Sơ lược về sự hình thành nền Y học cổ truyền Việt Nam. Học thuyết Âm Dương.Học thuyết ngũ hành.Học thuyết tạng tượng. Học thuyết kinh lạc.Học thuyết thủy hỏa. Nguyên nhân gây bệnh và phương pháp chản đoán theo Y học cổ truyền.Phép tắc trị bệnh theo Y học cổ truyền.Đại cương về thuốc cổ truyền.Phân loại thuốc cổ truyền. Đại cương về chế biến thuốc theo phương pháp cổ truyền. Chế biến một số vị thuốc theo phương pháp cổ truyền.
Trang 1PHẦN 1 ĐẠI CƯƠNG Y HỌC CỔ TRUYỀN
Chương 1
SƠ LƯỢC VỀ SỰ HÌNH THÀNH NỀN Y HỌC CỔ TRUYỀN VIỆT NAM MỤC TIÊU
Sau khi học xong, sinh viên phải:
1 Trình bày được các đặc điểm của nền y học cổ truyền Việt Nam trong từng thời kỳ.
2 Chỉ ra được tính ưu việt của y học cổ truyền Việt Nam từ năm 1945 đến nay.
1 Y HỌC CỔ TRUYỀN VIỆT NAM THỜI THƯỢNG CỔ
Từ thời Hồng Bàng và các vua Hùng đã có tục ăn trầu, nhuộm răng đểbảo vệ răng miệng, làm ấm cơ thể Trong thời kỳ này cũng đã phát hiện và sửdụng một số vị thuốc khác như: Mộc hương, an tức hương, hương phụ, quế, têgiác Từ thế kỷ III trước công nguyên, nhân dân nước Âu Lạc đã biết nấurượu để uống làm thuốc
Trong thời kỳ này phương pháp phòng chửa bệnh chủ yếu bằng truyềnmiệng Người dân đã biết cách phòng chữa bệnh như:
- Ăn trầu (làm ấm cơ thể)
- Nhuộm răng (cánh kiến- ngũ bột tử - vỏ lựu) …
2 Y HỌC CỔ TRUYỀN VIỆT NAM TỪ NĂM 179 (trước CN) ĐẾN NĂM 938 (sau CN)
Gần 1.000 năm bị giặc Tàu đô hộ, trong thời gian này người TrungQuốc đã lấy đi nhiều vị thuốc của nước ta đem về nước như: Ý dĩ, Sử quân tử,Hoắc hương, Trầm hương, Tê giác, Đồi mồi… đồng thời nhiều thầy thuốc
Trang 2Trung Quốc cũng sang Việt Nam để hành nghề, từ đó Việt Nam đã tiếp thunền y học Trung Quốc (Trung Y)
3 Y HỌC CỔ TRUYỀN TỪ NĂM 938 ĐẾN NĂM 1884
Chủ yếu ghi lại lịch sử Y học từ thời Lý
3.1 Thời nhà Lý (1010 - 1224)
Nước ta dã có nhiều thầy thuốc chuyên nghiệp, triều đình có tổ chức Tythái y - bảo vệ sức khỏe vua, quan Trong đó ngự y chăm sóc sức khỏe chovua
3.2 Thời nhà Trần (1225 - 1399)
Nho học phát triển mạnh, về y học Ty thái y nâng lên thành Viện thái ychăm sóc sức khỏe cho vua quan trong triều đồng thời quản lý y tế trong cảnước Khi có bệnh phát, triều đình đã có chủ trương phát thuốc cho dân đểchữa bệnh Đã mở các khóa thi tuyển chọn lương y vào làm việc ở viện thái y.Viện thái y đã chỉ đạo việc đào tạo thầy thuốc và có kế hoạch thu trữ, cấp phátdược liệu, phục vụ chữa bệnh cho vua quan và quân đội Lúc này đã tổ chứcviệc trồng cây thuốc ở Phả Lại, Đại Yên (Ba Đình- Hà Nội), Nghĩa Trai (HảiHưng) Thời kỳ này xuất hiện một số danh y và những tác phẩm nổi tiếngnhư:
- Phạm Công Bân giữ chức Thái y viện.
- Tuệ Tĩnh (Nguyễn Bá Tĩnh - Hải Hưng) đỗ tiến sĩ, đi tu, làm thuốc
chữa bệnh cho nhân dân và viết sách, là danh sư nổi tiếng thời bấy giờ, làngười có tài đức Ông đóng góp lo tớn cho nền y học cổ truyền dân tộc
vị thuốc như: Hoàng đằng, Hoàng nàn, Lá đơn đỏ, Tân lang, Vỏ lựu, …
- Chu Văn An (1292 - 1370) (Thanh trì, Hà Nội)
Để lại nhiều tư liệu, bệnh án về kinh nghiệm chữa bệnh, nhất là cácbệnh dịch, được con cháu ghi lại là cuốn Y học giả tập chú di biên 1466
Trang 3- Tổ chức giảng dạy ở các Thái y viện.
