LỜI MỞ ĐẦU Xu hướng toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế Thế giới đã mang đến cho các doanh nghiệp Việt Nam những vận hội mới để phát triển, đồng thời cũng phải đương đầu với không ít những khó khăn do nền kinh tế thị trường mang lại. Khó khăn lớn nhất có lẽ là sự cạnh tranh gay gắt không những của các doanh nghiệp trong nước mà còn của các doanh nghiệp nước ngoài. Để tồn tại và phát triển, nhiệm vụ của các doanh nghiệp là phải không ngừng cố gắng nỗ lực nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ, giảm giá thành sản phẩm. Trong công tác quản lý doanh nghiệp, chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là hai chỉ tiêu vô cùng quan trọng được các nhà quản lý đặc biệt quan tâm vì nó không chỉ là căn cứ lập giá mà còn là căn cứ để đánh giá kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Mặt khác, trên góc độ người sử dụng thông tin chi phí và giá thành giúp nhà quản lý và lãnh đạo doanh nghiệp phân tích đánh giá tình hình sử dụng vật tư, lao động, tình hình thực hiện kế hoạch giá thành… Từ đó đưa ra các biện pháp cải thiện tình hình kinh doanh của doanh nghiệp. Chính vì vậy, tổ chức tốt công tác “kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm” có ý nghĩa vô cùng to lớn, có thể nói là khâu quan trọng nhất trong toàn bộ công tác kế toán. “Công ty Cổ Phần Giầy Thăng Long” là doanh nghiệp sản xuất với số lượng sản phẩm lớn, đa dạng và có thương hiệu. Vì vậy, cũng như các doanh nghiệp sản xuất khác, Công ty rất quan tâm đến công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm. Nhận thức được điều đó, trong quá trình thực tập tại Công ty, sau khi tìm hiểu về tổ chức công tác kế toán, đặc biệt là kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm em đã mạnh dạn lựa chọn đề tài: “Hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty Cổ Phần Giầy Thăng Long”. Với mục đích vận dụng lý thuyết về kế toán vào nhu cầu thực tiễn công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm ở Công ty Cổ Phần Giầy Thăng Long, từ đó phân tích những điểm còn tồn tại, đóng góp một số ý kiến nhằm hoàn thiện công tác kế toán tại đơn vị. Ngoài phần mở đầu, kết luận chuyên đề của em gồm ba phần: Phần I: Đặc điểm sản phẩm, tổ chức sản xuất và quản lý chi phí tại Công ty Cổ Phần Giầy Thăng Long. Phần II: Thực trạng kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty Cổ Phần Giầy Thăng Long. Phần III: Phương hướng hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản xuất tại Công ty Cổ Phần Giầy Thăng Long. Trong quá trình nghiên cứu, mặc dù đã đi sâu vào tìm hiểu nhưng do thời gian, kiến thức thực tế có hạn nên bài chuyên đề của em không tránh khỏi những thiếu thiếu sót và hạn chế. Em kính mong nhận được những ý kiến chỉ bảo của thầy để bài chuyên đề của em được hoàn thiện hơn. Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của thầy giáo hướng dẫn “Thầy Nguyễn Quốc Trung” cùng các cô, các chị phòng Kế toán – tài chính của “Công ty Cổ Phần Giầy Thăng Long” đã giúp em hoàn thành bài chuyên đề này. Em xin chân thành cảm ơn CHƯƠNG 1 ĐẶC ĐIỂM SẢN PHẨM, TỔ CHỨC SẢN XUẤT VÀ QUẢN LÝ CHI PHÍ TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN GIẦY THĂNG LONG 1.1. Đặc điểm sản phẩm của Công ty Cổ Phần Giầy Thăng Long Đã từ lâu thương hiệu Giầy Thăng Long trở nên quen thuộc với thị trường trong nước và đang dần khẳng định vị trí trên thị trường quốc tế. Với chặng đường hơn 20 năm xây dựng và trưởng thành, sản phẩm của Công ty cũng không ngừng đổi mới cải tiến mọi măt. Do sản xuất kinh doanh mặt hàng thời trang nên Công ty đã xây dựng chiến lược phát triển sản phẩm và quy mô sản xuất cũng như tạo dựng được thương hiệu uy tín trên thị trường. Công ty đã chủ động đa dạng hóa sản phẩm bằng nhiều hình thức như tổ chức huấn luyện nghiệp vụ cho khâu đào tạo thiết kế mẫu, kiểm tra chất lượng sản phẩm... Do đó, từ chỗ sản phẩm chủ yếu là giầy vải, đến nay Công ty đã có thêm nhiều sản phẩm chất lượng được người tiêu dùng ưa chuộng như giầy thể thao, giầy da, dép sandal và các sản phẩm phụ liệu cho ngành da giầy. Quy mô sản xuất của Công ty theo đó được mở rộng và phát triển. Danh mục sản phẩm của Công ty: Giầy vải Đây là sản phẩm truyền thống tạo nên thương hiệu của Công ty, sản xuất dựa vào sử dụng từ hai chất liệu cơ bản là vải mỏng và da mềm, đế giầy bằng cao su, nhựa tổng hợp cao su... Do vậy sản phẩm này có đặc tính nhẹ, thông thoáng tạo sự mát mẻ, ngày càng được ưa chuộng với sự thoải mái trẻ trung, năng động. Kiểu dáng cũng rất đa dạng, bắt mắt phù hợp với các mùa trong năm. Giầy thể thao Giầy thể thao chiếm một tỷ trọng khá lớn trong danh mục sản phẩm của Công ty. Với quy trình công nghệ sản xuất phức tạp từ nhiều loại NVL hơn sản phẩm giầy vải nên giá thành giầy thể thao thường cao hơn giầy vải. Giầy thể thao có đặc điểm nhẹ, êm chân, thông thoáng, mũ quai có thể co giãn được, có các lỗ khí đảm bảo không bị ẩm ướt. Chất liệu sử dụng chủ yếu là các loại vải lưới, vải nhựa tổng hợp, da…Phần đế giầy có sử dụng đế lót bằng các loại mút mềm và êm, bề mặt phủ lớp vải cotton để hút ầm có tác dụng giảm xóc khi có lực tác động từ bên ngoài. Sản phẩm giầy thể thao của Công ty cũng đa dạng về kiểu dáng và màu sắc đáp ứng nhu cầu thị trường. Giầy trẻ em Do đăc điểm đối tượng sử dụng, các sản phẩm giầy trẻ em thường có kiểu dáng độc đáo, màu sắc sặc sỡ với chất liệu vải mềm, nhẹ, đảm bảo độ ấm nhưng vẫn thông thoáng. Dép sandal Sản phẩm này chiếm tỉ trọng nhỏ nhất trong danh mục sản phẩm của Công ty. Đặc điểm sản phẩm là quai và đế được thiết kế từ các chất liệu dai, mềm dẻo, có đặc tính nhẹ, thông thoáng tạo sự mát mẻ thoải mái cho người sử dụng khi di chuyển. Dép sandal với kiểu dáng đơn giản, không cầu kỳ, dễ sử dụng phù hợp với mọi lứa tuổi. Danh mục sản phẩm Mã hiệu Hình ảnh 1. Giầy vải TD003, KK20093, KK20091, HV20093, ĐB05, ĐB06, NU03, NU04… 