia trực tiếp của nhiều cá nhân (hoặc doanh nghiệp nhưng vai trò như cá nhân)
Thứ ba, độ tương tác cao, độ tương tác là một trong những ưu điểm nổi trội của mạng xã hội Mạng xã hội cung cấp các công cụ cho phép mọi người chia sẻ thông tin với nhau theo nhiều cách thức như: thích, bình luận, tag ảnh, chat, cùng sử dụng các ứng dụng vui, kết nối về một nội dung, blog hay trang web nào đó Nhờ vậy mà người dùng mạng xã hội có thể cùng nhau thảo luận, chia sẻ, tương tác cùng mọi người [8]
Bởi những đặc điểm này của mạng xã hội khiến cho hoạt động mua bán hàng hóa trên đó trở nên dễ dàng, tiện ích hơn Trào lưu kinh doanh trên các mạng xã hội đang nở rộ với quy mô thị trường ngày càng lớn Các trang mạng xã hội được kinh doanh mua bán hàng hóa ưu chuộng nhất Việt Nam hiện nay có thể kể đến đó là: Facebook, Instagram Nắm bắt được trào lưu trên, ngày càng nhiều doanh nghiệp lựa chọn phương thức bán hàng thông qua mạng xã hội nhằm tiết giảm chi phí, nâng cao hiệu quả tiếp cận khách hàng mục tiêu Về mặt bản chất và phương thức tổ chức, hoạt động kinh doanh trên các mạng xã hội cũng giống với hoạt động kinh doanh trên sàn giao dịch TMĐT.
Trang 164 Khái quát pháp luật về mua bán hàng hóa qua mạng điện tử
Mua bán hàng hóa qua mạng điện tử là một hoạt động mua bán không còn quá mới mẻ đối với người tiêu dùng Nó là một hoạt động mua bán hàng hóa được thực hiện thông qua phương thức đặc biệt đó là mạng điện tử Do vậy, để có thể phát triển hoạt động này một cách bền vững cần có khung pháp lý đầy đủ điều chỉnh
nó Cũng bởi tính chất đặc biệt của nó mà nó chịu sự điều chỉnh của cả pháp luật về mua bán hàng hóa truyền thống và pháp luật về thương mại điện tử
4.1 Đặc điểm pháp luật điều chỉnh hoạt động mua bán hàng hóa qua điện tử
Thứ nhất, mua bán hàng hoa qua mạng điện tử ngoài sự điều chỉnh chung
của pháp luật thương mại truyền thống còn chịu sự điều chỉnh của lĩnh vực pháp luật đặc thù dành riêng cho giao dịch mua bán điện tử như: Luật Giao dịch điện tử, các nghị định thông tư hướng dẫn như là: Nghị định 52/2013/NĐ-CP của Chính phủ
về Thương mại điện tử, TT 47/2014/TT-BCT của Bộ Công thương quy định về quản lý website trong thương mại điện tử.v v
Thứ hai,Pháp luật điều chỉnh thương mại điện tử, hay mua bán hàng hóa qua mạng điện tử gắn liền với pháp luật khoa học công nghệ, vì vậy pháp luật điều chỉnh hoạt động mua bán hàng hóa qua mạng điện tử phần lớn là các quy phạm kỹ thuật, các khái niệm có nội dung kỹ thuật của công nghệ thông tin như chữ ký điện tử, thông điệp dữ liệu
Thứ ba, Nguyên tắc, ngoài nguyên tắc chung của pháp luật thương mại về
mua bán hàng hóa truyền thống còn có những nguyên tắc riêng theo Điều 6 nghị định 52/2013/NĐ-CP của Chính Phủ về hoạt động thương mại điện tử
Như vậy có thể kết luận rằng Pháp luật điều chỉnh hoạt động mua bán hàng hóa qua mạng điện tử là bộ phận của pháp luật thương mại truyền thống, đồng thời
nó cũng có những quy định riêng gắn liền với các phương tiện điện tử mà các hoạt động mua bán hàng hóa qua mạng điện tử thực hiện
4.2 Khung pháp lý về hoạt động mua bán hàng hóa qua mạng điện tử ở Việt Nam
Mua bán hàng hóa qua mạng điện tử cũng chính là một hoạt động mua bán được thực hiện bằng các phương tiện tử, nên nó vẫn được điều chỉnh bởi các văn bản
về hoạt động mua bán thông thường như: Bộ Luật dân sự 2005, Luật Thương mại 2005 và để điều chỉnh tính đặc biệt của nó là được thực hiện qua mạng điện tử thì tháng 11/2005, Quốc hội đã thông qua Luật Giao dịch điện tử Để luật vào cuộc sống, tháng 6/2006 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 57/2006/NĐ-CP về TMĐT.Đầu năm 2007, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định, Nghị định số 26/2007/NĐ-CP ngày 15/02/2007 quy định chi tiết thi hành Luật Giao dịch điện tử
Trang 17về chữ ký số và dịch vụ chứng thực chữ ký số Theo đó, nội dung chủ yếu của Nghị định 57/2006/NĐ-CP thừa nhận giá trị pháp lý của chứng từ điện tử trong hoạt động thương mại, ngoài ra có một số quy định cụ thể khác Đến ngày 16/5/2013, thì Chính phủ đã ban hành Nghị định số 52/2013/NĐ-CP về TMĐT thay thế cho Nghị định 57/2006/NĐ-CP Nghị định mới đã quy định những hành vi bị cấm trong TMĐT, quy định chặt chẽ trách nhiệm của các thương nhân cung cấp các dịch vụ bán hàng trực tuyến, trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước về TMĐT Một trong những mục tiêu quan trọng của Nghị định mới là tạo môi trường thuận lợi hơn cho Thương mại điện tử nói chung và đặc biệt là cho hoạt động mua bán hàng hóa qua mạng điện
