MỤC LỤC Trang MỞ ĐẦU 1 1. Lý do chọn đề tài 1 2. Lịch sử nghiên cứu 3 3. Mục đích nghiên cứu của luận văn 8 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8 5. Những luận điểm cơ bản và đóng góp mới của tác giả 8 6. Phương pháp nghiên cứu 8 7. Cấu trúc của luận văn 9 Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DẠY HỌC THEO PHƯƠNG PHÁP DỰ ÁN VÀ BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN KĨ NĂNG DẠY HỌC THEO PHƯƠNG PHÁP DỰ ÁN 9 1.1. Cơ sở lý luận chung về phương pháp dạy học 9 1.1.1. Khái niệm phương pháp dạy học 9 1.1.2. Giới thiệu một số phương pháp dạy học 10 1.2. Phương pháp dạy học dự án 15 1.2.1. Thế nào là phương pháp dạy học dự án? 15 1.2.2. Bản chất, mục tiêu của phương pháp dạy học dự án? 16 1.3. Các kỹ năng dạy học theo phương pháp dự án 19 1.3.1. Kỹ năng xây dựng dự án 20 1.3.2. Kỹ năng thiết kế tài liệu hỗ trợ sinh viên 21 1.3.3. Kỹ năng thuyết trình 21 1.3.4. Kỹ năng phân loại sinh viên thực hành dự án, giao dự án 21 1.3.5. Kỹ năng hướng dẫn, làm mẫu dự án 22 1.3.6. Kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin 23 1.3.7. Kỹ năng thu thập và xử lý thông tin 24 1.3.8. Kỹ năng xây dựng bộ câu hỏi kiểm tra, đánh giá 25 1.3.9. Kỹ năng kiểm tra, đánh giá 26 1.4. Biện pháp rèn kĩ năng dạy học theo phương pháp dự án 27 1.4.1. Khái niệm 27 1.4.2. Các biện pháp rèn kĩ năng dạy học theo phương pháp dự án 28 Tiểu kết chương 1 29 Chương 2: THỰC TRẠNG KĨ NĂNG DẠY HỌC THEO PHƯƠNG PHÁP DỰ ÁN VÀ BIỆN PHÁP RÈN KĨ NĂNG DẠY HỌC THEO PHƯƠNG PHÁP DỰ ÁN CHO GIÁO VIÊN Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG THỰC HÀNH FPT 29 2.1. Giới thiệu đôi nét về trường Cao đẳng Thực hành FPT 29 2.1.1. Lịch sử hình thành và quá trình phát triển 29 2.1.2. Tại sao lại phải dạy học theo phương pháp dự án tại trường Cao đẳng thực hành FPT? 30 2.2. Thực trạng kĩ năng DHTDA của giáo viên trường Cao đẳng thực hành FPT 32 2.2.1. Những vấn đề chung về nghiên cứu thực trạng 32 2.2.2. Kết quả và phân tích kết quả khảo sát thực trạng 33 2.3. Thực trạng các biện pháp rèn kĩ năng DHTDA cho giáo viên ở trường Cao dẳng Thực hành FPT 46 2.4. Đánh giá những mặt mạnh và mặt yếu về kĩ năng DHTDA và biện pháp rèn các kĩ năng này cho giáo viên cũng như nguyên nhân của thực trạng. 49 2.4.1. Đánh giá những mặt mạnh và mặt yếu về kĩ năng dạy học theo phương pháp dự án và biện pháp rèn các kĩ năng này cho giáo viên 49 2.4.2. Nguyên nhân của hạn chế về kĩ năng dạy học theo phương pháp dự án và biện pháp rèn các kĩ năng này cho GV 50 Tiểu kết chương 2 50 Chương 3: CÁC BIỆN PHÁP RÈN KĨ NĂNG DẠY HỌC THEO PHƯƠNG PHÁP DỰ ÁN CHO GIÁO VIÊN VÀ THỰC NGHIỆM 51 3.1. Các nguyên tắc đề xuất biện pháp 51 3.1.1. Nguyên tắc đảm bảo tính mục tiêu 51 3.1.2. Nguyên tắc bảo đảm tính thực tiễn 52 3.1.3. Nguyên tắc bảo đảm tính vừa sức 52 3.1.4. Nguyên tắc bảo đảm tính khoa học 53 3.2. Các biện pháp rèn kĩ năng dạy học theo PP dự án cho giáo viên 54 3.2.1. Nhóm biện pháp thứ nhất: Nâng cao chất lượng và hiệu quả lớp bồi dưỡng do trường Fpoly và các nhóm bộ môn trong trường tổ chức 56 3.2.2. Nhóm biện pháp thứ hai: Nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác rèn luyện của cá nhân giáo viên 79 3.3. Thực nghiệm các biện pháp rèn kĩ năng dạy học theo phương pháp dự án cho giáo viên 82 3.3.1. Kế hoạch thực nghiệm 83 3.3.2. Kết quả và phân tích kết quả thực nghiệm 83 Tiểu kết chương 3 94 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 97 TÀI LIỆU THAM KHẢO 100 PHỤ LỤC
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Ở bất cứ quốc gia nào con người luôn là yếu tố quyết định đến thànhcông hay thất bại trong đường lối chính sách phát triển, là nhân tố quan trọng bậcnhất để tạo ra của cải vật chất cho xã hội Điều này càng có ý nghĩa quan trọng hơn
ở Việt Nam, một đất nước có nguồn nhân lực dồi dào, tiềm năng để phát triển rấtlớn Trong rất nhiều Đại hội Đảng toàn quốc, Đảng ta đã chủ trương đẩy mạnhCNH - HĐH để xây dựng đất nước, và khẳng định vai trò của con người, nguồn lựccon người được như một yếu tố cơ bản của sự phát triển Trong Nghị quyết Hộinghị Trung ương 8 lần thứ XI, Đảng ta cũng đã đưa ra quan điểm chỉ đạo: Giáo dục
và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân.Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, được ưu tiên đi trước trong các chươngtrình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội
1.2 Đầu tư cho con người nói chung và đầu tư cho nguồn nhân lực nói riêng
là đầu tư chiều sâu, đầu tư cho phát triển Ngày nay, trong bối cảnh của cuộc cáchmạng khoa học kỹ thuật và công nghệ đang phát triển mạnh mẽ, ảnh hưởng từngngày đến quá trình phát triển xã hội; tất cả các quốc gia đều nhận thức rõ vai trò củachất lượng nguồn nhân lực Vì vậy, giáo dục đào tạo nói chung, dạy nghề nói riêngtrở thành “chìa khóa vàng” để mở rộng tất cả các cánh cửa thăng tiến cho xã hộicũng như cho mỗi cá nhân, như Garry Becker, người Mỹ đạt giải Nobel kinh tế năm
1992 đã nói: Không có đầu tư nào là mang lại nguồn lợi lớn như đầu tư vào nguồnnhân lực Quả đúng như vậy, tiềm năng kinh tế của một nước phụ thuộc vào cácđiều kiện về giáo dục và đào tạo, trong đó đào tạo nghề có vai trò không nhỏ trongviệc tạo ra nguồn lao động có kỹ thuật, góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động phùhợp với cơ cấu kinh tế trong công cuộc CNH - HĐH
1.3 Trên thực tế, các cơ sở dạy nghề ở nước ta hiện nay chưa được quan tâmphát triển đúng mức; đặc biệt là còn nhiều bất cập như: hệ thống các cơ sở dạy nghềchưa được quy hoạch phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội; cơ sở vật chất, trangthiết bị thiếu thốn, chưa được đầu tư thậm chí còn lạc hậu; trình độ của đội ngũ giáoviên dạy nghề còn thiếu về số lượng và yếu về chất lượng; chương trình giảng dạycòn chậm đổi mới….do đó chưa thu hút được nhiều học sinh tham gia học nghề
Trang 21.4 Cao đẳng thực hành FPT Polytechnic là Hệ cao đẳng thuộc Trường
Đại học FPT (Tập đoàn FPT) thành lập năm 2010; Hệ Cao đẳng thực hành FPT P là
hệ thống đào tạo tiên tiến dựa trên sức mạnh của công nghệ thông tin Hiện tại đã cógần 10 nghìn sinh viên trưởng thành và lập nghiệp theo các chương trình đào tạocủa trường Hiệu trưởng Trường Đại học FPT đã đưa ra thông điệp đào tạo của nhàtrường với các mục tiêu cụ thể:
Thứ nhất, với tiêu chí hàng đầu “Thực học - Thực nghiệp”, với mong muốn
các sinh viên sẽ nhanh chóng thuần thục các kỹ năng thực tế đòi hỏi của công việc
và từ đó xây dựng sự nghiệp của mình
Thứ hai, nhà trường hướng tới việc sử dụng thực tiễn làm bài học theo phương pháp học tập qua dự án (project - based - training) Theo đó, sinh viên
sẽ được trao đồ án ngay từ đầu mỗi học kỳ và mỗi bài học thực tế sẽ giải quyết cácvấn đề đặt ra từ doanh nghiệp Theo đó, mỗi năm học tập cũng trở thành mỗi nămkinh nghiệm làm việc của sinh viên
Thứ ba, là thành viên của FPT, tập đoàn lớn nhất về Công nghệ thông tin ở
Việt Nam, nhà trường muốn chia sẻ các thành công và kinh nghiệm của mình vớicác bạn sinh viên FPT Polytechnic thực hiện chiến lược “go - mass” (hướng tới đạichúng) nhằm đáp ứng nhu cầu học tập và lập nghiệp của đa số các sinh viên dựatrên việc đào tạo các ngành nghề thiết yếu cho nhu cầu xã hội
Cuối cùng, nhà trường hy vọng gắn kết với sinh viên hoàn thành mục tiêu
“Thực học - Thực nghiệp” vì sự phát triển bền vững của mỗi cá nhân, gia đình
và đất nước
1.5 Mặt khác, trường Cao đẳng thực hành FPT với triết lý đào tạo “Thực học - Thực nghiệp”, FPT Polytechnic sử dụng phương pháp học tập qua dự án với mục tiêu lớn nhất là “Tốt nghiệp - Tốt nghề“.
1.6 Để thực hiện triết lý đào tạo tại Trường Cao đẳng Thực hành FPT, cácmôn học phải được định hướng theo phương pháp học hiệu quả, vận dụng có giá trịhay nói cách khác học phải đi đôi với hành Trong đó, các môn thuộc chuyên ngànhgiáo dục chính trị là những môn khoa học có ý nghĩa phương pháp luận quan trọnggiúp SV định hướng và vận dụng tốt các quy luật trong việc nghiên cứu, học tập vàthực hành vận dụng sau khi tốt nghiệp Đặc biệt, trong đó có môn học Kinh tế chính
Trang 3trị dành cho SV khối ngành kinh tế cũng đã được Trường Cao đẳng Thực hành FPTquan tâm và xây dựng chương trình giảng dạy theo phương pháp dự án.
Tuy nhiên, để thực hiện được triết lý đào tạo và mục tiêu nhà trường đề ranhư trên, Trường cao đẳng thực hành FPT đã đầu tư nâng cao cơ sở vật chất kỹthuật toàn diện, mặt khác để đảm bảo được sinh viên ra trường đáp ứng được nhucầu nguồn lực cao của xã hôi, hoàn thiện về tay nghề và chuyên môn thì giảng viên(người đóng vai trò định hướng) tại trường có những nhiệm vụ và sứ mệnh rất cao
cả Để đáp ứng được mục tiêu “Thực học - thực nghiệp” tại Cao đẳng thực hànhFPT đòi hỏi người giáo viên không những chỉ vững về chuyên môn mà còn là người
có kỹ năng giỏi trong dạy học theo phương pháp dự án
Nhận thức rõ ý nghĩa và sự cần thiết của việc dạy học theo phương pháp dự
án nói chung và trong giảng dạy môn Kinh tế chính trị nói riêng, với lòng say mê và
sự tâm huyết với việc giảng dạy tôi luôn trăn trở: Làm thế nào để giảng dạy theophương pháp dự án hiệu quả nhất? Dạy theo phương pháp dự án đòi hỏi phải cónhững kỹ năng, yêu cầu như thế nào? Bên cạnh đó từ kỹ năng của chính giáo viên
có thể hoàn thiện kỹ năng làm việc cho sinh viên ngay từ khi tham gia học tập tạitrường
Xuất phát từ những lý do trên và mong muốn bản thân có những kỹ năngdạy học hiệu quả theo phương pháp dạy học tại trường Cao đẳng thực hành FPTmột cách phù hợp và có thể vận dụng một cách phổ biến vào giảng dạy tại trường,
để sinh viên thực sự “Tốt nghiệp - Tốt nghề”, chúng tôi chọn đề tài “Rèn luyện kỹ năng dạy học theo phương pháp dự án cho giáo viên trường Cao đẳng thực hành FPT” làm đề tài nghiên cứu.
2 Lịch sử nghiên cứu
Nhìn chung các tài liệu giáo dục trong và ngoài nước viết về mô hình dạyhọc theo phương pháp dự án đã được nhiều tác giả đề cập đến dưới nhiều góc độkhác nhau:
Vào thế kỉ 16, những kiến trúc sư người Ý đã làm việc chuyên nghiệp xuhướng nghề nghiệp của họ bằng cách thành lập một Học viện nghệ thuật Họcviện nghệ thuật này đã tổ chức cuộc thi kiến trúc đầu tiên tổ chức vào năm 1656với mô hình giả định Vì lí do này chúng được gọi là “dự án” - “những dự án với
ý định là những bài tập trong tưởng tượng chứ chúng không được dùng để xâydựng” (theo Egbert)
Trang 4Vào thế kỷ 17, ở Pháp mô hình này cũng được thực hiện tại Viện hàn lâmkiến trúc Hoàng gia Ngoài những cuộc thi “Prix d’Emulation” diễn ra hàng tháng,với sự giới thiệu của Prix d’Emulatiom, việc đào tạo đã tập trung vào học tập bằngcác dự án Sinh viên phải hoàn thành một vài dự án cấp tháng để được trao tặnghuân chương hoặc được công nhận kết quả Sự công nhận này hết sức cần thiết đểhọc tiếp thạc sĩ và được trao tặng danh hiệu kiến trúc sư hàn lâm Với Prixd’Emulatiom năm 1763, sự phát triển ý tưởng dự án thành phương pháp học tập vàgiáo dục hàn lâm được hoàn thiện.
