Việc khảo sát trên diện rộng về ý thức nữ quyền và việc thể hiện ý thức nữ quyền trong thơ trẻ giai đoạn từ 1986 đến nay sẽ giúp chúng tôi có được một cách nhìn, một phương diện đánh giá
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
KHẢM NGUYỄN THỊ HƯỞNG
Ý THỨC NỮ QUYỀN TRONG THƠ NỮ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN TỪ 1986 ĐẾN NAY
(QUA MỘT SỐ TRƯỜNG HỢP TIÊU BIỂU)
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số : 62 22 01 21
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC
PGS
HÀ NỘI, 2016
Trang 2Công trình được hoàn thành tại:
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Lưu Khánh Thơ
Phản biện 1: GS TS Trần Đình Sử
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Phản biện 2: PGS TS Trần Khánh Thành
Trường Đại học KHXH&NV, Đại học Quốc gia Hà Nội Phản biện 3: PGS TS Ngô Văn Giá
Trường Đại học Văn hóa Hà Nội
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Học viện tại: Học viện khoa học xã hội
Vào hồi giờ, ngày tháng năm 2016
Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện Quốc gia Việt Nam
- Thư viện Học viện Khoa học xã hội
Trang 3
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ
1 Nguyễn Thị Hưởng (2014), “Hình ảnh thơ Phan Huyền Thư và
Vi Thùy Linh”, Tạp chí Nhân lực khoa học xã hội, (5), tr.63-68
2 Nguyễn Thị Hưởng (2015), “Ngôn ngữ thơ Phan Huyền Thư và
Vi Thùy Linh”, Kỷ yếu Ngữ học trẻ 2015, Hà Nội, tr.912-915
3 Nguyễn Thị Hưởng (2016), “Ý thức nữ quyền trong thơ ca cổ
điển Việt Nam”, Tạp chí Nhân lực khoa học xã hội, (1),
tr.80-87
4 Nguyễn Thị Hưởng (2016), “Vấn đề giải phóng nhu cầu bản
năng trong thơ nữ đương đại”, Tạp chí Nghiên cứu văn học, (1),
tr.108-114
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
1.1 Trong bối cảnh của thời đại mới, văn học nói chung, thơ nói
riêng đã có những chuyển biến mạnh mẽ, trong đó, không thể không nhắc tới sự xuất hiện và khẳng định tiếng nói của đội ngũ tác giả nữ trẻ Đặc biệt, điều kiện giao lưu và hội nhập quốc tế, đời sống xã hội, tư tưởng, văn hóa khá cởi mở đã giúp cho họ được thể hiện bản ngã, cá tính sáng tạo độc đáo của mình
1.2 Trong sáng tạo nghệ thuật nói chung và thơ ca nói riêng, thế hệ
các nhà thơ nữ trẻ giai đoạn từ 1986 đến nay đã mang đến cho đời sống văn học một tiếng nói mới mẻ, đầy đam mê và nhiệt huyết Trong sáng tác của họ, chúng tôi nhận thấy vấn đề ý thức nữ quyền được đề cập tới một cách khá trực diện, với muôn sắc điệu Nghiên cứu về ý thức nữ quyền trong thơ của
họ, chúng tôi cũng muốn hướng đến việc khẳng định tài năng, vị trí, bản lĩnh
và phong cách thơ của các tác giả nữ giai đoạn từ 1986 đến nay, góp phần vào việc khái quát diện mạo thơ đương đại nói chung
1.3 Số lượng những bài viết, bài nghiên cứu về thơ trẻ và ý thức nữ
