Nhiều vấn đề về nữ quyền được đặt ra như quan niệm về vai trò, vị trí của người phụ nữ trong cuộc sống cũng như trong văn chương; những đặc trưng của bản thể nữ; nhu cầu và quyền lợi của
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Mã số : 62 22 01 21
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS LƯU KHÁNH THƠ
Hà Nội - 2016
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS LƯU KHÁNH THƠ
Hà Nội - 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu trong luận án là trung thực Những kết luận khoa học của luận án chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Nếu vi phạm tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Nguyễn Thị Hưởng
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ……… 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI VÀ GIỚI THUYẾT VỀ NỮ QUYỀN, Ý THỨC NỮ QUYỀN … 8 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài ……… 8
1.2 Giới thuyết nữ quyền và ý thức nữ quyền……… 28
Chương 2: Ý THỨC NỮ QUYỀN TRONG THƠ NỮ VIỆT NAM TRƯỚC 1986 ……… 42
2.1 Ý thức nữ quyền trong thơ nữ cổ điển ……… 42
2.2 Ý thức nữ quyền trong thơ nữ đầu thế kỷ XX ……… 54
2.3 Ý thức nữ quyền trong thơ nữ giai đoạn từ 1945 đến 1975 …… 61
2.4 Ý thức nữ quyền trong thơ nữ từ 1975 đến 1985 ……… 66
Chương 3: CÁC CẤP ĐỘ THỂ HIỆN Ý THỨC NỮ QUYỀN TRONG THƠ NỮ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN TỪ 1986 ĐẾN NAY ……… 71
3.1 Hành trình xác lập bản thể nữ ……… 72
3.2 Thiết tạo quan niệm mới về người phụ nữ ……… 102
3.3 Bi kịch của sự nhận thức và ý thức phản tỉnh ……… 107
Chương 4: MỘT SỐ PHƯƠNG THỨC NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN Ý THỨC NỮ QUYỀN TRONG THƠ NỮ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN TỪ 1986 ĐẾN NAY ……… 120
4.1 Biểu tượng thơ gắn với người phụ nữ ……… 120
4.2 Giọng điệu ……… 130
4.3 Ngôn ngữ ……… 140
KẾT LUẬN ……… 146
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ … 151
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ……… 152
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
1.1 Trong bối cảnh của thời đại mới, văn học nói chung, thơ nói riêng đã có
những chuyển biến mạnh mẽ, trong đó, không thể không nhắc tới sự xuất hiện và khẳng định tiếng nói của đội ngũ tác giả nữ trẻ Điều kiện giao lưu và hội nhập quốc tế, đời sống xã hội, tư tưởng, văn hóa khá cởi mở đã giúp cho họ được thể hiện bản ngã, cá tính sáng tạo độc đáo của mình Điều này khiến cho ý thức nữ quyền xuất hiện trong văn học mạnh mẽ hơn bao giờ hết Nhiều vấn đề về nữ quyền được đặt ra như quan niệm về vai trò, vị trí của người phụ nữ trong cuộc sống cũng như trong văn chương; những đặc trưng của bản thể nữ; nhu cầu và quyền lợi của người phụ nữ…thậm chí tất cả những cảm xúc đời thường, thầm kín nhất như khát vọng về tình yêu, nhu cầu giải phóng bản năng, khát vọng làm mẹ, ngay cả bi kịch của nhận thức như mất niềm tin, cảm thức về nỗi buồn và sự cô đơn…, cũng được thể hiện một cách chân xác trong sáng tác của các cây bút nữ Trên ý nghĩa như vậy, việc tìm hiểu, nghiên cứu ý thức nữ quyền trong thơ trẻ đương đại, giai đoạn
từ năm 1986 đến nay là việc làm cần thiết, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn
1.2 Trong sáng tạo nghệ thuật nói chung và thơ ca nói riêng, thế hệ các nhà
thơ nữ trẻ giai đoạn từ 1986 đến nay đã mang đến cho đời sống văn học một tiếng nói mới mẻ, đầy đam mê và nhiệt huyết Họ dám sống và sống hết mình cho nghệ thuật Họ khao khát được giải phóng nội tâm, khao khát được thể hiện những suy nghĩ bản ngã hết sức riêng tư, khao khát muốn được nói ra tất cả những gì họ suy nghĩ mà trước đây có thể vì những lí do khách quan và chủ quan mà cha anh của họ
đã không nhắc đến, hoặc có nhắc tới cũng chưa đầy đủ, thấu triệt Họ chính là nguồn sinh lực dồi dào báo hiệu một tiềm năng mạnh mẽ, đầy sáng tạo cho thơ ca nước nhà Họ sẽ là những người đưa thơ ca Việt lên một tầm cao mới, một phẩm chất mới, diện mạo mới Trong số những sáng tác thu hút sự quan tâm của dư luận hiện nay chắc chắn chúng ta phải nhắc tới những tên tuổi như Dư Thị Hoàn, Đinh Thị Như Thúy, Tuyết Nga, Phạm Thị Ngọc Liên, Phan Thị Vàng Anh, Dạ Thảo
Trang 7Phương, Phan Huyền Thư, Ly Hoàng Ly, Lê Ngân Hằng, Bình Nguyên Trang, Lê Thị Mỹ Ý, Vi Thùy Linh, Lê Vi Thủy, Lê Viết Hoàng Mai, Nhật Lệ, Khương Hà, Thanh Xuân, Nguyệt Phạm, Trương Quế Chi… Trong sáng tác của họ, chúng tôi nhận thấy vấn đề ý thức nữ quyền được đề cập tới một cách khá trực diện, với muôn sắc điệu Nghiên cứu về ý thức nữ quyền trong thơ của họ, chúng tôi cũng muốn hướng đến việc khẳng định tài năng, vị trí, bản lĩnh và phong cách thơ của các tác giả nữ giai đoạn từ 1986 đến nay, góp phần vào việc khái quát diện mạo thơ đương đại nói chung
1.3 Số lượng những bài viết, bài nghiên cứu về thơ trẻ và ý thức nữ quyền
trong thơ trẻ nói chung khá phong phú Tuy nhiên, hầu hết các công trình nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở một vài khía cạnh nội dung, nghệ thuật và cũng mới chỉ đề cập đến một, hai hiện tượng đơn lẻ Trong số các công trình này, cũng có ý kiến khen, thậm chí khen hết lời; lại cũng có những ý kiến phê, thậm chí phê hết lời Ở
đó, không ngoại trừ những ý kiến còn khá chủ quan, thiên về cảm tính và với các góc nhìn, quan điểm đánh giá khác nhau, đôi khi lại chưa thâm nhập được vào thế giới nghệ thuật thơ nữ trẻ đương đại Vì vậy, việc khảo sát trên diện rộng về ý thức
nữ quyền và việc thể hiện ý thức nữ quyền trong thơ nữ giai đoạn từ 1986 đến nay (qua một số trường hợp tiêu biểu) sẽ giúp chúng tôi có được một cách nhìn, một phương diện đánh giá khách quan hơn, chân xác hơn về những đóng góp của họ cho văn học dân tộc Đồng thời qua đề tài nghiên cứu, chúng tôi cũng hướng tới việc khơi gợi những bài học, kinh nghiệm nghệ thuật khi đi tìm một con đường hội nhập trong thơ trẻ Việt Nam với thế giới
Đó là lí do mà chúng tôi đã lựa chọn vấn đề “Ý thức nữ quyền trong thơ nữ
Việt Nam giai đoạn từ 1986 đến nay (qua một số trường hợp tiêu biểu)” làm đề tài
nghiên cứu của luận án
2 Mục đích và nghiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1 Mục đích nghiên cứu
Thực hiện đề tài nghiên cứu này, chúng tôi hướng đến việc làm rõ thêm những vấn đề lý thuyết về nữ quyền, việc tiếp nhận ý thức nữ quyền phương Tây
Trang 8vào thực tiễn nghiên cứu đời sống văn học Việt Nam; việc các tác giả Việt Nam (trong trường hợp này là thơ nữ giai đoạn từ 1986 đến nay) tiếp nhận và thể hiện ý thức nữ quyền ra sao trong sáng tạo nghệ thuật trên cả hai phương diện nội dung và nghệ thuật, từ đó hướng đến sự hình dung trên những nét tiêu biểu và đặc trưng nhất của một hệ hình thơ ca nữ Việt Nam giai đoạn hiện nay
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài đặt ra các nhiệm vụ nghiên cứu sau đây:
- Giới thiệu tổng quan về vấn đề nữ quyền, nữ quyền luận của phương Tây
và sự du nhập lí thuyết nữ quyền luận vào văn học Việt Nam đương đại;
- Khái lược về nữ quyền và sự thể hiện ý thức nữ quyền trong văn xuôi và trong thơ Việt Nam;
- Sự thể hiện ý thức nữ quyền trong thơ nữ Việt Nam giai đoạn trước 1986;
- Các cấp độ thể hiện ý thức nữ quyền trong thơ nữ Việt Nam giai đoạn từ
1986 đến nay;
- Một số phương thức nghệ thuật thể hiện ý thức nữ quyền trong thơ nữ Việt Nam giai đoạn từ 1986 đến nay
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1 Đối tượng nghiên cứu là ý thức nữ quyền trong thơ của đội ngũ các tác giả
nữ tiêu biểu sau đây: (1) Dư Thị Hoàn (1946), (2) Phạm Thị Ngọc Liên (1952), (3) Tuyết Nga (1960), (4) Đinh Thị Như Thúy (1965), (5) Lê Ngân Hằng (1971), (6) Phan Huyền Thư (1972), (7) Ly Hoàng Ly (1975), (8) Bình Nguyên Trang (1977), (9) Vi Thùy Linh (1980) và (10) Trương Quế Chi (1987)
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ đề tài của luận án, trên cơ sở giới thuyết về thơ nữ Việt Nam giai đoạn từ 1986 đến nay, xét ở mặt bằng chung, có thể khẳng định về sự hình thành của một lực lượng, đội ngũ tác giả nữ trong văn học Việt Nam Chúng tôi lựa chọn phạm vi nghiên cứu của luận án là thơ của 10 tác giả nữ tiêu biểu sau
đây Cụ thể: (1) Dƣ Thị Hoàn (1946) với tập thơ Lối nhỏ (Hội Văn học nghệ thuật Hải Phòng, 1988); (2) Phạm Thị Ngọc Liên (1952) với 3 tập thơ: Những vầng trăng chỉ
Trang 9mọc một mình (Nxb Trẻ, 1989), Em muốn giang tay giữa trời mà hét (Nxb Hội Nhà văn,
1992) và Thức đến sáng và mơ (Nxb Văn nghệ, 2004); (3) Tuyết Nga (1960) với 3 tập
thơ: Viết trước tuổi mình (Nxb Hội Nhà văn, 1992), Ảo giác (Nxb Hội Nhà văn, 2002)
và Hạt dẻ thứ tư (Nxb Hà Nội, 2008); (4) Đinh Thị Như Thúy (1965) với 3 tập thơ:
Cùng đi qua mùa hạ (Nxb Văn nghệ, 2005), Phía bên kia cây cầu (Nxb Phụ nữ, 2007) và
Ngày linh hương nở sáng (Nxb Hội Nhà văn, 2011); (5) Lê Ngân Hằng (1971) với 3 tập
thơ: Xe chở mùa (Nxb Hội Nhà văn, 2003), Orient - Trên những vòm cây (Nxb Hội Nhà
văn, 2006) và Harvest - mùa màng đọc lại nỗi đau (Nxb Hội Nhà văn, 2013); (6) Phan
Huyền Thư (1974) với 2 tập thơ: Nằm nghiêng (Nxb Hội Nhà văn, 2002) và Rỗng ngực
(Nxb Văn học, 2005); (7) Ly Hoàng Ly (1975) với 2 tập thơ là Cỏ trắng (Nxb Hội Nhà văn, 1999) và Lô lô (Nxb Hội Nhà văn, 2005); (8) Bình Nguyên Trang (1977) với 2 tập
thơ Chỉ em và chiếc bình pha lê biết (Nxb Hội Nhà văn, 2003) và Những bông hoa đang
thiền (Nxb Hội Nhà văn, 2012); (9) Vi Thùy Linh (1980) với 5 tập thơ: Khát (Nxb Hội
Nhà văn, 1999), Linh (Nxb Thanh niên, 2000), Đồng tử (Nxb Văn nghệ, 2005), Vili in
love (Nxb Văn nghệ, 2008) và Phim đôi - tình tự chậm (Nxb Thanh niên, 2010) và (10)
Trương Quế Chi (1987) với tập thơ Tôi đang lớn (Nxb Trẻ, 2005)
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
4.1 Phương pháp luận nghiên cứu của luận án