Phương pháp dạy học bằng các dự án không còn là duy nhất đối với ngànhkiến trúc Đến cuối thế kỉ 18, tại các trường Đại học công nghiệp và kỹ thuật đã coi
nó là một bộ phận cần thiết đối với việc giảng dạy chuyên ngành cơ khí
Thực tế mô hình dạy học dự án đã phát triển từ châu Âu sang châu Mĩ và từngành kiến trúc đến ngành cơ khí có ảnh hưởng quan trọng đến việc sử dụng vàtrang bị cơ sở lí luận cho các phương pháp dạy học theo dự án
Từ đó, quá trình lịch sử nổi bật của phương pháp dạy học theo dự án đượcchia thành 5 giai đoạn:
- Từ 1590 - 1765: Khởi đầu là việc làm theo dự án ở những trường kiến trúccủa châu Âu
- Từ 1765 - 1880: phương pháp dạy học theo dự án là một phương pháp họctập có qui tắc và được đưa đến Mỹ
- Từ 1880 - 1915: Làm việc trong dự án đào tạo thủ công ở các trường phổthông công lập bình thường
- Từ 1915 - 1965: Định nghĩa lại phương pháp dạy học theo dự án và đưa nó
từ Mỹ quay lại châu Âu
- Từ 1965 đến nay: Khám phá lại ý tưởng về phương pháp dạy học theo dự
án và làm nó phổ biến trên toàn thế giới
Như vậy, lịch sử phát triển của PPDH theo dự án có thể nói bắt đầu xuất hiện
từ thế kỷ 16 cho đến ngày nay nó vẫn tiếp tục được nghiên cứu và hoàn thiện,Phương pháp dạy học theo dự án được sử dụng phổ biến ở rất nhiều quốc gia trênthế giới, trong tất cả các ngành học, cấp học với các tên gọi khác nhau như: ProjectMethod, Project base learning
Một số khái niệm về dự án:
Trang 5Thuật ngữ “dự án” trong tiếng Anh là “project”, có gốc tiếng Latinh là
“projicere” có nghĩa là phác thảo, dự thảo, thiết kế
Trong từ điển tiếng Việt (của GS Bùi Quang Tịnh và Bùi Thị Tuyết Khanh),
Một số khái niệm về phương pháp dạy học dự án:
Theo K.Frey, học giả hàng đầu về dạy học dự án của Cộng hòa Liên bang
Đức thì: Dạy học theo dự án (Project Based Learning) là một hình thức của hoạt động học tập trong đó nhóm người học xác định một chủ đề làm việc, thống nhất một nội dung làm việc, tự lập kế hoạch và tiến hành công việc để dẫn đến một sự kết thúc có ý nghĩa, thường xuất hiện một sản phẩm có thể trình ra được (trích từ
trang web: http://pbl - online.org/About/whatisPBL.htm)
Một số nhà nghiên cứu về dạy học theo dự án của Hoa Kỳ như Thomas,
Mergendoller hay Michaelson cho rằng: Dạy học theo dự án là một mô hình tổ chức học tập xung quanh dự án Các dự án có nhiệm vụ phức tạp, dựa trên các câu hỏi hay vấn đề đầy thử thách, đòi hỏi học sinh phải thiết kế, giải quyết vấn đề hoặc tiến hành các hoạt động điều tra Nó cung cấp cho người học cơ hội để làm việc tương đối tự động trong một khoảng thời gian mở và kết quả cuối cùng là tạo ra các sản phẩm thực tế hoặc các bài thuyết trình trước lớp học (trích từ trang
web:http://edutechwiki.unige.ch/en/Projectbased_learning) Theo định nghĩa của Bộ
Giáo dục Singapore nhấn mạnh vai trò của người học: Học theo dự án (Project vork) là hoạt động học tập nhằm tạo cơ hội cho học sinh tổng hợp kiến thức từ nhiều lĩnh vực học tập và áp dụng một cách sáng tạo vào thực tế cuộc sống (trích từ
trang web: http://www.cord.org/project - based - learning)
Theo dự án bồi dưỡng giáo viên phổ thông “Dạy học cho tương lai Teaching For Future” do Intel tổ chức thì quan niệm: Dạy học dự án là một mô hìnhdạy học tập trung hướng vào người học, coi người học là trung tâm Nó giúp phát
Trang 6-triển kiến thức và các kĩ năng liên quan thông qua những nhiệm vụ mang tính mở,khuyến khích HS tìm tòi, hiện thực hóa những kiến thức đã học trong quá trình thựchiện và tạo ra sản phẩm của chính mình.
Viện nghiên cứu sư phạm: dạy học dự án là một hình thức dạy học, trong đóngười học thực hiện một nhiệm vụ học tập phức hợp, gắn với thực tiễn, kết hợp líthuyết với thực hành, tự lực lập kế hoạch, thực hiện và đánh giá kết quả Hình thứclàm việc chủ yếu là theo nhóm, kết quả dự án là những sản phẩm hành động có thểgiới thiệu được
Theo tác giả Phan Hồ Nghĩa thì: Dạy học dự án là một hình thức dạy họctrong đó người học thực hiện một nhiệm vụ học tập phức hợp, có sự kết hợp giữa líthuyết và thực hành, tạo ra các sản phẩm có thể giới thiệu Nhiệm vụ này đượcngười học thực hiện với tính tự lực cao trong toàn bộ quá trình học tập, từ việc xácđịnh mục đích, lập kế hoạch, đến việc thực hiện dự án, kiểm tra, điều chỉnh
Dạy học dự án là một mô hình học tập khác với các hoạt động học tập truyềnthống với những bài giảng ngắn, tách biệt và lấy giáo viên làm trung tâm thì phươngpháp lấy người học làm trung tâm và hòa nhập với những vấn đề và thực tiễn củathế giới thực tại Theo đó các hoạt động học tập được thiết kế một cách cẩn thận,mang tính lâu dài, liên quan đến nhiều lĩnh vực học thuật
Mục tiêu của một dự án là để học nhiều hơn về một chủ đề chứ không chỉ là
để tìm ra những câu trả lời đúng cho những câu hỏi mà giáo viên đưa ra Trong cáclớp học sử dụng cách học dựa trên dự án, người học làm cá nhân hoặc có thể cộngtác với các bạn trong lớp trong một khoảng thời gian nhất định để giải quyết vấn đề
có thật trong đời sống (authentic), theo sát chương trình học (curriculum - base) và
có phạm vi kiến thức liên môn (interdiscriplinary), cuối cùng trình bày công việcmình đã làm trước giáo viên và những thành viên khác Bước cuối cùng có thể làmột buổi thuyết trình sử dụng các phương tiện nghe nhìn, một vở kịch, một bản báocáo viết tay, một trang web hoặc một sản phẩm được tạo ra
Cách học này không chỉ tập trung vào các chương trình giảng dạy mà cònkhám phá các chương trình này, yêu cầu người học phải đặt câu hỏi, tìm kiếmnhững mối liên hệ và tìm ra giải pháp Cách học dựa trên dự án là một cấu trúc họctập có thể thay đổi môi trường từ “giáo viên nói” thành “người học thực hiện”
Trang 7Trong các lớp học tập theo dự án, các dự án thường được thực hiện bởi cácnhóm nhỏ người học trong lớp và đôi khi chỉ bởi một người học Mục tiêu chínhcủa dự án là để tìm ra câu trả lời về chủ đề do người học, giáo viên hoặc do giáoviên cùng người học đặt ra Khi người học nhận được bài tập hoặc những thông tinchi tiết về dự án của mình, các em sẽ quyết định cách thức giải quyết những vấn đềđược đưa ra Thường thì người học sẽ được yêu cầu phải đóng vai một nhà khoahọc thực sự, một nhà kinh doanh, một nhà thám hiểm, một viên chức nhà nước hoặcnhà sử học Ví dụ, một nhóm người học có thể đóng vai một công nhân, một kỹthuật viên, một nhà quản trị đang làm việc trong một doanh nghiệp và yêu cầu họ đề
ra các giải pháp về sửa chữa máy móc, thiết lập chiến lược CEO Tất nhiên, giáoviên sẽ cung cấp những thông tin nền và những chỉ dẫn, nhưng người học phải cótrách nhiệm tìm ra phương hướng và cách thức giải quyết vấn đề trong phạm vinhững tiêu chí do giáo viên đặt ra
Như vậy, học tập dự án là học tập trong hành động Nó buộc sinh viên phảichủ động, tích cực tìm tòi, suy luận để hành động hiệu quả trong các tình huốnggiáo viên đặt ra Phương pháp này hướng người học đến việc tiếp thu kiến thức và
kĩ năng thông qua quá trình giải quyết một bài tập tình huống, được gọi là một dự
án mô phỏng môi trường mà các em đang sống và sinh hoạt Dự án này có thể chỉgiới hạn trong phạm vi lớp học và có độ dài 2 - 4 tuần, hoặc có thể vượt ra ngoàiphạm vi lớp học và kéo dài suốt khóa học/năm học
Qua những phân tích trên đây, chúng ta thấy rằng có nhiều quan niệm và địnhnghĩa khác nhau về dạy học dự án Do đó, dưới góc độ khác nhau thì lại có quan niệmkhác nhau, tuy nhiên chúng ta nên hiểu phương pháp dạy học dự án là một phươngpháp tích cực, tích hợp nhiều yếu tố khác nhau và nên hiểu theo nghĩa rộng
Như vậy, có thể hiểu dạy học dự án là mô hình dạy học tích hợp thông quamột giả định có thể xảy ra trên thực tế, sinh viên phải thực hiện việc kết hợp lýthuyết với thực hành để nghiên cứu, suy luận và tìm tòi các cách giải quyết vấn đề,tình huống được giáo viên giao cho, hoặc tạo ra được sản phẩm và sau đó sinh viênthực hiện việc báo cáo kết quả với giáo viên
Trên đây là lịch sử hình thành phương pháp dự án Tuy đã có hàng trăm tàiliệu nghiên cứu và các công trình luận văn cũng mới chỉ đề cập đến vấn đề lý luậnchung về phương pháp dạy học tích cực, về phương pháp dạy học dự án, hoặc vận
Trang 8dụng phương pháp dạy học dự án trong một môn học nào đó, một lĩnh vực nào đó;còn vấn đề nâng rèn luyện kỹ năng cho giáo viên dạy học dự án nói chung và trongmôn Kinh tế chính trị nói riêng thì chưa có một đề tài nào đi sâu nghiên cứu cụ thể.
Vì vậy, mà tác giả mới mạnh dạn đề xuất nghiên cứu đề tài: “Rèn luyện kỹ năng dạy học theo phương pháp dự án cho giáo viên trường Cao đẳng thực hành FPT”.
3 Mục đích nghiên cứu của luận văn
Đề xuất các biện pháp rèn luyện kỹ năng dạy học theo phương pháp dự áncho giáo viên tại trường Cao đẳng thực hành FPT nói chung và trong môn Kinh tếchính trị nói riêng
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu các biện pháp rèn kỹ năng dạy học theo phương pháp dự án chogiáo viên Trường Cao đẳng Thực hành FPT nói chung và trong môn Kinh tế chínhtrị nói riêng
6 Phương pháp nghiên cứu
- Luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu như: Các phương phápnghiên cứu lý luận, phương pháp quan sát, phương pháp điều tra, phương pháp tổng
Trang 9kết kinh nghiệm, phương pháp thực nghiệm sư phạm, phương pháp xử lí số liệubằng thống kê toán học, phương pháp chuyên gia…
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của luận văn được chialàm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về phương pháp dạy học dự án và biện pháp rèn
kỹ năng dạy học theo phương pháp dự án cho giáo viên
- Chương 2: Thực trạng kĩ năng dạy học theo phương pháp dự án và biện
pháp rèn luyện kĩ năng dạy học theo phương pháp dự án cho giáo viên ở trường Caođẳng Thực hành FPT
- Chương 3: Các biện pháp rèn kỹ năng trong dạy theo phương pháp dự án
cho giáo viên tại trường Cao đẳng Thực hành FPT và thực nghiệm
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DẠY HỌC THEO PHƯƠNG PHÁP DỰ ÁN VÀ BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN KĨ NĂNG DẠY HỌC THEO PHƯƠNG PHÁP DỰ ÁN
1.1 Cơ sở lý luận chung về phương pháp dạy học
1.1.1 Khái niệm phương pháp dạy học
Từ xa xưa cho đến ngày nay, khi làm bất cứ một công việc gì con người đềuphải tìm ra các phương pháp nhất định, việc dạy học thì phương pháp còn quantrọng hơn rất nhiều Vậy, thực chất phương pháp là gì? PPDH là gì?