quyền trong thơ trẻ nói chung khá phong phú Tuy nhiên, hầu hết các công trình nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở một vài khía cạnh nội dung, nghệ thuật và cũng mới chỉ đề cập đến một, hai hiện tượng đơn lẻ Đôi khi, vẫn còn nhiều những ý kiến khen, chê khá chủ quan, thiên về cảm tính Việc khảo sát trên diện rộng về ý thức nữ quyền và việc thể hiện ý thức nữ quyền trong thơ trẻ giai đoạn từ 1986 đến nay sẽ giúp chúng tôi có được một cách nhìn, một phương diện đánh giá khách quan hơn, chân xác hơn về những đóng góp của họ cho văn học dân tộc
2 Mục đích và nghiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1 Mục đích nghiên cứu
Thực hiện đề tài nghiên cứu này, chúng tôi hướng đến việc làm rõ thêm những vấn đề lý thuyết về nữ quyền, việc tiếp nhận ý thức nữ quyền phương Tây vào thực tiễn nghiên cứu đời sống văn học Việt Nam; việc các tác giả Việt Nam (trong trường hợp này là thơ nữ giai đoạn từ 1986 đến nay) tiếp nhận và thể hiện ý thức nữ quyền ra sao trong sáng tạo nghệ thuật trên cả hai phương diện nội dung và nghệ thuật, từ đó hướng đến sự hình
Trang 5dung trên những nét tiêu biểu và đặc trưng nhất của một hệ hình thơ ca nữ Việt Nam giai đoạn hiện nay
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Giới thiệu tổng quan về vấn đề nữ quyền, nữ quyền luận của phương Tây và sự du nhập lí thuyết nữ quyền luận vào văn học Việt Nam đương đại; - Khái lược về nữ quyền và sự thể hiện ý thức nữ quyền trong văn xuôi và trong thơ Việt Nam; - Sự thể hiện ý thức nữ quyền trong thơ nữ Việt Nam giai đoạn trước 1986; - Các cấp độ thể hiện ý thức nữ quyền trong thơ
nữ Việt Nam giai đoạn từ 1986 đến nay; - Một số phương thức nghệ thuật thể hiện ý thức nữ quyền trong thơ nữ Việt Nam giai đoạn từ 1986 đến nay
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1 Đối tượng nghiên cứu là ý thức nữ quyền trong thơ của đội ngũ
các tác giả nữ sau đây: (1) Dư Thị Hoàn, (2) Phạm Thị Ngọc Liên, (3) Tuyết Nga, (4) Đinh Thị Như Thúy, (5) Lê Ngân Hằng, (6) Phan Huyền Thư , (7) Ly Hoàng Ly, (8) Bình Nguyên Trang, (9) Vi Thùy Linh và (10) Trương Quế Chi
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ đề tài, chúng tôi lựa chọn phạm vi nghiên cứu của luận
án là thơ của 10 tác giả nữ tiêu biểu được nhắc đến ở tiểu mục 3.1 trên đây
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
4.1 Phương pháp luận nghiên cứu của luận án
Ngoài phương pháp luận chung của nghiên cứu khoa học xã hội nhân văn, thực hiện đề tài nghiên cứu này, chúng tôi xác định việc triển khai trên nguyên tắc phương pháp luận riêng sau đây:
- Đặt văn học nghệ thuật trong chỉnh thể kiến trúc thượng tầng, cụ thể
là đặt văn học mang nội dung ý thức nữ quyền trong mối quan hệ với cơ sở kinh tế cùng với hệ ý thức xã hội cũng như các thiết chế chính trị - xã hội tương ứng để thấy được nguyên nhân xuất hiện cũng như quá trình phát triển của văn học mang nội dung ý thức nữ quyền trong nền văn học dân tộc;
- Vận dụng linh hoạt lý thuyết phương Tây, cụ thể là lý thuyết nữ