tử, nâng cao lòng tin của người tiêu dùng khi tham gia mua sắm trực tuyến [11]
Hơn thế, với sự phát triển chóng mặt của hoạt động mua bán hàng hóa qua mạng điện tử mà đặc biệt là trên các website thương mại điện tử bán hàng, sàn giao dịch điện tử và mạng xã hội, thì Bộ Công thương đã ban hành Thông tư 09/2008/TT-BCT ngày 21/07/ 2008 hướng dẫn nghị định Thương mại điện tử về cung cấp thông tin và giao kết hợp đồng trên website thương mại điện tử và Thông
tư 47/2014/TT-BCT ngày 05/12/2014 quy định quản lý website thương mại điện tử làm rõ các vấn đề trong nghị định 52/2013/NĐ-CP của chính phủ về thương mại điện tử Đặc biệt, thông tư còn làm rõ hơn nhiều vấn đề pháp lý về kinh doanh mua bán trên mạng xã hội – một hình thức mua bán hàng hóa mới mẻ và rất phát triển trong những năm gần đây Ngoài ra, thì chính phủ còn ban hành một số nghị định về các hoạt động khác liên quan đến mua bán hàng hóa qua mạng điện tử như là: Nghị định số 185/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Nghị định số 72/2013/NĐ-CP về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet
và thông tin trên mạng góp phần tăng cường quản lý các hoạt động kinh doanh trực tuyến trong đó bao gồm cả hoạt động mua bán hàng hóa qua mạng điện tử, bao gồm các hoạt động liên quan tới các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài
Những văn bản trên đã góp phần hoàn thiện môi trường pháp lý cho sự phát triển của mua bán hàng hóa qua mạng điện tử Việt Nam trong giai đoạn tới Tuy nhiên, do công nghệ phát triển quá nhanh, hoạt động mua bán hàng hóa qua mạng điện tử diễn ra phức tạp và liên tục xuất hiện những hình thức kinh doanh mới nên một số quy định có thể chưa phù hợp với thực tiễn mua bán hàng hóa trực tuyến
Trang 18CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ
MUA BÁN HÀNG HÓA QUA MẠNG ĐIỆN TỬ
Mua bán hàng hóa qua mạng điện tử là một hình thức mua-bán mới mẻ, với cách thức tiến hành hoạt động mua-bán hoàn toàn khác so với cách thức mua-bán truyền thống Nhưng có những vấn đề mà hai hình thức mua-bán này cần phải có đó
là hệ thống pháp luật điều chỉnh Với sự phát triển của khoa học công nghệ, quá trình tin học hóa bùng nổ ở các nước phát triển và nhanh chóng lan ra toàn cầu Theo đó thì, mua bán hàng hóa qua mạng điện tử cũng được điều chỉnh bởi không những bởi pháp luật Dân sự, pháp luật thương mại như mua bán hàng hóa tuyền thống mà nó còn được điều chỉnh bởi pháp luật thương mại điện tử và các quy định
có liên quan của thương mại điện tử
1 Chủ thể tham gia mua bán hàng hóa qua mạng điện tử
Theo định nghĩa về Thương mại điện tử theo nghĩa hẹp được định nghĩa bởi
Tổ chức Thương mại Thế giới(WTO), theo đó hiểu một cách đơn giản nhất: “ Thương mại điện tử bao gồm việc sản xuất, quảng cáo, bán hàng và phân phối sản phẩm được mua bán và thanh toán trên mạng internet nhưng được giao nhận một cách hữu hình và các sản phẩm được giao nhận như những thông tin số hóa thông qua mạng internet” từ đây có thể hiểu rằng thương mại điện tử chỉ bao gồm việc mua bán hàng hóa và dich vụ thông qua các phương tiện điện tử và các mạng viễn thông, đặc biệt là máy tính và internet Theo đó thì chủ thể trong hoạt động mua bán hàng hóa qua mạng điện tử cũng sẽ mang những nét đặc trưng cơ bản của thương mại điện tử
Căn cứ vào điều 2, Nghị định 52/2013/NĐ-CP, chủ thể của hoạt động thương mại điện tử có thể là:
+ Thương nhân, tổ chức, cá nhân Việt Nam;
+ Cá nhân nước ngoài cư trú tại Việt Nam;
+ Thương nhân, tổ chức nước ngoài có sự hiện diện tại Việt Nam thông qua hoạt động đầu tư, lập chi nhánh, văn phòng đại diện, hoặc thiết lập website dưới tên miền Việt Nam
Theo đó thì căn cứ và đều 24, nghị định 52/2013/NĐ-CP thì nhóm chủ thể tham gia trực tiếp vào hoạt động TMĐT cũng chính là nhóm chủ thể tham gia vào mua bán hàng hóa trong thương mại điện tử Nhóm chủ thể này được chia làm ba đối tượng là người mua, người bán, và bên cung cấp dịch vụ mạng
Bên cung cấp dịch vụ mạng được quy định tại khoản 1, khoản 2, điều 24, Nghị định 52/2013/NĐ-CP như sau:
Trang 19“1 Các thương nhân, tổ chức, cá nhân tự thiết lập website thương mại điện
tử để phục vụ hoạt động xúc tiến thương mại, bán hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ của mình (người sở hữu website thương mại điện tử bán hàng)
2 Các thương nhân, tổ chức thiết lập website thương mại điện tử để cung cấp môi trường cho thương nhân, tổ chức, cá nhân khác tiến hành hoạt động xúc tiến thương mại, bán hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ (thương nhân, tổ chức cung cấp dịch vụ thương mại điện tử).”