2. Giầy thể thao WTTAS01, WTTAS03,WTTAS04, WTT03, WTT01, tt12, t13, tt7, tt8, tt9, tt6, TT2, t2, t3… tt8 3. Giầy trẻ em te1, te2, te3, te4, te5, te6…..te36 te26 4. Dép sandal XD1, XD2, XD3 XD3 Bảng 1: Danh mục sản phẩm của Công ty Cổ Phần Giầy Thăng Long Một số hình ảnh sản phẩm giầy bán chạy tiêu biểu: Tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm Sản phẩm của Công ty có thế mạnh về chất lượng, chủng loại, mẫu mã, màu sắc, kiểu dáng, chiếm thị phần lớn trong nước và xuất khẩu, từng bước chinh phục những khách hàng khó tính như Mỹ, EU, Nga, Pháp, Nhật, Đức, Italy, Bungari… Để nâng cao không ngừng chất lượng sản phẩm, bên cạnh mở rộng hoạt động sản xuất Công ty quan tâm nghiên cứu kỹ thuật, đầu tư máy móc công nghệ mới vào sản xuất. Với mục tiêu luôn duy trì quản lý nghiêm ngặt theo hệ thống tiêu chuẩn quốc tế, sản phẩm của Công ty luôn được người tiêu dùng bình chọn TOPTEN, liên tục được công nhận là Hàng Việt Nam – Chất lượng cao. Tính chất của sản phẩm Có thể nói sản phẩm giầy dép có đặc tính tương đối phức tạp, được cấu tạo nên từ nhiều nguyên liệu, vật liệu khác nhau, tương ứng với nhiều công đoạn sản xuất. Sản phẩm của Công ty lại thuộc lĩnh vực thời trang, do vậy rất đa dạng về chủng loại, kiểu dáng, màu sắc… để có thể đáp ứng mọi nhu cầu của người tiêu dùng. Sản lượng sản xuất của Công ty lên tới 10 triệu đôi năm với mục đích phục vụ cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Cơ cấu sản phẩm của Công ty được chia thành hai loại căn cứ vào phạm vi mặt hàng sản xuất, đó là sản phẩm giầy nội địa và sản phẩm giầy xuất khẩu theo yêu cầu của khách hàng nước ngoài. Mặt hàng giầy dép có các loại: Giầy bata, giầy bộ đội, giầy basket, giầy thể thao…Trong đó, mặt hàng giầy thể thao chiếm 30% cơ cấu hàng xuất khẩu của Công ty với nhiều kiểu dáng, mẫu mã khác nhau, 70% còn lại là các loại giầy vải cao cấp, giầy thể dục nhịp điệu, giầy leo núi, giầy đá bóng, giầy trẻ em, dép sandal. Loại hình sản xuất: Công ty Cổ Phần Giầy Thăng Long là một Công ty có quy mô sản xuất lớn, tập trung, sản phẩm được sản xuất hàng loạt với khối lượng lớn theo thiết kế của Công ty hoặc theo các đơn đặt hàng. Thời gian sản xuất Sản phẩm của Công ty được sản xuất với chu kỳ ngắn nhưng liên tục và ổn định. Đặc điểm sản phẩm dở dang Công nghệ sản xuất sản phẩm của Công ty qua nhiều giai đoạn, mỗi giai đoạn có nhiệm vụ hoàn thành một bộ phận của sản phẩm. Hai bộ phận chính cấu tạo nên sản phẩm chính của giầy là mũ giầy và đế giầy. Mũ giầy, đế giầy được xem là các bán thành phẩm. Quá trình lắp ráp mũ giầy và đế giầy không hoàn thành, sản phẩm trở thành sản phẩm dở dang. 1.2 Đặc điểm tổ chức sản xuất sản phẩm của Công ty Cổ Phần Giầy Thăng Long Quy trình công nghệ: Các sản phẩm của Công ty được sản xuất theo một quy
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Xu hướng toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế Thế giới đã mang đến cho các doanh nghiệp Việt Nam những vận hội mới để phát triển, đồng thời cũng phải đương đầu với không ít những khó khăn do nền kinh tế thị trường mang lại Khó khăn lớn nhất có lẽ là sự cạnh tranh gay gắt không những của các doanh nghiệp trong nước mà còn của các doanh nghiệp nước ngoài Để tồn tại và phát triển, nhiệm vụ của các doanh nghiệp là phải không ngừng cố gắng nỗ lực nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ, giảm giá thành sản phẩm Trong công tác quản lý doanh nghiệp, chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là hai chỉ tiêu vô cùng quan trọng được các nhà quản lý đặc biệt quan tâm vì nó không chỉ là căn cứ lập giá mà còn là căn cứ để đánh giá kết quả kinh doanh của doanh nghiệp Mặt khác, trên góc độ người sử dụng thông tin chi phí và giá thành giúp nhà quản lý và lãnh đạo doanh nghiệp phân tích đánh giá tình hình sử dụng vật tư, lao động, tình hình thực hiện kế hoạch giá thành… Từ đó đưa ra các biện pháp cải thiện tình hình kinh doanh của
doanh nghiệp Chính vì vậy, tổ chức tốt công tác “kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm” có ý nghĩa vô cùng to lớn, có thể nói là khâu quan trọng nhất
trong toàn bộ công tác kế toán
“Công ty Cổ Phần Giầy Thăng Long” là doanh nghiệp sản xuất với số
lượng sản phẩm lớn, đa dạng và có thương hiệu Vì vậy, cũng như các doanh nghiệp sản xuất khác, Công ty rất quan tâm đến công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
Nhận thức được điều đó, trong quá trình thực tập tại Công ty, sau khi tìm hiểu về tổ chức công tác kế toán, đặc biệt là kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm em đã mạnh dạn lựa chọn đề tài:
“Hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty Cổ Phần Giầy Thăng Long”.
Với mục đích vận dụng lý thuyết về kế toán vào nhu cầu thực tiễn công tác
kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm ở Công ty Cổ Phần Giầy Thăng
Trang 2Long, từ đó phân tích những điểm còn tồn tại, đóng góp một số ý kiến nhằm hoàn thiện công tác kế toán tại đơn vị
Ngoài phần mở đầu, kết luận chuyên đề của em gồm ba phần:
Phần I: Đặc điểm sản phẩm, tổ chức sản xuất và quản lý chi phí tại Công
ty Cổ Phần Giầy Thăng Long.
Phần II: Thực trạng kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty Cổ Phần Giầy Thăng Long
Phần III: Phương hướng hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản xuất tại Công ty Cổ Phần Giầy Thăng Long.
Trong quá trình nghiên cứu, mặc dù đã đi sâu vào tìm hiểu nhưng do thời gian, kiến thức thực tế có hạn nên bài chuyên đề của em không tránh khỏi những thiếu thiếu sót và hạn chế Em kính mong nhận được những ý kiến chỉ bảo của thầy
để bài chuyên đề của em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của thầy giáo hướng dẫn
“Thầy Nguyễn Quốc Trung” cùng các cô, các chị phòng Kế toán – tài chính của
“Công ty Cổ Phần Giầy Thăng Long” đã giúp em hoàn thành bài chuyên đề này.