quyền trong nghiên cứu thực tiễn đời sống văn học Việt Nam
- Nhìn nhận các cấp độ nội dung cũng như những phương thức nghệ
thuật thể hiện ý thức nữ quyền trong thơ nữ Việt Nam giai đoạn từ 1986 đến nay từ thực tiễn đời sống văn hóa, chính trị - xã hội của dân tộc
Trang 64.2 Phương pháp nghiên cứu của luận án
Từ nguyên tắc phương tắc phương pháp luận trên, để hoàn thành nghiên cứu này, chúng tôi đã sử dụng phối hợp các phương pháp chính sau
đây: (1) Phương pháp thống kê - phân loại; (2) Phương pháp phân tích tác
phẩm văn học; (3) Phương pháp loại hình học văn học; (4) Phương pháp so sánh văn học; (5) Phương pháp nghiên cứu liên ngành
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án
5.1 Luận án là công trình khoa học đầu tiên đặt ra và nghiên cứu
một cách toàn diện về nữ quyền trong thơ nữ Việt Nam giai đoạn từ năm
1986 đến nay (qua một số trường hợp tiêu biểu) Trong đó, các vấn đề lý thuyết về giới, về nữ quyền, về sự thể hiện ý thức nữ quyền trong thơ nữ Việt Nam từ truyền thống đến hiện đã được làm rõ Đặc biệt, các cấp độ nội dung cũng như nghệ thuật của việc thể hiện ý thức nữ quyền trong thơ nữ đương đại, từ năm 1986 đến nay đã được khảo sát, mô tả và tổng kết tương đối đầy đủ
5.2 Công trình đồng thời cũng sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho
giới nghiên cứu, phê bình văn học Việt Nam hiện đại
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
- Đề tài có ý nghĩa lý luận: Khái quát tương đối đầy đủ một số
phương diện quan trọng trong lịch sử cũng như những nội dung quan trọng của lý thuyết Nữ quyền phương Tây và đặc biệt là cách thức vận dụng lý thuyết này vào nghiên cứu thực thể văn học Việt Nam;
- Đề tài cũng có ý nghĩa thực tiễn: Từ cái nhìn ý thức nữ quyền,
chúng tôi đã có những nhận định, đánh giá về các cấp độ nội dung và phương thức nghệ thuật của thơ nữ Việt Nam giai đoạn từ 1986 đến nay (qua một số trường hợp tiêu biểu)
7 Cơ cấu của luận án
Nội dung chính của luận án được triển khai trên 4 chương: Chương
1: Tổng quan tình hình nghiên cứu của đề tài và giới thuyết về giới tính,
phái tính và nữ quyền; Chương 2: Ý thức nữ quyền trong thơ nữ Việt Nam trước 1986; Chương 3: Các cấp độ thể hiện ý thức nữ quyền trong thơ nữ Việt Nam giai đoạn từ 1986 đến nay; Chương 4: Các phương thức thể hiện
ý thức nữ quyền trong thơ nữ Việt Nam giai đoạn từ 1986 đến nay
Trang 7Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI VÀ GIỚI THUYẾT VỀ NỮ QUYỀN, Ý THỨC NỮ QUYỀN
1.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
1.1.1 Tình hình nghiên cứu ý thức nữ quyền trong văn học Việt Nam
1.1.1.1 Từ đầu thế kỉ XX đến trước năm 1945
Đây là giai đoạn có tính chất tiên phong trong việc nghiên cứu văn học