Có thể hiểu phương pháp là con đường, cách thức tiến hành một việc gì đó
Và phương pháp dạy học là hình thức vận động của một hoạt động đặc thùlà: hoạt động dạy học
Định nghĩa chung nhất về phương pháp dạy học là những con đường, cáchthức tiến hành hoạt động dạy học
Trong quá trình dạy học có thể chia thành nhiều cấp độ khác nhau:
Cấp độ một: Dạy học là hoạt động của một hệ thống nhiều tầng bậc, từ quy
mô quốc gia đến một cấp học, bậc học, ngành học…
Trang 10Cấp độ hai: Dạy học được hiểu là một hoạt động cụ thể, diễn ra theo một
quá trình, trong một không gian thời gian nhất định và được cấu trúc bởi các yếu tố:mục đích, nội dung dạy học, các hoạt động dạy - học và kết quả dạy học
Cấp độ ba: Dạy học được hiểu là hoạt động của người dạy và người học
trong sự tương tác lẫn nhau, nhằm thực hiện nội dung dạy và học đã được xác định
Phương pháp dạy học cũng thể hiện ba cấp độ như sau:
Cấp độ một: Các kỹ thuật dạy học (kỹ thuật công não, kỹ thuật ổ bi.…) Cấp độ hai: PPDH được hiểu là phương pháp triển khai một quá trình dạy
học cụ thể (thuyết trình, vấn đáp, kiểm tra….)
Cấp độ ba: Các quan điểm, các kiểu dạy học (dạy học nêu vấn đề, dạy học
chương trình hóa, dạy học lấy người học làm trung tâm….)
Trong các cấp độ trên ở cấp độ đầu tiên PPDH mang đậm tính chiến lược,
có nhiều yếu tố kỹ thuật, kỹ năng sau đó các cấp độ sau thể hiện tính lý luận,phương pháp luận về PPDH mang tính chiến lược, kỹ thuật, có thể trở thànhcông nghệ dạy học
1.1.2 Giới thiệu một số phương pháp dạy học
Như chúng ta đã biết, mỗi một PPDH dù cổ điển hay hiện đại đều nhấn mạnhlên mặt nào đó thuộc về vai trò của người thầy Người thầy có thể áp dụng nhiềuPPDH khác nhau để đạt được mục tiêu trong việc dạy học của minh, mỗi mộtphương pháp đều có những ưu điểm riêng, do vậy người thầy lựa chọn và phối hợpcác phương pháp cho phù hợp với mục tiêu, bản chất của vấn đề cần trao đổi, phùhợp với thành phần nhóm lớp học, các nguồn lực, công cụ dạy - học sẵn có và cuốicùng là phù hợp với khả năng của chính mình
Vậy để đánh giá được PPDH của người thầy có hiệu quả hay không cần phảiđảm bảo được các yếu tố:
- Thể hiện rõ vai trò của nguồn thông tin và các nguồn lực sẵn có
- Thể hiện rõ được động cơ học tập của người học khi bắt đầu môn học
- Thể hiện rõ được bản chất và mức độ kiến thức cần huy động
- Thể hiện rõ được vai trò của người học, người dạy, vai trò của các mốitương tác trong quá trình học
- Thể hiện được kết quả mong đợi của người học
Trang 11Dưới đây là một số PPDH phát huy tốt tính tích cực của người học:
a) Phương pháp phát hiện và giải quyết vấn đề
Theo tác giả Nguyễn Bá Kim thì PPDH phát hiện và giải quyết vấn đề làPPDH mà trong đó thầy giáo tạo ra những tình huống vấn đề, điều khiển người họcphát hiện ra vấn đề, hoạt động tự giác và tích cực để giải quyết vấn đề và thông qua
đó lĩnh hội tri thức, kĩ năng và đạt được những mục tiêu học tập khác
Như vậy chúng ta hiểu PPDH phát hiện và giải quyết vấn đề là PPDH, trong
đó, GV đưa ra tình huống có vấn đề, yêu cầu người học tự phát hiện và giải quyết.Thông qua việc giải quyết vấn đề đó mà người học lĩnh hội được tri thức, kĩ năng,
kĩ xảo
Về cách thực hiện phương pháp phát hiện và giải quyết vấn đề, GV cần:
- Đưa SV vào vấn đề/tình huống
- SV tìm hiểu vấn đề/tình huống Ở bước này, SV cần phải xác định, nhậndiện được vấn đề/tình huống
- Thu thập thông tin có liên quan đến vấn đề/tình huống đặt ra
- Tìm giải pháp giải quyết tình huống:
+ SV suy nghĩ tìm cách giải quyết vấn đề/tình huống, đề xuất giải pháp của
cá nhân, lí giải, lập luận để bảo vệ giải pháp đó
+ Liệt kê các các cách giải quyết có thể có
+ Phân tích, đánh giá kết quả mỗi cách giải quyết (mặt, lợi, mặt hại, cảm xúc )
- Lựa chọn giải pháp/cách giải quyết tối ưu
- Quyết định hành động và thực hiện trong thực tế theo cách giải quyết tìnhhuống đã lựa chọn
* Để thực hiện phương pháp phát hiện giải quyết vấn đề có hiệu quả, GV cần lưu ý:
Trang 12+ Phải liên hệ với kinh nghiệm sống thực của SV.
+ Phải chứa đựng mâu thuẫn/ vấn đề, có thể liên quan đến nhiều phương diện,gợi ra cho SV nhiều hướng suy nghĩ, nhiều cách giải quyết
+ Phải vừa sức với khả năng của SV và có thể giải quyết trong điều kiện
cụ thể
+ Có thể có nhiều cách giải quyết khác nhau, giúp SV hiểu được rằng mộttình huống thực tiễn có nhiều phương diện xem xét khác nhau, nhiều cách giảiquyết, không phải là chỉ có một
- Các nhóm SV có thể giải quyết cùng một vấn đề/ tình huống hoặc các vấnđề/ tình huống khác nhau, tuỳ theo mục đích của hoạt động
- Phương án giải quyết tình huống tối ưu đối với mỗi SV có thể giốngnhau hoặc khác nhau GV chỉ nên định hướng cho SV, không nên áp đặt mộtphương án nào
b) PPDH theo nhóm nhỏ
*Về bản chất
PP thảo luận nhóm (hội thảo, cemina, ) là một sự trao đổi ý tưởng, quanniệm, nhận thức giữa các GV và SV, để làm rõ và làm giàu sự hiểu biết các nộidung phù hợp với hoạt động đào tạo thông qua hoạt động hợp tác giữa các thànhviên với nhau trong nhóm nhằm đạt được mục tiêu học tập
DH hợp tác trong nhóm nhỏ là PPDH mà trong đó người học dưới sự hướngdẫn của GV làm việc phối hợp cùng nhau trong những nhóm nhỏ để hoàn thànhmục đích chung của nhóm đã được đặt ra Tuy nhiên, GV cần phải lưu ý, các emthường coi thảo luận trong nhóm như một hình thức cạnh tranh mà trong đó họchiến thắng bằng việc đánh bại ý kiến của người khác, nhóm khác Do đó, cầnkhuyến khích tính tích hợp của các em trong cùng một nhóm và giữa các nhóm vớinhau, thi đua nhưng không cạnh tranh
Haines và Mkeachie (1967) đã chỉ ra rằng PP thảo luận mang tính cộng tácthúc đẩy công việc hiệu quả hơn và đạo nghĩa hơn PP thảo luận mang tính ganhđua Ngoài ra, trong những thí nghiệm về tâm lý giáo dục và tâm lí chung, Gruber
và Waitman (1962) đã phát hiện rằng những em được học tập trong những nhómnhỏ (những nhóm thảo luận) dưới sự điều khiển của chính các em mà không cần
Trang 13GV thì không những làm bài tốt mà còn trội hơn ở sự tò mò ham hiểu biết (thể hiệnqua hành vi đặt câu hỏi) và thích thú hơn với môn học Vì thế, để nhóm có thể hoạtđộng đúng với yêu cầu thảo luận, GV cần phải tập cho các em các kĩ năng điềuhành của một nhóm trưởng Đó là các kĩ năng: trình bày câu hỏi hoặc các vấn đềthảo luận thật rõ ràng, chỉ định người phát biểu, hạn định thời gian phát biểu của cácthành viên trong nhóm một cách hợp lí, biết lắng nghe, biết ghi chép, tổng hợp ýkiến, Các kĩ năng này không chỉ quyết định kết quả học tập của nhóm mà còn rất
ý nghĩa trong cuộc sống sau này của các em
* Thảo luận nhóm được tiến hành theo các bước sau:
- GV giới thiệu chủ đề thảo luận
- Chia lớp thành những nhóm nhỏ, giao nhiệm vụ cho các nhóm, quy địnhthời gian và phân công vị trí làm việc của từng nhóm
- Các nhóm thảo luận giải quyết các nhiệm vụ được giao, ghi kết quả thảoluận ra giấy khổ lớn
- Từng nhóm cử đại diện trình bày kết quả thảo luận của nhóm trước lớp.Các nhóm khác lắng nghe và trao đổi ý kiến, nhận xét, bổ sung
- GV tổng kết lại những nội dung, vấn đề mà SV cần nắm vững, định hướngnhận thức, hành vi của SV; nhận xét kết quả làm việc của các nhóm
* Để tiến hành thảo luận nhóm có hiệu quả, GV cần chú ý:
- Mở đầu cuộc thảo luận, GV cần gây hứng thú và chú ý với SV
- Cần thường xuyên thay đổi thành phần của nhóm bằng các cách chia nhóm
khác nhau, tạo điều kiện cho SV được hợp tác Số lượng SV của nhóm không nênquá đông để tránh tình trạng một số em ỷ lại không tham gia hoạt động Mỗi nhómnên từ 4 - 6 SV là phù hợp
- Mỗi nhóm cần cử nhóm trưởng để điều khiển nhóm làm việc và thư kí đểghi chép các ý kiến
- Nhiệm vụ thảo luận phải phù hợp với chủ đề bài học, sát với trình độ,năng lực của SV và huy động được vốn kinh nghiệm sống của SV Câu hỏi phảilogic, ngắn gọn, rõ ràng, kích thích suy nghĩ của SV, tạo ra nhiều ý kiến, quanđiểm khác nhau
- Nhiệm vụ của các nhóm có thể giống nhau hoặc khác nhau, tuỳ từnghoạt động
Trang 14- Trong khi các nhóm thảo luận, GV cần theo dõi, khuyến khích và giúp đỡkhi cần thiết (điều chỉnh để cuộc thảo luận đi đúng hướng, động viên những SVnhút nhát tham gia ý kiến, gợi ý khi cuộc thảo luận gặp khó khăn, bế tắc ).
- Cần bố trí chỗ làm việc của các nhóm sao cho thuận lợi, để các thành viên
có thể hướng vào nhau, lắng nghe và cùng chia sẻ suy nghĩ/ý tưởng
- Cách trình bày kết quả thảo luận nhóm có thể bằng nhiều hình thức: bằnglời, bằng tranh vẽ, bằng sơ đồ tư duy, đóng vai Cần luân phiên nhau trình bày kếtquả thảo luận của nhóm
Thảo luận nhóm có nhiều ưu điểm và có thể sử dụng rộng rãi trong nhiềutrường hợp Tuy nhiên nó cũng có nhược điểm là khó thực hiện ở những lớp quáđông SV, không gian chật hẹp; quá trình thảo luận dễ gây ồn ào ảnh hưởng đếncác lớp khác
c) PP nghiên cứu trường hợp
* Về bản chất
PP nghiên cứu trường hợp (Case study method) được bắt đầu khởi xướng từnhững năm 40 của thế kỉ XX bởi Jame B.Conant ở Đại học Havard, Hoa Kỳ(Conant, 1949) Tuy nhiên, sự khởi xướng này đã không nhận được sự ủng hộ rộngrãi của các nhà giáo dục thời ấy bởi Conant không sử dụng các “case” như vấn đềcho người học thảo luận mà chỉ đưa vào bài giảng của mình
Đến những năm 80, các trường Luật và Thương mại của đại học Havard bắtđầu sử dụng rộng rãi các “case”, là các ví dụ điển hình trong thực tế để làm nộidung chính cho người học thảo luận trong các mônn học (Christensen, 1986) Từ sựthành công ở các trường này, PPDH này đã dần được mở rộng sang các ngành đàotạo khác Đến nay, nó đã trở thành một trong các PPDH chủ đạo ở bậc ĐH Nhiềutrường ĐH ở Hoa Kì thành lập riêng các trung tâm nghiên cứu và phát triển PPDHnày, tiêu biểu như ĐH Buffalo - Hoa Kỳ
Trang 15Nghiên cứu trường hợp điển hình là phương pháp sử dụng một câu chuyện
có thật hoặc câu chuyện được viết dựa trên những trường hợp thường xảy ra trongcuộc sống thực tiễn để minh chứng cho một vấn đề hay một số vấn đề Nghiên cứutrường hợp điển hình có thể được thực hiện sau khi HS được nghe/đọc hoặc quansát băng hình/phim video
* Về cách thực hiện: Nghiên cứu trường hợp điển hình được thực hiện theo
các bước sau:
- SV đọc hoặc nghe kể/xem về trường hợp điển hình
- Suy nghĩ về nội dung câu chuyện (có thể viết một vài suy nghĩ trước khithảo luận điều đó với người khác)
- Thảo luận về trường hợp điển hình theo các câu hỏi hướng dẫn của GV
* Để thực hiện phương pháp giải quyết vấn đề có hiệu quả, GV cần lưu ý:
- Vì trường hợp điển hình được nêu lên nhằm phản ánh tính đa dạng củacuộc sống thực, nên nó phải tương đối phức tạp, với các tuyến nhân vật và nhữngtình huống khác nhau chứ không phải là một câu chuyện đơn giản
- Trường hợp điển hình phải phù hợp với trình độ của HS và thời lượngcho phép
- Có thể tổ chức cho cả lớp cùng nghiên cứu một trường hợp điển hình hoặcphân công mỗi nhóm nghiên cứu một trường hợp khác nhau
Trên đây là một số phương pháp dạy học tích cực hiện nay đang được sửdụng phổ biến và rộng rãi Tuy nhiên, trong luận văn này chúng tôi đi sâu nghiêncứu về phương pháp DHTDA nên nội dung này được trình bày cụ thể tại mục 1.2
1.2 Phương pháp dạy học dự án
1.2.1 Thế nào là phương pháp dạy học dự án?
Thuật ngữ dự án, tiếng Anh là “Project”, được hiểu theo nghĩa phổ thông làmột đề án, một dự thảo hay một kế hoạch, cần được thực hiện nhằm đạt mục đích
đề ra Khái niệm dự án được sử dụng phổ biến trong hầu hết các lĩnh vực kinh tế
-xã hội và trong nghiên cứu khoa học Sau đó, khái niệm dự án đã đi từ lĩnh vực kinh
tế, xã hội vào lĩnh vực giáo dục, đào tạo không chỉ với ý nghĩa là các dự án pháttriển giáo dục mà còn được sử dụng như một hình thức hay phương pháp dạy học
Trang 16Có nhiều quan niệm và định nghĩa khác nhau về dạy học dự án Nhiều tác giảcoi dạy học dự án là một tư tưởng hay một quan điểm dạy học Cũng có người coi làmột hình thức dạy học vì khi thực hiện một dự án, có nhiều phương pháp dạy học(PPDH) cụ thể được sử dụng Tuy nhiên, cũng có thể coi dạy học dự án là mộtPPDH phức hợp.