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 3CHƯƠNG 1 ĐẶC ĐIỂM SẢN PHẨM, TỔ CHỨC SẢN XUẤT VÀ QUẢN LÝ CHI PHÍ TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN GIẦY THĂNG LONG
1.1 Đặc điểm sản phẩm của Công ty Cổ Phần Giầy Thăng Long
Đã từ lâu thương hiệu Giầy Thăng Long trở nên quen thuộc với thị trường trong nước và đang dần khẳng định vị trí trên thị trường quốc tế Với chặng đường hơn 20 năm xây dựng và trưởng thành, sản phẩm của Công ty cũng không ngừng đổi mới cải tiến mọi măt Do sản xuất kinh doanh mặt hàng thời trang nên Công ty
đã xây dựng chiến lược phát triển sản phẩm và quy mô sản xuất cũng như tạo dựng được thương hiệu uy tín trên thị trường Công ty đã chủ động đa dạng hóa sản phẩm bằng nhiều hình thức như tổ chức huấn luyện nghiệp vụ cho khâu đào tạo thiết kế mẫu, kiểm tra chất lượng sản phẩm Do đó, từ chỗ sản phẩm chủ yếu là giầy vải, đến nay Công ty đã có thêm nhiều sản phẩm chất lượng được người tiêu dùng ưa chuộng như giầy thể thao, giầy da, dép sandal và các sản phẩm phụ liệu cho ngành
da giầy Quy mô sản xuất của Công ty theo đó được mở rộng và phát triển
*Danh mục sản phẩm của Công ty:
- Giầy vải
Đây là sản phẩm truyền thống tạo nên thương hiệu của Công ty, sản xuất dựa vào sử dụng từ hai chất liệu cơ bản là vải mỏng và da mềm, đế giầy bằng cao
su, nhựa tổng hợp cao su Do vậy sản phẩm này có đặc tính nhẹ, thông thoáng tạo
sự mát mẻ, ngày càng được ưa chuộng với sự thoải mái trẻ trung, năng động Kiểu dáng cũng rất đa dạng, bắt mắt phù hợp với các mùa trong năm
- Giầy thể thao
Giầy thể thao chiếm một tỷ trọng khá lớn trong danh mục sản phẩm của Công ty Với quy trình công nghệ sản xuất phức tạp từ nhiều loại NVL hơn sản phẩm giầy vải nên giá thành giầy thể thao thường cao hơn giầy vải Giầy thể thao có đặc điểm nhẹ, êm chân, thông thoáng, mũ quai có thể co giãn được, có các lỗ khí đảm bảo không bị ẩm ướt Chất liệu sử dụng chủ yếu là các loại vải lưới, vải nhựa
Trang 4tổng hợp, da…Phần đế giầy có sử dụng đế lót bằng các loại mút mềm và êm, bề mặt phủ lớp vải cotton để hút ầm có tác dụng giảm xóc khi có lực tác động từ bên ngoài Sản phẩm giầy thể thao của Công ty cũng đa dạng về kiểu dáng và màu sắc đáp ứng nhu cầu thị trường.
- Giầy trẻ em
Do đăc điểm đối tượng sử dụng, các sản phẩm giầy trẻ em thường có kiểu dáng độc đáo, màu sắc sặc sỡ với chất liệu vải mềm, nhẹ, đảm bảo độ ấm nhưng vẫn thông thoáng
- Dép sandal
Sản phẩm này chiếm tỉ trọng nhỏ nhất trong danh mục sản phẩm của Công
ty Đặc điểm sản phẩm là quai và đế được thiết kế từ các chất liệu dai, mềm dẻo, có đặc tính nhẹ, thông thoáng tạo sự mát mẻ thoải mái cho người sử dụng khi di chuyển Dép sandal với kiểu dáng đơn giản, không cầu kỳ, dễ sử dụng phù hợp với mọi lứa tuổi
Trang 5Danh mục sản
1 Giầy vải
TD-003, KK2009-3, KK2009-1, 2009-3, ĐB-05, ĐB-06, NU-03, NU-04…
HV-2 Giầy thể thao
WTTAS01, WTTAS03,WTTAS04,WTT-03, WTT-01, tt12, t13, tt7, tt8, tt9, tt6, TT2, t2, t3…
Bảng 1: Danh mục sản phẩm của Công ty Cổ Phần Giầy Thăng Long
Một số hình ảnh sản phẩm giầy bán chạy tiêu biểu:
Trang 7* Tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm
Sản phẩm của Công ty có thế mạnh về chất lượng, chủng loại, mẫu mã, màu sắc, kiểu dáng, chiếm thị phần lớn trong nước và xuất khẩu, từng bước chinh phục những khách hàng khó tính như Mỹ, EU, Nga, Pháp, Nhật, Đức, Italy, Bungari…
Để nâng cao không ngừng chất lượng sản phẩm, bên cạnh mở rộng hoạt động sản xuất Công ty quan tâm nghiên cứu kỹ thuật, đầu tư máy móc công nghệ mới vào sản xuất
Với mục tiêu luôn duy trì quản lý nghiêm ngặt theo hệ thống tiêu chuẩn quốc tế, sản phẩm của Công ty luôn được người tiêu dùng bình chọn TOPTEN, liên tục được công nhận là Hàng Việt Nam – Chất lượng cao
* Tính chất của sản phẩm
Có thể nói sản phẩm giầy dép có đặc tính tương đối phức tạp, được cấu tạo nên từ nhiều nguyên liệu, vật liệu khác nhau, tương ứng với nhiều công đoạn sản xuất
Sản phẩm của Công ty lại thuộc lĩnh vực thời trang, do vậy rất đa dạng về chủng loại, kiểu dáng, màu sắc… để có thể đáp ứng mọi nhu cầu của người tiêu dùng
Sản lượng sản xuất của Công ty lên tới 10 triệu đôi/ năm với mục đích phục