nữ cũng như ý thức nữ quyền trong văn học Việt Nam Có thể kể đến công trình của các tác giả như Phan Khôi, Manh Manh nữ sĩ (Nguyễn Thị Kiêm), Vân Hương nữ sĩ, Nguyễn Thị Hồng Đăng, Lệ Hương, Lê Thị Huỳnh Lan, Đạm Phương nữ sĩ, Phan Thị Bạch Vân Tuy nhiên, do xuất hiện trong bối cảnh sôi động của văn học đương thời và do cả đối tượng nghiên cứu là văn học nữ còn hạn chế nên khuynh hướng này nhanh chóng bị chìm khuất Phải đến những nghiên cứu về nữ quyền gần đây mới xác lập lại vai trò và đóng góp của các tác giả trên
1.1.1.2 Từ năm 1945 đến 1975
Ở miền Bắc, do yêu cầu phục vụ cách mạng, cổ vũ chiến đấu nên vấn đề nghiên cứu văn học nữ, ý thức phái tính hay tiếng nói nữ quyền không thu hút sự quan tâm của giới nghiên cứu Ở miền Nam, tình hình nghiên cứu nữ quyền trong văn học cũng hết sức mờ nhạt, mặc dù đời sống sáng tác cũng phong phú
và quan điểm của nhà cầm quyền cũng tỏ ra cởi mở trong việc du nhập nhiều lí thuyết phê bình văn học phương Tây
1.1.1.3 Từ sau năm 1986 đến 1998
Vấn đề ý thức nữ quyền giai đoạn này đã được khơi gợi trở lại bởi các
ý kiến của Võ Phiến, Trương Chính, Phương Lựu, Lại Nguyên Ân, Phạm Xuân Nguyên, Đặng Anh Đào… Tuy nhiên, khép lại giai đoạn này, vấn đề nghiên cứu ý thức nữ quyền trong văn học Việt Nam nhìn chung vẫn dừng lại ở mức khiêm tốn cả về số lượng lẫn diện tiếp xúc giữa người nghiên cứu, phê bình và đối tượng của nghiên cứu, phê bình
1.1.1.4 Từ 1999 đến 2006
Đây là “giai đoạn bùng nổ” của phê bình nữ quyền ở Việt Nam Có thể kể đến các bài viết của Nguyễn Hưng Quốc, Châm Khanh, Hoàng Ngọc Tuấn, Nguyễn Hoàng Đức, Nguyễn Hữu Lê…
Trang 81.1.1.5 Từ 2006 đến nay
Giai đoạn này được xem là thời kì phát triển của phê bình nữ quyền
ở Việt Nam Các bài viết về văn học nữ quyền trong giai đoạn này thành ba khuynh hướng là (1) Khuynh hướng nghiên cứu văn học thiên về dục tính/sex là những bài viết lấy đối tượng là yếu tố sex trong sáng tác của các cây bút nữ để nghiên cứu; (2) Khuynh hướng thứ hai tập hợp những ý kiến bàn luận đến nữ tính, thiên tính nữ trong văn học nữ như là những đặc trưng của giới quy định nội dung sáng tác của văn học nữ ở Việt Nam và (3) Khuynh hướng thứ ba là nghiên cứu văn học nữ trên bình diện nữ quyền
1.1.2 Tình hình nghiên cứu ý thức nữ quyền trong thơ nữ Việt nam giai đoạn từ 1986 đến nay
Đầu tiên là những ý kiến khái quát về thơ Việt Nam đương đại và vấn
đề nữ tính, âm hưởng nữ quyền trong thơ đương đại Có thể kể đến các bài viết
của các tác giả như Lê Lưu Oanh, Lê Thành Nghị, Trần Hoàng Thiên Kim, Inrasara, Hoàng Vũ Thuật, Lưu Khánh Thơ… Bên cạnh sự ghi nhận những nỗ lực cách tân của các nhà thơ nữ thế hệ 7x, 8x, đa số các bài viết đều bày tỏ sự hi vọng thế hệ nhà thơ này tiếp tục đổi mới mình trên hành trình sáng tạo để đi xa hơn nữa trên con đường lao động nghệ thuật Bên cạnh đó, một số nhà thơ nữ tiêu biểu, “đình đám” trên thi đàn giai đoạn này như Phan Huyền Thư, Vi Thùy Linh, Ly Hoàng Ly là những cây bút được giới nghiên cứu, phê bình đặc biệt quan tâm