- Soạn sách mới, hiệu đính, tái bản các tước tác y học
- Các danh Y thời này:
Nguyễn Trực (1416 - 1473) (Thanh Oai - Hà sơn bình) Đã viết :
"Bảo anh lương phương" chữa bệnh trẻ em bằng châm cứu, xoa bóp, thuốc
Đặc biệt là có danh y Lê Hữu Trác (Hãi Thưỡng Lãn Ông)
(1720 - 1792) (xã Văn Xá - Yên Mỹ - Hải Hưng)
Ông từ bỏ con đường làm quan, quyết tâm đi sâu nghiên cứu Y học, đề
cao tinh thần chữa bệnh giúp nhân dân Ông đã viết: "Hải Thượng y tông tâm lĩnh" gồm 28 tập chia làm 66 quyển đễ phổ cập, đào tạo thầy thuốc, lưu
truyền cho hậu thế Với các nội dung:
+ Đạo đức thầy thuốc
Ông tìm ra hơn 300 vị thuốc mới (Lỉnh Nam bản thảo) Tổng hợp thêm
2854 bài thuốc từ kinh nghiệm Sự nghiệp của Hải thượng rất to lớn, ông đãlàm rạng rỡ cho nền Y học dân tộc nước ta Để ghi nhớ công ơn Ngành Y tế
Trang 4Việt Nam đã lấy ngày mất của ông 15-1 (âm lịch) làm ngày truyền thống củanhững người làm công tác Y học cổ truyền Việt Nam.
Hoàng Đôn Hòa (Thanh Oai - Hà sơn bình) tìm ra các bài thuốc
chữa bệnh dịch, tổ chức y tế quân đội
3.5 Thời Tây Sơn (1789 - 1802)
Chiến tranh liên tiếp (Trịnh – Nguyễn phân tranh) : Thời kỳ này đãthành lập Nam dược cục, nghiên cứu thuốc chữa bệnh cho quân đội Đứngđầu là lương y Nguyễn Hoành (Thanh Hóa) ông đã biên tập 500 vị thuốc cỏcây ở địa phương và 130 vị thuốc về các loại chim, cá, thạch, đất, nước
3.6 Thời nhà Nguyễn (1802 - 1905)
Có Thái Y viện, Ty lương Y ở tỉnh, mở trường dạy thuốc ở Huế, thời
kỳ này nhà Nguyễn có đặt quy chế riêng về nghề y, trừng phạt các thầy thuốcchữa sai gây tử vong hoặc cố tình gây nguy hiểm cho người bệnh
4 Y HỌC CỔ TRUYỀN DƯỚI THỜI PHÁP THUỘC (1884 - 1945)
- Thực dân Pháp chủ trương tiêu diệt nền văn hóa dân tộc - loại Đông y
ra khỏi tổ chức y tế bảo hộ, hạn chế những người hành nghề y học cổ truyền.Xây dựng 1 nền Y tế què quặc, chủ yếu phục vụ giai cấp thống trị
5 Y HỌC CỔ TRUYỀN VIỆT NAM TỪ SAU CÁCH MẠNG THÁNG 8 NĂM 1945 ĐẾN NAY
- Hồ Chủ Tịch đã quan tâm đến vấn đề kết hợp 2 nền Y học (y học cổtruyền và y học hiện đại) để xây dựng một nền Y học Việt Nam XHCN
- Về quan điểm xây dựng ngành: Đặt vấn đề kết hợp 2 nền y học lànguyên tắc và phương châm xây dựng ngành
- Về tổ chức: Thành lập mạng lưới Y học cổ truyền từ Trung ương đến
cơ sở
- Về đào tạo: Y học cổ truyền là môn chính khóa học trong trường
- Về nghiên cứu: đã nghiên cứu về:
+ Lịch sữ Y học dân tộc
+ Sách vở
+ Tổng kết đánh giá
+ Thành phần hóa học, tác dụng dược lý của thuốc
+ Xuất bản sách, báo chí: tạp chí châm cứu, cây thuốc quý, Tạp chí Ydược học cổ truyền, tạp chí đông y
- Về điều trị: Tổ chức mạng lưới chửa bệnh cho toàn dân
Trang 5- Về công tác sản xuất dược liệu:
+ Tổ chức thu hái, trồng cây thuốc
+ Quy hoạch cây thuốc
CÂU HỎI LƯỢNG GIÁ
* Trình bày các câu hỏi sau:
1 Từ thời thượng cổ, nhân dân ta đã biết làm gì để phòng bệnh và chữabệnh ?
2 Đặc điểm của nền Y học cổ truyền Việt Nam dưới triều nhà Lý, Trần,
Lê ?