Ngoài phương pháp luận chung của nghiên cứu khoa học xã hội nhân văn, thực hiện đề tài nghiên cứu này, chúng tôi xác định việc triển khai trên nguyên tắc phương pháp luận riêng sau đây:
- Đặt văn học nghê thuật trong chỉnh thể kiến trúc thượng tầng để thấy được
mối quan hệ và sự ảnh hưởng qua lại của văn học nghệ thuật với cơ sở hạ tầng (cơ
sở kinh tế) cũng như các yếu tố khác trong hệ thống kết cấu các hình thái ý thức xã hội cùng với các thiết chế chính trị - xã hội tương ứng (chính trị, pháp luật, khoa học, triết học, đạo đức, tôn giáo,…) Cụ thể là đặt văn học mang nội dung ý thức nữ quyền trong mối quan hệ với cơ sở kinh tế cùng với hệ ý thức xã hội cũng như các thiết chế chính trị xã hội tương ứng để thấy được nguyên nhân xuất hiện cũng như
Trang 10quá trình phát triển của văn học mang nội dung ý thức nữ quyền trong nền văn học dân tộc;
- Vận dụng linh hoạt lý thuyết phương Tây, cụ thể là lý thuyết nữ quyền
trong nghiên cứu thực tiễn đời sống văn học Việt Nam Chúng tôi cho rằng, việc áp dụng, vận dụng lý thuyết phương Tây để khám phá văn học dân tộc là cần thiết và
có thể mang lại những kết luận khoa học lí thú và bổ ích Tuy thế, việc vận dụng này cần linh hoạt, tránh cực đoan cứng nhắc;
- Nhìn nhận các cấp độ nội dung cũng như những phương thức nghệ thuật
thể hiện ý thức nữ quyền trong thơ nữ Việt Nam giai đoạn từ 1986 đến nay từ thực tiễn đời sống văn hóa, chính trị - xã hội của dân tộc, trong cái nhìn cũng như những
khuôn khổ chế định của nền văn hóa Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại Cách làm này giúp cho những vấn đề được đặt ra trong quá trình nghiên cứu sẽ trở nên khách quan và trung thực hơn, tránh thiên kiến, định kiến, hoặc ngợi ca hết lời, hoặc phê phán hết lời
4.2 Phương pháp nghiên cứu của luận án
Từ nguyên tắc phương pháp luận trên, để hoàn thành nghiên cứu này, chúng tôi đã sử dụng phối hợp các phương pháp chính sau đây:
- Phương pháp thống kê - phân loại: Thống kê và phân loại các sáng tác của
các tác giả nữ theo từng nội dung được triển khai trong luận án Quá trình thống kê
và phân loại được tham chiếu từ cả hai tiêu chí định lượng (ở những luận điểm, luận cứ thực sự cần thiết) và định tính để việc minh chứng cho các luận điểm có tính thuyết phục hơn
- Phương pháp phân tích tác phẩm văn học: Đây là phương pháp được sử
dụng xuyết suốt luận án nhằm tường giải cũng như bình luận, đánh giá giá trị thơ
nữ từ phương diện thể hiện ý thức nữ quyền trên cả hai phương diện nội dung và nghệ thuật Việc phân tích được căn cứ trên cơ sở tiếp cận hệ thống chỉnh thể đơn
vị tác phẩm, kết hợp với các yếu tố khác như thời đại, trào lưu, khuynh hướng và cá tính sáng tạo
Trang 11- Phương pháp so sánh văn học: Đây là một phương pháp được sử dụng
nhằm so sánh việc thể hiện ý thức nữ quyền ở từng cây bút trong phạm vi khảo sát của luận án khi chúng tôi thấy cần thiết So sánh sẽ giúp cho người nghiên cứu thấy được rõ hơn đặc điểm cá tính sáng tạo của mỗi thi sĩ trong quá trình vận động của thơ trẻ nói chung và thơ nữ giai đoạn từ 1986 đến nay nói riêng
- Phương pháp loại hình học văn học: Loại hình học văn học hướng tới việc
chỉ ra những đặc điểm chung của thơ nữ bao gồm các cấp độ nội dung cũng như một số phương thức nghệ thuật thể hiện ý thức nữ quyền Tuy nhiên, để tránh sơ lược hóa và khiên cưỡng vấn đề, chúng tôi cũng dành sự quan tâm tới cá tính sáng tạo của từng cây bút nữ cũng như chỉ ra những điểm độc đáo ở mỗi người trên bức tranh chung của một lực lượng sáng tác trẻ
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Nhìn nhận, đánh giá việc thể hiện ý
thức nữ quyền của thơ nữ Việt Nam giai đoạn từ 1986 đến nay trong bối cảnh của lịch sử, hội nhập văn hóa quốc tế trong một vài thập niên trở lại đây, cũng như là trong sự phát triển chung của ý thức xã hội, chúng tôi vận dụng kiến thức của Lịch
sử, Văn hóa học, Ngôn ngữ học, Luật học, Tâm lý học, Xã hội học… để tìm hiểu những biểu hiện của ý thức nữ quyền trong các sáng tác của các tác giả thơ nữ từ
1986 đến nay trên cả hai phương diện nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án
5.1 Luận án là công trình khoa học đầu tiên đặt ra và nghiên cứu một cách
hệ thống về nữ quyền trong thơ nữ Việt Nam giai đoạn từ năm 1986 đến nay (qua một số trường hợp tiêu biểu) Trong đó, các vấn đề lý thuyết về giới, về nữ quyền,
về sự thể hiện ý thức nữ quyền trong thơ nữ Việt Nam trước 1986 đã được làm rõ Đặc biệt, các cấp độ nội dung cũng như nghệ thuật của việc thể hiện ý thức nữ quyền trong thơ nữ đương đại, từ năm 1986 đến nay đã được khảo sát, mô tả và tổng kết tương đối đầy đủ
5.2 Công trình đồng thời cũng sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho giới
nghiên cứu, phê bình văn học Việt Nam hiện đại
Trang 126 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
- Đề tài có ý nghĩa lý luận: Khái quát tương đối đầy đủ một số phương diện
quan trọng trong lịch sử cũng như những nội dung quan trọng nhất của lý thuyết Nữ quyền phương Tây và đặc biệt là cách thức vận dụng lý thuyết này vào nghiên cứu thực thể văn học Việt Nam;
- Đề tài cũng có ý nghĩa thực tiễn: Từ cái nhìn ý thức nữ quyền, chúng tôi đã
có những nhận định, đánh giá về các cấp độ nội dung và phương thức nghệ thuật của thơ nữ Việt Nam giai đoạn từ 1986 đến nay (qua một số trường hợp tiêu biểu)
7 Cấu trúc của luận án
Đề tài sẽ được trình bày theo đúng quy định Ngoài phần Mở đầu, Kết luận,
Danh mục công trình nghiên cứu của tác giả có liên quan đến đề tài luận án, Tài liệu tham khảo, nội dung chính được triển khai trên 4 chương:
- Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và giới thuyết nữ quyền, ý thức
- Chương 4: Các phương thức thể hiện ý thức nữ quyền trong thơ nữ Việt
Nam giai đoạn từ 1986 đến nay (25 tr, từ tr.116 -140)
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
VÀ GIỚI THUYẾT VỀ NỮ QUYỀN, Ý THỨC NỮ QUYỀN
1.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Cho đến nay, việc ứng dụng lí thuyết phê bình nữ quyền vào nghiên cứu văn học ở Việt Nam đã được một thời gian nhất định, đó là điểm đáng ghi nhận trong nỗ lực đổi mới lí thuyết lí luận - phê bình để phù hợp với diện mạo của văn học Việt Nam thời kì đổi mới Khảo sát hệ thống tài liệu tham khảo chúng tôi nhận thấy, việc nghiên cứu bộ phận văn học Việt Nam sau 1975 dưới góc nhìn của nữ quyền luận là tương đối phong phú Tuy đã có nhiều ý kiến đề cập đến âm hưởng nữ quyền trong sáng tác của một số tác phẩm ở một vài tác giả nhưng số công trình nghiên cứu dài hơi dường như còn thưa vắng Trước thực tế này, chúng tôi cố gắng chọn lọc và điểm lại những ý kiến được xem là xác đáng, cụ thể nhất và có tính gợi mở cho đề tài với
hai nhóm ý kiến sau: (1) Nhóm ý kiến bàn về ý thức nữ quyền trong văn học Việt Nam
và (2) Nhóm ý kiến bàn về ý thức nữ quyền trong thơ nữ Việt Nam đương đại
1.1.1 Tình hình nghiên cứu ý thức nữ quyền trong văn học Việt Nam
Nhìn một cách tổng quan, việc nghiên cứu ý thức nữ quyền trong văn học Việt Nam chỉ thực sự được tiến hành từ những thập niên đầu thế kỉ XX đến nay Xu hướng nghiên cứu này cũng có những bước phát triển thăng trầm theo ý thức xã hội cũng như thực tế phát triển của văn học nước nhà Đối tượng nghiên cứu chủ yếu xoay quanh hai thể loại nổi bật của nền văn học là thơ và văn xuôi Cụ thể như sau:
1.1.1.1 Từ đầu thế kỉ XX đến trước năm 1945
Đây là giai đoạn có tính chất tiên phong trong việc nghiên cứu văn học nữ cũng như ý thức nữ quyền trong văn học Việt Nam Có thể kể đến công trình, bài viết của các tác giả như Phan Khôi, Manh Manh nữ sĩ (Nguyễn Thị Kiêm), Vân Hương nữ sĩ, Nguyễn Thị Hồng Đăng, Lệ Hương, Lê Thị Huỳnh Lan, Đạm Phương
nữ sĩ, Phan Thị Bạch Vân
Trang 14Phan Khôi được coi là người có đóng góp nổi bật trong việc đề cập đến dòng văn học “nữ lưu” và mối quan hệ giữa phái đẹp với văn chương qua hàng loạt bài viết
đăng trên tờ Phụ nữ tân văn như: “Về văn học của phụ nữ Việt Nam” [85], “Văn học
với nữ tánh” [86], “Lại nói về vấn đề văn học với nữ tánh” [87]… Trong bài viết
“Văn học và nữ tánh”, ông viết: “Chúng ta có những cái tánh trầm tĩnh, nhẫn nại,
dùng những cái tánh ấy mà nghiên cứu văn học, thì không có gì hạp cho bằng, có lẽ chúng ta theo nghề văn học còn dễ dàng hơn đờn ông nữa Còn có một điều thích hiệp nữa, là văn học chuyên trọng về đường tình cảm, mà chúng ta là giống có tình cảm nhiều hơn đàn ông, thì thật là tiện lợi cho chúng ta biết mấy” [87] Ở đây Phan Khôi đã đồng nhất phụ nữ với văn chương, bởi vì phụ nữ vốn là cái đẹp mà văn chương hướng tới Mặt khác, học giả Phan Khôi cho rằng, với bản chất nhu mì, nhạy cảm, phụ nữ rất có tiềm năng trong sáng tác văn chương Ý kiến này xuất phát từ cách nhìn nhận cảm tính của “tâm lí học sáng tạo văn học” mặc dù tại thời điểm đó, lí thuyết về phê bình nữ quyền ở ta vẫn chưa được xác lập
Nguyễn Thị Kiêm (với bút danh Manh Manh nữ sĩ) cũng bày tỏ quan điểm
của mình khi nhìn nhận về văn học nữ qua bài viết “Nữ lưu và văn học” đăng trên
Phụ nữ tân văn, số 131, ngày 26/5/1932 Trong bài viết, bà cho rằng: “… cái địa vị
của đàn bà ở trong văn học cũng không phải là thấp thỏi gì, theo như nhiều người
đã tưởng Và cái ảnh hưởng của đàn bà đối với những bậc văn nhân tao sĩ cũng rất
là nặng nề thâm thiết, nhờ đó mà văn học phát đạt vô cùng” [88] Nhận định này của nữ sĩ có phần gặp gỡ với quan điểm của Phan Khôi Điều đáng nói hơn, nhận định này xuất phát từ ý thức của một phụ nữ, dùng tiếng nói của phụ nữ để khẳng định vị thế của giới mình trong việc phát triển văn học nước nhà Không dừng lại ở