Bên bán, được quy định tại khoản 3 điều 24 Nghị định 52/2013/NĐ-CP “3
Các thương nhân, tổ chức, cá nhân sử dụng website của thương nhân, tổ chức cung cấp dịch vụ thương mại điện tử để phục vụ hoạt động xúc tiến thương mại, bán hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ của mình (người bán).”
Bên mua (khách hàng), quy định tại khoản 4, điều 24 Nghị định
52/2013/NĐ-CP“4 Các thương nhân, tổ chức, cá nhân mua hàng hóa hoặc dịch vụ
trên website thương mại điện tử bán hàng và website cung cấp dịch vụ thương mại điện tử (khách hàng).”
Có thể thấy chủ thể tham gia vào hoạt động mua bán hàng hóa qua mạng điện
tử có những nét đặc trưng so với mua bán hàng hóa truyền thống Nếu trong hoạt động mua bán hàng hóa chủ thể tham gia mua bán chỉ bao gồm hai đối tượng đó là bên mua và bên bán Thì với mua bán hàng hóa trong thương mại điện tử đối tượng tham gia mua bán không chỉ là bên mua và bên bán mà còn có sự tham gia của một bên chủ thể đặc biệt đó là bên cung cấp dịch vụ mạng và cơ quan chứng thực ì để các thông điệp dữ liệu điện tử có thể truyền đi giữa các bên tham gia mua bán hàng hóa, phải có một cơ quan cung cấp dịch vụ mạng tiến hành kết nối các chủ thể tham gia mua bán với nhau Hơn nữa vấn đề an ninh bảo mật là yếu tố quan trọng hàng đầu quyết định đến sự thành công của giao dịch mua bán, do đó phải có sự tham gia của
cơ quan chứng thực để xác nhận độ tin cậy của các thông tin giao dịch mua bán qua mạng điện tử
2 Hàng hóa trong mua bán hàng hóa qua mạng điện tử
Trong mua bán hàng hóa truyền thống thì hàng hóa được quy định tại khoản 2 điều điều 3 Luật Thương mại như sau: “Hàng hóa bao gồm: (i)Tất cả các loại động sản,
kể cả động sản hình thành trong tương lai; (ii)Những vật gắn liền với đất đai.” Có thể thấy hàng hóa trong hoạt động mua bán truyền thống là những hàng hóa hữu hình, ta có thể cầm nắm bắt được chúng như: hàng tiêu dùng, mỹ phẩm, quần áo, ô tô, xe máy, hàng điện tử, điện lạnh…hay là các động sản gắn liền với đất như nhà cửa, cây cối…
Trang 20Hàng hóa trong mua bán hàng hàng hóa thông thường cũng là hàng hóa trong mau bán hàng hóa qua mạng điện tử trong đó một số hàng hóa loại hàng hóa hữu hình cũng sẽ không được kinh doanh, bị hạn chế kinh doanh và kinh doanh có điều kiện quy định tại điều 3, thông tư 47/2014/TT-BTC ngày 05/04/2014 quy đinh về quản lý
website thương mại điện tử như sau: “1 Thương nhân, tổ chức, cá nhân không được sử
dụng website thương mại điện tử để kinh doanh các hàng hóa hạn chế kinh doanh sau:
a) Súng săn và đạn súng săn, vũ khí thể thao, công cụ hỗ trợ;
b) Thuốc lá điếu, xì gà và các dạng thuốc lá thành phẩm khác;
c) Rượu các loại;
d) Thực vật, động vật hoang dã quý hiếm, bao gồm cả vật sống và các bộ phận của chúng đã được chế biến;
đ) Các hàng hóa hạn chế kinh doanh khác theo quy định của pháp luật
2 Thương nhân thiết lập website để bán các hàng hóa, dịch vụ thuộc danh mục hàng hóa, dịch vụ kinh doanh có điều kiện cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh phải công bố trên website của mình số, ngày cấp và nơi cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh đối với hàng hóa, dịch vụ đó.”