3 Tính ưu việt của nền Y học cổ truyền Việt nam từ khi cách mạng tháng8- 1945 đến nay ?
Trang 6Chương 2
MỘT SỐ HỌC THUYẾT Y HỌC CỔ TRUYỀN
HỌC THUYẾT ÂM DƯƠNG MỤC TIÊU
Sau khi học xong sinh viên phải:
1 Trình bày được nội dung cơ bản của học thuyết âm- dương
2 Nêu được sự vận dụng của học thuyết âm dương trong y học cổ truyền
3 Trình bày được sự vận dụng của học thuyết âm dương trong đông dược
1 XUẤT XỨ:
Thuyết âm dương trong y học cổ truyền có nguồn gốc từ học thuyếttriết học duy vật cổ đại phương Đông, được cổ nhân vận dụng từ 3000 nămnay Thuyết âm dương được vận dụng vào nhiều lĩnh vực khác nhau như:Thiên văn học, nông học, toán học, hóa học … Đặc biệt là trong y học cổtruyền đã vận dụng học thuyết một cách nhuần nhuyễn và phong phú
2 NỘI DUNG HỌC THUYẾT
2.1 Khái niệm về âm dương
cả sự vật và hiện tượng trong giới tự nhiên đều có bao hàm 2 mặt âm dươngđối lập lẫn nhau như:
Trên - Dưới Ngày - Đêm
Tả - Hữu Nước - LửaĐộng - Tĩnh
Trang 7Khái niệm âm – dương được hình tượng hóa bằng một vòng tròn khépkín sau đây:
2.2 Định nghĩa: Học thuyết âm dương cho rằng:
Bất kỳ sự vật nào cũng tồn tại 2 mặt âm và dương, đối lập và thốngnhất với nhau, không ngừng vận động, biến hoá để phát sinh, phát triển vàtiêu vong
2.3 Các quy luật cơ bản trong học thuyết âm dương
Gồm có 4 quy luật cơ bản:
- Âm dương đối lập
- Âm dương hỗ căn
- Âm dương tiêu trưởng
- Âm dương bình hành
2.3.1 Âm dương đối lập
Đối lập là sự mâu thuẫn, chế ước đấu tranh giữa 2 mặt âm dương
Ví dụ: Trong tự nhiên:
Dương Ngày Lửa Trên Mặt trời Động Sáng Nóng Trời Số
dương
Âm Đêm Nước Dưới Mặt
trăng Tĩnh Tối Lạnh Đất Số âm
2.3.2 Âm dương hỗ căn
Hỗ căn là sự nương tựa vào nhau, hai mặt âm dương tuy đối lập nhaunhưng phải nương tựa nhau để tồn tại mới có ý nghĩa được, âm lấy dương làmgốc và ngược lại dương lấy âm làm nền tảng Điều đó có nghĩa là không có
Trang 8dương thì âm không thể tồn tại và không có âm thì dương không thể thay đổi.Nói cách khác cả 2 mặt đều là quá trình tích cực của sự vật.
2.3.3 Âm dương tiêu trưởng
Tiêu là sự mất đi, trưởng là sự phát triển Hai mặt này nói lên sự vậnđộng không ngừng, sự chuyển hóa lẫn nhau giữa hai mặt âm dương
Ví dụ:
Như khí hậu bốn mùa trong năm luôn thay đổi:
Từ nóng sang lạnh: Là quá trình dương tiêu âm trưởng
Từ lạnh sang nóng: Là quá trình âm tiêu dương trưởng
Do đó ta có khí hậu của bốn mùa là: Ấm – nóng – mát - lạnh (Xuân - hạ
- thu - đông)
Sự vận động của âm dương còn có tính giai đoạn: chuyển hóa tới mộtmức nào đó sẽ chuyển hóa sang nhau gọi là: Dương cực sinh âm, âm cực sinhdương, hàn cực sinh nhiệt, nhiệt cực sinh hàn
Ví dụ:
Trong quá trình phát sinh của bệnh tật, bệnh thuộc phần dương (như sốtcao) có gây ảnh hưởng tới phần âm (như mất nước), hoặc bệnh ở phần âm(như mất nước, điện giải) tới một mức nào đó sẽ ảnh hưởng tới phần dương(như choáng, trụy mạch gọi là thoát dương)
2.3.4 Âm dương bình hành
Hai mặt âm dương tuy đối lập nhau nhưng luôn luôn lập lại được thếcân bằng, thế quân bình giữa 2 mặt Sự mất căn bằng giữa 2 mặt âm dươngbiểu hiện cho sự phát sinh ra bệnh tật trong cơ thể
* Tóm lại: Qua nội dung trên ta thấy:
Âm dương có 2 thuộc tính cơ bản đó là: Tồn tại khách quan (có sẵntrong mọi vật) và âm dương mang tính tương đối
Trang 9Bốn quy luật cơ bản của âm dương nói lên sự mâu thuẫn, thống nhất,vận động và nương tựa vào nhau của vật chất.