đó, bà còn cho rằng: “Những của cải tích trữ ở trong cái kho tàng đó, nếu có thể phân phát ra bằng ngọn bút đường văn, thì cái văn ấy là cái hình ảnh của nỗi lòng, khi thường, khi biến, lúc an, lúc nguy, tùy theo với sự kích thích của ngoại cảnh mà thăng trầm, mà theo với cái ca điệu của thiên nhiên mà họa vận” [88] Đây chính là nét khác biệt của văn học mà ý thức giới quy định đã được nữ sĩ chỉ ra một cách cụ thể
Trang 15Tuy nhiên, do xuất hiện trong bối cảnh sôi động của văn học đương thời như phong trào Thơ mới, tiểu thuyết Tự lực văn đoàn, cuộc tranh luận “Thơ mới thơ cũ”
và do cả đối tượng nghiên cứu là văn học nữ còn hạn chế nên khuynh hướng này nhanh chóng bị chìm khuất Phải đến những nghiên cứu về nữ quyền gần đây mới xác lập lại vai trò và đóng góp của các tác giả trên
1.1.1.2 Từ năm 1945 đến 1975
Do hoàn cảnh lịch sử đặc biệt, đất nước bị chia cắt nên văn học cũng như hoạt động lí luận - phê bình văn học ở giai đoạn này mang những nét đặc thù Ở miền Bắc, do yêu cầu phục vụ cách mạng, cổ vũ chiến đấu, văn học chủ yếu mang âm hưởng sử thi và cảm hứng lãng mạn với phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa Có lẽ do đề cao sức mạnh cộng đồng, muôn người như một nên ý thức về giới, về thân phận cũng đồng nhất với ý thức công dân, theo đó mà vấn đề nữ quyền là điều mặc nhiên được thừa nhận lúc bấy giờ Và trong một thời gian dài, vấn đề nghiên cứu văn học nữ, ý thức phái tính hay tiếng nói nữ quyền không thu hút sự quan tâm của giới nghiên cứu Ở miền Nam, tình hình nghiên cứu nữ quyền trong văn học cũng hết sức mờ nhạt, mặc dù đời sống sáng tác cũng phong phú và quan điểm của nhà cầm quyền cũng tỏ ra cởi mở trong việc du nhập nhiều lí thuyết phê bình văn học phương Tây Việc nghiên cứu văn học nữ nói chung và ý thức nữ quyền nói riêng trong giai đoạn này vẫn cần phải nghiên cứu một cách nghiêm túc bằng những chuyên luận dài hơi mới có thể cung cấp được một cái nhìn khách quan và chân xác về mảng sáng tác văn học nói trên
1.1.1.3 Từ sau năm 1986 đến 1998
Vấn đề ý thức nữ quyền giai đoạn này đã được khơi gợi trở lại bởi các ý kiến của Võ Phiến, Trương Chính, Phương Lựu…
Trong cuốn “Văn học miền Nam tổng quan” xuất bản tại Hoa Kì năm 1988,
Võ Phiến đã đề cập đến sự tồn tại của một lối viết nữ trong văn học miền Nam giai đoạn 1954 - 1975 Ông viết: “Đứng về phương diện phái tính, văn học miền Nam thời kì 54 - 75 càng ngày càng nghiêng về nữ phái Thoạt đầu trên văn đàn nghe tiếng ồm ồm, cuối cùng nghe ra eo éo” [152] Với nhận định này, tác giả Võ Phiến
đã tỏ ra nắm bắt được đặc trưng về thi pháp giọng điệu trong sáng tác của các nhà
Trang 16văn nữ Đây chính là một trong những đặc trưng mà nhà nghiên cứu dùng để nhận diện phong cách nhà văn Đó là giọng “ồn trong cái yêu” của tiểu thuyết Nguyễn Thị Hoàng, là giọng “bù lu bù loa” của tiểu thuyết Nhã Ca Tuy nhiên, nhận định này cũng như những phân tích của Võ Phiến về khuynh hướng tiểu thuyết nữ trong văn học đô thị miền Nam vẫn chưa làm rõ được âm hưởng nữ quyền hay phái tính như một phương diện mang tính đặc thù
Trong bài viết “Nhìn nhận lại vấn đề giải phóng phụ nữ trong tiểu thuyết Tự
lực văn đoàn”, đăng trên Tạp chí Văn học, số 5 năm 1990, nhà nghiên cứu Trương
Chính đã đánh giá rất cao đóng góp của Tự lực văn đoàn trên vấn đề kêu gọi giải phóng phụ nữ và tự do hôn nhân Theo ông, “Các nhà văn Tự lực văn đoàn đã công kích nhiều mặt của chế độ phong kiến, đặc biệt là luân lý phong kiến đối với phụ
nữ Họ chủ trương tự do hôn nhân, tự do yêu đương xây dựng hạnh phúc gia đình trên tình yêu đôi lứa Họ căm thù cảnh mẹ chồng nàng dâu, họ chủ trương đàn bà trẻ được tự do cải giá, họ vạch bộ mặt giả dối, xảo quyệt của những bà mẹ ghẻ Họ đứng về phía những người chống lại lớp người cũ Họ đứng về phía cá nhân chống lại chế độ gia đình” [17] Nhận định này của Trương Chính đã chỉ ra những đổi mới
về cái nhìn của các nhà văn Tự lực văn đoàn trong việc bênh vực những người phụ
nữ tân thời với tư tưởng tiến bộ, không cam chịu khuôn mình theo những lễ giáo phong kiến đã tỏ ra lạc hậu bấy giờ Tuy nhiên, ý kiến của Trương Chính mới xuất phát từ việc nhận ra tư tưởng tiến bộ của văn chương Tự lực văn đoàn và ông xem người phụ nữ là hình tượng văn học trung tâm của khám phá nghệ thuật
Đáng chú ý trong giai đoạn này phải kể đến cuộc trao đổi ý kiến của các nhà nghiên cứu như Lại Nguyên Ân, Vương Trí Nhàn, Phạm Xuân Nguyên, Đặng Anh
Đào về vấn đề văn học nữ và các tác giả nữ viết văn được đăng trên Tạp chí Văn học,
số 6/1996 Các ý kiến chủ yếu làm rõ những thế mạnh và hạn chế của các cây bút nữ trong khoảng 10 năm (từ 1986 đến 1996) Tuy thế, các ý kiến mới dừng lại ở việc nhận diện đội ngũ và thành tựu văn học nữ, còn vấn đề nữ quyền vẫn chưa được bàn luận sôi nổi Điều này chỉ thực sự được bàn đến như một vấn đề trung tâm để nghiên
cứu trong bài viết của Phương Lựu với tựa đề “Suy nghĩ về đặc điểm của nữ văn sĩ”
Trang 17đăng trên tạp chí Tác phẩm mới, số 3/1996 Trong bài viết này, tác giả đã chỉ ra thể
loại tự truyện là đặc trưng và chiếm ưu thế trong văn học đương thời, nó tỏ ra phù hợp với tâm lí của phái nữ Những đặc điểm được phân tích trong bài viết này sẽ tiếp
tục được Phương Lựu đào sâu phân tích trong chuyên luận “Lý luận văn học hậu hiện
đại” [125] với những phác thảo diện mạo mang tính hàn lâm về lí thuyết phê bình nữ
quyền Cũng trong năm này, cuốn sách nổi tiếng Giới thứ hai của nhà nữ quyền luận
người Pháp Simone de Beauvoir được dịch và giới thiệu ở Việt Nam đã tạo điều kiện cho học giả Việt được tiếp cận gần gũi với những tư tưởng nữ quyền Tây phương Đây là một nỗ lực đáng ghi nhận của giới dịch thuật trong vai trò là cầu nối độc giả Việt Nam với những tri thức nữ quyền thế giới
Khép lại giai đoạn này, vấn đề nghiên cứu ý thức nữ quyền trong văn học Việt Nam nhìn chung vẫn dừng lại ở mức khiêm tốn cả về số lượng lẫn diện tiếp xúc giữa người nghiên cứu, phê bình và đối tượng của nghiên cứu, phê bình (các hiện tượng văn học) Lí do giải thích cho tình trạng này là các nhà thơ nữ thuộc thế
hệ 7x, 8x - lực lượng sáng tác chủ đạo của thơ thể hiện ý thức nữ quyền vẫn chưa xuất hiện một cách rầm rộ, đông đảo như ở những giai đoạn sau
1.1.1.4 Từ 1999 đến 2006
Chúng tôi chia sẻ với ý kiến của Nguyễn Thị Thanh Xuân khi chị cho rằng đây là “giai đoạn bùng nổ” của phê bình nữ quyền ở Việt Nam [272] Nguyên nhân chính có thể giải thích ở đây là những nỗ lực của các trang mạng tiếng Việt ở hải ngoại như talawas.com, tienve.org, damau.org đã liên tục giới thiệu một cách sâu
rộng lí thuyết phê bình văn học nữ quyền ở Việt Nam tiêu biểu là chuyên đề “Tình
yêu, tình dục và phái tính trong văn học” Có thể kể đến các bài viết như “Nữ quyền luận” [155], Nữ quyền và đồng tính luận” [156], “Chuyện hiếp dâm và vấn đề phái tính trong văn học Việt Nam” [157] của tác giả Nguyễn Hưng Quốc; “Phụ nữ và văn chương” của Châm Khanh [81]; “Dục tính trong văn chương và vấn đề đạo đức” của Hoàng Ngọc Tuấn [239]; “Dục tính: chân móng hay đỉnh tháp văn chương” của Nguyễn Hoàng Đức [43]; “Tính dục trong văn học Việt Nam dưới
Trang 18cách nhìn của đạo lí hồn nhiên và của đạo lý học thuyết” của Nguyễn Hữu Lê
[101]
Trong bài “Chuyện hiếp dâm và vấn đề phái tính trong văn học Việt Nam”
[157], tác giả Nguyễn Hưng Quốc đã có những phân tích khá sắc sảo khi xem vấn
đề tình dục, chuyện hiếp dâm không đơn giản là vấn đề tội phạm mà trở thành một vấn đề của phái tính trong văn học Việt Nam Tác giả viết: “trong văn học, hiếp dâm không được mô tả như một tội phạm Nó chỉ đơn thuần là một sự kiện, một thứ tai nạn, hay có khi, lạ lùng hơn, một thứ “may mắn” đối với nạn nhân” Từ những dẫn chứng trong văn học Việt Nam, Nguyễn Hưng Quốc đã đề cập đến vấn đề cốt lõi của nữ quyền đó là sự khống chế ngôn ngữ của nam giới (duy dương vật luận) trong văn học mà đôi khi phía nữ giới mặc nhiên thừa nhận trong vô thức như câu chuyện hiếp dâm hay thông dâm kia Theo đó, “người ta viết và đọc bao giờ cũng như một người nam hoặc một người nữ chứ không bao giờ như một người chung chung” Và như vậy, muốn giải phóng được nữ giới phải giải phóng được ngôn ngữ, phải chống lại sự nam hóa trong ngôn ngữ
Trong bài viết “Phụ nữ và văn chương”, tác giả Châm Khanh đã tiến hành
thống kê và đặt lại vấn đề về phê bình nữ quyền ở Việt Nam theo tiến trình từ đầu thế kỉ XX đến năm 2000 Trong bài viết này, tác giả đã đề cập đến nhiều nhận định của các học giả nổi tiếng đã từng nhận xét về âm hưởng nữ quyền trong văn học Việt Nam như Hoài Thanh, Phan Khôi, Võ Phiến, Đặng Anh Đào, Vương Trí Nhàn Tác giả Châm Khanh đã đề cập đến sự cần thiết trong việc tiến hành nghiên cứu và chỉ ra nét khác biệt giữa văn học của nữ giới và nam giới [81]
Tác giả Hoàng Ngọc Tuấn đã viết một tiểu luận trong chuyên đề “Tình yêu và
tình dục trong văn chương” với tựa đề “Dục tính trong văn chương và vấn đề đạo đức” [239] Trong bài viết của mình, nhà nghiên cứu này đã đưa ra được một cái
nhìn tương đối tổng quát về những chuyển biến và tiến bộ của phê bình nữ quyền Theo ông, thoạt đầu, đề cao dục tính là tinh thần phản kháng bồng bột, về sau, các nhà văn nữ đã tỏ ra bình tĩnh hơn, sáng suốt hơn trong việc giải phóng phụ nữ khỏi
Trang 19những ràng buộc phái tính và dục tính để hướng đến những giá trị tinh thần bình dị của con người là hạnh phúc, tự do, gia đình, tình yêu, chiến tranh, đạo đức
Nguyễn Hoàng Đức đã đề cao vai trò của tình dục trong việc giải phóng phụ
nữ Trong bài “Dục tính: Chân móng hay đỉnh tháp văn chương” ông viết: “Cuộc
giải phóng phụ nữ là cuộc cách mạng về nhân vị và nhân tính, nâng phái yếu lên ngang tầm bình đẳng với đàn ông, một cuộc cách mạng từ cổ chí kim chưa từng có Hoàn toàn, có thể nói, thế kỷ XX là thế kỷ giải phóng phụ nữ, đó cũng chính là
sự thiết lập tự do giới tính - và tất yếu dẫn đến tự do tình dục” [43]