Theo quy định này, thì có thể thấy đối với hàng hóa hữu hình trong mua bán hàng hóa qua mạng điện tử cũng giống với hàng hóa trong mua bán hàng hóa truyền thống việc quy định về hàng hóa mua bán hàng hóa qua mạng điện tử cũng sẽ bị cấm
và hạn chế kinh doanh với một số loại hàng hóa Những loại hàng hóa bị cấm mua bán trong mua bán hàng hóa truyền thống thì trong mua bán hàng hóa qua mạng điện
tử cũng bị cấm Theo đó một số hàng hóa cũng bị hạn chế kinh doanh như : Rượu các loại; thuốc lá điếu; súng săn và đạn súng săn; vũ khí thể thao, thực vật động vật quý hiến hoang dã, khoản c “ các loại hàng hóa theo quy định của pháp luật” chính là những hàng hóa được quy định tại phụ lục II Nghị định 59/2006/NĐ-CP quy định chi tiết Luật Thương mại về hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh, hạn chế kinh doanh, và kinh doanh có điều kiện như: Hàng hóa có chứa chất phóng xạ, thiết bị phát bức xạ hoặc nguồn phóng xạ; Vật liệu nổ công nghiệp, Nitrat Amôn (NH4NO3) hàm lượng cao từ 98,5% trở lên;… theo đúng nghĩa hạn chế kinh doanh của nó mua bán hàng hóa qua mạng điện tử sẽ không được kinh doanh trên các website thương mại điện tử Còn đối với các hàng hóa thuộc danh mục hàng hóa kinh doanh có điều kiện trong mua bán hàng hóa qua mạng điện tử nêu trên chính là những hàng hóa được quy định tại phụ lục III Nghị định 59/2006/NĐ-CP và muốn được kinh doanh mua bán những loại hàng hóa đó thì các thương nhân cần phải thực hiện đúng quy định của pháp luật
Trang 21về đăng ký cấp giấy phép đủ điều kiện kinh doanh mặt hàng hóa với cơ quan nhà nước và đặc biệt là phải công bố trên chính các website của mình
Mua bán hàng hóa qua mạng điện tử là một loại hình mua bán hàng hóa có sự trợ giúp của công nghệ thông tin, đặc biệt là máy tính và công nghệ mạng Bởi đó mà ngoài các hàng hoá ''vật thể '' hay gọi cách khác đó là “ hàng hóa hữu hình” trong các giao dịch mua bán hàng hóa thông thường khác, trong mua bán hàng hóa qua mạng điện tử còn có cả hàng hoá đặc thù của mình đó là “hàng hoá số” (digital goods) Hàng hoá số là những hàng hóa có thể phân phối qua cơ sở hạ tầng mạng, bao gồm: các dữ liệu, các số liệu thống kê, thông tin, âm thanh, hình ảnh, phần mềm máy tính, kinh doanh trong bảo hiểm, tài chính, an ninh và các loại hàng hoá khác Hay cụ thể hàng hóa số chính là: tin tức, các chương trình phát thanh truyền hình, các chương trình phần mềm, các ý kiến tư vấn, vé máy bay, vé xem phim, xem hát, hợp đồng bảo hiểm….Nghiên cứu của Forester Research 1998 đã chia thị trường bán lẻ trực tuyến thành 3 loại mua bán: Hàng hoá tiện dụng, hàng hoá nghiên cứu bổ sung và hàng hoá thông thường Những hàng hoá tiện dụng được mua bán như là sách, âm nhạc, quần
áo và hoa Người ta dự tính là sự đa dạng của hàng hoá tăng lên, sự xuất hiện của dịch vụ gửi hàng và sự xúc tiến bán lẻ rộng rãi sẽ làm tăng sự thông dụng của việc buôn bán hàng hoá này trên mạng Những hàng hoá bổ sung được mua bán phổ biến hơn, chẳng hạn như hàng tạp hoá, hàng cá nhân, những mặt hàng này tuy có giá thành trung bình nhưng lại là thiết yếu do trở ngại từ việc thiếu một hệ thống phân phối khả
dĩ và sự bắt nhịp chậm chạp về thương mại điện tử của khách hàng [13]
Như vậy, hàng hóa trong mua bán hàng hóa qua mạng điện tử là rất phong phú, không chỉ bao gồm hàng hóa hữu hình như trong mua bán truyền thống mà đặc trưng trong mua bán qua mạng điện tử còn là hàng hóa số Vì thế mà nó khiến thị trường mua bán qua mạng điện tử trở nên phong phú, đa dạng và sôi nổi hơn
3 Hợp đồng mua bán hàng hóa qua mạng điện tử
3.1 Giao kết hợp đồng
Như chúng ta đã biết hợp đồng là việc tự do thỏa thuận được thể hiện bằng ý chí đích thực của các bên tham gia giao kết hợp đồng Đối với hợp đồng mua bán hàng hóa qua mạng điện tử thì nó được ký kết trong trường hợp hai bên kí kết hợp đồng không gặp mặt nhau trực tiếp Vậy hợp đồng này có được bảo đảm hay không?