Có thể khẳng định rằng, những thành quả của các nhà nghiên cứu đi trước sẽ là những tham khảo cần thiết để chúng tôi tiến hành các nội dung tiếp theo của luận án
1.2 GIỚI THUYẾT NỮ QUYỀN VÀ Ý THỨC NỮ QUYỀN
1.2.1 Giới thuyết về nữ quyền
1.2.1.1 Chủ nghĩa nữ quyền phương Tây
Cùng với quá trình phát triển của phong trào đấu tranh nữ quyền phương Tây, chủ nghĩa nữ quyền cũng ngày càng được hoàn thiện về mặt lí
luận Ở Làn sóng thứ nhất, chủ nghĩa nữ quyền hướng đến việc chỉ ra địa vị
cũng như những nguyên nhân khiến người phụ nữ bị thấp kém hơn nam giới và yêu cầu một sự ứng xử bình đẳng với phụ nữ trong đời sống cũng
như trong sáng tác văn học Đến Làn sóng thứ hai, chủ nghĩa nữ quyền
không chỉ dừng lại ở việc chỉ ra nguyên nhân xã hội dẫn đến sự bất bình
Trang 9đẳng nam nữ mà trên cơ sở đó yêu cầu về sự điều chỉnh các cấu trúc xã hội
nhằm hướng đến sự bình đẳng giới Đến Làn sóng nữ quyền thứ ba, chủ
nghĩa nữ quyền bắt đầu quan tâm đến đời sống tình cảm, tâm lý và cả bản năng của người phụ nữ Cùng với việc lên án và phản bác lại thuyết Phân tâm học của Frued, Lacan, chủ nghĩa nữ quyền giai đoạn này hướng đến nâng cao giá trị của người phụ nữ bằng việc đề cao sự khác biệt giới và khẳng
định giải pháp cho vấn đề nữ quyền không phải là đồng hóa mà là dị biệt
1.2.2.2 Vấn đề nữ quyền ở Việt Nam
Trong lĩnh vực văn học, trước khi có sự du nhập của chủ nghĩa nữ quyền phương Tây, ý thức nữ quyền trong văn hóa đã ngấm vào mạch ngầm của văn học dân tộc Tuy nhiên, do sự phát triển của ý thức xã hội mà ở nền văn học trung đại ý thức nữ quyền mới chỉ dừng lại ở những hiện tượng văn học đơn lẻ, mang tính tự phát Và giai đoạn từ năm 1945 trở về trước được xem như giai đoạn tiền đề cho tư tưởng nữ quyền Cho đến những thập niên đầu thế kỉ XX, ý thức đề cao nữ giới mới được dấy lên bởi những bàn luận của một số học giả nghiên cứu văn học và những nhà hoạt động xã hội Tuy nhiên,
“về mặt lý luận, phê bình nữ quyền Việt Nam thời kỳ này còn ở dạng sơ khai, phác thảo và có tính xã hội nhiều hơn” [322] Do hoàn cảnh chiến tranh đến những năm sau 1975, đặc biệt là sau 1986, ý thức nữ quyền mới tiếp tục xuất hiện trở lại trong đời sống văn học nước ta
1.2.1.3 Quan niệm về ý thức nữ quyền trong thơ nữ Việt Nam giai đoạn từ 1986 đến nay
- Khái niệm nữ quyền: là quyền lợi của người phụ nữ đặt trong thế
tương quan với quyền lợi của nam giới để đạt đến cái gọi là nam nữ bình quyền Feminism ngoài ý nghĩa biểu đạt là chỉ nữ quyền, nó còn là một học thuyết chủ trương nữ quyền dựa trên nền tảng của sự bình đẳng giới Bởi vậy,
có thể hiểu, “nữ quyền” trong văn học là một chủ trương, một cách tiếp cận về người phụ nữ theo hướng tôn trọng, đề cao, xem người phụ nữ là trung tâm của mọi sự phản ánh Qua đó, khẳng định bản sắc, giá trị riêng của giới nữ, nhấn mạnh đến sự khác biệt phái tính và đề cao nữ tính
- Quan niệm về ý thức nữ quyền trong văn học: là tiếng nói của những