Nhìn chung, phê bình nữ quyền giai đoạn này hướng đến cuộc giải phóng phụ nữ, giải phóng tình dục Bởi lẽ, đàn bà cũng là con người, họ có quyền phát biểu khát vọng dục tính của mình, họ cũng có quyền chủ động trong đời sống tình dục Điều này cũng dễ hiểu khi một số nữ nhà văn xây dựng những nhân vật nữ trong tác phẩm của mình luôn giành thế chủ động và sử dụng đàn ông như một thứ công cụ nhằm thỏa mãn khát vọng cá nhân và bản năng tốt đẹp
1.1.1.5 Từ 2006 đến nay
Giai đoạn này được xem là thời kì phát triển của phê bình nữ quyền ở Việt Nam Việc vận dụng lí thuyết phê bình đã có sự thận trọng hơn, khách quan hơn Hoạt động phê bình đã bắt đầu có sự phân hóa theo những khuynh hướng khác nhau khi tiếp cận văn học nữ ở Việt Nam, nhất là những hiện tượng của văn học Việt Nam thời kì đổi mới Chúng tôi đồng tình với ý kiến của tác giả Nguyễn Thị Thanh
Xuân trong công trình “Vấn đề phái tính và âm hưởng nữ quyền trong văn xuôi Việt
Nam đương đại” khi phân loại các bài viết về văn học nữ quyền trong giai đoạn này
thành ba khuynh hướng là: nghiên cứu văn học nữ thiên về dục tính/sex; nghiên cứu văn học nữ thiên về nữ tính/ thiên tính nữ; nghiên cứu văn học nữ trên bình diện nữ quyền [272]
Khuynh hướng nghiên cứu văn học nữ thiên về dục tính/sex là những bài viết lấy đối tượng là yếu tố sex trong sáng tác của các cây bút nữ để nghiên cứu Có thể dẫn ra đây một số ý kiến như sau:
Trang 20Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp đã gọi đề tài sex trong văn học Việt Nam là
“hiểm địa”, miền cấm Trong bài “Tính dục trong văn học hôm nay”, ông xem “Cái
hiểm địa ấy vừa là cánh cửa sinh ra ta mà cũng là nấm mồ chôn ta” Từ nhận xét này, Nguyễn Huy Thiệp đã đánh giá cao các nhà văn nữ với việc khai hóa đề tài tính
dục mà hiện tượng Bóng đè của Đỗ Hoàng Diệu là một điển hình cho văn chương
viết về sex ở Việt Nam [187]
Nguyễn Vy Khanh trong bài “Tản mạn về dục tính và nữ quyền” đã lấy các
sáng tác tiểu thuyết đô thị miền Nam để đưa ra khái quát như sau: “ từ cuối thập niên 1960, người viết nữ đã mạnh bạo đi xa hơn, tự tin hơn với những vấn đề phụ
nữ được chính thức trương lên chữ nghĩa” Ở một điểm khác, tác giả bài viết cho rằng: “Văn chương dục tính hay có dâm tính lại do người nữ viết hình như hấp dẫn hơn vì cũng hình như có tính tự thuật nhiều hơn Vì từ nay, người nữ làm chủ con người, tư duy, tình cảm và cuộc đời của họ trong văn chương” Không chỉ nhận thấy nét đổi mới trong văn học của người phụ nữ, Nguyễn Vy Khanh còn phát hiện
ra sự chân thực trong văn chương của nữ giới trong sự phản ánh những rung động bên trong của con người, nhất là từ trái tim người nữ “Xưa kia nhà văn nam viết, phân tích tâm lí mọi người thì nay các nhà văn nữ muốn phân tâm đàn ông và tự phân tâm! Một loại “văn hóa” mới, năng động và cách tân phái tính” [83]
Nhìn chung, các bài viết bước đầu đã làm rõ được vấn đề sex trong sáng tác của các nhà văn nữ đương đại Tuy nhiên, nếu sự vận dụng không tỉnh táo sẽ dẫn đến tình trạng chỉ nhìn thấy một phương diện của vấn đề, làm nghèo nàn giá trị ý nghĩa của bộ phận văn học nữ
Khuynh hướng thứ hai tập hợp những ý kiến bàn luận đến nữ tính, thiên tính nữ trong văn học nữ như là những đặc trưng của giới quy định nội dung sáng tác của văn
học nữ ở Việt Nam Tiêu biểu phải kể đến là các bài viết: “Ý thức phái tính trong văn
xuôi nữ đương đại” của Nguyễn Thị Bình [11]; “Những quan niệm đương đại về giới
nữ Việt Nam” của John C Schafer [76]; “Một vài lí giải về hiện tượng tự thuật trong sáng tác văn xuôi của các tác giả nữ Việt Nam từ 1990 đến nay” của Hồ Khánh Vân
[258]…
Trang 21Trong bài viết “Ý thức phái tính trong văn xuôi nữ đương đại”, nhà nghiên
cứu Nguyễn Thị Bình đã chú ý đến những tuyên ngôn về phái tính trong sáng tác của các nhà văn nữ và coi đó là điểm tựa tư tưởng trong quá trình định hướng nhà văn vào lựa chọn kiểu nhân vật trong tác phẩm Qua phân tích, bà đã chỉ ra một cách cụ thể cái nhìn về thế giới và con người qua con mắt của các nữ nhà văn
Đi vào xem xét thể loại tự truyện, một thể loại được xem là thế mạnh của nhà văn nữ đã thu hút một số nhà nghiên cứu Cụ thể, nhà nghiên cứu Hồ Khánh Vân đã chỉ ra những lí do cơ bản khiến tự truyện trở thành lựa chọn khi sáng tác văn
chương Trong bài viết “Một vài lí giải về hiện tượng tự thuật trong sáng tác văn
xuôi của các tác giả nữ Việt Nam từ 1990 đến nay”, chị đã biện giải như sau: “ có
thể thấy hiện tượng tự thuật rất phổ biến Tự thuật vừa là điểm nhìn, là vị trí mà từ đấy, các cây bút nữ khái quát hóa và tái hiện đời sống hiện thực, là cảm hứng sáng tác hình thành nên thế giới của tác phẩm từ khuynh hướng tư tưởng, nội dung phản ánh đến bút pháp nghệ thuật” và ở một điểm khác cho thấy thế mạnh của tự thuật phù hợp với nhà văn nữ là khả năng “chưng cất và tái tạo những trải nghiệm của riêng mình Trong quá trình tự thuật, người phụ nữ viết văn vừa bộc lộ và thể hiện bản thân, vừa sáng tạo ra chính mình thông qua thế giới hình tượng Tự thuật vừa là khởi nguồn, là chất liệu của sáng tạo, đồng thời cũng vừa là đích đến, là sản phẩm sinh ra từ hành trình sáng tạo ấy Đấy chính là phương thức tự sự đặc trưng, là mô thức tự sự gắn liền với hoạt động sáng tác của nữ giới” [258] Từ nhận định này, Hồ Khánh Vân đã chỉ ra được một vài nét đặc thù trong thể loại văn xuôi của nhà văn nữ
Hơn nữa, thể loại tự truyện của nhà văn nữ Việt Nam còn thu hút sự quan tâm
của các học giả nước ngoài Đó là trường hợp của cuốn tự truyện “Lê Vân: Yêu và
Sống” của diễn viên điện ảnh Lê Vân, xuất bản năm 2006 Từ bài viết “Những quan
niệm đương đại về giới nữ Việt Nam”, John C Schafer đã chỉ ra “những văn bản liên quan đến vấn đề giới nữ mà cô gợi lên trong khi kể chuyện đời mình” Qua những phân tích dưới tiêu đề: Những huyền thoại về Mẫu hệ và người nội tướng; Tiết hạnh;
Tứ đức; Hi sinh; Lãng mạn và Định mệnh Qua những phân tích này, John C Schafer đã chỉ ra ý thức phái tính đã bắt đầu trỗi dậy trong tư tưởng người phụ nữ
Trang 22Việt Nam thời hiện đại được thể hiện qua hình tượng nhân vật Lê Vân và cuộc đời của chị Cùng với đó, tác giả bài viết đã đứng trên tinh thần của phong trào nữ quyền
để cắt nghĩa hiện tượng tự truyện gây nhiều tranh cãi này Một mặt, John C Schafer chỉ ra được những tiến bộ của luật pháp Việt Nam trong việc bảo đảm tự do cho người phụ nữ, nhưng mặt khác, ông cũng chỉ ra những bất cập của “nền văn hóa ngoài luật” ở Việt Nam, “nơi các luật lệ nhường chỗ cho tục lệ, các văn bản luật không phát triển từ nền móng tục lệ có thể không nhất thiết sẽ đưa đến tiến bộ” [76; 35] Đây chính là thực trạng những thành kiến cũ mang nặng tư tưởng nam quyền vẫn tồn tại với tư cách là thước đo để định giá trị của người phụ nữ đã gây không ít khó khăn cho những phụ nữ được xem là “lệch chuẩn” như Lê Vân
Khuynh hướng thứ ba là nghiên cứu văn học nữ trên bình diện nữ quyền, nhưng cũng cần chú ý, thực chất khuynh hướng này không được tiến hành một cách thuần nhất khi nghiên cứu văn học Việt Nam mà thường tiến hành song song với nghiên cứu những biểu hiện phái tính trong văn học nữ Điều này cũng dễ hiểu bởi
ở Việt Nam, nữ quyền không mang đầy đủ tư cách là một “Chủ nghĩa” như ở phương Tây mà nó chỉ tồn tại qua những biểu hiện Điều này đã được chúng tôi trình bày ở trên Có thể dẫn ra đây một số ý kiến sau:
Đầu tiên phải kể đến bài viết “Vấn đề phái tính và âm hưởng nữ quyền trong văn
học Việt Nam đương đại” của nhà phê bình Nguyễn Đăng Điệp [33] Trong bài viết này,
ông đã cung cấp một cái nhìn khái quát về nguồn gốc cũng như diện mạo của âm hưởng
nữ quyền ở Việt Nam từ trước đến nay Nhà nghiên cứu đã dùng cụm từ “âm hưởng nữ quyền” mà không dùng “Chủ nghĩa nữ quyền” như để khẳng định ở Việt Nam, chưa hẳn
đã có một chủ nghĩa nữ quyền đầy đủ theo đúng nghĩa của cụm từ này Giống với hậu hiện đại, cái gọi là nữ quyền luận trong văn học Việt Nam mới dừng lại ở những biểu hiện rải rác trong sáng tác của một số nhà văn, thậm chí, ngay trong bản thân một nữ nhà văn, những biểu hiện của nữ quyền cũng không mấy thuần nhất Điều này tiếp tục được
Nguyễn Thị Thanh Xuân kế thừa với luận án tiến sĩ văn học “Vấn đề phái tính và âm
hưởng nữ quyền trong văn xuôi Việt Nam đương đại” [272]
Trang 23Gần đây nhất, trong cuốn sách “Thơ Việt Nam hiện đại - tiến trình và hiện
tượng”, nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Điệp đã đề cập tới mối quan hệ giữa thơ và
người đọc trong kỷ nguyên toàn cầu hóa, vấn đề “mới” như một tiêu chuẩn định giá
thi ca Đặc biệt cuối công trình, ông đã dành một bài viết về “Màu yêu trong đồng tử
thơ Linh” (về tập thơ Đồng tử của tác giả nữ Vi Thùy Linh) Trong bài viết này,
Nguyễn Đăng Điệp đã có những đánh giá cao về đóng góp của tác giả Vi Thùy Linh đối với bức tranh chung của thơ nữ đương đại, nhất là ở mảng diễn ngôn thể hiện khát vọng tình yêu (một biểu hiện của ý thức nữ quyền) Ở đó là “một cái tôi lúc nào cũng đòi yêu và đòi được yêu Phía nào cũng phải hết mình Bên nào cũng phải tận lực Đó chính là thời điểm bản ngã được giải phóng tối đa Cảm quan nghệ thuật ấy
dĩ nhiên buộc Linh phải gây hấn với những cách yêu chừng mực, những giai điệu thơ nghiêng về êm ả” [34; 333]
Công trình thứ hai mà chúng tôi muốn đề cập tới đó là “Vấn đề phái tính và
âm hưởng nữ quyền trong văn xuôi Việt Nam đương đại” của tác giả Nguyễn Thị
Thanh Xuân Có thể nói, đây là công trình đầu tiên trong khuôn khổ của một luận