Cơ sở tín dụng cho việc thanh toán sẽ có được từ đâu, vì trong trường hợp này hai bên không trưc tiếp gặp nhau ký kết Người mua không biết gì về người bán và người bán không biết gì về người mua Để hướng dẫn việc giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa qua mạng điện tử, điều 36 Luật giao dịch điện tử 2005 quy định:
Trang 22“1 Giao kết hợp đồng điện tử là việc sử dụng thông điệp dữ liệu để tiến hành một phần hoặc toàn bộ giao dịch trong quá trình giao kết hợp đồng;
2 Trong giao kết hợp đồng, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác, đề nghị giao kết hợp đồng và chấp nhận giao kết hợp đồng có thể được thực hiện thông qua thông điệp dữ liệu.”
Theo đó thì giao kết hợp đồng mua bán qua mạng điện tử là quá trình đàm phám, thỏa thuận, tạo lập và ký kết hợp đồng thông qua việc trao đổi các thông điệp
dữ liệu, chúng được lưu giữ một phần hoặc hoàn toàn ở dạng điện tử Điều 36, khoản 1 Luật Giao dịch điện tử 2005 đã ghi nhận quá trình giao kết hợp đồng điện
tử được thực hiện qua nhiều giao đoạn, có thể được tiến hành nhiều giao dịch và chúng có thể được thực hiện thông qua việc trao đổi các thông điệp dữ liệu bằng các phương tiện điện tử như: điện báo, điện tín, fax, e-mail…, ở phạm vi bài viết này khi phân tích hợp đồng điện tử người viết sẽ chỉ phân tích hợp đồng điện tử ở khía cạnh hợp đồng mua bán hàng hóa qua mạng điện tử
Thứ nhất, về nguyên tắc giao kết hợp đồng
Hợp đồng mua bán hàng hóa qua mạng điện tử là một dạng cụ thể của hợp đồng điện tử Việc giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa qua mạng điện tử phải tuân thủ những quy định chung của pháp luật về hợp đồng mua bán và những quy định
về hợp đồng điện tử, bên cạnh đó còn phải đảm bảo nguyên tắc cơ bản khi giao kết hợp đồng nhằm đảm bảo tính chính xác cũng như pháp lý của hợp đồng Cũng giống như hợp đồng mua bán truyền thống, việc giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa qua mạng điện tử cũng phải dựa trên cơ sở của sự tự do, thỏa thuận của các chủ thể khi thực hiện, nên được pháp luật ghi nhận và tôn trọng Theo đó bộ luật Dân sự
2005, ghi nhận 2 nguyên tắc “tự do giao kết hợp đồng nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội” và “tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung thực và ngay thẳng”, hai nguyên tắc cơ bản này chi phối chung cho việc giao kết hợp đồng điện tử Bên cạnh đó khi giao kết hợp đồng thương mại nói chung hay hợp đồng mua bán hàng hóa nói riêng, các bên còn phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản trong các hoạt động thương mại được quy định trong luật Thương mại 2005 là “Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật của thương nhân trong hoạt động thương mại”,
“Nguyên tắc áp dụng thói quen trong hoạt động thương mại được thiết lập giữa các bên” “Nguyên tắc áp dụng tập quán trong thương mại”, “Nguyên tắc bảo vệ lợi ích chính đáng của người tiêu dùng” và “Nguyên tắc thừa nhận giá trị pháp lý của thông điệp dữ liệu trong hoạt động thương mại”, các nguyên tắc này chi phối việc giao kết hợp đồng trong hoạt động thương mại nói chung và hoạt động mua bán hàng hóa
Trang 23qua mạng điện tử nói riêng Trong đó việc thừa nhận giá trị pháp lý của thông điệp
dữ liệu đáp ứng các điều kiện, tiêu chuẩn kỹ thuật theo quy định của pháp luật thì được thừa nhận có giá trị pháp lý tương đương với văn bản
Đặc biệt, khi giao kết hợp mua bán hàng hóa qua mạng điện tử, các chủ thể phải tuân thủ đầy đủ các nguyên tắc được quy định trong luật giao dịch điện tử 2005,
đó là các nguyên tắc:“Tự nguyện lựa chọn phương tiện điện tử để thực hiện giao
dịch”, “Tự thỏa thuận về việc lựa chọn loại công nghệ để thực hiện giao dịch điện tử”, “không một loại công nghệ nào được xem là duy nhất trong giao dịch điện tử”,
“bảo đảm sự bình đẳng và an toàn trong giao dịch điện tử”, “Khi giao kết thực hiện hợp đồng điện tử, các bên có quyền thỏa thuận về yêu cầu kỹ thuật, chứng thực, các điều kiện bảo đảm tính toàn vẹn, bảo mật liên quan đến hợp đồng điện tử đó”,và “ việc giao kết và thực hiện hợp đồng điện tử phải tuân thủ các quy định của luật Giao dịch điện tử và pháp luật về hợp đồng”[6] Theo đó thì trong giao dịch mua bán hàng