vụ cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu Cơ cấu sản phẩm của Công ty được chia thành hai loại căn cứ vào phạm vi mặt hàng sản xuất, đó là sản phẩm giầy nội địa và sản phẩm giầy xuất khẩu theo yêu cầu của khách hàng nước ngoài Mặt hàng giầy dép có các loại: Giầy bata, giầy bộ đội, giầy basket, giầy thể thao…Trong đó, mặt hàng giầy thể thao chiếm 30% cơ cấu hàng xuất khẩu của Công ty với nhiều kiểu dáng, mẫu mã khác nhau, 70% còn lại là các loại giầy vải cao cấp, giầy thể dục nhịp điệu, giầy leo núi, giầy đá bóng, giầy trẻ em, dép sandal
* Loại hình sản xuất: Công ty Cổ Phần Giầy Thăng Long là một Công ty có
quy mô sản xuất lớn, tập trung, sản phẩm được sản xuất hàng loạt với khối lượng lớn theo thiết kế của Công ty hoặc theo các đơn đặt hàng
Trang 8* Thời gian sản xuất
Sản phẩm của Công ty được sản xuất với chu kỳ ngắn nhưng liên tục và ổn định
* Đặc điểm sản phẩm dở dang
Công nghệ sản xuất sản phẩm của Công ty qua nhiều giai đoạn, mỗi giai đoạn có nhiệm vụ hoàn thành một bộ phận của sản phẩm Hai bộ phận chính cấu tạo nên sản phẩm chính của giầy là mũ giầy và đế giầy Mũ giầy, đế giầy được xem là các bán thành phẩm Quá trình lắp ráp mũ giầy và đế giầy không hoàn thành, sản phẩm trở thành sản phẩm dở dang
1.2 Đặc điểm tổ chức sản xuất sản phẩm của Công ty Cổ Phần Giầy Thăng Long
* Quy trình công nghệ:
Các sản phẩm của Công ty được sản xuất theo một quy trình sản xuất công nghệ hiện đại, khép kín qua nhiều khâu khác nhau, sản phẩm ở giai đoạn đầu được coi là đầu vào sản xuất cho các giai đoạn tiếp theo
Trang 9Quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm có thể được khái quát như sau:
Sơ đồ 1.1: Quy trình công nghệ sản xuất giầy vải
* Cơ cấu tổ chức sản xuất:
Công ty Cổ Phần Giầy Thăng Long tổ chức sản xuất theo các phân xưởng Các phân xưởng này có mối quan hệ với nhau trong quá trình giao bán thành phẩm Mỗi phân xưởng chỉ chịu trách nhiệm thực hiện một số bước trong quá trình sản xuất sản phẩm Các bộ phận, phân xưởng tổ chức thành một dây chuyền khép kín để sản xuất từng loại sản phẩm Quá trình sản xuất sản phẩm được diễn ra liên tục từ khâu đưa vật liệu vào cho đến khi hoàn thiện sản phẩm Hiện nay, Công ty có 4 phân xưởng sản xuất chính:
- Phân xưởng bồi cắt: Đảm nhiệm 2 khâu đầu của quy trình công nghệ là
bồi tráng và cắt vải bạt NVL của công đoạn này chủ yếu là vải bạt các màu, vải lót,
Bồi vải, bồi giả
Ép đế
Đánh sờm
Thu hóa
Gò giầyBôi keoSửa giầyThu hóaLên đôi, xâu dâyĐóng gói kho
Trang 10mút xốp, mếch, bìa catton…NVL được chuyển đến máy bồi, máy bồi có chức năng kết dính các NVL này với nhau bằng một lớp keo dính, vải được bồi trên máy với nhiệt độ lò sấy từ 180 – 2000 0 C và được bồi ở 3 lớp là lớp mặt, lớp lót và lớp giữa Các tấm vải sau khi được bồi xong thì chuyển cho bộ phận cắt Sau khi cắt xong, sản phẩm của phân xưởng được chuyển sang phân xưởng may để lắp ráp mũ giầy.
- Phân xưởng may: Nhận sản phẩm từ phân xưởng cắt và phụ liệu từ kho
và sẽ may các chi tiết thành mũ giầy hoàn chỉnh NVL chủ yếu ở công đoạn này là: Vải và các loại phụ liệu như: Chỉ, ođê, dây trang trí, chun… Quá trình may ở công đoạn này phải trải qua nhiều thao tác kỹ thuật liên tiếp như: Can góc, may nẹp, kẻ chỉ… Bán sản phẩm hoàn thành ở phân xưởng này là mũ giầy
- Phân xưởng cán: Có nhiệm vụ chế biến các hóa chất, sản xuất đế giầy
bằng cao su NVL của phân xưởng là cao su, các hóa chất như Benzen, xăng công nghiệp, các loại bột màu… Bán thành phẩm ở công đoạn này là các đế giầy và được chuyển đến phân xưởng gò để lắp ráp giầy
- Phân xưởng gò: Đảm nhiệm khâu cuối cùng của quy trình công nghệ sản
xuất giầy, sản phẩm của khâu này là từng đôi giầy hoàn chỉnh Mũ giầy và đế giầy được chuyển đến bộ phận quét keo, sau đó qua dàn nhiệt, công nhân phân xưởng gò
sẽ gò hình giầy theo phom giầy Tiếp đến là công đoạn dán đế, dán viền sau đó được đưa vào bộ phận lưu hóa để hấp ở nhiệt độ thích hợp khoảng 1300C trong vòng 3 – 4 giờ nhằm đảm bảo độ bền của giầy Sau khi giầy lưu hóa xong sẽ được chuyển đến bộ phận đóng gói để xâu dây và đóng hộp
Ngoài các phân xưởng chính trên, còn có một phân xưởng sản xuất phụ phục vụ sản xuất đó là phân xưởng cơ năng, chịu trách nhiệm cung cấp điện, lắp đặt sửa chữa, bảo dưỡng thiết bị, cung cấp hơi nóng, áp lực
1.3 Đặc điểm tổ chức chi phí sản xuất của Công ty Cổ Phần Giầy Thăng Long.