cây bút nữ thể hiện nhu cầu giãi bày những trăn trở, suy tư của mình về hiện thực cuộc sống cũng như bày tỏ những quan điểm về vị trí, vai trò, quyền lợi của giới mình và khát vọng giải phóng những ẩn ức tinh thần thầm kín của bản
Trang 10thân thông qua cái nhìn mang đậm cảm quan về giới, mang đặc trưng tâm lí của
nữ giới trước hiện thực Như vậy, ý thức nữ quyền trong cách triển khai của
chúng tôi sẽ bao hàm cả ý thức về phái tính
- Về cách hiểu “thơ nữ Việt Nam giai đoạn từ 1986 đến nay: cũng có thể
gọi ngắn gọn lại là “thơ nữ đương đại” Cách gọi của chúng tôi nhằm mục đích
cụ thể hóa về mặt thời gian của sự xuất hiện thơ nữ “giai đoạn từ 1986 đến nay”
- Phạm trù “thơ nữ” dùng để phân định về mặt chủ thể sáng tạo,
nhấn mạnh đến những cây bút nữ làm thơ
Tiểu kết Chương 1
Trong Chương 1, chúng tôi khái quát tình hình nghiên cứu của đề tài
và bước đầu làm rõ lịch sử của nữ quyền và nữ quyền luận phương Tây cũng như quá trình du nhập của lý thuyết này vào đời sống văn hóa tinh thần của người Việt, đặc biệt là việc vận dụng nó trong nghiên cứu, phê bình văn học dân tộc Sau khi làm rõ các khái niệm, “nữ quyền”, “giới tính”, “nữ tính” và
“phái tính” trong văn học, chúng tôi đề xuất khái niệm: ý thức nữ quyền trong
văn học là tiếng nói của những cây bút nữ thể hiện nhu cầu giãi bày những trăn
trở, suy tư của mình về hiện thực cuộc sống cũng như bày tỏ những quan điểm
về vị trí, vai trò, quyền lợi của giới mình và khát vọng giải phóng những ẩn ức tinh thần thầm kín của bản thân thông qua cái nhìn mang đậm cảm quan về giới, mang đặc trưng tâm lí của nữ giới trước hiện thực, đề cao vẻ đẹp thể xác
và tâm hồn của người phụ nữ, khẳng định bản sắc riêng của giới nữ
Chương 2
Ý THỨC NỮ QUYỀN TRONG THƠ NỮ VIỆT NAM TRƯỚC 1986
2.1 Ý THỨC NỮ QUYỀN TRONG THƠ NỮ CỔ ĐIỂN
2.1.1 Ý thức về vẻ đẹp của người phụ nữ
Những cảm nhận, suy tư về vẻ đẹp của người phụ nữ chỉ xuất hiện từ thế kỉ XV trở đi trong sáng tác của Ngô Chi Lan và lần lượt được khẳng định qua các tên tuổi như Đoàn Thị Điểm, Hồ Xuân Hương, Lê Ngọc Hân, Nguyễn Thị Hinh (Bà Huyện Thanh Quan)… Tuy nhiên, vẻ đẹp của người phụ nữ ở mỗi tác giả lại có những cách biểu hiện khác nhau Người phụ nữ trong thơ Ngô Chi Lan là hiện thân của vẻ đẹp hoàn mĩ: đẹp người đẹp nết
Trang 11Đến thời Hồ Xuân Hương, bà đặc biệt quan tâm đến việc thể hiện vẻ đẹp thân thể của người phụ nữ bằng việc miêu tả nó một cách cụ thể đến từng chi tiết, kể cả những vùng nhạy cảm của người phụ nữ
2.1.2 Ý thức về quyền sống của người phụ nữ
Khát vọng hạnh phúc là một trong những nội dung được các nữ thi
sĩ nói nhiều đến trong các sáng tác của mình Có thể kể đến “Chinh phụ
ngâm khúc” (bản dịch Nôm của Đoàn Thị Điểm), “Ai tư vãn” của Lê Ngọc
Hân, các tác phẩm thơ Nôm Hồ Xuân Hương, các sáng tác của bà Huyện Thanh Quan…Khát vọng tình yêu và hạnh phúc của người phụ nữ không còn chung chung siêu hình mà nó gắn với những cảm xúc đời thường nhất trong cuộc sống ân ái vợ chồng