hóa qua mạng điện tử ngoài tuân thủ các quy định về giao kết hợp đồng mua bán truyền thống thì còn phải tuân thủ những nguyên tắc trong giao kết hợp đồng qua mạng điện tử Bởi đặc thù nó được giao kết qua mạng điện tử nên phải tuân theo những quy định có liên quan đến các phương tiện điện tử, liên quan đến bên thứ ba tham gia vào hợp đồng Qua đó cho thấy khi giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa qua mạng điện tử các chủ thể giao kết hợp đồng cần phải nắm vững các nguyên tắc cơ bản
về giao kết hợp đồng nhằm bảo đảm tính hiệu lực về mặt pháp lý của hợp đồng
Thứ hai, về trình tự giao kết hợp đồng
Về trình tự giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa qua mạng điện tử, các bên giao kết phải tuân theo những quy định về đề nghị giao kết hợp đồng (chào hàng) và chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng (chấp nhận chào hàng) như đối với việc giao kết hợp đồng truyền thống Tuy nhiên do những đặc thù riêng biệt nên việc giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa qua mạng điện tử còn phải tuân thủ những quy trình và thủ tục riêng của hợp đồng điện tử Theo quy định tại điều 36, khoản 2 của Luật Giao dịch điện tử 2005 “Trong ký kết hợp đồng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác,
đề nghị giao kết hợp đồng và chấp nhận giao kết hợp đồng có thể được thông qua thông điệp dữ liệu”, cho thấy quy trình ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa qua mạng điện tử cũng trải qua hai giai đoạn như kí kết hợp đồng mua bán hàng hóa truyền thống Để thấy rõ quy trình ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa qua mạng điện tử, chúng ta sẽ phân tích thủ tục và quy trình ký kết thông qua hai bước cụ thể
là đề nghị giao kết hợp đồng và chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại điện tử như sau:
Trang 24Đề nghị giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa qua mạng điện tử Đề nghị
giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa qua mạng điện tử cũng giống như đề nghị giao kết hợp đồng truyền thống, là quá trình đàm phán, thỏa thuận để tiến tới sự thống nhất ý chí của các bên giao kết hợp đồng Theo điều 390 và 391 Bộ Luật dân sự
2005 quy định rõ thế nào là đề nghị giao kết hợp đồng và thời điểm có hiệu lực của hợp đồng, nhưng vấn đề ở đây khi đưa ra lời đề nghị thì bên đề nghị còn phải chịu
sự rằng buộc và chịu trách nhiệm với bên được đề nghị và những nội dung trong phạm vi lời đề nghị trong thời hạn mà lời đề nghị còn hiệu lực Thời điểm và thời hạn có hiệu lực của lời đề nghị giao kết hợp đồng có thể do bên đề nghị ấn định, hết thời hạn này mà lời đề nghị vẫn không được trả lời chấp nhận thì những rằng buộc trong lời đề nghị đương nhiên không còn Tuy nhiên khác với hợp đồng truyền thống, thời điểm giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa qua mạng điện tử được bắt đầu khi bên đề nghị giao kết hợp đồng gửi thông điệp dữ liệu, theo quy định tại điều
17, khoản 1, Luật Giao dịch điện tử 2005 “ Thời điểm gửi một thông điệp dữ liệu là thời điểm là thời điểm thông điệp dữ liệu này nhập vào hệ thống thông tin nằm ngoài sự kiểm soát của người khởi tạo”, qua đó cho thấy Luật Giao dịch điện tử
2005 không quy định cụ thể về việc đề nghị ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa qua điện tử, mà việc đề nghị giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa qua mạng điện tử được hiểu là việc truyền gửi thông điệp dữ liệu Ở đây, đề nghị giao kết hợp đồng được khởi tạo dưới dạng thông điệp dữ liệu và được gửi đến cho bên được đề nghị giao kết thông qua các phương tiện điện tử, thay vì được lập dưới dạng văn bản truyền thống và được gửi đến trực tiếp cho bên được đề nghị hay được gửi qua đường bưu điện…Còn theo nghị định 52/2013/NĐ-CP ngày 16/05/2013 của chính phủ về thương mại điện tử có ghi nhận về thông báo về đề nghị giao kết hợp đồng,
cụ thể theo điều 12: “Một thông báo bằng chứng từ điện tử về đề nghị giao kết hợp đồng mà không có bên nhận cụ thể thì chỉ là thông báo mời đề nghị giao kết hợp đồng Thông báo đó chưa được coi là đề nghị giao kết hợp đồng, trừ khi bên thông báo chỉ rõ tại thông báo đó trách nhiệm của mình trong trường hợp nhận được trả lời chấp nhận” Bên cạnh đó trong Thông tư 09/2008/TT-BTC ngày 21/7/2008 của
Bộ Công Thương hướng dẫn Nghị định về thương mại điện tử về cung cấp thông tin
và giao kết hợp đồng trên website thương mại điện tử, ghi nhận về vấn đề thông báo
đề nghị giao kết hợp đồng của thương nhân “Nếu một website thương mại điện tử