Ngay trong phần nghiên cứu lịch sử vấn đề, tác giả đã tìm hiểu về lịch sửcủa phương pháp dạy học dự án không phải là phương pháp mới xuất hiện ở thế
kỷ XXI mà nó đã có mầm mống và định hình thế kỷ 16 và đã triển khai vận dụng
ở nhiều lĩnh vực, chuyên môn khác nhau Và tác giả đã đưa ra quan điềm về dạy
học theo dự án có thể hiểu dạy học dự án là mô hình dạy học tích hợp, trong đó dưới sự hướng dẫn của giáo viên thông qua một giả định có thể xảy ra trên thực
tế, sinh viên phải thực hiện việc kết hợp lý thuyết với thực hành để nghiên cứu, suy luận và tìm tòi các cách giải quyết vấn đề, tình huống được giáo viên giao cho, hoặc tạo ra được sản phẩm cụ thể và sau đó sinh viên thực hiện việc báo cáo kết quả với giáo viên.
1.2.2 Bản chất, mục tiêu của phương pháp dạy học dự án?
a) Bản chất của phương pháp DHTDA
Có rất nhiều kiểu dự án được tiến hành trong lớp học Một dự án được coi làhiệu quả khi nó đạt được sự cân bằng giữa khả năng thực hiện của người học với ý
đồ thiết kế của GV, chỉ rõ những công việc người học cần làm Để nhận diện rõ thếnào là bài học theo dự án ta cần làm rõ bản chất của PPDHTDA theo những khíacạnh sau:
Người học là trung tâm của quá trình DH Bài học theo dự án được thiết kế
cẩn thận, lôi cuốn người học vào những nhiệm vụ mở và có tính thực tiễn cao Cácnhiệm vụ của dự án kích thích khả năng ra quyết định, niềm cảm hứng, say mê củangười học trong quá trình thực hiện và tạo ra sản phẩm cuối cùng Người học lĩnhhội kiến thức bài học thông qua việc tìm hiểu và tự quyết định mức độ hoàn thànhcác nhiệm vụ của dự án GV giữ vai trò hỗ trợ hay hướng dẫn Người học hợp táclàm việc với nhau trong các nhóm, phát huy tối đa năng lực cá nhân khi đảm nhậnnhững vai trò khác nhau
Trang 17Dự án tập trung vào những mục tiêu học tập quan trọng gắn với các chuẩn.
Những dự án tốt được phát triển dựa trên những nội dung cốt lõi của chương trìnhđáp ứng các chuẩn quốc gia và địa phương Dự án có các mục tiêu rõ ràng gắn vớicác chuẩn và tập trung vào những hiểu biết của người học sau quá trình học Từviệc định hướng vào mục tiêu, GV sẽ chọn lựa hình thực DH phù hợp, lập kế hoạchđánh giá và tổ chức các hoạt động dạy và học Kết quả của dự án được thể hiện kếttinh trong sản phẩm của người học và quá trình thực hiện nhiệm vụ, ví dụ phầnthuyết trình đầy thuyết phục hay ấn phẩm thông tin thể hiện sự lĩnh hội các chuẩnnội dung và mục tiêu dạy học
Dự án định hướng theo bộ câu hỏi định hướng Bộ câu hỏi định hướng sẽ
giúp các dự án tập trung vào những hoạt động DH trọng tâm Người học được giớithiệu về dự án thông qua các câu hỏi gợi mở những ý tưởng lớn, xuyên suốt và cótính liên môn Người học sẽ buộc phải tư duy sâu hơn về các vấn đề nội dung củamôn học theo các chuẩn và mục tiêu Có ba dạng câu hỏi khung chương trình: Câuhỏi khái quát, câu hỏi bài học và câu hỏi nội dung Câu hỏi khái quát là các câu hỏirộng, có tính mở, đề cập đến các ý tưởng lớn và các khái niệm xuyên suốt Câu hỏiloại này thường mang tính liên môn, giúp người học hiểu được mối quan hệ giữacác môn học Các câu hỏi bài học được gắn trực tiếp với dự án, hỗ trợ việc tìm kiếmlời giải cho câu hỏi khái quát Các câu hỏi bài học thể hiện mức độ hiểu những kháiniệm cốt lõi về dự án của người học Các câu hỏi nội dung thường mang tính thựctiễn cao, bám sát các chuẩn và mục tiêu đề ra
Dự án đòi hỏi các hình thức đánh giá đa dạng và thường xuyên Ngay từ khi
triển khai dự án, các kết quả dự kiến cần phải được làm rõ và phải luôn được rà soátnhiều lần để kiểm chứng mức độ lĩnh hội bằng các PP đánh giá khác nhau Ngườihọc sẽ được xem mẫu và hướng dẫn trước để thực hiện công việc có chất lượngnhất, và phải biết rõ điều gì đang chờ đợi ngay từ khi bắt đầu thực dự án Cần phảitạo cơ hội để rà soát, phản hồi hay điều chỉnh trong suốt quá trình thực hiện dự án
Dự án có liên hệ với thực tế Dự án phải gắn với đời sống thực tế, có thể mời
các chuyên gia ngoài cùng tham gia để tạo ra những tình huống DH Người học cóthể thể hiện việc học của mình trước những đối tượng thực tế, liên hệ với các nguồn
Trang 18lực cộng đồng, tham khảo các chuyên gia trong lĩnh vực nghiên cứu, hoặc trao đổithông qua công nghệ hiện đại.
Người học thể hiện sự hiểu biết của mình thông qua sản phẩm hoặc quá trình thực hiện Thông thường các dự án được kết thúc với việc người học thể hiện
thành quả học tập của mình thông qua các bài thuyết trình, các văn bản tài liệu, các
mô hình dàn dựng, các đề án hoặc thậm chí là các sự kiện mô phỏng như một hộithảo giả Những sản phẩm cuối cùng này giúp người học thể hiện khả năng diễn đạt
và làm chủ quá trình học tập
Công nghệ hiện đại hỗ trợ và thúc đẩy việc học của người học Người học
được tiếp cận với nhiều công nghệ khác nhau giúp hỗ trợ phát triển khả năng tưduy, cho ý kiến đánh giá về nội dung và hỗ trợ tạp sản phẩm cuối Với sự trợ giúpcủa công nghệ, người học tự chủ hơn với kết quả cuối cùng, có cơ hội “cá nhân hóasản phẩm” Người học có thể vươn ra khỏi 4 bức tường lớp học bằng cách cộng tácvới các lớp học từ xa qua email và các trang web tự tạo, hoặc trình bày việc học củamình qua các chương trình đa phương tiện
Kĩ năng tư duy là không thể thiếu trong làm việc theo dự án Làm việc theo
dự án sẽ hỗ trợ phát triển cả kĩ năng tư duy siêu nhận thức lẫn tư duy nhận thức nhưhợp tác, tự giám sát, phân tích dữ liệu và đánh giá thông tin Trong suốt quá trìnhthực hiện dự án, các câu hỏi khung chương trình sẽ kích thích người học tư duy vàliên hệ với các khái niệm mang ý nghĩa thực tiễn cao
Chiến lược DH đa dạng hỗ trợ phong cách học đa dạng Các chiến lược DH
sẽ tạo ra một môi trường học tập đa dạng hơn, thúc đẩy tư duy bậc cao hơn Nhữngchiến lược DH này sẽ giúp đảm bảo cho người học được tiếp cận với toàn bộ họcliệu của chương trình, tạo cơ hội thành công cho mỗi thành viên Trong giảng dạy
có thể kết hợp các kĩ thuật DH hợp tác, làm việc nhóm, phân nhánh tổ chức, nhậnxét phản hồi từ GV
b) Mục tiêu của PPDHTDA
PPDHTDA tạo ra kinh nghiệm học tập thu hút người học vào những dự ántrong thế giới thực, người học sẽ dựa vào đó để phát triển và ứng dụng các kĩ năng
và kiến thức của mình Nội dung khóa học có ý nghĩa hơn nhiều bởi vì nó dựa trênviệc học từ thế giới thực và người học có thể tìm thấy hứng thú trong việc học
Trang 19Học tập dựa trên dự án khuyến khích người học giải quyết những vấn đềphức tạp mang tính hiện thực Các em khám phá, giải thích, và tổng hợp thông tinmột cách có ý nghĩa Ví dụ, xây dựng kế hoạch cho một “ngôi trường lí tưởng”,hoàn thiện một chương trình giảng dạy, miêu tả công việc, thiết kế sơ đồ nhà, xâydựng tiêu chí tuyển dụng và đưa ra lí do cho từng kế hoạch Tất cả những hoạt độngnày yêu cầu ngời học phải có tư duy sâu sắc về công việc của mình.
Học tập dựa trên dự án ghi nhận rằng PP học có ý nghĩa thúc đẩy mongmuốn học tập của người học, tăng cường năng lực hoàn thành những công việcquan trọng và mong muốn được đánh giá Khi người học có cơ hội kiểm soát đượcviệc học của chính mình, giá trị của việc học của các em cũng tăng lên Cơ hội lựachọn và kiểm soát, cũng như cơ hội cộng tác với các bạn cùng lớp cũng làm tănghứng thú học tập của các em
Học tập dựa trên dự án yêu cầu người học sử dụng thông tin của những mônhọc khác nhau để giải quyết vấn đề Trong hầu hết các dự án, người học phải làmnhững bài tập liên quan đến nhiều mảng kiến thức
Học tập dựa trên dự án yêu cầu người học tiếp thu kiến thức theo cách họccủa “người lớn” là học và trình diễn kiến thức Ví dụ, khi người học phải viết bàitập quảng bá về trường mình bằng tiếng Anh, các em sẽ tiếp thu được những kiếnthức và kĩ năng thực tế
Học tập theo dự án thúc đẩy sự cộng tác giữa người học và GV và giữa các
HS với nhau; nhiều khi, sự cộng tác đã được mở rộng đến cộng đồng
1.3 Các kỹ năng dạy học theo phương pháp dự án
Kỹ năng dạy học là năng lực của người dạy thực hiện một cách có kết quả các
hoạt động công việc của mình để đạt được mục đích dạy học đã xác định bằng cách lựachọn và áp dụng những cách thức hành động phù hợp với người học, điều kiện, hoàncảnh và phương tiện nhất định
Kỹ năng dạy học (KNDH) có những đặc trưng sau:
- KNDH là tổ hợp các hành động giảng dạy đã được người dạy nắm vững,
nó biểu hiện mặt kỹ thuật của hành động giảng dạy và mặt năng lực giảng dạy củamỗi người dạy Có KNDH nghĩa là có năng lực giảng dạy ở một mức độ nào đó
Trang 20- KNDH có mối quan hệ chặt chẽ với kết quả học tập Nó là yếu tố mangtính mục đích, luôn hướng tới mục đích của hoạt động giảng dạy và học tập và cóảnh hưởng quan trọng đến kết quả học tập.
- KNDH là một hệ thống bao hàm trong nó những KNDH chuyên biệt CácKNDH chuyên biệt như một hệ thống còn được tạo nên bởi các kỹ năng thành phần.KNDH là một hệ thống mở, mang tính phức tạp, nhiều tầng bậc và mang tính pháttriển, trong đó có những KNDH cơ bản
- Đặc trưng của KNDH cơ bản là chúng có liên hệ mật thiết với chất lượng
và kết quả dạy học; có những hình thái phát triển liên tục trong suốt thời gian làmcông tác dạy học ở nhà trường; có tính khả thi, thiết thực đối với người dạy trongđiều kiện dạy học hiện nay
Trong lí luận và thực tiễn, KNDH được xem xét trên hai góc độ: một là theotiếp cận cấu trúc hoạt động dạy học; hai là theo cấu trúc quá trình dạy học Theotiếp cận cấu trúc hoạt động dạy học, các nhà khoa học nghiên cứu những kỹ năng,
kỹ xảo, thủ thuật, thao tác trí tuệ, hoạt động tư duy trong dạy học Theo cấu trúc quátrình dạy học, họ xem xét các kỹ năng, kỹ xảo dạy học bên ngoài, tức là cách thứctiến hành công tác dạy học
Những kỹ năng dạy học chủ yếu trong phương pháp DHTDA
Có nhiều cách phân loại KNDH dựa trên các tiêu chí hay căn cứ khác nhaunhư: cấu trúc, đặc điểm, các dạng cơ bản của hoạt động dạy học, cấu trúc của hoạtđộng dạy học Tuy nhiên, từ định nghĩa trên đây về khái niệm KNDH cho thấy,KNDH bao giờ cũng gắn liền với một hoạt động hay công việc dạy học nhất định,
vì vậy, để dễ nhận dạng KNDH, người ta có thể dựa vào cấu trúc của hoạt động dạyhọc hay mô hình hoạt động của người dạy để xác định các KNDH
1.3.1 Kỹ năng xây dựng dự án
Mỗi chủ điểm được lựa chọn trong môn học sẽ là một bài tập tình huống màngười học phải giải quyết bằng các kiến thức theo nội dung bài học Chủ điểm đóphải là vấn đề hướng đến thế giới thực tại, phát sinh nhiều giả thuyết, cần sự nỗ lựcgiải quyết của nhiều người, phù hợp với mục tiêu học tập và được xây dựng dựatrên những kiến thức và kinh nghiệm sẵn có, thúc đẩy sự phát triển và khả năngnhận thức của sinh viên Kỹ năng xây dựng ý tưởng dự án cho mọi môn học hoàn
Trang 21toàn phụ thuộc vào từng giáo viên trong quá trình giảng dạy Ý tưởng này có thểxây dựng dựa trên những điều kiện thực tế tại lớp học, tại cơ sở, tại doanh nghiệp,tại địa phương hoặc cũng có thể do chính sinh viên đề xuất Ý tưởng càng thú vị,khả năng thành công của dự án càng cao.