3 NHỮNG BIỂU HIỆN VỀ ÂM DƯƠNG
3.1 Về trạng thái
Thuộc dương: Trạng thái động, hưng phấn, nhiệt, sáng …
Thuộc âm: Trạng thái tĩnh, hàn, ức chế, tối …
Phía ngoài (+) Phía trên (+)
Phía dưới (-)
Phía ngoài (+)
(-) Phía trong Phía trong (-)
Hình 2: Âm dương của không gian, ký hiệu: âm (-), dương (+)
Ngày (+)
Đêm (-) 12h
Trang 10Thuộc dương: Phía Đông, Nam
Thuộc âm: Phía Tây, Bắc
3.5 Về thời tiết
Mùa Xuân thuộc dương, tăng trưởng đến mùa Hạ (cực dương) MùaThu thuộc âm, tăng trưởng đến Đông (cực âm) và cứ luân hồi âm dương nhưvậy
Tuy nhiên trong mỗi chu kỳ như vậy cũng có những dao động khôngthoát khỏi qui luật âm dương ( Xuân sinh, Hạ trưởng, Thu thu, Đông tàng).Sức khỏe và bệnh tật của con người cũng phụ thuộc vào những qui luật đó
4 SỰ VẬN DỤNG HỌC THUYẾT ÂM DƯƠNG TRONG Y HỌC CỔ TRUYỀN
4.1 Về tổ chức học cơ thể
Thuộc âm: Ngũ tạng (Tâm, can, tỳ, phế, thận)
Thuộc dương: Lục phủ (Vị, đởm, tiểu tràng, đại tràng, bàng quang, tamtiêu)
Trong mỗi tạng phủ, đều có phần âm và dương (can có can âm (canhuyết), can dương (can khí), thận có thận âm (thận thủy), thận dương (thậnhỏa) Tính chất tương đối của âm dương cũng thể hiện ở tạng như: Tâm làtạng thuộc âm trong dương (tâm nằm ở ngực thuộc phần dương); can là tạng
âm trong âm (Can nằm ở trung tiêu – phần bụng thuộc âm) …
4.2 Về sinh lý học
Khi phần âm và phần dương trong cơ thể cân bằng thì cơ thể khỏemạnh, bản thân cơ thể luôn có sự điều chỉnh để âm dương cân bằng Sự mấtcân bằng âm dương trong cơ thể là cơ sở cho sự phát sinh ra bệnh tật
Phương trung ương
Phương Nam
Phương Bắc
Hình 4: Qui định cách thể hiện phương hướng của thời cổ Trung Quốc
Trang 11Ví dụ: Âm thắng thì dương bệnh và ngược lại Chẳng hạn: Âm thắng
(âm thịnh) dẫn đến nội hàn (bụng đầy, tiết tả- phủ đại tràng (dương) sẽ bịbệnh, hoặc âm hư sinh nội nhiệt
Có thể tóm tắt sự thay đổi các trạng thái qua sự biểu hiện của âm dươngqua bảng sau:
Âm dương Trạng thái Biểu hiện của cơ thể
Âm dương Cân bằng Cơ thể khỏe mạnh
Âm dương Thay đổi Cơ thể mắc bệnh
Âm Thắng Nội hàn (lạnh trong tạng phủ, tiết tả …)
Âm Hư Nội nhiệt (nóng trong tạng phủ … )
Dương Thắng Ngoại nhiệt (nóng ngoài da cơ)
Dương Hư Ngoại hàn (lạnh ngoài da, đau lưng, liệt dương
…)
4.3 Về bệnh lý
Khi phần âm dương trong cơ thể không tự điều chỉnh được dẫn đến sựrối loạn và mất thăng bằng về hoạt động của tạng, phủ Hoặc các yếu tố “lụcdâm” (phong, hàn, thử, thấp, táo, hỏa) thâm nhập vào cơ thể gây làm mấtthăng bằng âm dương mà gây ra bệnh
- Hội chứng âm: Cơ thể thường biểu hiện lạnh, chân tay lạnh, sợ rét, daxanh, nhợt nhạt, mắt trắng môi nhợt, thích uống nước nóng, bụng đau sôi, tiết
tả, nước tiểu trong, rêu lưỡi trắng mỏng, lưỡi nhợt nhạt …
Hai hội chứng âm dương rất quan trọng trong việc chẩn đoán bệnh Vì
đó là những căn cứ để người thầy thuốc đưa ra những phương pháp điều trị,phương dược thích hợp cho người bệnh
4.5 Điều trị
Trang 12Thuyết âm dương được vận dụng trong điều trị hết sức phong phú Nóđược tuân theo nguyên tắc cơ bản sau đây: Nếu bệnh thuộc chứng dương thìdùng âm dược và ngược lại nếu bệnh thuộc chứng âm thì dùng dương dược.Nghĩa là chiều hướng tác dụng của thuốc đối nghịch với chiều của bệnh.