Chi phí là chỉ tiêu chất lượng quan trọng phản ánh hiệu quả hoạt động sản xuất của Công ty Chi phí sản xuất sản phẩm thấp hay cao, giảm hay tăng phản ánh kết quả của việc quản lý, sử dụng vật tư lao động tiền vốn Việc phấn đấu tiết kiệm chi phí sản xuất là mục tiêu quan trọng không những của mọi doanh nghiệp mà còn
Trang 11là vấn đề quan tâm của toàn xã hội Vì vậy, công tác quản lý chi phí sản xuất là một khâu quan trong đảm bảo cung cấp thông tin kịp thời chính xác về kết quả hoạt động sản xuất, đáp ứng nhu cầu trong việc ra quyết định quản lý, là yếu tố đảm bảo
sự tồn tại và phát triển của Công ty nói riêng, tăng trưởng và phát triển nền kinh tế nói chung
Khi bắt tay vào xây dựng các chiến lược sản xuất kinh doanh có một điều
vô cùng quan trọng mà không một Công ty nào được phép bỏ qua là phải tính đến việc các chi phí sẽ được quản lý và sử dụng như thế nào, xem các đồng vốn bỏ ra hiệu quả đến đâu, có đem lại lợi nhuận và hiệu quả như mong muốn ban đầu hay không Rõ ràng yếu tố chi phí luôn đóng vai trò quan trọng trong bất cứ kế hoạch
mở rộng và tăng trưởng kinh doanh nào Các Công ty muốn tăng trưởng và đẩy mạnh lợi nhuận cần không ngừng tìm kiếm những phương thức quản lý và sử dụng hiệu quả nhất các nguồn vốn, chi phí kinh doanh Đặc biệt trong các Công ty sản xuất thì quản lý chi phí sản xuất là vấn đề đáng để quan tâm
Đối với Công ty Cổ Phần Giầy Thăng Long mặc dù chưa có bộ phận kế toán quản trị, hay hệ thống kiểm soát nội bộ chi phí riêng nhưng công tác quản lý chi phí sản xuất đã được xây dựng khá chặt chẽ dưới sự quản lý của Tổng Giám đốc thông qua hệ thống thông tin nội bộ
- Kiểm soát quá trình mua – nhập kho nguyên vật liệu tại Công ty
Đối với vật tư mua ở trong nước, cung ứng vật tư thuộc bộ phận vật tư có quyền lựa chọn nhà cung cấp, lập đơn đặt hàng và viết giấy đề nghị tạm ứng mua vật tư sau đó mới chuyển sang phòng kinh doanh và Tổng Giám đốc xét duyệt Vì vậy có thể xảy ra sai phạm nếu cung ứng vật tư thông đồng với nhà cung cấp để hưởng chênh lệch giá hoặc chiếm khoản chiết khấu thương mại Trong quá trình mua vật tư, việc giao nhận vật tư chủ yếu dựa trên sự tin tưởng của hai bên nên không có một biên bản nào được lập để thể hiện sự chuyển giao quyền sở hữu đối với vật tư Các hoá đơn đến cuối tháng nhà cung cấp mới lập trong đó thống kê tất
cả các loại vật tư mà Công ty đã mua trong tháng
Trang 12Khi tiến hành nhập kho, thủ kho ghi số lượng thực nhập vào sổ nhập vật tư
mà không có một biên bản hay chứng từ nào được lập để thể hiện sự chuyển giao trách nhiệm giữa cung ứng vật tư và thủ kho đối với vật tư đã nhập kho Tất cả các phiếu nhập kho chỉ được kế toán vật tư in ra vào thời điểm cuối tháng khi bộ phận vật tư chuyển các hoá đơn mua hàng lên phòng kế toán Vì vậy phiếu nhập kho chỉ
có tác dụng để lưu chứ không có tác dụng kiểm soát
- Kiểm soát quá trình xuất kho, sử dụng và bảo quản nguyên vật liệu tại Công ty
Giấy đề nghị cấp vật tư mặc dù có chữ ký xét duyệt của Tổng Giám đốc Công ty nhưng chỉ mang tính hình thức, nguyên vật liệu vẫn xuất kho trước khi có
sự xét duyệt của Giám đốc hoặc uỷ quyền của Tổng Giám đốc Hàng ngày, khi xuất kho vật tư thủ kho chỉ ghi lượng thực xuất vào sổ cấp vật tư mà không có một chứng từ nào được lập để chuyển giao trách nhiệm đối với vật tư xuất kho từ thủ kho sang người nhận Vì vậy, khi xảy ra mất mát đối với vật tư không quy được trách nhiệm cụ thể đối với từng cá nhân có liên quan Cuối tháng, bộ phận vật tư chuyển sổ cấp vật tư lên phòng kế toán Kế toán vật tư căn cứ vào sổ cấp vật tư nhập liệu vào máy tính và in ra các phiếu xuất kho nên phiếu xuất kho cũng chỉ có tác dụng để lưu chứ không có tác dụng để kiểm soát Hiện tại, Công ty quản lý hàng tồn kho theo phương pháp kê khai thường xuyên và tính giá hàng xuất kho theo phương pháp bình quân cuối kỳ nên đối với các nghiệp vụ xuất kho vật tư ta chỉ theo dõi được về mặt số lượng chứ không theo dõi được về mặt giá trị Mặc dù nguyên vật liệu chiếm tỷ trọng khá lớn khoảng 60 đến 70% tổng chi phí sản xuất sản phẩm Nhưng khi phát sinh chi phí, kế toán chỉ có nhiệm vụ nhập số liệu vào máy và in ra các loại chứng từ và sổ sách chứ chưa đi vào đánh giá, so sánh, phân tích tìm nguyên nhân để có các biện pháp quản lý thích hợp
- Các thủ tục kiểm soát chi phí nhân công trực tiếp
Một số lao động được tuyển vào Công ty dựa trên các mối quan hệ cá nhân không qua kiểm tra trình độ tay nghề trước khi tiếp nhận Mặc dù ở Công ty có hệ thống thẻ từ phải được quẹt vào máy chấm công khi ra vào cổng để theo dõi thời
Trang 13gian làm việc của công nhân nhưng sự kiểm soát này chưa chặt chẽ vì nhiều khi người này vẫn có thể quẹt thẻ thay cho người khác Tuy Công ty đã xây dựng được một số thủ tục kiểm soát phù hợp với chế độ cũng như thực trạng của Công ty, nhưng chỉ dừng lại ở việc phản ánh chi phí này vào sổ sách liên quan mà chưa đi đến giai đoạn tiếp theo của quá trình kiểm soát là so sánh, phân tích với dự toán được lập, tìm nguyên nhân chênh lệch để từ đó có phương án hành động cụ thể.
- Các thủ tục kiểm soát chi phí sản xuất chung
Chi phí sản xuất chung là khoản mục chi phí tổng hợp và rất khó kiểm soát, tại Công ty chưa xây dựng được các thủ tục kiểm soát chi phí sản xuất chung Công
ty không phân chi phí sản xuất chung thành biến phí và định phí nên sự biến động của khoản mục chi phí này chưa được đánh giá và có sự điều chỉnh hiệu quả Công
ty chưa đi vào đánh giá, so sánh, phân tích chi phí sản xuất chung thực tế phát sinh với dự toán nên không phát hiện được các nhân tố ảnh hưởng làm tăng chi phí này
và có biện pháp kiểm soát thích hợp