1.3.2 Kỹ năng thiết kế tài liệu hỗ trợ sinh viên
Mỗi một dự án sinh viên cần phải thực hiện trong một khoảng thời gian nhấtđịnh, tuy nhiên học theo dự án luôn lấy sinh viên là trung tâm, chủ động trong việcnghiên cứu, vận dụng áp dụng các kiến thức cơ bản vào bài học của mình Cho nên,giáo viên đóng vai trò định hướng rất quan trọng nhưng không phải lúc nào giáoviên và sinh viên cũng có thể tương tác với nhau nên giáo viên phải xây dựng cácbài tập mẫu - case study (không phải giống hoàn toàn) để sinh viên có thể thamkhảo hoặc giáo viên có thể hướng dẫn các nguồn tài liệu để hỗ trợ sinh viên trongviệc thực hành dự án của nhóm, cá nhân
1.3.3 Kỹ năng thuyết trình
Để đảm bảo dự án của sinh viên không đi sai hướng và thực hiện đảm bảocác tiêu chí nội dung mà dự án nêu ra, do vậy giáo viên sẽ phải yêu cầu sinh viênbảo vệ thành nhiều giai đoạn nhỏ để vừa kiểm tra vừa sửa lỗi và hướng dẫn cho sinhviên đi đúng mục tiêu dự án đề ra Vì vậy, kỹ năng thuyết trình rất quan trọng trongviệc trình bày dự án của sinh viên làm thế nào để thuyết phục giáo viên, và đặc biệt
để kiểm tra sinh viên có trung thực trong quá trình thực hiện dự án hay không, nếusinh viên làm ra mà không bảo vệ được ý tưởng của mình thì có thể kiến thức đókhông phải là của sinh viên Mặt khác, với những sinh viên có khả năng làm việctốt, sáng tạo giáo viên cũng có thể động viên, tạo điều kiện cho sinh viên phát huytài năng của mình Như vậy, kỹ năng thuyết trình đóng vai trò rất quan trọng trongdạy học dự án cho cả giáo viên lẫn sinh viên
1.3.4 Kỹ năng phân loại sinh viên thực hành dự án, giao dự án
Trên cơ sở DHTDA có nhiều phân loại dựa theo nhiều tiêu chí khác nhau
Do vậy, khi thực hiện phân chia nhóm thực hành các dự án giáo viên cũng phảicăn cứ vào nhiều yếu tố khác nhau Ví dụ, theo K.Frey đã chia dự án theo quỹ thờigian thành: Dự án nhỏ; Dự án trong một số ngày; Dự án lớn và trong các môitrường khác nhau như trường Đại học, cao đẳng, trung cấp thì cách phân chia cũng
Trang 22khác nhau phụ thuộc vào đối tượng sinh viên Dự án nhỏ thì có thể cá nhân, cặpđôi thực hiện; hoặc dự án lớn thì cần nhiều SV hơn để có khả năng lập kế hoạch
dự án, thu thập và xử lý thông tin nhanh chóng và hiệu quả hơn Mặt khác, khiphân chia sinh viên vào các nhóm dự án khác nhau cũng phải căn cứ vào khảnăng, sở thích, đam mê và nhận thức sinh viên sao cho phù hợp; Nếu không thựchiện tốt việc phân loại SV thì sẽ ảnh hưởng đến kết quả, sản phẩm và chất lượng
dự án Ví dụ, SV yếu làm nhóm với nhau thì chất lượng sản phẩm và kết quả dự
án sẽ giảm thay vì việc đó thì GV phải chia đều các SV theo các mức độ Giỏi,Khá, Trung bình, yếu ra đồng đều trong các nhóm Để việc làm nhóm hiệu quả cần
có trưởng nhóm có thể do các nhóm bầu, hoặc GV chỉ định thậm chí là SV yếulàm trưởng nhóm để SV có động lực, nhưng cũng phải căn cứ vào từng dự án khácnhau mà đề cử trưởng nhóm GV muốn hiệu quả dự án cao thì nên khai thác nănglực nhóm thông qua các nhóm trường
Sau khi hướng dẫn dự án xong, giáo viên thực hiện việc giao dự án cụ thểcho sinh viên hoặc sinh viên, nhóm sinh viên tự lựa chọn và đề xuất dự án và báocáo với giáo viên để giáo viên kiểm tra, hướng dẫn cho sinh viên lập được kế hoạch
dự án đi đúng hướng Để sản phẩm dự án có hiệu quả cao, giáo viên cần phải giao
dự án theo thời hạn hoặc giai đoạn để sinh viên có ý thức về phân đoạn thời lượngcông việc, phân chia và lập kế hoạch thực hiện dự án một cách nhanh nhất mà vẫnđạt kết quả tốt Ngoài ra, sau khi giao dự án giáo viên cần phải thường xuyên kiểmtra đánh giá theo giai đoạn để biết được tư duy của sinh viên đã đúng chưa hay cònsai, còn yếu, còn thiếu chỗ nào và cần bổ sung như thế nào cho đúng
1.3.5 Kỹ năng hướng dẫn, làm mẫu dự án
Hướng dẫn dự án là kỹ năng rất quan trọng đối với giáo viên DHTDAKhi GV thực hiện việc hướng dẫn nghĩa là đang thực hiện vai trò của ngườiđịnh hướng, vì vậy hướng dẫn, làm mẫu là để SV thực hiện theo đúng hướng dự ányêu cầu
Trong quá trình hướng dẫn dự án giáo viên cần phải thực hiện các thao táclàm thế nào để phát triển được kỹ năng tư duy cho sinh viên Việc xác định và pháttriển tư duy sẽ giúp SV nhận thức được dự án có phù hợp với trình độ của các emhay không Giải thích cho học sinh biết những loại tư duy nào giáo viên mong đợi
Trang 23các em thực hiện trong dự án Cho sinh viên thảo luận thường xuyên và giáo viêncho những ví dụ về tư duy tốt trong những dự án và môn học khác nhau để các emliên hệ Muốn sinh viên chủ động thực hiện dự án thì giáo viên phải yêu cầu họcsinh đóng góp xây dựng các tiêu chuẩn và tiêu chí mà giáo viên sẽ sử dụng để đánhgiá tư duy của các em Sau đó đưa chính những ý kiến đóng góp của học sinh vàoloại đánh giá thích hợp nhất với các dự án cũng như các bài học khác nhau để sinhviên thấy rằng mình có động lực và thực hiện dự án theo hướng tích cực (ý kiến củasinh viên đã được sử dụng nghĩa là sinh viên đã được GV chấp nhận và quan tâm).
Từ đó, GV hướng dẫn và cho sinh viên thực hành việc tự đánh giá với những công
cụ mà giáo viên sẽ sử dụng ở trên để sinh viên kiểm tra, giám sát được kế hoạch dự
án của chính mình
Trong quá trình hướng dẫn dự án GV cần phải thực hiện và sử dụng ngônngữ phải cụ thể, chính xác Sau khi hướng dẫn xong giáo viên có thể làm mẫu đểsinh viên có thể hình dung ra được công việc mình phải làm trong dự án một cách
dễ dàng Có thể có những dự án cần có bảng khảo sát, phiếu đánh giá giáo viên cóthể dẫn chứng và làm mẫu một vài loại để sinh viên có thể thấy việc làm dự án vàkhảo sát thực tế là không khó khăn
1.3.6 Kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin
- Môi trường đa phương tiện kết hợp những hình ảnh vedeo, camera … với
âm thanh, văn bản, biểu đồ … được trình bày qua máy tính theo kịch bản vạch sẵnnhằm đạt hiệu quả tối đa qua một quá trình học đa giác quan;
- Kĩ thuật đồ hoạ nâng cao có thể mô phỏng nhiều quá trình, hiện tượngtrong tự nhiên, xã hội trong con người mà không thể hoặc không nên để xảy ratrong điều kiện nhà trường;
- Công nghệ tri thức nối tiếp trí thông minh của con người, thực hiện nhữngcông việc mang tính trí tuệ cao của các chuyên gia lành nghề trên những lĩnh vựckhác nhau;
- Những ngân hàng dữ liệu khổng lồ và đa dạng được kết nối với nhau vàvới người sử dụng qua những mạng máy tính kể cả internet … có thể được khai thác
để tạo nên những điều kiện cực kì thuận lợi và nhiều khi không thể thiếu để học
Trang 24sinh học tập trong hoạt động và bằng hoạt động tự giác, tích cực và sáng tạo, đượcthực hiện độc lập hoặc trong giao lưu.
Những thí nghiệm, tài liệu được cung cấp bằng nhiều kênh: kênh hình, kênhchữ, âm thanh sống động làm cho học sinh dễ thấy, dễ tiếp thu và bằng suy luận có
lý, học sinh có thể có những dự đoán về các tính chất, những quy luật mới Đây làmột công dụng lớn của công nghệ thông tin và truyền thông trong quá trình đổi mớiphương pháp dạy học Có thể khẳng định rằng, môi trường công nghệ thông tin vàtruyền thông chắc chắn sẽ có tác động tích cực tới sự phát triển trí tuệ của học sinh
và điều này làm nảy sinh những lý thuyết học tập mới
1.3.7 Kỹ năng thu thập và xử lý thông tin
Thông tin có tầm quan trong đặc biệt trong việc giải quyết mọi vấn đề trongcuộc sống Muốn ra được quyết định đúng, nhất thiết phải có đủ thông tin cần thiết
và đa chiều Chỉ khi có đầy đủ thông tin chính xác, khách quan cần thiết, công việcmới có thể được giải quyết hợp tình, hợp lý, hữu hiệu
Thu thập thông tin là một trong những bước đi cơ bản để mở rộng tầm nhìnkhi giải quyết vấn đề Thông tin có thể thu thập được từ nhiều nguồn như: sách báo,trên mạng internet, các tài liệu lưu trữ Thông tin có thể thu thập qua nhiều conđường như: trao đổi ý kiến, quan sát, khảo sát thực tế, điều tra, thăm dò ý kiến bằngphiếu, phỏng vấn… Cần lưu ý là thông tin mình có thường không đầy đủ và khônggiống thông tin mà người khác có được Do vậy, vai trò của GV vô cùng quan trọngtrong việc định hướng thông tin cho SV sử dụng hợp lý SV cần biết cách chọn lọcthông tin sao cho phù hợp với nội dung dự án của mình
Thông tin thu thập được là cơ sở để suy luận, tính toán, từ đó xây dựng cácgiả thuyết, đồng thời kiểm chứng các giả thuyết đó Việc sử dụng thông tin đòi hỏiphải qua quá trình kiểm tra, phân tích, đánh giá về ý nghĩa, tầm quan trọng và độchính xác của từng thông tin Cần tìm sự tương đồng cũng như sự khác biệt, mâuthuẩn và các mối liên hệ giữa các mẫu thông tin Phân biệt sự thật và dư luận, nguồnthông tin khởi nguồn và thứ cấp, sự thật và dư luận, ý kiến khách quan và chủ quan,lập luận logic và ngụy biện Những thông tin mới khác với những gì đã biết có thểđòi hỏi nhận diện lại vấn đề
Trang 25Nguồn thông tin liên quan trực tiếp và gián tiếp những vấn đề lớn, phức tạp
vô cùng phong phú, nên cần phải được xử lý, kiểm tra, sắp xếp thành hệ thống đểlàm bộc lộ ra các mối liên hệ và xu thế của sự vật Để phân tích và hệ thống hóa các
số liệu có thể biểu hiện dưới nhiều dạng như: biểu đồ, đồ thị, bảng thống kê Muốn
sử dụng thông tin thì GV phải hướng dẫn cho SV xử lý thông tin phù hợp với yêucầu của dự án
Nếu GV có kỹ năng trong việc phân loại thông tin, có kinh nghiệm trong xử
lý thông tin thì việc định hướng cho SV sử dụng thông tin đa chiều sẽ có giá trị thực
tế với dự án
1.3.8 Kỹ năng xây dựng bộ câu hỏi kiểm tra, đánh giá
Để kiểm tra, đánh giá sinh viên thì giáo viên phải có những công cụ nhất
định, công cụ đó chính là xây dựng bộ câu hỏi định hướng Đây là một hệ thống câu
hỏi do giáo viên đưa ra nhằm mục đích định hướng dạy học theo một nhómkiến thức của chủ điểm Bộ câu hỏi định hướng là sự thể hiện cụ thể và sinh độngmục tiêu dạy học bao gồm các yêu cầu về kiến thức, kỹ năng, thái độ Giáo viên cầnsuy nghĩ về các câu hỏi học sinh sẽ hỏi khi triển khai dự án, chú trọng vào việc làmthế nào để cuốn hút sinh viên Các câu hỏi cần tạo ra sự gợi mở Sự gợi mở này sẽkhiến cho hoạt động học tập trở nên khó đoán trước, vốn là một đặc trưng cơ bảncủa việc học theo dự án Bộ câu hỏi định hướng gồm ba loại:
- Câu hỏi khái quát: Khái quát đầy đủ những ý tưởng xuyên suốt chủ điểm.