Thông thường bản chất thường đi đôi với hiện tượng, khi chữa bệnhphải chữa vào bản chất
Ví dụ: Bệnh Hàn dùng thuốc nhiệt
Nhiệt dùng thuốc hànNhưng có lúc bản chất không đi đôi với hiện tượng "sự thật giả" (chângiả) cần xác định đúng bản chất để điều trị
Ví dụ:
+ Bệnh truyền nhiễm gây sốt cao (chân nhiệt) do nhiễm độc gây trụymạch ngoại biên làm chân tay lạnh, người lạnh ra mồ hôi (giả hàn) phảidùng thuốc mát để điều trị
+ Bệnh ỉa chảy do lạnh (chân hàn) do mất nước, điện giải gây nhiễmđộc thần kinh sốt cao co giật (giả nhiệt) phải dùng thuốc ấm để điều trịnguyên nhân
4.6 Phòng bệnh
Mùa đông, khí hậu thường lạnh, thuộc âm: Cơ thể dễ nhiễm bệnh cảmmạo phong hàn, bệnh hàn thấp Cần phòng bệnh bằng cách mặt ấm, ăn cácthức ăn có vị cay nóng hoặc uống các thuốc có vị tân ôn như: Sinh khương,quế nhục, đinh hương …
Chiều hướng của bệnh
Chiều hướng tác dụng của thuốc
Chiều hướng tác dụng của thuốc Chiều hướng của bệnh
Hình 5: Chiều hướng của bệnh và thuốc
Trang 13Mùa hè khí hậu thường nóng nực, thuộc dương: Cơ thể dễ bị nhiễmbệnh chứng thử hoặc cảm nhiệt Cần phòng bệnh bằng cách mặt quần áothoáng mát, ăn những thức ăn mát, uống các thuốc có tính mát để phòng mụnnhọt, ngứa lở như: Kim ngân, sài đất … hoặc uống nước rau má để phòng saynắng.
4.7 Đông dược
4.7.1 Tính vị
Vị của thuốc thuộc âm Tính (khí) của thuốc thuộc dương Trong vị lại
có tính âm dương, vị cay ngọt thuộc dương, vị đắng mặn thuộc âm, vị chuamang tính chất lưỡng tính
Khí của thuốc cũng có âm dương, khí hàn lương thuộc âm, khí ôn nhiệtthuộc dương Qua tính vị phản ánh tính tương đối của thuốc
4.7.2 Âm dược
Thực tế lâm sàng những vị thuốc được gọi là âm dược có thể dùng đểđiều trị các bệnh thuộc chứng ôn nhiệt như: Kim ngân hoa, liên kiều, huyềnsâm … dùng chữa các bệnh mụn nhọt, mẩn ngứa do huyết nhiệt Hoàng liêntrị các bệnh do tâm nhiệt, hoàng cầm trị bệnh do phế nhiệt Như vậy các vị âmdược thường có vị đắng hoặc mặn, chua và tính lương hoặc hàn Như vậy âmdược có tác dụng giải biểu nhiệt, thanh nhiệt, bổ âm, phần lớn mang tính ứcchế
4.7.3 Dương dược
Những vị thuốc được gọi là dương dược, trên thực tế lâm sàng có thểdùng điều trị các bệnh thuộc chứng hàn như: Sinh khương, bạch chỉ, tế tân …dùng điều trị các bệnh cảm mạo phong hàn Quế nhục, phụ tử chữa các chứngthoát dương hoặc chân dương suy giảm do tâm thận dương hư … Như vậydương dược có tác dụng giải biểu, phát hãn, ôn trung tán hàn Nói cách khác
là mang tính kích thích, hưng phấn cục bộ hay toàn bộ cơ thể
4.7.4 Tính tương đối của âm dương trong đông dược
Những vị thuốc mang tính âm trong âm là những vị thuốc có vị thuộc
âm và tính thuộc âm Đó là những vị thuốc thể hiện vị đắng mặn, tính hànnhư: Ngư tinh thảo, bồ công anh, hạ khô thảo, hoàng liên, hoàng bá …
Những vị thuốc mang tính âm trong dương là những vị thuốc có vị mặnhoặc đắng, tính ôn như: Cẩu tích, tắc kè, cốt toái bổ …
Trang 14Những vị thuốc mang tính dương trong dương là những vị thuốc có vịcay, tính ôn nhiệt như: Quế chi, bạch chỉ, phụ tử …
Những vị thuốc mang tính dương trong âm là những vị thuốc có vị cay,tính hàn lương như: Hương nhu, cúc hoa, cát căn …
4.7.5 Tính tương đối của âm dương trong phương dược
Trong một phương thuốc có thể mang nhiều vị thuốc có tính, vị khácnhau song các tính (khí) chung của phương thuốc phải thỏa mãn được yêu cầuchính cho trị liệu