án tiến sĩ lựa chọn đối tượng nghiên cứu là sáng tác của một số nhà văn nữ tiêu biểu cho văn xuôi Việt Nam đương đại từ cái nhìn của phái tính và âm hưởng nữ quyền Trong công trình của mình, Nguyễn Thị Thanh Xuân đã cung cấp một cái nhìn khái quát về lí thuyết phê bình nữ quyền trên thế giới và sự xuất hiện của nó trong văn học Việt Nam Nghiên cứu những biểu hiện của phái tính và âm hưởng nữ quyền trong văn xuôi Việt Nam đương đại, chị viết: “Phái tính, nữ quyền trong văn xuôi Việt Nam những năm gần đây thực sự đã dấy lên tiếng nói thức tỉnh cho phái nữ thông qua những tác phẩm viết về phụ nữ và đặc biệt là những tác phẩm của chính tác giả nữ không chỉ có ngày hôm qua hay ngày hôm nay thôi, mà vẫn sẽ còn rất lâu nữa, các nhà văn (mà đặc biệt là các nhà văn nữ) vẫn sẽ còn tìm kiếm những diễn ngôn khả thể cho giới nữ, tạo “thế đứng” vững chắc cho người phụ nữ trong nền văn hóa Việt vẫn còn đậm tính “vị nam” này” [272; 151] Nhận định trên của tác giả công trình đã chỉ ra tính không ổn định cũng như quá trình chuyển mình của nền văn xuôi đương đại nước nhà nói chung và văn xuôi nữ nói riêng trong nỗ lực
Trang 24vươn lên đi tìm bản thể, bày tỏ khát vọng vươn lên, muốn hòa nhập của những người phụ nữ trong xã hội hiện đại
Tựu trung lại, những ý kiến mang tính khái quát trên là những gợi mở cần thiết và hữu ích cho chúng tôi hiểu thêm về một số vấn đề xoay quanh lí thuyết phê bình nữ quyền cũng như các xu hướng vận dụng trong nghiên cứu văn học trên thế giới cũng như ở Việt Nam
1.1.2 Tình hình nghiên cứu ý thức nữ quyền trong thơ nữ Việt nam giai đoạn từ 1986 đến nay
Tính đến nay, sẽ là khó khăn cho việc tổng kết và đưa ra con số cụ thể có bao nhiêu bài viết và công trình lựa chọn những sáng tác thơ nữ Việt Nam đương đại làm đối tượng nghiên cứu Hơn thế, trong số đó lại có những đánh giá dựa trên những cách tiếp cận khác nhau, từ những lí thuyết chuyên biệt khác nhau Đứng trước sự phong phú của nguồn tư liệu khảo sát, chúng tôi chỉ điểm lại những ý kiến có đề cập đến vấn đề phái tính và ý thức nữ quyền trong các sáng tác thơ nữ đương đại
Đầu tiên là những ý kiến khái quát về thơ Việt Nam đương đại và vấn đề nữ
tính, âm hưởng nữ quyền trong thơ đương đại Có thể kể đến những bài viết: “Thơ trữ tình Việt Nam 1975 -1990” của Lê Lưu Oanh [151]; “Thơ Việt đang chờ phiên đổi gác” của Hoàng Hưng [70]; “Khi khát vọng cái tôi trữ tình được đánh thức” của
Lê Thành Nghị [135]; “Thơ nữ trẻ đương đại: khẳng định một cái tôi mới” [91], “Nỗi
cô đơn trong thơ nữ trẻ đương đại” [92], “Nhận diện thơ nữ trẻ đương đại” [93] của
Trần Hoàng Thiên Kim; “Chất liệu ngôn ngữ mới của nhà thơ đương đại” [74], “Thơ
Việt đương đại, các khuynh hướng sáng tác” [75] của Inrasara; “Cội nguồn và hành trình của thơ hôm nay” của Hoàng Vũ Thuật [211]; “Suy nghĩ về thơ hôm nay” [198],
“Cách tân nghệ thuật và thơ trẻ đương đại” [199] của Lưu Khánh Thơ…
Ngay từ rất sớm, trong chuyên luận “Thơ trữ tình Việt Nam 1975 -1990”, nhà
nghiên cứu Lê Lưu Oanh đã nhận ra một xu hướng chung trong dòng cảm xúc của thế hệ nhà thơ vừa thoát ra khỏi cuộc chiến tranh và bắt đầu có sự vận động tìm lối
đi riêng cho thơ khi phải đối diện hoàn cảnh mới Bà viết: “Thơ trữ tình của các tác giả phụ nữ hiện nay đáng chú ý bởi cách nói táo bạo, thẳng thắn về những bi kịch
Trang 25và ước muốn cá nhân Nhưng ẩn đằng sau tất cả cái mạnh mẽ dữ dội ấy là ý thức sâu xa về thân phận, về những nỗi bất hạnh muôn đời của kiếp phụ nữ từng có trong thơ xưa” [151; 105] Nhận định này của nhà nghiên cứu Lê Lưu Oanh đã chỉ ra đức tính truyền thống của người phụ nữ vẫn còn “được bảo lưu” trong thơ ca hiện đại Hơn thế, số phận của người phụ nữ vẫn phải nhẫn nhịn, chịu đựng theo tính cách phụ nữ truyền thống Thơ ca giai đoạn này đã nhìn ra nỗi khổ của người phụ nữ nhưng chưa ý thức được một cách sâu sắc về vị trí của mình trong cuộc đời Có chăng vẫn là tiếng than “sinh ra làm kiếp đàn bà!”
Nhà văn, nhà nghiên cứu văn hóa, văn học Inrasara trong bài viết “Thơ Việt
Nam đương đại các khuynh hướng sáng tác” chỉ ra 5 dòng chính là: (1) Thơ cổ
truyền, (2) Thơ tân hình thức, (3) Thơ nữ quyền luận, (4) Thơ thị giác và (5) Thơ hậu hiện đại Ở đây chúng tôi có chú ý đến dòng thứ 3: Thơ nữ quyền luận Khi bàn đến dòng thơ này, Inrasara đã có những đánh giá cao đối với sáng tác thơ của Dư Thị Hoàn, Thảo Phương, Lê Khánh Mai, Phạm Thị Ngọc Liên… Và ông có nhận định đáng chú ý: “Khía cạnh nào đó, Phan Huyền Thư và Đinh Thị Như Thúy đã thể hiện được tinh thần nữ quyền hậu hiện đại trong các sáng tác của mình” [75]
Trong bài viết “Cách tân nghệ thuật và thơ trẻ đương đại”, nhà nghiên cứu
Lưu Khánh Thơ có nhận định: “Lớp trẻ xuất hiện sau 1975, đặc biệt là từ sau năm
1985 chiếm số lượng rất đông đảo, tạo thành một mặt bằng mới, rộng rãi cho sự phát triển của thơ hôm nay Hơn nửa số thơ đã xuất bản là của các tác giả thuộc thế
hệ này Điểm nổi bật ở các sáng tác của họ là sự đa dạng, trẻ trung, tươi mới và giàu chất trí tuệ…” Đội ngũ các tác giả nữ góp phần vào quá trình cách tân thơ Việt từ sau 1986 được nhắc đến trong bài viết có thể kể ra như Dư Thị Hoàn, Tuyết Nga… Sau đó những cây bút đương đại được nhắc đến nhiều nhất có thể kể đến: Vi Thuỳ Linh, Phan Huyền Thư, Ly Hoàng Ly, Trương Quế Chi…” [199] Nhà nghiên cứu cũng đồng thời lưu ý: “Dù có thể những tìm tòi, cách tân chưa trở thành xu hướng chủ đạo, chưa dễ tìm được sự đồng thuận trong đánh giá và tiếp nhận của người đọc nhưng vẫn có thể cảm nhận được một nguồn sinh lực mới đang tiềm ẩn trong thơ hiện nay” [199]
Trang 26Tác giả Trần Hoàng Thiên Kim đã dành nhiều sự qua tâm của mình đến việc
nhận chân diện mạo của thơ nữ đương đại Trong bài viết “Thơ nữ đương đại:
khẳng định một cái tôi mới” [91], chị đã xác định đội ngũ tác giả được gọi bằng
cụm từ “Thơ nữ trẻ đương đại” là “những tác giả thế hệ 7x, 8x, được sinh ra trong thời bình, chịu ảnh hưởng của nhiều luồng văn học trên thế giới, có những nét phá cách và có nhiều thể nghiệm mới mẻ” Quan sát sự dịch chuyển trong quan niệm về cái tôi trữ tình trong thơ nữ trẻ chị cho rằng: “Thơ nữ trẻ, với trào lưu “phê bình nữ quyền” ngày càng mạnh mẽ đang có những thay đổi để phù hợp với trào lưu chung của khu vực và thế giới Họ khẳng định bản thể bằng cách đối thoại sòng phẳng với độc giả, với bạn văn khác giới, nỗ lực để lớp đàn anh, đàn chị công nhận cái mới của mình, hòa vào dòng chảy ồ ạt những thử nghiệm cách tân thơ” [91]
Từ nhận định này, tác giả bài viết đã khẳng định có sự tồn tại của một trào lưu mang âm hưởng nữ quyền trong thơ nữ đương đại cùng những nỗ lực vượt thoát
hệ thống thi pháp của thơ ca truyền thống, thơ nữ đương đại bước đầu phác họa một vài nét nét khác biệt về cái “tôi” trong thơ nữ đương đại như sau: “Thơ nữ trẻ đương đại, bên cạnh cái “tôi” mang những nét chung vốn có như lòng yêu nước, tự hào dân tộc, ngợi ca dân tộc thì còn có một cái “tôi” bản thể khẳng định vai trò của
cá nhân trong đời sống xã hội, trong thi ca Một cái tôi trong mọi ràng buộc, trách nhiệm và toàn bộ biến động của tâm hồn, tình yêu, dục vọng, cả những khổ đau, hạnh phúc nhỏ nhoi, riêng tư” [91]
Nhận định này đã khái quát được sự chuyển biến của cảm hứng trong thơ nữ đương đại: đi từ chủ đề trung tâm đến việc ngoại biên hóa, phân tán chủ đề để đi vào những ngõ ngách thế sự đời tư của con người cá nhân hôm nay
Trong bài “Nhận diện thơ nữ trẻ đương đại”, Trần Hoàng Thiên Kim tiếp tục
khẳng định ý thức nữ quyền là một đặc trưng của thế hệ nhà thơ nữ Việt Nam thời kì đổi mới Chị viết: “Xu hướng thứ hai xuất hiện với lối thơ tự do phóng khoáng, khơi gợi tình yêu và nhục cảm thân xác Con người trong thơ của những cây bút nữ phá cách này chịu sự chi phối rất mạnh của đời sống cá nhân, coi trọng cuộc sống riêng tư
Trang 27cũng như bản năng dục vọng Thơ của họ là tiếng nói mạnh mẽ về giải phóng phụ nữ trong thơ” [91]
Trở lên, các ý kiến đều ít nhiều chỉ ra được một vài đặc trưng của thơ nữ đương đại Việt Nam Bên cạnh sự ghi nhận những nỗ lực cách tân của các nhà thơ
nữ thế hệ 7x, 8x, đa số các bài viết đều bày tỏ sự hi vọng thế hệ nhà thơ này tiếp tục đổi mới mình trên hành trình sáng tạo để đi xa hơn nữa trên con đường lao động nghệ thuật làm đẹp cho cuộc đời
Bên cạnh đó, một số nhà thơ nữ tiêu biểu, “đình đám” trên thi đàn giai đoạn này như Phan Huyền Thư, Vi Thùy Linh, Ly Hoàng Ly là những cây bút được giới nghiên cứu, phê bình đặc biệt quan tâm
Về tác giả Phan Huyền Thư có thể kể đến các bài viết tiêu biểu như: “Lao động
và nỗi buồn trong tập thơ “Nằm nghiêng” của Phan Huyền Thư” của Đào Duy Hiệp
[60]; “Thơ Phan Huyền Thư - Nằm nghiêng và cách tân” của Nguyễn Thụy Kha
[80]… Nhìn chung, các ý kiến mới dừng lại ở việc nhìn nhận, bước đầu đánh giá về sự cách tân của thơ Phan Huyền Thư trong xu hướng đổi mới của thơ ca đương đại Việt Nam Các bài viết chủ yếu chỉ ra những đặc sắc về mặt ngôn ngữ được lạ hóa, nghệ thuật tổ chức hình ảnh thơ độc đáo đã làm nên nét táo bạo của cây bút nữ này
Bên cạnh đó cũng có không ít bài viết bày tỏ sự không đồng tình trong đánh giá hiện tượng thơ Phan Huyền Thư Tiêu biểu cho khuynh hướng này là bài viết của
Nguyễn Sĩ Đại với nhan đề “Nằm nghiêng, tập thơ thiếu sự nghiêm túc và những xúc
cảm trong sáng” [28]; Chu Thị Thơm với bài “Nằm nghiêng, báo động về tính thẩm mĩ của một tập thơ” [202]; Nguyễn Thanh Sơn với “Nằm nghiêng - Phan Huyền Thư”
[162]… Tác giả Nguyễn Thanh Sơn có cho rằng hiện tượng Phan Huyền Thư “mặc dù quẫy đạp rất mạnh nhưng hãy còn đang bối rối”, là “một khát khao đổi mới nhưng
chưa mấy thành công” [162] Trong khi đó, bài viết “Rỗng ngực vài cảm nhận” của Đoàn Minh Tâm (Tạp chí Văn nghệ quân đội, số tháng 5/2006) thì có bàn sâu hơn
về tập thơ “Rỗng ngực” (2005) Trong đó đáng chú ý là nhận định của tác giả bài viết cho rằng nội dung chính của Rỗng ngực là nói về sự tha hóa trong lối sống của
một bộ phận thanh thiếu niên hiện nay và “Phan Huyền Thư chỉ muốn trình bày