Câu hỏi khái quát cung cấp cầu nối giữa các bài học trong chủ điểm Với câu hỏinày có thể có nhiều câu trả lời và để trả lời được phải thông qua quá trình sinh viêntìm tòi, khám phá Câu hỏi khái quát cần thu hút được sự quan tâm của sinh viên,buộc sinh viên phải phân tích, áp dụng vào thực tiễn và vận dụng những kinhnghiệm sẵn có của mình Thủ thuật xây dựng câu hỏi khái quát tốt, giáo viên cần tậptrung suy nghĩ về chủ điểm mình dạy một cách tổng thể như: Tại sao sinh viên phảihọc chủ đề này? Tại sao chủ đề đó lại quan trọng và tại sao sinh viên phải quan tâmđến nó? Việc học chủ đề này có giá trị như thế nào? Trong chủ đề, khái niệm quantrọng mà ta hướng tới là gì? Nội dung chủ đề ảnh hưởng đến đời sống thực của các
em ra sao? Làm thế nào để nội dung chủ đề trở nên có ý nghĩa với sinh viên? Cũng
Trang 26đừng quá bận tâm vào câu chữ trong câu hỏi định hướng, chỉ nên tập trung suy nghĩ
để kích thích quá trình làm việc của sinh viên một cách tối ưu nhất
- Câu hỏi bài học: Những câu hỏi này cần có đáp án mở nhằm lôi cuốn sinh
viên tới việc khám phá những ý tưởng cụ thể đối với từng chủ điểm Các câu hỏicũng nhằm đưa ra những vấn đề kích thích việc thảo luận, bổ trợ cho câu hỏi kháiquát Câu hỏi bài học khuyến khích khám phá, duy trì hứng thú, cho phép mỗi sinhviên trả lời theo cách tiếp cận sáng tạo, độc đáo của riêng mình Thủ thuật xây dựngcâu hỏi bài học: Để xây dựng các câu hỏi bài học, cần tự đặt cho mình những địnhhướng như: Trọng tâm trong bài học này là gì? Những câu hỏi mở nào mà sinh viêncác năm học trước, khóa trước, lớp trước đã đặt ra và thắc mắc khi học bài học này?Mong muốn sinh viên phát triển nội dung mới này ra sao? Làm thế nào để giúp các
em liên kết, mở rộng kiến thức mình đang học?
- Câu hỏi nội dung: Kiểm tra khả năng ghi nhớ của sinh viên dựa trên các thông tin, thường yêu cầu học sinh phải xác định bằng việc trả lời các câu hỏi: Ai? Cái gì? ở đâu? Khi nào? Như thế nào? Thủ thuật xây dựng câu hỏi nội dung: Giáo
viên cần trả lời những câu hỏi như: Có những câu hỏi ngắn gọn nào học sinh có thểtrả lời được sau khi học xong chủ điểm này? Những việc làm nào mong muốn họcsinh thực hiện? Để đặt câu hỏi nội dung phù hợp, giáo viên có thể dựa vào chuẩnkiến thức đã đặt ra ở phần lập kế hoạch dự án
1.3.9 Kỹ năng kiểm tra, đánh giá
Trong dạy học dự án, các chuẩn kiến thức, kĩ năng được sử dụng nhằm giúpcho việc thiết kế dự án Việc đánh giá được lên kế hoạch trước và xuyên suốt bàihọc Các bài kiểm tra chỉ là một trong nhiều loại đánh giá Việc thực hiện nhiệm vụ,các phiếu tự đánh giá, bảng kiểm mục và các bài kiểm tra được coi như các công cụđánh giá Để triển khai thành công dạy học dự án, việc đánh giá nên tập trung vàonhững câu hỏi cụ thể như: Sinh viên hướng đến các mục tiêu học tập như thế nào?Sinh viên sử dụng những kĩ năng tư duy nào? Liệu sinh viên có nâng cao được khảnăng tự quản lý, tư duy sâu để học tốt hơn hay không? Giáo viên có thể tham khảomột mẫu phiếu đánh giá chung theo các tiêu chí trong bảng dưới đây Mỗi tiêu chíđược cho điểm từ 1 đến 5 Dự án đạt loại tốt khi có tổng điểm từ 40 - 50, khá: 30 -
40, đạt: 25 - 30, không đạt: dưới 25 Ngoài ra, trong quá trình thực hiện dự án ở
Trang 27từng giai đoạn, giáo viên có thể thiết kế những mẫu phiếu tự đánh giá khác phụthuộc vào nhiệm vụ mà mình đã giao cho sinh viên.
Bảng 1 Mẫu đánh giá dự án
1 Những kiến thức, kĩ năng thu được
sau dự án
2 Lượng kiến thức gắn với môn học
trong dự án
3 Việc tạo điều kiện cho mọi thành
viên cùng tham gia
Giáo viên sử dụng nhiều phương pháp khác nhau, nhiều kỹ năng khác nhau
để dạy học, tuy nhiên để nâng cao hiệu quả giảng dạy thì GV cần phải có nhữngbiện pháp nhất định để rèn luyện kỹ năng dạy học, nhất là trong dạy học môn Kinh
tế chính trị Để hiểu được cách rèn luyện kỹ năng trước tiên cần phải tìm hiểu thếnào là biện pháp?
Trang 28Theo tác giả Nguyễn Văn Đạm trong “Từ điển Tiếng Việt tường giải và liêntưởng” đưa ra quan điểm: Biện pháp là cách làm, cách hành động, đối phó để đi tớimột mục đích nhất định.
Trong cuốn “Từ điển tiếng Việt” (Hoàng Phê chủ biên) có quan điểm: biệnpháp là cách làm cách giải quyết một vấn đề cụ thể
Có thể hiểu nghĩa chung rộng nhất của biện pháp là cách làm để giải quyếtmột vấn đề cụ thể để đạt được một mục đích nhất định
Tuy nhiên, cũng cần phải làm rõ khái niệm biện pháp thì chúng ta cần phânbiệt nó với một số khái niệm khác như phương pháp, giải pháp, cách thức Thựcchất của biện pháp chính là xuất phát từ các giải pháp và sử dụng các phương pháp
để giải quyết một vấn đề cụ thể và đạt được mục đích đề ra
Từ khái niệm biện pháp theo nghĩa chung nhất, và trên cơ sở tham khảo ýkiến chuyên gia, chúng tôi đã đưa ra khái niệm biện pháp rèn luyện kỹ năng dạy họctheo phương pháp dự án như sau:
Biện pháp rèn luyện kỹ năng dạy học theo phương pháp dự án là cách tổ chức huấn luyện, bồi dưỡng tác động cho giáo viên có tính tự giác, tích cực, chủ động, sáng tạo tập luyện để hình thành cho bản thân các kỹ năng dạy học cần thiết theo yêu cầu của dạy học dự án.
1.4.2 Các biện pháp rèn kĩ năng dạy học theo phương pháp dự án
Như vậy, từ khái niệm trình bày ở trên chúng ta có thể thấy rèn luyện kỹnăng DHTDA nói chung và trong môn Kinh tế chính trị nói riêng cần phải có cácbiện pháp như sau:
Một là: Tổ chức huấn luyện, bồi dưỡng tác động cho giáo viên tự tập luyện
nâng cao các kỹ năng trong DHTDA Tại sao phải thực hiện biện pháp này là vì conđường cơ bản nhất để hình thành kỹ năng là tập luyện Quá trình tập luyện phảithông qua các hoạt động cụ thể Mỗi hoạt động có thể hình thành một hay một vài
kỹ năng nào đó Quá trình rèn luyện kỹ năng DHTDA đối với giáo viên đó chính làcác buổi thao giảng tại lớp có các đồng nghiệp dự giờ hoặc các buổi thi giảng giáoviên giỏi tại trường để chia sẻ và rút kinh nghiệm cho nhau và tìm ra cách thức, traudồi kỹ năng DHTDA một cách hiệu quả nhất
Hai là: Cho dù có tổ chức bao nhiêu buổi tập huấn, bồi dưỡng chuyên đề,
bao nhiêu buổi rút kinh nghiệm, bao nhiêu buổi giảng dạy có dự giờ thì điều quan
Trang 29trọng nhất để rèn luyện kỹ năng DHTDA là phải do giáo viên có chủ động, tích cực,sáng tạo tập luyện hay không mà thôi Nói cách khác, muốn nâng cao kỹ năngDHTDA thì người giáo viên phải có tính chủ động, và khẳng định mình là ngườiđịnh hướng giữ vai trò chủ đạo trong các sản phẩm dự án của sinh viên Sản phẩm
dự án tốt, hiệu quả, thực tế chính là thành công của giáo viên đã có trau dồi và chủđộng, tích cực thường xuyên trong việc rèn luyện nâng cao kỹ năng DHTDA
Tiểu kết chương 1
Sinh viên trường Cao đằng Thực hành FPT có những đặc điểm về chất lượngđầu vào khác biệt so với các trường khác, trong khi đó mô hình và triết lý đào tạocủa nhà trường là đào tạo theo phương pháp DHTDA Vì vậy, việc vận dụng nhiềuphương pháp khác nhau trong quá trình giảng dạy của giáo viên là điều cần thiết,trong đó DHTDA là phương pháp được nhà trường lựa chọn, là phương pháp trọngtâm trong việc đào tạo nghề Vì vậy, việc rèn luyện các kỹ năng đối với giáo viêntrường cao đẳng thực hành Fpoly là điều hết sức quan trọng Chương 1 luận văn đãtrình bày những cơ sở lý luận cần thiết làm căn cứ tiền đề cho việc nghiên cứu thựctrạng về kỹ năng, biện pháp rèn luyện kỹ năng cho giáo viên tại trường cao đẳngthực hành FPT Trong Chương 1, chúng tôi chủ yếu trình bày lý thuyết về phươngpháp dạy học nói chung, kỹ năng dạy học phương pháp dự án nói riêng
Chương 2
THỰC TRẠNG KĨ NĂNG DẠY HỌC THEO PHƯƠNG PHÁP DỰ ÁN VÀ BIỆN PHÁP RÈN KĨ NĂNG DẠY HỌC THEO PHƯƠNG PHÁP DỰ ÁN CHO GIÁO VIÊN Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG THỰC HÀNH FPT
2.1 Giới thiệu đôi nét về trường Cao đẳng Thực hành FPT
2.1.1 Lịch sử hình thành và quá trình phát triển
Cao đẳng thực hành FPT Polytechnic, hay còn được gọi là FPTPolytechnic, là hệ cao đẳng của Trường Đại học FPT thuộc Tập đoàn FPT FPTPolytechnic được thành lập vào năm 2010 Hiện tại, FPT Polytechnic đang có 6 cơ
sở trên toàn quốc, và đang tổ chức đào tạo 6 ngành nghề chính:
1 Thiết kế website
2 Ứng dụng phần mềm
3 Lập trình máy tính - thiết bị di động
Trang 304 Thiết kế đồ họa - mỹ thuật đa phương tiện
5 Kế toán doanh nghiệp
6 Quản trị doanh nghiệp
Triết lý và mô hình đào tạo
Cao đẳng thực hành FPT Polytechnic triển khai mô hình giáo dục - đào
tạo kiểu mới dựa trên sức mạnh của công nghệ thông tin Đó là: "Thực học - Thựcnghiệp", đào tạo thông qua dự án với cách thức "cầm tay chỉ việc" Đây là mộttrong những phương pháp đào tạo tiên tiến nhất hiện nay và còn mới lạ ở ViệtNam Công việc thực tế trong doanh nghiệp được đưa vào bài giảng Sinh viên sẽđược giao các nhiệm vụ, dự án ngay đầu giai đoạn để từng bước học hỏi và hoànthiện FPT Polytechnic tạo môi trường học tập giống doanh nghiệp và trong đó,sinh viên đóng vai trò như nhân viên Các giờ học được tổ chức để giao việc vàkiểm soát công việc
Mô hình đào tạo ở FPT Polytechnic thiên về thực hành và truyền nghề Vì
vậy, ngoài giảng viên chính sẽ có trợ giảng - người đi trước có kinh nghiệm hoặcsinh viên khoá trên - hướng dẫn cho sinh viên khoá dưới Hệ thống giáo trình vàtài liệu tham khảo có bản quyền từ các nhà xuất bản uy tín trên thế giới, thườngxuyên cập nhật mỗi khi có phiên bản mới Giáo trình của trường được chuyển ngữ
và biên soạn sang Tiếng Việt thông qua sự hợp tác xuất với các nhà xuất bản quốc
tế hàng đầu như McGraw - Hill, Pearson, Wiley… giúp sinh viên tiếp cận với trithức công nghệ cập nhật một cách dễ dàng hơn, đặc biệt là khi khả năng ngoại ngữcòn hạn chế Ngoài ra, nhà xuất bản Pearson sẽ cung cấp sách giáo trình, tài liệugiảng dạy với mức giá ưu đãi và dành các suất học bổng dành cho sinh viên,giảngviên xuất sắc FPT Polytechnic cũng luôn tạo điều kiện cho sinh viên được pháttriển bằng các hoạt động hướng nghiệp, giới thiệu việc làm cho sinh viên ngaytrong quá trình học tập
2.1.2 Tại sao lại phải dạy học theo phương pháp dự án tại trường Cao đẳng thực hành FPT?
Với triết lý đào tạo “Thực học - Thực nghiệp”, FPT Polytechnic sử dụng phương pháp học tập qua dự án với mục tiêu lớn nhất là “Tốt nghiệp - Tốt nghề“.