Bên cạnh đó, Công ty còn sử dụng các định mức chi phí để quản lý chi phí sản xuất Hàng tháng sau khi nhận được đơn đặt hàng của khách hàng hoặc thiết kế của phòng thiết kế, phòng kế hoạch lập kế hoạch giá thành đối với loạt sản phẩm định đưa vào sản xuất, đồng thời tiến hành lập định mức NVL và đơn giá tiền lương rồi chuyển toàn bộ số liệu sang phòng Kế toán – tài chính và các phòng ban liên quan để tiến hành công việc sản xuất Phòng Kế toán – tài chính sử dụng số liệu do phòng Kế hoạch vật tư cung cấp ngoài việc lập các Báo cáo tài chính theo quy định còn lập thêm báo cáo quản trị trong đó có báo cáo về Chi phí nộp cho Tổng Giám đốc phê duyệt Các báo cáo này cung cấp thông tin chi phí theo khoản mục, phân tích chênh lệch giữa chi phí thực tế và chi phí định mức để đánh giá trách nhiệm, ngoài ra còn đảm bảo yêu cầu cung cấp thông tin nhanh trong kỳ
Tổng Giám đốc Công ty sẽ dựa vào các thống kê kế toán, báo cáo chi phí, báo cáo nhân sự và tiền lương do các bộ phận kế toán, quản trị và thống kê cung cấp, đồng thời kết hợp với những yếu tố khách quan để tiến hành phân loại, tổng hợp, phân tích và đánh giá các khoản chi phí của Công ty, so sánh kết quả phân loại
Trang 14của kỳ này với kỳ trước của Công ty mình với các Công ty cùng ngành, lĩnh vực sản xuất, so sánh với các chuẩn mực của ngành Bằng các chỉ tiêu và sự nhạy bén mà bộ phận quản lý chi phí có thể chỉ ra những mặt mạnh cũng như những thiếu sót của Công ty trong kỳ Bên cạnh đó, Tổng Giám đốc hoạch định chiến lược chi tiêu ngắn
và dài hạn của Công ty dựa trên sự đánh giá tổng quát cũng như từng khía cạnh cụ thể các yếu tố chi phí có ảnh hưởng quan trọng tới sự tồn tại của Công ty, bao gồm: Tham gia vào thị trường tiền tệ, thị trường vốn, thị trường chứng khoán, xác định chiến lược kiểm soát chi phí nhưng vẫn đảm bảo tiến độ sản xuất kinh doanh Khi xét thấy có vấn đề sẽ tìm biện pháp điều chỉnh Điều chỉnh thông qua:
+ Xây dựng định mức chi phí khoa học
+ Quy định cụ thể việc phân loại chi phí
+ Hoàn thiện các kỹ thuật tính giá thành ước tính và đánh giá SPDD
+ Xây dựng các giải pháp xử lý chênh lệch
Việc xác định rõ vai trò, mục tiêu, nội dung và phương pháp việc phân tích tình hình sử dụng chi phí sản xuất và thực hiện kế hoạch giảm giá thành sản phẩm
sẽ đáp ứng thông tin hữu ích cho các đối tượng sử dụng khác nhau đặc biệt là cho các nhà quản trị doanh nghiệp để hoạch định, kiểm soát quá trình sản xuất nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh Việc gắn kết các chương trình cắt giảm chi phí với hoạt động quản lý chi phí cũng rất quan trọng Những lợi thế có được từ hoạt động cắt giảm chi phí chỉ bền vững nếu sau đó thực hiện một kế hoạch quản lý chi phí hiệu quả Và cuối cùng, nếu quản lý chi phí hiệu quả, sẽ giảm thiểu được sự cần thiết phải liên tục đưa ra các kế hoạch cải thiện hoạt động kinh doanh trên quy
mô lớn của Công ty
Trang 15CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN GIẦY THĂNG LONG
2.1 Kế toán chi phí sản xuất tại Công ty Cổ Phần Giầy Thăng Long
Công ty Cổ Phần Giầy Thăng Long có chu kỳ sản xuất ngắn, vốn lưu động quay vòng nhanh, sản xuất chủ yếu theo đơn đặt hàng hoặc theo thiết kế của Công
ty nên cơ cấu chi phí sản xuất để sản xuất chế tạo sản phẩm tại Công ty tương đối
ổn định, ít có biến động lớn Căn cứ vào tình hình thực tế tại Công ty, căn cứ vào tình hình hạch toán và chế độ hiện hành, để phục vụ công tác tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty được thuận lợi, chi phí sản xuất được phân loại thành các khoản mục chi phí Đây là cách phân loại có nhiều ưu điểm thích hợp với một Công ty sản xuất Bởi chi phí sản xuất cấu thành lên giá thành sản phẩm nên việc phân loại chi phí theo khoản mục chi phí sẽ giúp Công ty dễ dàng theo dõi những ảnh hưởng từng khoản mục đến giá thành sản phẩm từ đó tạo thuận lợi cho công tác tiết kiệm chi phí nhằm hạ thấp giá thành sản phẩm Các khoản mục chi phí bao gồm:
Bước 2: Tập hợp và phân bổ CP SXC cho từng đối tượng tính giá
Bước 3: Tập hợp chi phí và xác định giá trị SPDD cuối kì
Bước 4: Tính tổng giá thành và giá thành đơn vị sản phẩm
Trang 162.1.1 Kế toán chi phí nguyên vật liêu trực tiếp
2.1.1.1 Nội dung
NVLTT dùng cho sản xuất của Công ty chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi phí sản xuất, có đặc điểm rất phong phú về chủng loại, mỗi chủng loại lại có tính năng, tác dụng khác nhau
CP NVLTT bao gồm toàn bộ CP NVL chính và NVL phụ dùng cho sản xuất trong kỳ được tập hợp theo từng phân xưởng, theo dõi chi tiết cho từng mã sản phẩm và được hạch toán trực tiếp cho đối tượng sử dụng theo giá thực tế của từng loại vật liệu xuất dùng
+ CP nhiên liệu gồm: Than để chạy lò hơi, xăng để chạy máy…
NVLTT của Công ty hầu như là mua ngoài như mút nhập của Công ty Vạn Thành; chỉ may nhập của Công ty Phong Phú; vải nhập của Công ty Lợi Thành, Tân Lập, Khúc Tân; bột nhẹ nhập của Công ty Chí Tường; thùng catton nhập của Công
ty văn hóa phẩm Hà Nội; dây giầy nhập của Công ty Tiến Đạt; túi nilon nhập của Công ty Việt Hoa; odê nhập của Công ty Tây Hồ…Đồng thời Công ty cũng nhập khẩu một số loại NVL từ nước ngoài (Trung Quốc…) để sản xuất các loại giầy chất lượng cao phục vụ nhu cầu thị trường
CP NVLTT chiếm một tỉ lệ khá lớn trong tổng CPSX nên chỉ cần một sự biến động nhỏ về CP NVL cũng làm thay đổi GTSP
Như đã nói ở trên, đối với CP NVL, Công ty tập hợp theo phân xưởng nhưng để phục vụ công tác tính giá thành thuận lợi hơn thì CP NVL được tiếp tục tập hợp theo từng mã sản phẩm bởi vì từng chi tiết của sản phẩm lại đòi hỏi một thứ NVL khác nhau nên có khi một thứ vật tư lại cung cấp cho nhiều phân xưởng khác
Trang 17nhau Chính vì vậy CP NVLTT được tập hợp theo từng mã sản phẩm, từng chi tiết của sản phẩm theo phương pháp trực tiếp.