Trang 28quan điểm của mình rằng thơ ca nên đối diện, nên đào sâu vào những mặt trái xã hội” Nghệ thuật của tập thơ cũng được viết bằng một hình thức “tha hóa”: Từ câu chữ, hình ảnh, cách ngắt nhịp, cách xuống dòng - tất cả như muốn “trêu tức” những
cấu trúc thơ ca quen thuộc Rỗng ngực có nhiều tứ thơ được ngắt nhịp theo kiểu chẻ
làm ba, làm bốn đoạn, xuống dòng triền miên theo dạng “đổ bóng”… [176]
Gần đây, trên các phương tiện thông tin đại chúng có nhắc đến việc Phan
Huyền Thư đạo văn (cụ thể là qua hai bài Có lẽ đã chết vẫn tốt hơn và Bạch lộ được
in trong tập “Sẹo độc lập”, Nxb Lao Động, 2014) và bản thân tác giả này cũng đã thừa nhận việc mình đạo văn Vì thế, chúng tôi không đưa tập thơ “Sẹo độc lập” vào danh mục tác phẩm khảo sát Tuy nhiên, những đóng góp của chị cho sự phát triển của văn học Việt Nam đương đại trên tinh thần của ý thức nữ quyền là không nên phủ nhận và đó cũng là lí do mà chúng tôi vẫn nhắc đến cây bút này trong nhiều mục
và tiểu mục của đề tài luận án
Về tác giả Ly Hoàng Ly cũng gây được khá nhiều chú ý của công chúng Các
nhà nghiên cứu dành sự quan tâm nhiều đến biểu tượng, đêm, bóng đêm trong thơ
chị Tác giả Trần Hoài Anh trong bài viết “Ám ảnh bóng đêm trong thơ Ly Hoàng
Ly” đã khảo sát và lý giải về đêm trong thơ của Ly Hoàng Ly “… không còn là thời
gian vật lý mà đã biến thành một dòng ý thức Đó là một thực thể linh động luôn gắn với một quan niệm về nhân sinh, về cái đẹp… đêm trong thơ Ly đã trở thành một thủ pháp nghệ thuật mang tính quan niệm…, là tiếng gọi tâm linh, một tâm linh cựa quậy, sinh động trong hành trình đi tìm bản thể của chính mình…” [5] Thụy Khuê
trong bài viết “Ly Hoàng Ly và bóng đêm” cũng chỉ rõ sự xuất hiện dày đặc của bóng
đêm trong Ly Hoàng Ly và cho rằng đêm chính là “thế giới của Ly Hoàng Ly: một thế giới tự trói”, vây bủa người nữ trong thơ Ở đó là một “không khí đêm đen giữa ban ngày, là những cơn ác mộng thường trực của con người bị kết án chung thân sống trong đêm, những con người “muốn đập đêm vỡ tan”; nhưng đêm như ung thư, đêm như bạch tuộc đã chạy khắp cơ thể, và người con gái ấy” [90]
Một số các bài viết khác về thơ Ly Hoàng Ly, bên cạnh việc nhắc đến ám ảnh bóng đêm như một kiểu hình tượng nghệ thuật tiêu biểu và xuyên suốt trong thơ chị
Trang 29còn có những nhận định về đặc điểm cũng như những thành công về nghệ thuật thơ
của chị Tác giả Nguyễn Phương Linh trong bài viết “Ly Hoàng Ly sinh ra để làm
thơ” đăng tải trên Tạp chí Văn hóa nghệ thuật, số 307, tháng 1 năm 2010 cũng có
những đánh giá cao về cá tính sáng tạo cũng như những sáng tạo trong thơ của Ly Hoàng Ly Tác giả bài viết này đã cho rằng Ly Hoàng Ly là “tác giả tràn đầy năng lượng sáng tác và dũng cảm yêu nghệ thuật tác phẩm tự nhiên, nữ tính và nhiều chất thơ” Qua sáng tác của chị người đọc sẽ thấy được hình ảnh một Ly Hoàng Ly
“năng động, dạt dào cảm xúc, rất nữ tính” Nguyễn Phương Linh cũng chỉ rõ thơ Ly Hoàng Ly có ưu thế về nghệ thuật sắp đặt với “những bố cục ngắn gọn, hiện đại, khơi gợi nhiều tưởng tượng mà vẫn nữ tính, mềm mại” [108] Ngoài ra, với các bài viết có tính điểm sách, tuy còn sơ sài song hầu hết các tác giả đều đánh giá cao hiện tượng thơ Ly Hoàng Ly
Về tác giả Vi Thùy Linh: Vi Thùy Linh thuộc vào một trong số những cây bút
thơ nữ xuất hiện khá “đình đám”, rầm rộ, Vi Thùy Linh nhanh chóng thu hút sự chú
ý đặc biệt của công chúng cũng như của giới phê bình văn học trong nước
Nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên trong bài viết “Thơ Linh” đã đề cập đến
một vấn đề thuộc về phái tính trong thơ Vi Thùy Linh: “Một đặc điểm không khó nhận thấy của văn học ta trong khoảng mười, mười lăm năm cuối thế kỉ XX vừa qua là các cây bút nữ đã tỏ ra táo bạo khi viết về tình yêu, không ngần ngại đụng chạm đến tình yêu nhục thể Vi Thùy Linh ở trong dòng chảy đó Có điều bằng thơ,
cô nói lên nồng nàn, những nhu cầu đòi hỏi giới tính của mình, trong tình yêu Nói cách khác, Linh đòi cho bản năng giới tính được đặt đúng chỗ của nó trong yêu và trong thơ Linh muốn mình ngang tàng, tỏ ra ngang tàng, nhưng cũng như bao cô gái khác, khi tình yêu đến cô chịu khuất phục” [137]
Trần Thiện Khanh trong bài viết “Vi Thùy Linh và một kiểu tư duy về lời” đã
có những phân tích khá kĩ về đề tài tình yêu và ám ảnh tình dục trong thơ của Vi Thùy Linh Đáng chú ý là nhận định sau đây: “Thơ đem lại cho Vi Thùy Linh một không gian đủ lãng mạn và đủ hưng phấn để chị bộc lộ những mặt mạnh và mặt yếu thuộc về phái tính Thơ trở thành một phương tiện giải tỏa xúc cảm tình dục vốn đã
Trang 30được hòa trộn một cách tự nhiên và hấp dẫn trong tình yêu đôi lứa ở chị Vi Thùy Linh muốn được trở thành đàn ông để “làm được nhiều hơn những gì mình muốn”, một Vi Thùy Linh muốn làm một người đàn bà thật khác biệt, nhưng cũng đầy ham muốn đời thường” [82]
Nhà phê bình Chu Văn Sơn lại đặt vấn đề “nữ quyền hay ái quyền trong thơ
Vi Thùy Linh” trong bài viết “Vi Thùy Linh - Thi sĩ của ái quyền” Theo ông, màu
sắc nữ quyền trong thơ Vi Thùy Linh đã vươn xa hơn những tranh đấu giữa kẻ mạnh và phận liễu đào trong thơ Linh Trong bài viết này, Chu Văn Sơn đã tái dựng lại và làm cụ thể hóa thế giới nghệ thuật thơ Vi Thùy Linh Ông gọi đó là “đế chế yêu” Tuy nhiên, khi mô hình hóa “đế chế yêu” trong thơ Linh, ông viết: “Điều thật
lạ ở nàng Eva này là nỗi khát yêu càng vô giới hạn thì khát khao làm mẹ càng vô bờ bến Nàng thèm có con từ vị thành niên và ham phiêu linh trong viễn tưởng nhiều con Với nàng, yêu là sống, coi sống là cõi yêu, càng nhiều con càng nối dài sự sống trên cõi yêu này” [164] Mặc dù không đề cập đến việc cắt nghĩa ý thức nữ quyền trong thơ Vi Thùy Linh nhưng nhà phê bình Chu Văn Sơn đã đề cập đến một vấn đề quan trọng, một biểu hiện của ý thức nữ quyền trong thơ Linh là khát vọng được yêu trong một thế giới trong lành và khát khao được làm mẹ, một mơ ước chính đáng trong thiên chức của người phụ nữ muôn đời trong bản nguyên truyền thống văn hóa Việt
Bài viết “Vi Thùy Linh - giữa những quyền lực của lời” được tác giả Nguyễn
Thanh Tâm tiến hành một cách công phu và cẩn trọng Anh đã đề cập đến tính biểu tượng trong thơ Vi Thùy Linh, trong đó ấn tượng đậm nét là biểu tượng màu tím như
để diễn đạt vẻ ý nhị và bí ẩn của người phụ nữ khi yêu Không dừng lại ở đó, tác giả bài viết tiếp tục có nhận xét thú vị khi đặt vị thế của ViLi trong cõi “Anh” Nguyễn Thanh Tâm khẳng định: “ có một ViLi đầy nữ tính, thiện nguyện là tù nhân của đế chế Anh Một ViLi đang nhận sự ban phát tình yêu - Nạn nhân của xã hội nam quyền với sự quy hoàng không ý thức Đó là một bản ngã sùng tín nam tính và cơn khát ái tình trong nỗi sợ hãi bị bỏ rơi Bởi thế, chúng tự sinh ra như là những vỗ về trong sự
Trang 31hiện hữu của niềm cô độc - ViLi tự yêu tình yêu của mình” [178] Nhận định này chủ yếu nghiêng về âm hưởng phái tính hơn là ý thức nữ quyền trong thơ Vi Thùy Linh
Nhà phê bình Nguyễn Đăng Điệp trong bài “Màu yêu trong Đồng tử thơ
Linh” thì đánh giá cao những đổi mới và cách tân của Linh trên phương diện diễn
ngôn thể hiện khát vọng tình yêu nghiêng về phái tính nữ Ông khẳng định Linh là tác giả táo bạo, bản lĩnh bày tỏ những khát khao thầm kín của nữ giới, đặc biệt Linh
đã “đề cập đến vấn đề tính dục và coi nó như một đối tượng thẩm mĩ, một nguồn cảm hứng không vơi cạn” [34; 331]
Nhà nghiên cứu Lưu Khánh Thơ trong bài viết “Vi Thùy Linh phiêu du cùng
“Phim đôi - tình tự chậm” đánh giá Linh là một trong những tác giả nữ có ý thức
lao động nghệ thuật chuyên nghiệp, luôn đi tìm một cách thể hiện riêng “Lối tổ chức bài thơ theo sự dẫn dắt của vô thức, tiềm thức với rất nhiều liên tưởng bất ngờ, những quan sát, chọn lọc, sắp xếp tưởng như rời rạc, không có sự kết dính mà lại bổ sung cho nhau tạo nên vẻ độc đáo trong thơ Linh” [201] Chỉ rõ liên tưởng, tưởng tượng là những thao tác tư duy tạo nên trường thẩm mĩ của thơ Vi Thùy Linh, Lưu Khánh Thơ đã gợi mở một hướng nghiên cứu, phê bình hứa hẹn những đóng góp có
ý nghĩa khoa học khi tiếp cận hiện tượng thơ ca độc đáo này
Một số tác giả khác khi đề cập tới hiện tượng Vi Thùy Linh lại có những ý kiến phê phán khá quyết liệt, thậm chí sai lệch, chủ quan Tiêu biểu có thể nhất phải
kể tới như: “Từ “thơ vọt trào” đến hội chứng khen trào vọt: “Cứ tiếp tục đanh đá,
lắm lời, cứ xổ hết ra đi!” của Trần Mạnh Hảo [57], “Văn chương trẻ - rất cần một chiều sâu và tầm nhìn văn hóa”; “Thơ Vi Thùy Linh - “Những trận bạo động… tình”
[9]; (nguồn: http://www.viet.studies.info); “Thử bàn về trách nhiệm của “người đi
trước” qua trường hợp Vi Thùy Linh” [10] của Nguyễn Trọng Bình
Trên thực tế có thể khẳng định rằng, cái nhìn trái chiều trong đánh giá các hiện tượng thơ nữ đương đại Việt Nam giai đoạn từ 1986 đến nay cũng là điều dễ hiểu Vì tiêu chí sáng tác của các nhà thơ chưa nhất quán và xuất phát điểm của thơ Việt lúc này vẫn còn nằm trong quá trình phát triển, chưa đạt được tính ổn định
Trang 32Trong khả năng bao quát tư liệu của chúng tôi tới thời điểm hiện nay thì ngoài thơ của Phan Huyền Thư, Ly Hoàng Ly và Vi Thùy Linh, thơ của các cây bút nữ khác được chọn khảo sát trong luận án (Dư Thị Hoàn, Tuyết Nga, Phạm Thị Ngọc Liên, Đinh Thị Như Thúy, Lê Ngân Hằng, Bình Nguyên Trang và Trương Quế Chi) thì thơ của họ mới được nhắc tới rải rác ở các bài điểm sách, đôi ba bài phỏng vấn tác giả, tác phẩm Điều này cho thấy cần một độ lùi thời gian nhất định cho việc thẩm định của công chúng và giới phê bình trong và ngoài nước
Bên cạnh những ý kiến có tính chất gợi ý trên, không thể không kể tới sự hỗ trợ của một số các công trình nghiên cứu, dịch thuật về lí thuyết nữ quyền, về lí luận thể loại cũng như những chuyên luận mang tính khái quát, tổng kết về giai đoạn thơ Việt Nam từ 1975 đến nay đối với chúng tôi trong quá trình thực hiện đề tài của mình như