Cụ thể, các chương trình đào tạo của trường được thiết kế theo hướng dự áncho từng học kỳ và bài tập thực tế cho từng môn học Theo đó, nhà trường đưa các
Trang 31công việc thực tế trong doanh nghiệp vào bài giảng Sinh viên sẽ được giao cácnhiệm vụ, dự án ngay đầu giai đoạn để từng bước học hỏi và hoàn thiện nhiệm vụđược giao.
Để thực hiện được chương trình học trên, nhà trường tạo môi trường học tậpgiống doanh nghiệp với việc tuân thủ nghiêm ngặt lịch học tập Sinh viên được giaonhiệm vụ học tập giống như nhân viên Các giờ học được tổ chức để giao việc vàkiểm soát công việc
Khi đó, giảng viên sẽ ở vai trò người hướng dẫn và dẫn dắt từ đó xây dựngtinh thần tự học và luôn luôn học hỏi để đáp ứng nhu cầu thay đổi công nghệ ngàycàng nhanh của xã hội hiện đại Nhà trường cũng áp dụng việc kiểm tra liên tục,kiểm tra tiến trình nhằm đảm bảo sinh viên hiểu bài, làm được bài sau mỗi buổi học
mà không phụ thuộc vào may rủi của việc thi cuối kỳ
Với cách học này, sinh viên sẽ có điều kiện phát huy cao tính sáng tạo, từ đó,định hướng rõ ràng về mục đích môn học, chủ động trong việc tự tìm tòi kiến thức.Đây cũng là cách để sinh viên làm quen với những yêu cầu của công việc sau này
Mô hình đào tạo ở FPT Polytechnic thiên về thực hành và truyền nghề Vìvậy, sẽ chủ yếu được xây dựng nhằm đào tạo các kỹ năng nghề nghiệp cần thiết chosinh viên Sinh viên sẽ được hướng dẫn qua trợ giảng bên cạnh các giảng viên Quátrình học tập sẽ được đánh giá theo tay nghề qua sản phẩm
Ngoài ra, FPT Polytechnic ra đời với sứ mệnh cung cấp dịch vụ đào tạo tốt
trên các tiêu chí: phù hợp với năng lực học tập của sinh viên; đáp ứng nhu cầu lớn của doanh nghiệp; và cung cấp dịch vụ đào tạo chuẩn mực dựa trên các chuẩn đã
được công nhận
Đào tạo theo dự án tại trường FPT Polytechnic với mong muốn tạo ra nhữnggiá trị riêng cho nhà trường theo xu hướng tích cực hóa trong dạy học từ : Phươngpháp học từ thực tế; Bài học từ tình huống thực tiễn (case study); Học theo giao việc
và đánh giá; Đánh giá trong suốt quá trình học; Trợ giúp thường xuyên từ trợ giảng
Xuất phát từ chính những mong muốn tạo ra các giá trị riêng về mặt kỹ năngthực hành nghề cho SV sau khi ra trường, Trường FPT Polytechnic đã đưa ra rấtnhiều biện pháp trong các môn học Tuy nhiên, môn học Kinh tế chính trị là mônhọc không những giúp SV kinh tế nhận thức được các quy luật cơ bản của kinh tế
mà còn giúp SV vận dụng được vào thực tế khi nghiên cứu về các doanh nghiệp cụ
Trang 32thể từ vấn đề quy luật tiền lương, quy luật cạnh tranh, quy luật giá trị…là những yếu
tố sống còn của chính các doanh nghiệp đã giúp cho sinh viên nhận thức được rõ vịtrí và vai trò của bản thân trong mỗi doanh nghiệp cụ thể hoặc giúp SV nhận thứctrong việc tự kinh doanh bằng chính khả năng của bản thân
Như vậy, để đạt được mục tiêu với triết lý đào tạo giá trị riêng đã đề ra, dạyhọc theo phương pháp dự án tại trường Cao đẳng thực hành FPT, trong môn họcKinh tế chính trị là điều tất yếu Mỗi giáo viên phải tự thích nghi và rèn luyện kỹnăng dạy học dự án cho cá nhân để đáp ứng nhu cầu của nhà trường và xã hội trongcông cuộc đổi mới phương pháp giảng dạy, kích thích tư duy phản biện cho mỗi sinhviên tại cao đẳng thực hành FPT, đặc biệt điều này có ý nghĩa hơn bao giờ hết đối vớigiáo viên giảng dạy môn Kinh tế chính trị
2.2 Thực trạng kĩ năng DHTDA của giáo viên trường Cao đẳng thực hành FPT
2.2.1 Những vấn đề chung về nghiên cứu thực trạng
2.2.1.1 Mục đích
Nghiên cứu thực trạng nhằm xác định, đánh giá nhận thức của giáo viên, vấn
đề tổ chức DHTDA cho sinh viên Fpoly trong các môn học nói chung và môn Kinh
tế chính trị nói riêng Cùng với các kết quả nghiên cứu lý luận, kết quả nghiên cứuthực trạng là cơ sở thực tiễn để đề xuất biện pháp rèn luyện kỹ năng tổ chứcDHTDA cho sinh viên FPoly nhằm nâng cao kết quả học tập cũng như hình thành
và phát triển các kỹ năng hòa nhập cho sinh viên
2.2.1.2 Nội dung, công cụ và mẫu khảo sát
a) Nội dung:
Đề tài khảo sát thực trạng tổ chức DHTDA cho sinh viên Poly với các nội dung:
- Nhận thức của Giáo viên về thế nào là DHTDA
- Khả năng của Giáo viên trong thực hiện các bước DHTDA
- Mức độ tham gia và kết quả học tập của sinh viên khi học theo dự án
- Những thuận lợi của Giáo viên khi tổ chức DHTDA
- Những khó khăn của Giáo viên khi tổ chức DHTDA
- Những mong muốn của Giáo viên giúp nâng cao hiệu quả tổ chức DHTDA
- Những đề xuất của giáo viên giúp nâng cao DHTDA hiệu quả
b) Công cụ
Trang 33Để khảo sát những nội dung trên, chúng tôi sử dụng phiếu khảo sát thựctrạng tổ chức DHTDA cho sinh viên đại học bao gồm 6 câu hỏi với 47 items.
c) Mẫu khảo sát
Chúng tôi khảo sát thực trạng tổ chức DHTDA cho sinh viên với 60 cán bộ,nhân viên và giáo viên tại trường trong các bộ môn khác nhau, cả các bộ môn đã vàđang thực hiện DHTDA và cả các bộ môn học theo phương pháp truyền thống Trong
đó có 2 giáo viên DHTDA trong môn Kinh tế chính trị
2.2.1.3 Cách tiến hành
Phần lớn những câu hỏi đều là các câu hỏi đóng, giáo viên chỉ việc đánh dấu (x)vào lựa chọn phù hợp với suy nghĩ của mình Sau khi được người khảo sát giải thích vềcách làm, cá nhân giáo viên sẽ hoàn thành việc trả lời bộ câu hỏi trong vòng 10 phút
Kế quả trả lời của tất cả 48 giáo viên sẽ được tổng hợp lại để xử lý kết quả
2.2.1.4 Xử lý kết quả
Dùng các công thức toán thống kê để xử lý các số liệu nhằm đưa ra các kếtquả định tính và định lượng về thực trạng tổ chức DHTDA cho sinh viên đại học
2.2.2 Kết quả và phân tích kết quả khảo sát thực trạng
2.2.2.1 Nhận thức của giáo viên về thế nào là DHTDA
Bảng 2 Nhận thức của giáo viên về thế nào là DHTDA
1 Quá trình sinh viên tự lực thực hiện các nhiệm vụ học
tập cụ thể nhằm tiếp thu tri thức và vận dụng những
kiến thức đã học vào thực tế cuộc sống
2 Quá trình sinh viên thực hiện các nhiệm vụ được giáo
viên lập trình sẵn để tạo ra một sản phẩm học tập
3 Quá trình sinh viên tự tiếp thu tri thức thông qua việc
cộng tác học tập, độc lập tư duy giải quyết những nhiệm
vụ thuộc một chủ đề học tập dưới vai trò hướng dẫn, tư
vấn, thúc đẩy và cộng tác của giáo viên
Kết quả khảo sát thu được ở bảng trên cho thấy, tỷ lệ giáo viên có nhận thứcđúng nhưng chưa đủ về DHTDA chiếm tỷ lệ cao nhất (chiếm 45%) với nội dung:DHTDA là: "Quá trình sinh viên tự lực thực hiện các nhiệm vụ học tập cụ thể nhằmtiếp thu tri thức và vận dụng những kiến thức đã học vào thực tế cuộc sống"
Trong quá trình khảo sát, qua trao đổi với giáo viên, có khá nhiều giáo viên
Trang 34cầu sinh viên thực hiện Ở đó, sinh viên là người hoạt động chính còn giáo viên thểhiện rất ít vai trò của mình Chính sự không bám sát sinh viên cũng như thiếu sựthúc đẩy sinh viên trong tất cả các bước, các em rất cần sự kích thích rất nhiều từgiáo viên đã làm cho kết quả học tập của sinh viên chưa được cao.
Bên cạnh đó, cũng có tới 31,67% giáo viên có nhận thức đúng hoàn toàn vềthế nào là DHTDA Đó là ý kiên cho rằng DHTDA là: "Quá trình sinh viên tự tiếpthu tri thức thông qua việc cộng tác học tập, độc lập tư duy giải quyết những nhiệm
vụ thuộc một chủ đề học tập dưới vai trò hướng dẫn, tư vấn, thúc đẩy và cộng táccủa giáo viên" Tuy nhiên, qua trao đổi và quan sát, chúng tôi thấy rằng những giáoviên này hiểu đúng về DHTDA nhưng kỹ năng áp dụng của học mới chỉ đang ởmức độ cơ bản, chưa thành thạo Song điều này cũng chứng tỏ, giáo viên cũng đangbắt đầu tìm hiểu và áp dụng DHTDA Đây là một tín hiệu đáng mừng
Bên cạnh đó, vẫn còn 23.3% giáo viên chưa hiểu đúng về DHTDA Đó là các
ý kiến cho rằng DHTDA là: "Quá trình sinh viên thực hiện các nhiệm vụ được giáoviên lập sẵn để tạo ra một sản phẩm học tập" Các ý kiến này tập trung vào các giáoviên chưa có cơ hội tìm hiểu và áp dụng DHTDA Do vậy, việc bồi dưỡng nâng caotrình độ cho giáo viên về DHTDA là việc làm rất cần thiết trong thời gian tới
Trong đó, có 100% giáo viên dạy học môn Kinh tế chính trị đều nhận thức rấtđầy đủ và hiểu rõ về DHTDA trong môn học này
2.2.2.2 Khả năng của giáo viên trong thực hiện các bước DHTDA
Bước 1 Lựa chọn chủ đề dự án
Bảng 3 Khả năng của giáo viên trong bước lựa chọn chủ đề dự án
Mức độNội dung
Để có thể lựa chọn được chủ đề dự án phù hợp, giáo viên cần hiểu sinh viên
đã biết gì và cần biết gì liên quan đến chủ đề định lựa chọn Ở bước lựa chọn dự án,mới chỉ có 19/60 giáo viên, chiếm 31.67%, đánh giá được khả năng và nhu cầu của
Trang 35sinh viên để lựa chọn dự án ở mức độ rất tốt, còn lại là ở mức khá (50%) và trungbình (18.33%) Dựa trên những hiểu biết về khả năng và nhu cầu của sinh viên, giáoviên sẽ bước đầu có một số lựa chọn về các chủ đề dự án.