- Phương thuốc mang tính dương, thuần dương (dương ở trong dương)như: Phương lý trung thang (đảng sâm, bạch truật, can khương, cam thảo) cótác dụng ôn trung tán hàn; hoặc phương ma hoàng quế chi thang (ma hoàng,quế chi, hạnh nhân, cam thảo) có tác dụng giải cảm hàn, bình suyễn chỉ ho …
- Phương thuốc mang tính âm ở trong âm đó là những phương có vịđắng, tính hàn, thường có tác dụng thanh nhiệt như: Phương tam hoàng thang(hoàng liên, hoàng bá, hoàng cầm), dùng khi sốt cao do nhiệt độc nhập vàphần huyết gây sốt cao, phát cuồng; hoặc phương tê giác địa hoàng thang (têgiác, địa hoàng, xích thược, mẫu đơn bì), trị huyết nhiệt, sốt cao hôn mê …Phương thuốc âm trong âm còn mang tính chất bổ như: Phương lục vị dùng
để bổ thận âm (thục địa, mẫu đơn bì, sơn thù, hoài sơn, trạch tả, bạch linh),hoặc phương bát vị hoàn (tri mẫu, hoàng bá + lục vị) trị phế âm hư, âm hư sốtcao …
- Phương thuốc mang tính âm ở trong dương là những phương có vịđắng tính ấm hay vị đắng tính ôn như: Phương hoắc hương chính khí tán(hoắc hương, tô diệp, bạch chỉ, bạch truật, phục linh, đại phúc bì, hậu phát,bán hạ, cát cánh, cam thảo) có vị đắng tính ấm trị bệnh tỳ vị, lạnh bụng đầytrướng, thổ tả Hoặc phương kinh phòng bại độc tán (kinh giới, phòng phong,khương hoạt, độc hoạt, sài hồ, tiền hồ, chỉ xác, các cánh, phục linh, xuyênkhung…) có vị đắng tính ôn dùng để phát hãn giải biểu trị ngoại cảm phonghàn sốt cao, rét run …
- Phương thuốc mang tính dương ở trong âm là những phương có vịcay tính mát như: Phương tang cúc ẩm (tang diệp, cúc hoa, liên kiều, bạc hà,cát cánh, cam thảo, lô căn) trị cảm mạo phong nhiệt đau đầu, sốt cao Hoặcphương ngân kiều tán (kim ngân, liên kiều, bạc hà, kinh giới, ngưu bàng tử)trị mụn nhọt, mẩn ngưa, cảm mạo phong nhiệt …
Trang 154.8 Chế biến thuốc y học cổ truyền
Thông qua việc chế biến làm thay đổi tính vị của thuốc, nhằm tăng sựqui kinh của thuốc hoặc giảm tác dụng phụ (tính háo, tính nhiệt, tính độc)
- Làm giảm tính dương (tính nhiệt) của thuốc: Sinh phụ tử ngâm vớinước đảm ba hoặc nước ót Hà thủ ô, xương bồ ngâm với nước vo gạo
- Làm tăng tính dương của thuốc: Dùng các phụ liệu mang tính ôn nhiệt(gừng, sa nhân, mật ong, rượu…) để trích tẩm với thuốc như: Cát cánh, nhânsâm trích gừng, cam thảo trích mật ong, dâm dương hoắc trích mỡ dê …
- Làm tăng tính âm cho vị thuốc: Sài hồ trích miết huyết, diên hồ tríchdấm thanh …
- Làm giảm tính âm cho vị thuốc như: Sinh địa nấu với sa nhân, gừng,rượu
5 NHẬN XÉT VỀ HỌC THUYẾT ÂM DƯƠNG
5.1 Ưu điểm
Là thuyết triết học duy vật biện chứng song còn thô sơ, đã nói tới bảnchất của sự vật Học thuyết đã được vận dụng vào nhiều lĩnh vực qua hàngngàn năm Đặc biệt học thuyết âm dương đã được vận dụng vào Y học cổtruyền một cách nhuần nhuyễn về mọi phương diện từ phòng bệnh, chẩnđoán, điều trị đến chế biến thuốc men …
5.2 Nhược điểm
Sự vận dụng học thuyết âm dương còn máy móc nhất là khi vận dụnggiải thích một số tạng phủ Tuy nhiên học thuyết âm dương vẫn là thuyết có ýnghĩa rất sâu sắc với Y học cổ truyền
HỌC THUYẾT NGŨ HÀNH
MỤC TIÊU
Sau khi học xong sinh viên phải:
1 Trình bày được các qui luật hoạt động của thuyết ngũ hành
2 Viết ra được sự vận dụng của học thuyết ngũ hành đặc biệt là trong chế biến thuốc cổ truyền