“Nửa thế kỷ thơ Việt Nam 1945-1995: Nhìn từ phương diện vận động của cái tôi trữ
tình” [2], “Mấy vấn đề về thơ Việt Nam 1975-2000” [12], “Thơ Việt Nam - tìm tòi và cách tân 1975-2005” [16], “Thơ Việt Nam hiện đại và Nguyễn Quang Thiều” [32],
“Thơ Việt Nam hiện đại tiến trình và hiện tượng” [34], “Thơ và mấy vấn đề trong thơ
Việt Nam hiện đại” [44], “Tiến trình thơ hiện đại Việt Nam” [98], “Văn học trên hành trình của thế kỷ XX” [100], “Văn học Việt Nam trong thời đại mới” [102], “Giới tính
và giống phái” [128], “Thơ và một số gương mặt thơ Việt Nam hiện đại” [197], “Thơ trữ tình Việt Nam từ giữa thập kỉ 80 đến nay những đổi mới căn bản” [223], “Văn học Việt Nam 60 năm nhìn lại (1945-2005” [228], “Nữ quyền và tự truyện” [231], “Nhìn lại văn học Việt Nam thế kỷ XX” [261], “Vấn đề phái tính và âm hưởng nữ quyền trong văn xuôi Việt Nam đương đại” [272]…
Như vậy, xuất phát từ một phong trào đấu tranh chính trị với mục đích đòi quyền bình đẳng giới, vấn đề bình đẳng giới đã nhanh chóng lan tỏa rộng khắp ở nhiều quốc gia phương Tây và cả ở một số quốc gia phương Đông Vấn đề phụ nữ đã từng bước gây được tiếng nói trong xã hội nam quyền với mong muốn hướng đến một xã hội bình đẳng về chất lượng sống Lí thuyết phê bình nữ quyền nhanh chóng
ra đời và từng bước được hoàn thiện đã mở ra một hướng tiếp cận năng động và mới
mẻ đối với những sáng tác văn học Đặc biệt là các sáng tác văn học của các nhà văn
Trang 33nữ viết về người phụ nữ, với một thứ diễn ngôn nữ quyền đã hướng đến xác lập một nền tảng nữ quyền luận trong đời sống học thuật cũng như phong trào tranh đấu nữ quyền Hoạt động nghiên cứu văn học nữ từ lí thuyết nữ quyền luận đã được tiến hành rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới Ở Việt Nam, vấn đề nữ quyền và vai trò của người phụ nữ từ lâu đã được đề cao trong văn hóa và thực sự trở lại hồi đầu thế kỉ
XX Văn học Việt Nam thời kì đổi mới nói chung, thơ nữ Việt Nam đương đại nói riêng là một giai đoạn mà cái tôi cá nhân được đề cao Người phụ nữ cũng đặt ra nhiều vấn đề trong văn học mà vốn trước đây do hoàn cảnh nên còn e ngại Ý thức nữ quyền bừng nở trong văn học nên hơn lúc nào hết, việc vận dụng lí thuyết nữ quyền luận vào tìm hiểu thơ nữ nói riêng và văn học nữ nói chung là hướng đi triển vọng ở nước ta hiện nay Và có thể khẳng định rằng, những thành quả của các nhà nghiên cứu đi trước sẽ là những tham khảo cần thiết để chúng tôi tiến hành các nội dung tiếp theo của luận án
1.2 GIỚI THUYẾT NỮ QUYỀN VÀ Ý THỨC NỮ QUYỀN
1.2.1 Giới thuyết về nữ quyền
Lâu nay, trong đời sống cũng như trong học thuật trên thế giới, vấn đề nữ quyền đã thu hút nhiều nghiên cứu bao gồm cả các chính trị gia, các nhà tâm lí học,
xã hội học và cả các nhà nghiên cứu văn học Tuy nhiên, những vấn đề về nữ quyền vẫn còn là điều khá thưa vắng ở Việt Nam Trong phần này chúng tôi đi vào trình bày những vấn đề về nữ quyền ý thức nữ quyền với mục đích nhận diện những thuật ngữ liên quan và có cái nhìn khái quát trên bình diện lí thuyết làm điểm tựa cho những nghiên cứu mà đề tài đặt ra
1.2.1.1 Chủ nghĩa nữ quyền phương Tây
* Phong trào đấu tranh nữ quyền
Trong lịch sử phong trào nữ quyền, người ta vẫn lấy mốc sự kiện đánh dấu
sự ra đời là khi Đại cách mạng tư sản Pháp, một nhóm phụ nữ Paris xông thẳng vào trụ sở Quốc dân đại hội để đòi quyền bình đẳng nam nữ (10/1789) Tiếp đó, năm
1790, nữ tác giả viết kịch người Pháp có tên là Olempe de Coarges đã phát biểu
Trang 34“Tuyên ngôn quyền lợi phụ nữ” gồm 17 điều là những yêu cầu của phụ nữ Đây
chính là sự khởi đầu cho một phong trào đấu tranh chính trị với mục đích đem lại quyền lợi chính đáng cho người phụ nữ và kéo dài từ đó đến nay Cho đến nay, lịch
sử nữ quyền phương Tây được chia làm ba giai đoạn, mỗi giai đoạn phong trào hướng đến những mục đích cụ thể dựa trên tiến bộ trước đó
Giai đoạn thứ nhất diễn ra ở cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 xuất hiện ở các nước công nghiệp phát triển, có liên quan chặt chẽ tới phong trào đòi quyền tự do cho phụ nữ ở Pháp, Mỹ và Châu Âu, gắn với phong trào đấu tranh đòi quyền bình đẳng về chính trị và pháp lý đối với nữ giới, nhất là quyền đầu phiếu Quyền đầu phiếu trở thành mục đích chính yếu của chủ nghĩa nữ quyền giai đoạn này Đó không chỉ là một bước quan trọng trên con đường tiến đến sự bình đẳng về pháp luật mà còn là một điều kiện tiên quyết nhằm cải cách xã hội Phong trào đấu tranh
đã đạt được những thành quả đáng kể Một mốc lịch sử đáng chú ý của phong trào
nữ quyền giai đoạn này đó là, vào ngày 21 tháng tư năm 1944, trước làn sóng đấu tranh biểu tình của phụ nữ Pháp và trên toàn châu Âu, chính phủ Pháp đã thông qua việc phụ nữ cũng có quyền và nghĩa vụ bầu cử như nam giới Và, sau chiến tranh thế giới thứ hai, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều công nhận nam nữ có quyền bình đẳng trong Hiến pháp Đặc biệt, ở giai đoạn này, dưới sự đấu tranh của nữ công nhân ngành dệt may tại thành phố Chicago (Mỹ), “Ngày Quốc tế phụ nữ” (8/3) đã ra đời
và trở thành ngày hội của phụ nữ thế giới, đoàn kết đấu tranh để tự giải phóng, thực hiện quyền nam nữ bình đẳng và cũng từ đó đến nay, phụ nữ tiến bộ khắp năm Châu tổ chức ngày 8/3 với những nội dung và hình thức phong phú
Giai đoạn thứ hai của phong trào nữ quyền phương Tây có nguồn gốc từ phòng trào giải phóng phụ nữ của phái nữ quyền cấp tiến (radical feminism) vào cuối thập niên 60, đầu thập niên 70 của thế kỷ 20 Sự bùng phát dữ dội của phong trào xã hội đấu tranh cho quyền tự do và dân chủ của nữ giới trong mọi lĩnh vực của cuộc sống, từ gia đình đến xã hội đã khiến cho phong trào đấu tranh nữ quyền giai đoạn này phát triển lên một bước mới Tiêu biểu nhất có thể kể đến phong trào
Trang 35đấu tranh của Tổ chức quốc gia vì phụ nữ (NOW) ở Hoa Kì và Phong trào giải
phóng phụ nữ ( Women‟s Liberration) tại Pháp Chủ nghĩa nữ quyền lúc này quan
tâm đến các vấn đề chính trị xã hội như chỉ trích chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa đế quốc, đấu tranh kêu gọi quyền lợi cho những nhóm người chịu thiệt thòi như công nhân lao động, người da màu, phụ nữ, những người đồng tính Phụ nữ giai đoạn này đã tích cực tham gia vào các cuộc diễu hành, biểu tình đòi quyền lợi, điển hình
là các cuộc biểu tình chống Chiến tranh Việt Nam, các cuộc biểu tình của sinh viên, biểu tình ủng hộ người đồng tính Đặc biệt là vấn đề bình đẳng giới và chống phân biệt đối xử với phụ nữ dưới mọi hình thức được các nhà đấu tranh nữ quyền đặc biệt quan tâm Cũng ở giai đoạn này, tiếp nối thành quả của phong trào đấu tranh của nữ giới giai đoạn trước, năm 1975, Liên Hiệp Quốc đã lấy ngày 8/3 hằng năm làm ngày Quốc tế Phụ nữ Hai năm sau, Liên Hợp Quốc đã thông qua nghị quyết các nước thành viên kỷ niệm ngày này như là ngày vì quyền bình đẳng, sự tiến bộ của phụ nữ và hòa bình cho thế giới
Giai đoạn thứ ba ((từ cuối thập niên 1970 đến cuối thế kỷ XX), được xem như là sự tiếp nối của phong trào đâu tranh giai đoạn hai và sự đáp trả đối với những thất bại nhìn thấy được của nó Trong bối cảnh toàn cầu hóa, tự do thông tin
và chính trị toàn cầu, phụ nữ tự tin rằng họ là những nhân tố xã hội tích cực, có khả năng, mạnh mẽ và quyết đoán Họ nỗ lực chỉ ra những áp chế ngầm đối với phụ nữ tiềm ẩn trong những chiến lược chính trị và các mưu đồ toàn cầu hóa; các nhà hoạt động nữ quyền da màu nêu lên vấn đề về chủng tộc và sắc tộc ngay trong bối cảnh
xã hội các nước Thế giới thứ nhất Các nhà đấu tranh nữ quyền kêu gọi xây dựng một liên minh đoàn kết giữa các phong trào nữ quyền khác nhau, mở rộng thuyết đồng tính ra nhiều mảng như đồng tính nam, đồng tính nữ, chuyển đổi giới tính Thành quả lớn nhất của giai đoạn này là việc các học giả nữ tham gia vào nghiên cứu các chuyên ngành khác nhau của triết học, tư tưởng, văn hóa và đòi hỏi thành quả của mình được nhập vào hệ thống tri thức hàn lâm của nhân loại Điều này đã dáng một đòn mạnh vào chủ nghĩa nam quyền ở chỗ mà nó tự hào nhất, xem là “đất cấm”, “đặc sản” của riêng mình Như vậy, đến đây, cuộc đấu tranh nữ quyền đã tấn
Trang 36công một cách toàn diện vào tình trạng bất bình đẳng xã hội, đòi hỏi quyền tự do và khẳng định giá trị cho người phụ nữ ở mọi lĩnh vực
* Chủ nghĩa nữ quyền
Chủ nghĩa nữ quyền hay nữ quyền luận là những lý luận, học thuyết về quyền lợi của người phụ nữ Cho đến nay, tương ứng với ba giai đoạn phát triển của phong trào đấu tranh nữ quyền phương Tây, chủ nghĩa nữ quyền trên thế giới
trải qua ba làn sóng đấu tranh Làn sóng thứ nhất của chủ nghĩa nữ quyền được
khởi đầu từ nước Anh rồi lan ra các quốc gia phương Tây từ nửa sau thế kỉ XIX đến nửa đầu thế kỷ XX Đại diện của giai đoạn này chính là Mari Wollstonerast
được ví như người mẹ đẻ của chủ nghĩa nữ quyền với cuốn “Bản chứng minh các
quyền của phụ nữ” (A Vindication of the Rights of Woman, 1792), bà cho rằng
phụ nữ không phải tự nhiên thấp kém so với đàn ông, mà chỉ do họ thiếu đi sự giáo dục Theo bà, cả đàn ông và phụ nữ phải được đối xử bình đẳng và mường tượng
về một trật tự xã hội dựa trên nguyên lý đó Người thứ hai là Viginia Woolf, nhà nữ quyền học đầu tiên của phương Tây sáng lập ra bộ môn phê bình văn học cho nữ
giới - với tác phẩm “Một căn phòng riêng” (A Rom of One‟s Own, 1929) được coi như “sách vỡ lòng” của phê bình nữ quyền, với những khái niệm mở về đàn bà và
tinh thần dung hòa cả hai mối Bà khẳng định những nhà văn nữ đáng được đứng ngang hàng với các nhà văn nam
Làn sóng thứ hai của chủ nghĩa nữ quyền bắt đầu sôi nổi ở Tây Âu và Bắc