Qua việc sử dụng các câu hỏi gợi mở cho sinh viên liên quan đến các chủ đềcũng như việc khảo sát nguyện vọng và sở thích của các em, giáo viên sẽ đưa rađược chủ đề phù hợp Có 19/60 giáo viên, chiếm 31.67% sử dụng các câu hỏi gợi
mở cho sinh viên ở mức độ tốt, 41.67% ở mức độ khá, còn lại 28.33% ở mức độtrung bình Qua trao đổi, giáo viên cho biết, mặc dù giáo viên có chuẩn bị các câuhỏi dựa trên khả năng và nhu cầu của sinh viên Tuy nhiên trong quá trình trả lờicác câu hỏi, sinh viên có thể không trả lời một số câu hỏi hoặc thể hiện nhu cầu củamình ở mức độ thấp nên giáo viên cũng gặp nhiều khó khăn trong việc đưa ra đượcchủ để dự án phù hợp
Xác định mục tiêu dự án phù hợp là việc làm quan trọng quyết định sự thànhcông của dự án, việc xếp lớp, xếp nhóm cho sinh viên chỉ mang tính tương đối vìtrình độ của các sinh viên có sự khác biệt rõ ràng Do vậy, khi xây dựng các mụctiêu dự án, giáo viên cũng cần cân nhắc để đưa ra các mục tiêu nhằm đáp ứng cáctrình độ đa dạng của sinh viên trong lớp, trong nhóm Ở nội dung xác định mục tiêu
dự án, giáo viên đánh giá khả năng của mình chưa được tốt Có 36.67 % GV thựchiện ở mức độ tốt, 33.33% ở mức độ khá, 16.67% mức độ trung bình và có 5% ởmức độ yếu
Tuy nhiên cũng còn khá nhiều giáo viên trao đổi rằng, đôi khi họ đưa ra mụctiêu quá cao cho sinh viên hoặc những mong muốn của giáo viên đôi khi sinh viênkhông đạt được, không phải vì mục tiêu vượt ngoài khả năng mà do ảnh hưởng củacác yếu tố khách quan như sức khỏe, tâm lý, thời gian do đó việc xác định mụctiêu dự án cho sinh viên cũng là việc làm khó đối với giáo viên
Chúng tôi cũng đã ghi nhận được kết quả trong khảo sát riêng đối với GVgiảng dạy môn Kinh tế chính trị như sau: trong bước lựa chọn chủ đề dự án chỉ có50% (1/2 GV) có khả năng sử dụng các câu hỏi gợi mở cho sinh viên về chủ đề dự
án và xác định mục tiêu dự án, nhưng 2/2 GV còn cho biết họ hiểu về khả năng vànhu cầu của sinh viên chỉ đạt mức độ trung bình
Bước 2: Lập kế hoạch dự án
Trang 36Bảng 4 Khả năng của giáo viên trong bước lập kế hoạch dự án
Mức độNội dung
SL TL % SL TL % SL TL % SL TL %
1 Cung cấp tài liệu tham khảo 19 31.67 30 50 11 18.33 0 0.0
2 Đưa ra những định hướng cần
thiết cho sinh viên 19 31.67 25 41.67 17 28.33 0 0.0
3 Đưa ra ý kiến đóng góp cho
kế hoạch của sinh viên
Do sinh viên là trình độ cao đẳng nghề, chất lượng đầu vào không đồng đềunên khả năng nhận thức và khả năng làm việc độc lập của sinh viên gặp rất nhiềukhó khăn Do vậy sinh viên chưa tự thực hiện được bước lập kế hoạch dự án mộtcách độc lập nên đòi hỏi phải có sự tham gia hướng dẫn, định hướng của giáo viênrất nhiều Qua bảng trên cho thấy, giáo viên đã thể hiện sự thành thạo của mìnhtrong tất cả các hoạt động của bước lập kế hoạch dự án 100% giáo viên thực hiệntốt việc cung cấp tài liệu tham khảo cho sinh viên (Tài liệu bao gồm Casestudy,trang Web, dự án mẫu và các tài liệu khác) Tuy nhiên, qua trao đổi với giáo viêncũng cho biết việc cung cấp tài liệu tham khảo cũng gặp không ít khó khăn khi các
em phải đọc, nghiên cứu, chọn lọc các thông tin trên các công cụ như Internet bịloãng và nhiều thông tin chưa chính xác, thậm chí thông tin sai Đó là hạn chế khiếncho việc thực hiện dự án của sinh viên chưa được đầy đủ và đa dạng thông tin hoặcthông tin chuẩn xác Vì vậy, giáo viên rất vất vả và mất nhiều thời gian tìm kiếm tàiliệu tham khảo phù hợp với sinh viên hoặc phải tự thiết kế các tài liệu mà cácphương tiện thông tin còn chưa cung cấp và đáp ứng được
Đưa ra định hướng cần thiết cho sinh viên liên quan đến việc hướng dẫn sinhviên những công việc cần làm, việc phân công nhiệm vụ trong từng giai đoạn phùhợp cho các thành viên, dự kiến thời gian hoàn thành cho mỗi công việc, đều phảidựa trên ý kiến của sinh viên trong các nhóm Đa số ý kiến của giáo viên đánh giá
về khả năng của mình trong hoạt động này tập trung ở mức độ tốt và khá 31.67% và50% Cũng có 28.33% GV cho rằng khả năng đưa các định hướng cho SV ở mức độtrung bình vì SV có thể không nghe theo những định hướng đó
Sau những định hướng của giáo viên, sinh viên sẽ hoàn thành kế hoạch Việchoàn thành kế hoạch của sinh viên là việc điền thông tin về các công việc cần làm,
Trang 37người chịu trách nhiệm và thời gian dự kiến hoàn thành công việc vào mẫu kếhoạch hoàn thiện dự án giáo viên đã phát trước đó Sau khi sinh viên đã điền đầy đủcác thông tin, giáo viên sẽ đưa ra ý kiến đóng góp cuối cùng cho kế hoạch Đây làcông việc khá dễ dàng và giáo viên cho rằng họ thực hiện rất tốt công việc này83.33% GV đánh giá ở mức độ tốt và 16.67% ở mức độ khá, không có ý kiến đánhgiá nào ở mức độ yếu Đây là kết quả đáng mừng.
Trên cơ sở kết quả chung trong nghiên cứu về bước 2: Lập kế hoạch dự án.Chúng tôi đã sàng lọc kết quả riêng cho môn kinh tế chính trị cụ thể: 100% (2/2GV) đều cho rằng phần Lập kế hoạch dự án học đều có thể làm khá tốt
Bước 3: Thực hiện dự án
Bảng 5 Khả năng của giáo viên trong bước thực hiện dự án
Mức độNội dung
1 Theo dõi quá trình thu
thập và xử lý thông tin của
sinh viên
2 Kiểm tra tính chính xác
3 Liên lạc với sinh viên để
kiểm tra công việc
và xử lý thông tin, có 53.33% GV đánh giá khả năng này ở mức độ tốt nhưng cũng
có giáo viên thực hiện nội dung này ở mức độ trung bình là 16.67%
Qua trao đổi với giáo viên dạy bộ môn Kinh tế chính trị thì 100% GV cũngcho biết khi sinh viên làm việc trong các giờ học thì giáo viên dễ dàng theo dõi,nhưng khi sinh viên làm việc ở nhà thì giáo viên rất khó theo dõi Do đó, giáo viêncũng rất khó để thường xuyên đánh giá chính xác của nguồn tin mà sinh viên thu
Trang 38thập được Giáo viên chỉ có thể đánh giá thông tin sinh viên thu thập được khi ngồilại với nhau để thảo luận nhóm tại lớp.
Bước 4: Giới thiệu sản phẩm dự án
Bảng 6 Khả năng của giáo viên trong bước giới thiệu sản phẩm dự án
Mức độ Nội dung
Qua bảng trên cho thấy, giáo viên đã có những khả năng nhất định trong việc
tổ chức và hướng dẫn cho sinh viên trình bày sản phẩm dự án Đây là bước quantrọng, là khâu sinh viên thể hiện những thành quả làm việc của mình Do đó, giáoviên cần tổ chức để làm sao cho sinh viên vừa tự tin trình bày sản phẩm, vừa tíchcực trao đổi để giải quyết những thắc mắc của mình liên quan đến các nội dung của
dự án Trước tiên, giáo viên cần tổ chức cho sinh viên trình bày sản phẩm, tức làchuẩn bị cơ sở vật chất, đưa ra các quy định cho việc trình bày sản phẩm cũng nhưcác tiêu chí đánh giá sản phẩm Đây là việc làm khá đơn giản đối với giáo viên Có53.33% giáo viên đánh giá khả năng của mình ở mức độ tốt, 46.67% mức độ khá
Trong DHTDA, sau mỗi phần trình bày của mỗi nhóm, các nhóm cần có sựtrao đổi với nhau để hiểu về nội dung cũng như các thức thực hiện dự án của nhómbạn Sinh viên của nhóm khác sẽ theo dõi nhóm trình bày và đưa ra các câu hỏi chonhóm về các nội dung các em còn thắc mắc hoặc cần hiểu thêm Tuy nhiên, qua traođổi, giáo viên cho biết ngay bản thân sinh viên trình bày cũng thiếu nhiều kỹ năng
để có thể trình bày sản phẩm tốt như kỹ năng ngôn ngữ diễn đạt, kỹ năng bảo vệ ýkiến Còn các sinh viên khác thì thiếu tập trung khi nghe các bạn trình bày và rất ítkhi đưa ra câu hỏi Do vậy, giáo viên cũng gặp khá nhiều khó khăn khi kích thíchsinh viên theo dõi và đưa ra phản hồi Giáo viên thường xuyên phải nhắc lại nhiệm
vụ theo dõi cho sinh viên và phải đưa ra câu hỏi gợi mở để khuyến khích các emđưa ra câu hỏi Chỉ có 26.67% giáo viên đánh giá khả năng tổ chức cho các nhómtrao đổi ý kiến của mình ở mức độ tốt Còn lại 36.67% đều ở mức độ khá và mức độ
Trang 39trung bình Theo chúng tôi, để nâng cao kỹ năng tổ chức hoạt động này, giáo viênnên rèn cho sinh viên các kỹ năng thuyết trình, giới thiệu sản phẩm cũng như kỹnăng đặt và trả lời câu hỏi Bên cạnh đó giáo viên cũng cần linh hoạt trong việc đưa
ra các câu hỏi gợi mở cho sinh viên để có thể kích thích được nhiều hơn ý kiến củacác em
Trong DHTDA, sinh viên tự lực hoàn thành các sản phẩm dự án dưới sự hỗtrợ của giáo viên, cha mẹ Do đó, các thông tin các em thu thập được có thể chưachính xác, quá trình xử lý thông tin có thể gặp khó khăn dẫn đến kết quả có thểkhông được như mong đợi Đặc biệt khi tổ chức DHTDA cho sinh viên thì điều nàycàng dễ xảy ra Vì vậy, sau khi sinh viên trình bày xong sản phẩm dự án, giáo viêncần đưa ra các câu hỏi cho các chủ dự án để chính xác hóa các thông tin đó Từ đó,sinh viên có thể thu nhận kiến thức một cách chính xác Các câu hỏi giáo viên đưa
ra cần phù hợp với sinh viên, đảm bảo các em có thể trả lời được để kích thích động
cơ học tập của các em Tuy nhiên, do chưa quen với hình thức dạy học này nên giáoviên cho rằng việc đưa ra các câu hỏi loại này đối với họ là khá khó Chỉ có 18.33%giáo viên cho rằng mình đưa ra các câu hỏi cho các chủ dự án ở mức độ tốt, 43.33%
ở mức độ khá và còn tới 38.33% giáo viên thực hiện kỹ năng này ở mức độ trungbình Không có ý kiến nào đánh giá khả năng thực hiện bước giới thiệu sản phẩm
dự án ở mức độ yếu
Trong quá trình khảo sát với GV giảng dạy môn Kinh tế chính trị chúng tôicũng nhận thấy 100% GV đều có khả năng tổ chức cho SV trình bày sản phẩm ởmức độ khá tốt Nhưng trong tổ chức cho các nhóm trao đổi ý kiến và đặt câu hỏicho các chủ dự án thì còn gặp nhiều khó khăn và mới chỉ dừng lại ở mức độ 50%Trung bình và 50% khá, và khi được hỏi GV cho rằng nội dung khó khăn này xuấtphát từ bước 3 liên quan đến thông tin, đến tính thực tế trong việc thực hiện sảnphẩm của SV
Bước 5 Đánh giá dự án
Bảng 7 Khả năng của giáo viên trong bước đánh giá dự án
Mức độNội dung
1 Hướng dẫn sinh viên tự đánh giá 19 31.67 30 50 11 18.33 0 0.0
Trang 404 Đánh giá quá trình thực hiện dự án 53 88.33 7 11.67 0 0 0 0
Sinh viên thể hiện sự hạn chế rất lớn trong kỹ năng đánh giá Đôi khi, sựđánh giá của sinh viên thiếu sự chính xác Qua quan sát, chúng tôi thấy rằng sinhviên sau khi theo dõi các bạn trình bày thường đánh giá một cách rất sơ sài: "Nhómbạn làm tốt ạ", "Xấu lắm" Đôi khi sinh viên thể hiện sự máy móc trong đánh giásản phẩm của nhóm bạn chứ chưa tìm ra được những điểm tích cực và hạn chếtrong sản phẩm của các bạn Do đó, giáo viên cho rằng mình vẫn hạn chế rất nhiều
ở kỹ năng này Có 31.67% giáo viên đánh giá khả năng hướng dẫn sinh viên đánhgiá và đánh giá lẫn nhau ở mức độ tốt, 50% ở mức độ khá, 18.33% ở mức độ trungbình và không có mức độ yếu Chúng tôi cho rằng, việc phát triển kỹ năng đánh giá
ở sinh viên là khá khó khăn, cần có thời gian và cần đi đôi với phát triển nhận thức
ở các em, làm cho các em hiểu sự đúng/sai đối với một vấn đề
Sau khi sinh viên tự đánh giá sản phẩm của mình và của bạn, giáo viên cầnđưa ra đánh giá để sinh viên hiểu rõ mình đúng và sai như thế nào Tuy nhiên, giáoviên cần có sự điều chỉnh khi đánh giá sản phẩm của các em Giáo viên nên cónhiều ý kiến khen ngợi hơn so với việc nêu khuyết điểm của các em Sinh viên vốn
có động cơ học tập thấp Nếu giáo viên tập trung nhiều vào khuyết điểm sinh viên
sẽ có cảm giác thất bại dẫn đến động cơ học tập của các em ngày càng yếu đi Nếuđược khen ngợi, sinh viên sẽ cố gắng hơn nữa để tiếp tục được khen, từ đó kết quảhọc tập sẽ tốt lên Ngoài việc đánh giá, giáo viên cũng cần đưa ra các ý kiến bổ sung
để hoàn thiện dự án Các ý kiến này nên dựa trên khả năng của sinh viên Giáo viênđánh giá khả năng của mình ở vấn đề này khá tốt 31.67% ở mức độ tốt, 41.67% ởmức độ khá và 26.67% ở mức độ trung bình
Sau khi dự án kết thúc, có thể mở ra một số hướng nghiên cứu tiếp theo cho
dự án Dựa trên khả năng của sinh viên, giáo viên sẽ đưa ra một số hướng nghiêncứu để các em lựa chọn Tuy nhiên, do chưa quen với tổ chức DHTDA nên giáoviên còn lúng túng ở hoạt động này Có 43.33% giáo viên đánh giá khả năng này