Trang 18Ngoài ra để thuận lợi cho công tác kế toán Công ty còn sử dụng bảng Tổng hợp chi phí vật tư theo mã sản phẩm (Biểu 2.3)
Biểu 2.1 CÔNG TY CỔ PHẦN GIẦY THĂNG LONG
Phòng Kế hoạch – vật tư
BẢNG CẤP VẬT TƯ CHO SẢN XUẤT
Mã giầy: KK2009 – 1Phân xưởng cắt 1
Trang 19Ngày 30 tháng 03 năm 2006 của Bộ
- Họ tên người nhận hàng: C.Anh Địa chỉ (bộ phận): Phân xưởng cắt 1
- Lý do xuất: Sản xuất mã giầy KK2009 – 1
- Xuất tại kho (ngăn lô): C.Ngọc Địa điểm:
ĐVT: VNĐ
Tên, nhãn hiệu, quy
cách vật tư, sản
Số lượngYêu
cầu
Thực xuất
Trang 232.1.1.3 Quy trình ghi sổ kế toán
Hàng tháng, phòng Kế hoạch vật tư lập kế hoạch sản xuất trong đó có kế hoạch vật tư xuất dùng cho sản xuất Căn cứ vào kế hoạch sản xuất, nhu cầu thực tế cũng như các đơn đặt hàng, phòng Kế hoạch vật tư sẽ lập định mức cho sản xuất sau đó gửi sang cho phòng kế toán “Bảng cấp vật tư cho sản xuất” (biểu 2.1) đối với từng mã giầy, từng phân xưởng gửi kèm với PXK theo mẫu (biểu 2.2) bao gồm số lượng vật tư cấp theo định mức Các phân xưởng sản xuất theo kế hoạch nhận NVL
từ kho để phục vụ sản xuất thông qua PXK vật tư
Do việc xuất NVL theo định mức nên khi sản xuất nếu thiếu thì nhân viên quản lý phân xưởng sẽ có giải trình gửi phòng kế hoạch vật tư xin cấp thêm, đến khi hoàn thành sản xuất kế toán sẽ tiến hành kiểm kê lại, nếu thừa thì sẽ nhập trả lại kho
Kế toán vật tư khi nhận được “Bảng cấp vật tư cho sản xuất” và “PXK” sẽ chấm định mức cho từng loại vật liệu, sau đó xuống kho, giao cho thủ kho PXK Thủ kho căn cứ vào số lượng NVL xuất và số lượng NVL trong kho thủ kho sẽ tiến hành lập thẻ kho theo tình hình biến động tăng giảm của vật liệu tiến hành xuất vật
tư theo định mức, ký xác nhận cho kế toán Khi đã đầy đủ thông tin, kế toán nhập số liệu trên chứng từ vào máy
Công ty áp dụng phương pháp bình quân gia quyền để tính giá NVL xuất kho, điều này được khai báo khi cài đặt phần mềm kế toán Do vậy, phần mềm sẽ tự động tính ra mức giá xuất kho cho từng NVL, đồng thời tự động chuyển số liệu kế toán chi tiết và số liệu kế toán tổng hợp CP NVLTT
Kế toán chi tiết CP NVLTT số liệu đươc chuyển tới Bảng tổng hợp chi phí vật tư theo mã sản phẩm (Biểu 2.3), Bảng phân bổ NVL, CCDC (Biểu 2.4), các Sổ chi tiết TK 621 cho từng mã giầy (Biểu 2.5)
Kế toán tổng hợp CP NVLTT số liệu được chuyển tới Bảng kê số 4 theo dõi cho TK 621 (Biểu 2.6), sổ cái TK 621 (Biểu 2.7)
Trang 24Biểu 2.5
CÔNG TY CỔ PHẦN GIẦY THĂNG LONG
SỔ CHI TIẾT TÀI KHOẢN
Tài khoản 6211- Chi phí NVL nội địa trực tiếp (trích)
Số dư cuối kỳ: 0 Ngày 31 tháng 12 năm 2015
Kế toán trưởng Người ghi sổ
Biểu 2.6
Trang 25CÔNG TY CỔ PHẦN GIẦY THĂNG LONG
Trang 26Biểu 2.7
CÔNG TY CỔ PHẦN GIẦY
THĂNG LONG
Mẫu S05-DN (Ban hành theo QĐ số
15/2006/QĐ-BTC Ngày 20/03/2006 của Bộ
Trang 272.1.2 Kế toán chi phí nhân công trực tiếp
2.1.2.1 Nội dung
CP NCTT cũng là một yếu tố quan trọng trong tổng giá thành sản phẩm Vì vậy một trong những biện pháp góp phần làm hạ giá thành là đảm bảo công tác kế toán tiền lương công nhân trực tiếp sản xuất thật tốt
Trong Công ty Cổ Phần Giầy Thăng Long CP NCTT là chi phí mà Công ty trả cho công nhân trực tiếp sản xuất bao gồm: Chi phí tiền lương chính, các khoản phụ cấp phải trả cho công nhân trực tiếp sản xuất không phân biệt công nhân đó sản xuất sản phẩm để tiêu thụ nội địa hay gia công cho nước ngoài Ngoài ra còn có các khoản trích theo lương của công nhân trực tiếp sản xuất như: BHXH, BHYT, KPCĐ
Kế toán tiền lương sẽ đảm nhận việc tính toán tiền lương, tiền thưởng, các khoản phụ cấp và các khoản trích theo lương, sau đó thực hiện phân bổ và trích CP NCTT phục vụ công tác kế toán CPSX và tính giá thành sản phẩm Do vậy, việc kế toán chi phí nhân công được làm bằng tay, thực hiện tính toán trên phần mềm Excel
Hiện nay Công ty áp dụng hai hình thức trả lương: Đối với công nhân sản xuất thì tiền lương tính theo hình thức lương sản phẩm, còn đối với khối quản lý phục vụ là hình thức lương thời gian
Cụ thể cách tính tiền lương của công nhân sản xuất trực tiếp (lương sản phẩm):
Đơn giá tiền
lương
= Cấp bậc CN x Hệ số lương x 650.000
Ngày công theo chế độ
Số ngày công theo chế độ: 26 ngày
Số ngày công thực tế: Thời gian thực tế của công nhân (1công là 8 tiếng) Đơn giá tiền lương theo cấp bậc công nhân:
Trang 28Đối với các khoản phụ cấp, Công ty có các khoản phụ cấp chức vụ, phụ cấp
từ các khoản lương
Để có thể tính được CP NCTT, kế toán phải tính cộng cả các khoản phụ cấp rồi trừ đi các khoản giảm trừ Tất cả các công việc này được thực hiện đồng thời với việc tính lương phải trả cho các bộ phận khác trong Công ty
Kế toán CP NCTT tại Công ty được tổ chức khoa học và chặt chẽ Tất cả các chứng từ liên quan đến tiền lương tại các phân xưởng như Bảng chấm công, Bảng chấm công làm thêm giờ…sẽ được thống kê phân xưởng tập hợp chuyển lên cho kế toán tiền lương để thực hiện tiếp các công việc liên quan đến kế toán CP NCTT, phục vụ công tác kế toàn chi phí giá thành sản phẩm
2.1.2.2 Tài khoản và chứng từ sử dụng
* Tài khoản:
Công ty sử dụng TK 622 “Chi phí nhân công trực tiếp” để kế toán chi tiết chi phí nhân công trực tiếp Tài khoản này được chi tiết thành các tài khoản cấp 2 theo từng phân xưởng của Công ty
TK 622 – PX cắt 1 “Chi phí nhân công trực tiếp phân xưởng cắt 1”
Trang 29TK 622 – PX cắt 2 “Chi phí nhân công trực tiếp phân xưởng cắt 2”
Trang 30
Biểu 2.8