3 Nêu được ý nghĩa của học thuyết trong điều trị
Trang 161 GIỚI THIỆU
Học thuyết ngũ hành cũng là một học thuyết triết học cổ, ra đời sauthuyết âm dương, nhằm bổ sung vào những chổ khiếm khuyết của thuyết âmdương Thuyết ngũ hành dùng 5 vật thể gần gũi trong cuộc sống của conngười tượng trưng cho vạn vật trong thiên nhiên (mộc- hỏa- thổ- kim- thủy)gọi đó là ngũ hành
Ngũ hành là 5 bước vận hành liên tục của khí trời đất (Nghĩa đen: hành:
là sự vận hành liên tục)
Học thuyết đưa ra được các mối quan hệ mật thiết, hữu cơ giữa ngũhành với nhau thông qua một số qui luật hoạt động của chúng Đó là nhữngqui luật tương sinh, tương khắc, tương thừa, tương vũ …
2 NHỮNG QUI LUẬT HOẠT ĐỘNG CỦA NGŨ HÀNH
2.1 Trong điều kiện bình thường
Ngũ hành hoạt động theo qui luật tương sinh, tương khắc
2.1.1 Qui luật tương sinh
Hành này hỗ trợ, thúc đẩy hành kia, theo qui luật hành đứng sau, sinh
ra, thúc đẩy hành đứng trước:
thổ sinh kim, kim sinh thủy, thủysinh mộc
kia:
khắc thủy, thủy khắc hỏa, hỏa khắc kim
Hình 6: Qui luật tương sinh
Trang 172.2 Trong điều kiện không bình thường
Ngũ hành hoạt động theo 2 qui luật tương thừa, tương vũ
2.2.1 Qui luật tương thừa:
Hành đi khắc mạnh hơn hành được khắc: Kim khắc mộc nhưng kimmạnh hơn mộc, mộc khắc thổ nhưng mộc mạnh hơn thổ, …
2.2.2 Qui luật tương vũ:
Hành bị khắc mạnh hơn hành đến khắc: Kim khắc mộc nhưng mộcmạnh hơn kim; mộc khắc thổ nhưng thổ mạnh hơn mộc, …
2.3 Qui luật chế hóa (chế ước) ngũ hành
Thực tế các qui luật hoạt động của ngũ hành rất phức tạp, đan xen vàonhau ràng buột và ảnh hưởng lẫn nhau giữa các qui luật Mỗi một hành đều bịảnh hưởng tương sinh hoặc tương khắc của các hành khác và được thể hiện ra
ở qui luật tổng hợp gọi là qui luật chế hóa hay chế ước ngũ hành
Tóm lại các qui luật hoạt động của ngũ hành nói lên sự vận độngchuyển hóa chế ước lẫn nhau Một hành bị ràng buộc và quan hệ với 4 hànhđứng cạnh Mỗi hành đều tự vận động bên cạnh sự hoạt động của bốn hànhkhác càng làm cho các qui luật hoạt động của ngũ hành phức tạp và phongphú thêm
Trang 183 SỰ VẬN DỤNG THUYẾT NGŨ HÀNH
3.1 Vận dụng vào thế giới tự nhiên
Ngũ hành
Phương hướng Đông Nam Trung ương Tây Bắc
Quá trình phát
Khí hậu (Ngũ khí) Phong Nhiệt Thấp Táo Hàn
Trang 19Lục phủ Đởm Tiểu
trường Vị
Đạitrường
Bàngquang
(cân) Mạch
Cơ nhục(thịt)
Da lông(bì mao) Xương
(buồn) Sợ
Bệnh biến Co quắp Hồi hộp Nôn ọe Ho Run rẩyChỗ bị bệnh Cổ gáy Ngực
sườn
Sốnglưng Vai lưng
Eo lưngđùi
3.2.2 Vận dụng vào qui kinh và chế biến thuốc Y học cổ truyền
Thuyết ngũ hành được vận dụng vào chế biến thuốc khá phong phú.Hiện nay rất nhiều vị thuốc được chế biến vận dụng theo nguyên tắc ngũhành Trên cơ sở tổng hợp màu sắc, mùi vị của thuốc đối chiếu với các tạngphủ và ngũ hành ta biết được vị thuốc qui nạp vào tạng phủ nào ? Mặt dù vậy
sự qui nạp đó cũng mang tính chất tương đối
- Những vị thuốc có màu đỏ vị đắng được qui nạp vào tạng tâm, phủtiểu trường (hành hỏa) như: Huyết giác, thần sa, chu sa, mã xỉ hiện … Để tăngthêm sự qui kinh của thuốc vào tạng tâm có thể tẩm hoặc trích với các chất cómàu đỏ như: Tẩm thần sa vào xương bồ để tăng tác dụng trấn tâm của xương
bồ Hầu hết các thuốc có vị đắng đều có tác dụng vào tâm như: Liên tâm, táonhân, lạc tiên, ngải tượng, … có tác dụng an thần, trấn tỉnh; tác dụng vào tiểutrường như: Hoàng liên, hoàng đằng, kim ngân, xuyên tâm liên, …