Bên cạnh đó, đời sống bản năng trở thành thế mạnh để người phụ nữ khẳng định quyền sống cũng như thế mạnh của mình khi sáng tạo văn chương
Điều này được thể hiện qua Chinh phụ ngâm khúc (bản dịch Nôm của Đoàn
Thị Điểm) và đặc biệt được thể hiện mạnh mẽ trong nhóm thơ Nôm truyền tụng của Hồ Xuân Hương.Khi viết về khao khát ái ân của người phụ nữ, các nữ
sĩ trung đại còn cất tiếng nói phản kháng sự bất công của chế độ phong kiến đối với người phụ nữ
2.2 Ý thức nữ quyền trong thơ nữ đầu thế kỉ XX
2.2.1 Người phụ nữ với khát vọng bình quyền
Khát vọng bình quyền, hay ở một dạng thức nào đó là khát vọng “trở thành nam nhi” ở người phụ nữ giai đoạn này được thể hiện ở hình ảnh những liệt nữ trong lịch sử và trong văn học truyền thống Ở nhóm thơ vịnh sử, những
nữ anh hùng được nhắc đến trong cảm hứng ngợi ca bi tráng như một niềm tự
hào về sức mạnh của người phụ nữ Việt Nam (Hai Bà Trưng - Đạm Phương;
Trưng Nữ Vương - Ngân Giang) Bên cạnh cảm hứng ngợi ca, một số bài
thơ vịnh sử của các nhà thơ nữ giai đoạn giao thời còn thể hiện cảm hứng đối
thoại với truyền thống nam quyền (Bà Mỵ Châu, Đạm Phương) Thơ vịnh sử
của các tác giả nữ giai đọan này bên cạnh âm hưởng hùng tráng, lẫm liệt còn ẩn chứa dư vị thủ thỉ tha thiết - một chất giọng riêng của phái nữ
2.2.2 Người phụ nữ với cái tôi trữ tình thời Thơ mới
Dưới những biến động to lớn trong xã hội Việt Nam những năm 30 của thế kỉ trước, Thơ mới ra đời đã trở thành địa hạt để cái tôi cá nhân tự giãi bày cảm xúc và thể hiện cá tính Tuy nhiên, mặc dù xuất hiện trong thời đại
Trang 12cái tôi cá nhân được đề cao nhưng do đặc trưng của văn học lãng mạn, ý thức
nữ quyền trong thơ nữ thời phong trào Thơ mới có phần nhẹ nhàng hơn so với các nhà thơ nữ trung đại Ý thức ấy mới chỉ dừng lại ở sự chủ động thể hiện tình cảm của người phụ nữ trong thời kỳ cái tôi cá nhân thức tỉnh Đó
là cảm xúc cô đơn của một cái tôi khi không thể tìm được sự chia sẻ và thiếu vắng sự nương tựa trong thơ Vân Đài, Mộng Sơn, Ngân Giang, Mộng Tuyết… Đó còn là một cái tôi dạt dào cảm xúc và đầy nữ tính trước không
gian làng quê với tình quê hồn hậu trong trẻo trong thơ Anh Thơ…
2.3 Ý thức nữ quyền trong thơ nữ giai đoạn từ 1945 đến 1975
2.3.1 Người phụ nữ với thái độ nhập cuộc
Đó là quá trình hòa mình vào hai cuộc chiến tranh thần thánh của dân tộc của những nhà thơ nữ Thơ mới như Vân Đài, Anh Thơ Đó còn là tinh thần nhập cuộc của những cây bút nữ thời tiền chiến như thơ của Xuân Quỳnh, Lâm Thị Mĩ Dạ, Phan Thị Thanh Nhàn, Ý Nhi Bên cạnh việc phản ánh những nỗi đau, sự tàn phá hủy diệt của chiến tranh, thơ nữ giai đoạn này đã khẳng định một quan điểm sống mạnh mẽ và vững vàng trong thời đại cách mạng Đặc biệt, bên cạnh những vần thơ đầy ắp những sự kiện, những lo âu, trăn trở bao giờ cũng ẩn chìm một vẻ đẹp đằm thắm, giàu nữ tính