có chức năng đặt hàng trực tuyến cho từng hàng hóa hoặc dịch vụ cụ thể được giới thiệu trên website đó, thì các thông tin giới thiệu về hàng hóa, dịch vụ và các điều khoản liên quan được xem là thông báo về đề nghị giao kết hợp đồng của thương nhân sở hữu hàng hóa hoặc dịch vụ đó” (điều 4 Thông tư 09/2008/TT-BTC) Việc đề
Trang 25nghị giao kết hợp đồng của khách hàng được quy định “Chứng từ điện tử do khách hàng khởi tạo và gửi đi bằng cách sử dụng chức năng đặt hàng trực tuyến được xem
là đề nghị giao kết hợp đồng của khách hàng đối với hàng hóa hoặc dịch vụ gắn kèm chức năng đặt hàng trực tuyến đó”(điều 5 Thông tư 09/2008/TT-BTC) Như vậy việc thông báo về đề nghị giao kết hợp đồng mà không có bên nhận cụ thể thì đó chỉ là một lời mời chào chứ chưa được xem là một đề nghị giao kết hợp đồng Tuy nhiên Quy định về giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa trên website thương mại điện
tử thì những thông báo về thông tin hàng hóa và các điều khoản có liên quan vẫn được xem là đề nghị giao kết hợp đồng của thương nhân và do đã mang đầy đủ những nội dung của một lời mời giao kết hợp đồng và thực hiện thao tác đặt hàng thì xem như hợp đồng đã được giao kết Qua đó cho thấy một đề nghị giao kết hợp đồng dù được gửi đến một chủ thể xác định thì vẫn chưa đủ, để đi đến xác lập hợp đồng thì nhất thết phải có sự trả lời chấp nhận của bên được đề nghị thì khi đó hợp đồng mới được xem là đã giao kết
Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa qua mạng điện tử
Việc chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa qua mạng điện tử không được pháp luật về giao dịch điện tử ghi nhận một cách cụ thể, mà việc chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng điện tử được hiểu là việc nhận thông điệp dữ liệu từ người khởi tạo thông điệp dữ liệu đó Theo quy đinh tại điều 18, Luật Giao dịch điện tử 2005 thì: “Người nhận thông điệp dữ liệu là người được chỉ định nhận thông điệp dữ liệu từ người khởi tạo thông điệp dữ liệu nhưng không bao hàm người trung gian chuyển thông điệp dữ liệu đó.” (Khoản 1 điều 18 Luật Giao dịch điện tử 2005) Trong trường hợp các bên tham gia giao kết không có thỏa thuận khác thì “Người nhận được xem là đã nhận được thông điệp dữ liệu nếu thông điệp dữ liệu được nhập vào hệ thống thông tin do người đó chỉ định và có thể truy cập được” (điểm a khoản 2 điều 18 Luật Giao dịch điện tử 2005) à theo quy định tại điều 6, Thông
tư 09/2008/TT-BCT thì: “Khi trả lời chấp thuận đề nghị giao kết hợp đồng, thương nhân phải cung cấp cho khách hàng những thông tin sau: Danh sách toàn bộ hàng hóa hoặc dịch vụ khách hàng đặt mua, số lượng, giá của từng sản phẩm và tổng giá trị hợp đồng; Thời hạn giao hàng hoặc cung ứng dịch vụ; Thông tin liên hệ để khách hàng có thể hỏi về tình trạng thực hiện hợp đồng khi cần thiết” Tuy nhiên trong một số trường hợp, hệ thống giao dịch điện tử tự động có thể tự thực hiện việc chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng điện tử thay mặt cho một hoặc hai bên trong giao kết hợp đồng Như quy định tại điều 13, Nghị định 52/2013/NĐ-CP về việc sử dụng
hệ thống thông tin tự động cụ thể là “Hợp đồng được giao kết từ sự tương tác giữa một hệ thống thông tin tự động với một người hoặc giữa các hệ thống thông tin tự
Trang 26động với nhau không bị phủ nhận giá trị pháp lý chỉ vì không có sự kiểm tra hay can thiệp của con người vào từng hành động cụ thể do các hệ thống thông tin tự động thực hiện hay hợp đồng được giao kết.” đã cho ta thấy rõ điều đó
3.2 Hình thức của hợp đồng
Hình thức của hợp đồng là phương thức thể hiện của hợp đồng mà pháp luật quy định các bên giao kết hợp đồng phải tuân thủ khi tiến hành giao kết Khác với hợp đồng truyền thống, có thể được giao kết bằng lời nói, bằng văn bản, hay bằng hành vi
cụ thể (theo điều 401 Bộ luât Dân sự) Do hợp đồng mua bán hàng hóa qua mạng điện
tử được thiết lập dưới dạng thông điệp dữ liệu nên có thể được soạn thảo và gửi qua thư điện tử hay thông qua các trang web bán hàng trực tuyến thì đó chỉ là việc “nhấn nút đồng ý” khi người mua đã tham khảo những thông tin của hàng hóa trên website Khi đó hợp đồng được xem như đã giao kết và các bên tiến hành thực hiện các nội dung như đã cam kết Tuy nhiên các nội dung như đã cam kết có được đảm bảo thực hiện và vấn đề xác định trách nhiệm pháp lý được thực hiện như thế nào?