CÔNG TY CỔ PHẦN GIẦY THĂNG LONG
BẢNG PHÂN BỔ TIỀN LƯƠNG VÀ BẢO HIỂM XÃ HỘI
Trang 31Biểu 2.9
CÔNG TY CỔ PHẦN GIẦY THĂNG LONG
BẢNG TỔNG HỢP TIỀN LƯƠNG THEO MÃ SẢN PHẨM (Trích)
7.085.610
4.671.890
6.168.520
5.061.270
5.392.360 KK2009-
2
5.217.800
3.252.650
8.744.210
3.564.250
4.687.350
6.120.000
3.654.000
1
174.430.88
0
119.516.81
5
157.775.770
564.342.16
5
411.522.42
8
2.1.2.3 Quy trình ghi sổ kế toán
Trình tự kế toán chi tiết được khái quát qua sơ đồ sau:
Trang 32Sơ đồ 2.1 Trình tự kế toán chi phí nhân công trực tiếp
CP NCTT được tập hợp chung cho toàn phân xưởng trên cơ sở xác định tổng CP NCTT từng phân xưởng sau đó tiến hành phân bổ cho từng mã sản phẩm
Nhân viên thống kê tại từng phân xưởng sẽ tiến hành theo dõi và tập hợp các chứng từ liên quan đến tiền lương tại phân xưởng Cuối tháng căn cứ vào khối lượng chi tiết sản phẩm hoàn thành đạt tiêu chuẩn, các tổ trưởng, tổ đội, phân xưởng phản ánh kết quả lao động của từng công nhân sản xuất vào “Bảng chấm công”, “Bảng chấm công làm thêm giờ”, “Báo cáo giải trình lương sản phẩm” rồi gửi lên kế toán tiền lương Kế toán tiền lương căn cứ vào khối lượng chi tiết sản phẩm ở từng công đoạn và thời gian để sản xuất một lượt sản phẩm hoàn thành, năng suất lao động thực tế trong đó quy đổi khối lượng công việc theo cấp bậc công nhân để tính đơn giá lương sản phẩm Sau khi tính toán và vào danh sách chi tiết cho từng phân xưởng kế toán tiền lương kiểm tra tính hợp lý các báo cáo do phân xưởng gửi lên hàng tháng, tiến hành nhân với đơn giá từng sản phẩm để tính lương sản phẩm trên “Bảng thanh toán tiền lương” đối chiếu với xác nhận lương của phân xưởng, sau đó tổng hợp vào “Bảng tổng hợp đơn giá tiền lương cho các mã giầy” (Biểu 2.9) và lập “Bảng phân bổ tiền lương và BHXH” (Biểu 2.8) Số liệu trên 2 bảng này được nhập vào máy làm cơ sở để kế toán chi phí giá thành ghi sổ chi tiết
TK 622 theo dõi cho từng phân xưởng (Biểu 2.10)
- Bảng chấm công
- Bảng chấm công
làm thêm giờ
Bảng lương sản phẩm
- Bảng tổng hợp tiền lương theo mã giầy
- Bảng thanh toán tiền lương
Kế toán chi phí và
tính giá thành Bảng phân bổ tiền lương và BHXH
Trang 33Kế toàn chi phí giá thành tiến hành lập Bảng kê số 4 của tài khoản 622 (Biểu 2.11), ghi vào NKCT số 7 và sổ cái TK 622 (Biểu 2.12).
Biểu 2.10
CÔNG TY CỔ PHẦN GIẦY THĂNG LONG
SỔ CHI TIẾT TÀI KHOẢN
Tài khoản 622 – Chi phí NC trực tiếp (trích)
Số dư cuối kỳ: 0 Ngày 31 tháng 12 năm 2015
Kế toán trưởng Người ghi sổ
(Ký, họ tên) (Ký, họ tên)
Trang 34Biểu 2.11
CÔNG TY CỔ PHẦN GIẦY THĂNG LONG
BẢNG KÊ SỐ 4-TK622 (trích)
Từ ngày 01/12 đến 31/12/2015Stt TK ghi Có
Trang 35Biểu 2.12
CÔNG TY CỔ PHẦN GIẦY
THĂNG LONG
Mẫu S05-DN (Ban hành theo QĐ số
15/2006/QĐ-BTC Ngày 20/03/2006 của Bộ
2.1.4 Kế toán chi phí sản xuất chung
2.1.4.1 Nội dung
Chi phí sản xuất chung cũng chiếm một phần đáng kể trong giá thành sản
Trang 36phân xưởng, CP NVL xuất dùng cho phân xưởng, CP CCDC, chi phí dịch vụ mua, chi phí khấu hao TSCĐ, chi phí dịch vụ mua ngoài và các chi phí bằng tiền khác Trong đó:
CP NVL xuất dùng cho phân xưởng bao gồm các chi phí nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu xuất dùng để bảo trì sửa chữa máy móc
CP CCDC gồm các chi phí như quần áo bảo hộ lao động, các công cụ khác, các đồ dùng liên quan đến công tác quản lý
Chi phí lương bộ phận quản lý phân xưởng là các khoản lương và các khoản trích theo lương cho quản đốc phân xưởng, nhân viên thống kê và bộ phận vệ sinh trong phân xưởng và các nhân viên quản lý khác
Chi phí khấu hao TSCĐ: Máy móc, thiết bị phân xưởng được trích khấu hao theo phương pháp đường thẳng
Chi phí dịch vụ mua ngoài bao gồm các khoản chi phí điện nước, điện thoại dùng cho phân xưởng, các khoản chi phí khác như chi thuê ngoài sửa chữa tài sản
Chi phí bằng tiền khác như tiền ăn ca ba, chi phí bồi dưỡng độc hại
Ngoài ra, còn có các chi phí khác như chi y tế, chi phí vệ sinh tạp vụ cũng được tính vào CP SXC
Do CP SXC không thể tập hợp được cho từng đối tượng gánh chịu chi phí nên kế toán sẽ phải tập hợp CP SXC theo từng nội dung cụ thể tại từng phân xưởng
để cuối kỳ sẽ tiến hành phân bổ theo tiêu thức qui định của Công ty
Do đặc điểm và nội dung của CP SXC nên khi thực hiện kế toán CP SXC
có nhiều điểm giống với kế toán CP NCTT và kế toán CP NVLTT như: Kế toán chi phí nhân viên phân xưởng, kế toán CP NVL, CCDC sản xuất…
Trang 37+ TK 6274 “CP khấu hao TSCĐ”
+ TK 6277 “CP dịch vụ mua ngoài”
+ TK 6278 “CP khác bằng tiền”
……
2.1.4.3 Quy trình ghi sổ kế toán
Hàng tháng, các kế toán phần hành khác: Kế toán tiền lương, kế toán NVL,
kế toán TSCĐ, kế toán tiền mặt… tổng hợp toàn bộ hóa đơn, bảng biểu, số liệu phát sinh liên quan đến CP SXC theo từng nội dung và nhập vào máy, làm cơ sở để kế toán chi phí giá thành tập hợp và phân bổ CP SXC
Trình tự kế toán chi phí sản xuất chung:
* CP NVL, CCDC xuất dùng cho phân xưởngVật liệu, CCDC xuất dùng phục vụ cho sản xuất được theo dõi thông qua các chứng từ: Phiếu nhập kho, phiếu xuất kho (Biểu2.13), bảng phân bổ NVL, CCDC (Biểu 2.4)
Chi phí vật liệu, CCDC phục vụ cho quản lý phân xưởng sẽ được kế toán NVL hạch toán tương tự như đối với CP NVLTT Số liệu được nhập vào máy tự động lên “Bảng phân bổ NVL, CCDC” từng tháng, sau đó chuyển sang sổ chi tiết
TK 627 (Biểu 2.16), vào bảng kê số 4 theo dõi cho TK 627 (Biểu 2.17) và sổ cái TK
trưởng BTC