2.3.2 Người phụ nữ với ý thức công dân
Thơ nữ những năm cả nước lên đường đánh giặc mang đầy đủ những biểu hiện của ý thức công dân có trong thơ của các nhà thơ nam cùng thời Cho nên, dù là thơ viết về về tình yêu, về nỗi nhớ, về tình chồng vợ, tình mẹ con…thì người đọc vẫn dễ dàng tìm thấy bóng dáng của một thời đánh giặc Đặc biệt, khi nói về cái chết, hình ảnh người phụ nữ ngã xuống được miêu tả như hành trình đi vào cõi bất tử, trở thành vẻ đẹp sáng ngời mang tính sử thi của hình tượng người chiến sĩ cách mạng
2.4 Ý thức nữ quyền trong thơ nữ từ 1975 đến 1985
2.4.1 Người phụ nữ với cái tôi trữ tình mang ý thức cá nhân
Ý thức cá nhân của người phụ nữ giai đoạn này là sự thức tỉnh trong đời sống tình cảm riêng tư của người phụ nữ Tình yêu của người phụ nữ thời bình là một thế giới riêng tư với nhiều trạng thái cảm xúc khác nhau đan xen giữa hạnh phúc và khổ đau, chia li và đoàn tụ, hoài nghi và dối lừa… Đọc thơ của Xuân Quỳnh, Lâm Thị Mỹ Dạ, Phan Thị Thanh Nhàn, Ý Nhi… người
Trang 13đọc dễ dàng bắt gặp những cái tôi trữ tình tha thiết, chân thành, giàu nữ tính với khao khát được hòa nhập vào tận cùng những cung bậc đa diện của tình yêu Đó là những tiếng nói sôi nổi, trẻ trung và đầy ắp những trải nghiệm Đặc biệt, sự bừng nở của đời sống cá nhân đã tạo tiền đề cho sự hình thành ý thức nữ quyền mang màu sắc phái tính trong thơ nữ giai đoạn này Đó là những cá tính mạnh mẽ, dám quyết đoán, nói thẳng nói thật những suy nghĩ của mình về bản thân về xã hội
2.4.2 Người phụ nữ với cảm quan thế sự - đời tư
Trạng thái tâm lí cùng với những hoàn cảnh xã hội thời bình là nguyên nhân kéo ý thức nữ quyền về trạng thái ban đầu của nó với những biểu hiện về phái tính của người phụ nữ Những cây bút vốn trưởng thành trong thời kỳ kháng chiến chống Mĩ như Xuân Quỳnh, Phan Thị Thanh Nhàn, Ý Nhi… đã thể hiện sâu sắc những suy tư của người phụ nữ về những vấn cấp thiết đặt ra thời hậu chiến Thơ nữ thời kì này bên cạnh những bài thơ mang cảm hứng tưởng niệm như một sự nhắc nhớ về một thời khốc liệt vừa qua còn chứa đựng những nội dung phản chiến sâu sắc, thậm chí cả những băn khoăn dao động, mất niềm tin trước hiện thực với muôn vàn khó khăn trong cuộc sống đời thường
Tiểu kết Chương 2
Kể từ khi hình thành, diện mạo văn học nữ nước ta có đã có những bước thăng trầm tùy theo hoàn cảnh riêng của mỗi giai đoạn lịch sử Tuy nhiên, ở thời kỳ nào, thơ nữ vẫn mang những đặc điểm khu biệt riêng so với văn học đương thời bởi nó được tạo nên từ cách cảm, cách nghĩ của người phụ nữ Điểm gặp gỡ giữa thơ nữ các thời kì chính là những nỗ lực “quẫy đạp”, đấu tranh của người phụ nữ để một nửa thế giới phải lắng nghe tiếng nói và chia sẽ những trăn trở của họ về quyền sống của con người Quá trình đó được xem là sự vươn lên đòi quyền bình đẳng và tự khẳng định
mình của người phụ nữ trong suốt chiều dài lịch sử văn học dân tộc