Mỹ từ sau Đại chiến thế giới lần thứ hai và phát triển lên cao trào trong thập niên
60 của thế kỉ XX Gương mặt tiêu biểu nhất của giai đoạn này là Simone de Beauvoir, người được xem là nhà lý luận tiên phong của chủ nghĩa nữ quyền Pháp
với tác phẩm “Giới thứ hai” (The second Sex, 1949) Trong tác phẩm này, bà đã có một tuyên ngôn làm nghiêng ngả tri thức nhân loại: “Người ta sinh ra không phải
là đàn bà, mà trở thành đàn bà” Đây là sự khu biệt giữa tính hữu sinh và sinh
thành, giữa hiện thể và sự chuyển biến, giữa giống và phái “Trở thành” là kết quả của quá trình giáo huấn từ phía gia đình, xã hội, đạo đức, văn hóa mà người phụ
nữ được/ bị tiếp thu khi tham gia vào cuộc đời “Trở thành” còn được hiểu là sự
Trang 37phụ thuộc của người phụ nữ vào đàn ông Như thế, người phụ nữ luôn ở trong trạng thái bị động Qua lý luận của mình, Beauvoir khẳng định: Phụ nữ có khả năng lựa chọn như nam giới và vì thế có thể lựa chọn nâng cao vị thế của mình Bà chỉ ra rằng phụ nữ cần phải giải phóng mình và phục hồi cái tôi của mình, trước hết bằng cách cho phép mình vượt lên bằng những hướng đi tự do, tự hào về bản thân mình trong suy nghĩ, trong sáng tạo, trong hành động giống như nam giới Bà cũng đặt ra những đòi hỏi đối với xã hội trong mục tiêu hướng tới bình đẳng nam nữ Theo bà, muốn đạt được mục tiêu đó thì các cấu trúc xã hội như luật pháp, giáo dục, phong
tục cần phải được điều chỉnh “Giới thứ hai” có thể hiểu là một cách nhìn thứ hai
về thế giới - cách nhìn trên sự bình đẳng, độc lập trong thế giới quan, nhân sinh quan của người phụ nữ Tác phẩm được đánh giá là một bản tuyên ngôn nữ quyền
và từng bị Vatican liệt vào danh sách những cuốn sách bị cấm còn tác giả của nó Beauvoir được tôn là mẹ đẻ của phong trào đòi nam nữ bình quyền hậu 1968
Làn sóng nữ quyền thứ ba của chủ nghĩa nữ quyền ứng với những năm 1980,
1990 Làn sóng này không ồn ào mà lắng xuống bề sâu với những thành tựu to lớn
về tư tưởng, triết học và văn hóa Đại diện cho làn sóng thứ ba này phải kể đến tên
tuổi của Doris Lesing với tác phẩm “Cuốn sổ tay vàng” (The Golden Notebook,
1962) Tiểu thuyết này cũng được coi là tuyên ngôn về nữ quyền khi đào sâu vào thế giới suy tư, xúc cảm của người phụ nữ một cách tường tận, chân thực, mạnh bạo ở hầu khắp các phương diện của đời sống, đặc biệt là ở ba khía cạnh: tình dục, làm mẹ,
những góc nhìn về thế giới đàn ông
Làm nên sự phát triển của tư tưởng nữ quyền thời kì này, chúng ta không thể không nhắc đến gương mặt tiêu biểu trong phong trào phụ nữ cuối thế kỉ XX -
Antoinette Fouque, với tác phẩm “Có hai giới tính: lý luận về khoa học phụ nữ”
(1989-1995) nói về những điều kiện của phụ nữ và vị trí của người phụ nữ trong xã hội Cuốn sách không nhằm đến sự xóa nhòa ranh giới, khẳng định mạnh mẽ sự khác biệt về giới tính Bà cho rằng người ta có thể đạt đến sự bình đẳng trên cơ sở hiểu
được những khác biệt của phụ nữ so với đàn ông Bà khẳng định: “Nhân loại gồm
hai giới phân biệt trong đó một giới bị lãng quên”, và “Coi người phụ nữ là một
Trang 38người đàn ông là đã làm khô cằn người phụ nữ, làm nghèo đi một phần của nhân loại” Bà đặc biệt nhấn mạnh đến tính từ “cái” (femelle) để bày tỏ quan điểm tạo
hóa ban tặng cho người phụ nữ những thiên chức đặc biệt mà người đàn ông không
thể nào có, trong đó có thiên chức làm mẹ Qua đó, bà lên án mạnh mẽ thuyết Phân
tâm học của Frued khi ông cho rằng phụ nữ chỉ là một người đàn ông không hoàn
chỉnh và tôn thờ dương vật như là biểu tượng của mọi sức mạnh
Người đại diện thứ hai của chủ nghĩa hậu nữ quyền đó là Luce Irigaray Bà
phản bác lại lí thuyết Phân tâm học của Frued và cho rằng Phân tâm học là chế độ
phụ quyền, là chủ nghĩa duy dương vật Nó không nhận thức được dục vọng của phụ nữ hay nữ giới có thể phát huy tác dụng như thế nào Đồng thời, bà cũng phê
phán lí thuyết Phân tâm học của Lacan khi cho rằng “cơ thể đàn bà chỉ được coi
như một hố đen”, và yêu cầu cần phải nhìn thấy điều đặc biệt ở nữ giới Và mặc dù tiếp thu có chọn lọc những ý tưởng của Beauvoir về giải phóng phụ nữ nhưng
Irigaray đi đến kết luận ngược lại với Beauvoir Bà cho rằng: giải pháp cho vấn đề
nữ quyền không phải là đồng hóa mà là dị biệt Và bà nhấn mạnh phụ nữ cần phải
tích cực hoạt động để khẳng định đặc trưng của nữ giới chứ không đơn giải là bị
giản lược, đồng hóa vào tính chủ thể nam giới
Các nhà nữ quyền thuộc “thế hệ thứ ba” lại xây dựng lí thuyết phê bình nữ quyền từ quan điểm cho rằng vấn đề giới tính thực chất là vấn đề thể hiện, một hệ thống biểu trưng hay một hệ thống ý nghĩa nào đó nối liền giữa các giống với những nội dung văn hóa tương ứng Julia Kristeva quan tâm đến vấn đề chủ thể lời nói Dựa vào sự phân biệt hai thuật ngữ của mình là “kí hiệu” và “biểu tượng”, bà
đã thiết lập lại sự phân biệt hai khái niệm tưởng tượng và tượng trưng của Lacan: dùng kí hiệu mang ý nghĩa nữ giới làm kẻ phá vỡ biểu tượng phụ quyền và quyền lực sáng tạo Barbra Johnson xem “vấn đề giới tính thực chất là vấn đề ngôn ngữ”
[156] Điều này cũng gần với quan điểm của M Foucault khi cho rằng: “Chân lí
được quyết định bởi ai khống chế được ngôn ngữ, thì quyền khống chế ngôn ngữ
của nam giới đã dụ dỗ nữ giới phải mắc vào tròng chân lí của họ” [125; 186]
Trang 39Trở lên là những vấn đề cơ bản của nữ quyền và lí thuyết phê bình nữ quyền trên thế giới Sau hơn nửa thế kỉ ra đời và phát triển, tinh thần nữ quyền phương Tây cùng với lí thuyết phê bình này đã xuất hiện và ảnh hưởng tốt đến đời sống học thuật ở Việt Nam những năm gần đây
1.2.1.2 Vấn đề nữ quyền ở Việt Nam
Nằm trong vùng ảnh hưởng nặng nề của Nho giáo, tư tưởng “trọng nam khinh nữ” đã ăn sâu bám rễ trong văn hóa người Việt Tuy nhiên, sự phân biệt nam
- nữ của người Việt bớt nặng nề hơn một số nước trong khu vực Người phụ nữ Việt Nam được nền văn hóa gốc nông nghiệp bảo lưu bằng những tín ngưỡng dân gian,
cụ thể là tín ngưỡng thờ Mẫu Bởi lẽ “người nông dân bao giờ cũng biện lí từ cái nhìn cụ thể, mà cái cụ thể về sự sinh tồn nảy nở không gì khác ngoài việc người mẹ mang nặng đẻ đau sinh ra, nuôi dưỡng nên những đứa con và những cái gì nuôi sống, che chở bảo vệ cho con người chiến thắng thiên tai và thú dữ ấy đều được coi
là mẹ” Công lao của người mẹ vẫn được dân gian đề cao bằng những truyền thuyết
về người anh hùng sinh ra bằng cách “thụ thai thần kì” của người mẹ, vai trò của người bố ở đây hoàn toàn mờ nhạt Đó là trường hợp của Thánh Gióng, của Đinh
Bộ Lĩnh Cũng trong tín ngưỡng thờ Mẫu, nghi lễ lên đồng là một hình thức diễn xướng mà ở đó, người phụ nữ vốn bị áp bức, đè nén bởi chế độ nam quyền trong thực tế Nhưng một khi, người phụ nữ ấy bắc ghế hầu thánh sẽ trở thành một con người khác Họ được đề cao bằng khả năng phán truyền, ban tài ban lộc cho những người xung quanh kể cả những người đàn ông Hình tượng Mẫu Liễu Hạnh ra đời
vào thế kỉ XVI, đã được Đoàn Thị Điểm văn bản hóa trong “Truyền kỳ tân phả”
chính là biểu trưng cho khát vọng được giải phóng của người phụ nữ khỏi những luật tục khắt khe của chế độ Nho giáo nam quyền Hoặc như một trường hợp khác, trong những lễ hội dân gian mà ngày nay ít nhiều chúng ta vẫn còn thấy ở đám rước, đi đầu bao giờ cũng có “con đĩ đánh bồng” do hai chàng trai ăn vận giống phụ
nữ như độn ngực, mặc áo váy và chít khăn mỏ quạ như nữ giới Hai nhân vật này đi lại và thực hiện những cử chỉ để thu hút sự chú ý của người xem và gây cười Theo chúng tôi, bản chất của hiện tượng này là sự đề cao người phụ nữ và giễu nhại nam
Trang 40quyền bằng việc đánh ngược nội dung và bản chất để tạo nên không khí cacnavan
Mà theo nhà mĩ học người Nga M B Bakhtin, đó là hiện tượng giải tỏa những cấm
kị vốn được xem là nghiêm túc trong cuộc sống thường nhật Tuy nhiên, việc đề cao người phụ nữ ở đây mới chỉ nằm trong đời sống tinh thần
Trong lĩnh vực pháp luật, địa vị và quyền lợi của người phụ nữ Việt Nam chỉ thực sự được bắt đầu từ Hiến pháp năm 1946: “Đàn bà ngang quyền đàn ông về mọi phương diện” (Điều 9) Từ đó, bình đẳng nam nữ là một trong những nguyên tắc hiến định xuyên suốt trong tất cả các Hiến pháp về sau: Hiến pháp 1959, Hiến pháp 1980, Hiến pháp 1992 (được sửa đổi bổ sung năm 2001, 2013) của Việt Nam Điều này cho thấy, việc tôn trọng và đảm bảo quyền lợi của người phụ nữ không chỉ thuộc phạm trù giáo dục đạo đức mà còn là vấn đề được chú trọng trong lĩnh vực giáo dục pháp luật và nhiều lĩnh vực khác
Trong lĩnh vực văn học, trước khi có sự du nhập của chủ nghĩa nữ quyền phương Tây, ý thức nữ quyền trong văn hóa đã ngấm vào mạch ngầm của văn học dân tộc Tuy nhiên, do sự phát triển của ý thức xã hội mà ở nền văn học trung đại ý thức nữ quyền mới chỉ dừng lại ở những hiện tượng văn học đơn lẻ, mang tính tự phát Từ năm 1945 trở về trước được xem như giai đoạn tiền đề cho tư tưởng nữ quyền Cho đến những thập niên đầu thế kỉ XX ý thức đề cao nữ giới mới được dấy lên bởi những bàn luận của Phan Khôi, Manh Manh nữ sĩ, Đạm Phương nữ sĩ và những
hoạt động xã hội và văn học của Nữ lưu thơ quán do Phan Thị Bạch Vân làm chủ bút
Đúng như nhận định của Hồ Khánh Vân “Tất cả đều bộc lộ quan điểm và tìm tòi về các vấn đề nữ quyền, nhằm trao đổi, tranh luận với nhau Thế nhưng, phải thấy rằng, tư tưởng nữ quyền đầu thế kỷ XX tập trung vào phương diện xã hội nhiều hơn Trong lĩnh vực phê bình và nghiên cứu văn học, các bài viết này chỉ dừng lại ở việc khảo sát một số tác phẩm để tìm ra tư tưởng nữ quyền Vì vậy, về mặt lý luận, phê bình nữ quyền Việt Nam thời kỳ này còn ở dạng sơ khai, phác thảo và có tính xã hội nhiều
hơn” [322]
Do hoàn cảnh chiến tranh nên mãi đến những năm sau 1975, đặc biệt là sau
1986, ý thức nữ quyền mới tiếp tục xuất hiện trở lại trong đời sống văn học nước ta