Theo pháp luật hiện hành về hợp đồng điện tử chưa quy định cụ thể về hình thức của hợp đồng điện tử hay hợp đồng mua bán hàng hóa qua mạng điện tử Như đã nói Luật Giao dịch điện tử lại ghi nhận rằng hợp đồng điện tử được thiết lập dưới dạng thông điệp dữ liệu Theo đó tại điều 10, Luật Giao dịch điện tử 2005 quy định về hình thức thể hiện thông điệp dữ liệu “Thông điệp dữ liệu được thể hiện dưới hình thức trao đổi dữ liệu điện tử, chứng từ điện tử, thư điện tử, điện tín, điện báo, fax và các hình thức tương tự khác” Và giá trị của nó không bị phủ nhận đồng thời nó có giá trị pháp
lý như văn bản (điều 15, Luật Thương mại 2005) Theo Luật Thương mại 2005 quy định “Đối với các loại hợp đồng mua bán hàng hóa mà pháp luật quy định phải được lập thành văn bản thì phải tuân theo những quy định đó; telex, fax, thư điện tử và các hình thức thông tin điện tử khác cũng được coi là hình thức văn bản” Như vậy, Thư điện tử và các hình thức thông tin điện tử khác đã được công nhận là hình thức hợp pháp của hợp đồng mua bán hàng hóa Ở đây các hình thức thông tin điện tử khác như các website thương mại điện tử Tuy nhiên, quy định này mới chỉ dừng lại ở mức nguyên tắc mà chúng ta chưa có bất kì hướng dẫn chi tết nào về các vấn đề cụ thể như thời điểm pháp sinh hiệu lực của hợp đồng, giá trị pháp lý của chữ ký điện tử, sửa đổi
bổ sung hợp đồng, giá trị chứng cứ của thư điện tử…nếu hợp đồng mua bán hàng hóa được ký kết hoàn toàn thông qua thư điện tử hoặc internet thì chúng ta sẽ thiếu cơ sở pháp lý cụ thể để xác định chính xác thời điểm hình thành và phát sinh hiệu lực của hợp đồng đó Theo quy định tại điều 51, nếu các bên không cùng có mặt để ký hợp đồng thì hợp đồng được coi là đã ký kết kể từ thời điểm bên chào hàng nhận được
Trang 27thông báo chấp nhận toàn bộ các điều kiện đã ghi trong chào hàng trong thời hạn trách nhiệm của người chào hàng Tuy nhiên điều khoản này là không phù hợp với môi trường internet vì việc xác định thế nào là chào hàng và chấp nhận chào hàng cho giao dịch rất khó [11] Bên cạnh các vấn đề về hình thức của hợp đồng mua bán hàng qua mạng điện tử thì nội dung của nó cũng là điều quan trọng để hợp đồng có giá trị
3.3 Nội dung hợp đồng
Nội dung của hợp đồng bao gồm các điều khoản thỏa thuận giữa các chủ thể Theo đó điều 402 Bộ luật dân sự 2005 quy định nội dung của hợp đồng cụ thể là: “ Tùy theo từng hợp đồng mà các bên có thể thỏa thuận về những nội dung sau đây: Đối tượng của hợp đồng là tài sản phải giao, công việc phải làm hoặc không được làm; số lượng, chất lượng; giá; phương thức thanh toán; thời hạn; địa điểm; phương thức thực hiện hợp đồng; quyền, nghĩa vụ giữa các bên; trách nhiệm do vi phạm hợp đồng; các nội dung khác”.Trong Luật Giao dịch điện tử chưa quy định một cách cụ thể về nội dung của hợp đồng điện tử, còn theo quy định tại Mục II của thông tư 09/2008/TT-BCT của Bộ Công Thương về cung cấp thông tin về các điều khoản của hợp đồng trên Website thương mại điện tử từ điều 12 đến Điều 16 thì các thông tin về: “hàng hóa”( điều 12), “giá cả”( điều 13), “các điều khoản giao dịch”( điều 14),
“vận chuyển và giao nhận” (điều 15), và “phương thức thanh toán”(điều 16) có thể được xem như các yếu tố cơ bản cấu thành nội dung của hợp đồng mua bán hàng hóa Nhưng những quy định này vẫn chưa thực sự cụ thể để có thể áp dụng trong mọi trường hợp giao kết nên về mặt nguyên tắc nội dung của hợp đồng mua bán hàng hóa qua mạng điện tử tuân theo những quy định chung về hợp đồng
Tuy nhiên khác với hợp đồng truyền thống, về phương thức giao kết và những đặc thù riêng về mặt công nghệ nên nội dung của hợp đồng mua bán hàng hóa qua mạng điện tử hàm chứa yếu tố kỹ thuật cao Vì vậy, khi giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa qua mạng điện tử ngoài những yếu tố cơ bản của nội dung hợp đồng về đối tượng, số lượng, giá cả,…các bên giao kết nhất thiết phải quan tâm đến những quy định có tính kỹ thuật công nghệ là cách thể hiện nội dung của hợp đồng mua bán hàng hóa qua mạng điện tử Nếu thực hiện các thao tác về quy trình kỹ thuật không tốt, chính xác thì về nội dung trong giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa qua mạng điện tử cũng khó có thể đạt được Cho nên yếu tố kỹ thuật phải gắn kết chặt chẽ với khung pháp lý của quy trình giao kết về vấn đề nội dung của hợp đồng mua bán hàng hóa qua mạng điện tử, cách thể hiện nội dung của hợp đồng mua bán hàng hóa qua mạng điện
tử cũng chính là cơ sở pháp lý mà các bên chủ thể phải tuân thủ khi giao kết Ngoài các nội dung cơ bản được thể hiện rõ ràng trên trang web, các chủ thể giao kết hợp