- Những vị thuốc có màu vàng, vị ngọt phần lớn qui nạp vào tạng tỳ,phủ vị (hành thổ) như: Cam thảo, hoang kỳ, bạch truật, hoài sơn, … Để tăngtác dụng của thuốc vào hành thổ có thể: Sao vàng, sao cám cho thơm (mùithơm thuộc hành thổ), trích mật ong, đường
- Một số vị thuốc có màu trắng, vị cay qui nạp vào tạng phế, phủ đạitràng (hành kim) như: Tang bạch bì, bối mẫu, cát cánh, bách hợp, sa nhân, bốchính sâm, đẳng sâm, sinh khương, bạc hà, xạ can, tử tô, bạch giới tử, … Để
Trang 20tăng tác dụng vào phế người ta có thể tẩm thuốc với dịch sinh khương như:Đẳng sâm, cát cánh, …
- Một số vị thuốc có màu đen, vị mặn qui nạp vào tạng thận, phủ bàngquang (hành thủy) như: Huyền sâm, côn bố, địa long, xuyên sơn giáp, hổ cốt,
… Để tăng tác dụng của thuốc vào thận có thể trích với muối ăn như: Cẩutích, tục đoạn, trạch tả, … Để có màu đen có thể sao sém cạnh, sao cháy như:
Hà diệp, trắc bách diệp, ngải diệp sao cháy …
- Một số có màu xanh, vị chua qui nạp vào tạng can, phủ đởm (hànhmộc) như: Ngưu tất, ngũ vị tử, sơn tra, mộc qua, … Cần tăng vị chua có thểtrích giấm như: Nga truật, hương phụ, … Để có màu xanh có thể trích với mật
bò, mật lợn như: Thiên nam tinh
3.2.3 Thuốc Y học cổ truyền mang tính chất tương sinh
Thuốc kiện tỳ bổ phế khí: Thuốc dùng với tính chất kiện tỳ song lạiđược chữa các bệnh phế khí hư như: Đẳng sâm, hoàng kỳ, cam thảo, hoài sơn
3.2.4 Thuốc Y học cổ truyền mang tính chất tương khắc
Một số vị thuốc thán sao như: Trắc bách diệp, hoa hòe, hạn liên thảo …qui nạp vào hành thủy (tạng thận), tương khắc với hành hỏa (tạng tâm) Vớicông năng chỉ huyết, dùng khi xuất huyết (vì tâm chủ huyết mạch)
3.2.5 Thuốc Y học cổ truyền mang tính tương thừa
- Về chứng trạng:
Lấy hành thổ và hành thủy làm ví dụ: Trường hợp này thổ lấn át thủy.Nếu lấy tạng làm chủ thể thì tạng tỳ mạnh hơn tạng thận, tỳ khí mạnh hơn
Trang 21thận khí Trong trường hợp cụ thể này thì thận khí kém gây ù tai, đau lưnghoặc di tinh, di niệu, nặng hơn gây sa tử cung, thoát vị …
- Thuốc mang tính tương thừa:
Thuốc qui kinh vào tỳ vị (hành thổ) song có đủ sức mạnh để tác độngvào thận khí, giúp thận khí mạnh lên, điều trị các chứng sa giáng nói trên củathận Đó là các thuốc kiện tỳ ích khí như: Nhân sâm, đẳng sâm, hoàng kỳ,hoài sơn …
Tương tự cho các hành mang tính tương thừa tương ứng như: Hành hỏa(tạng tâm) với hành kim (tạng phế) Ta biết tâm chủ huyết, phế chủ khí khihuyết nhiệt sinh phong (phong ngứa) thì ảnh hưởng trực tiếp đến tạng phế(phế chủ bì mao) Dùng các vị thuốc mang tính tương thừa như: Hoàng liên,liên kiều (qui kinh tâm) song lại chữa được ngứa ở bì phu (do phế hợp bìmao)
3.2.6 Thuốc Y học cổ truyền mang tính tương vũ
Lấy hành kim (tạng phế), hành mộc (tạng can) làm ví dụ, trường hợpnày can mộc mạnh hơn phế kim có khả năng chống trả lại phế kim Ví dụ:Phế bị bệnh phế ung (áp xe phổi) ho, xuất huyết Những thuốc mang tínhtương vũ, tuy qui vào kinh can song lại có tác dụng vào tạng phế như: Hoàngcầm chữa phế ung, phế có mủ, địa cốt bì thanh phế nhiệt, chi tử chỉ khái huyết
…
3.2.7 Vận dụng vào chẩn đoán
Có 5 loại tà biểu hiện như sau:
- Bệnh từ tạng mẹ truyền đến tạng con là hư tà
Trang 22Vi tà: Bệnh vàng da (da thuộc phế) là do can sơ tiết mật kém (tươngkhắc), phế hô hấp khó khăn đoản hơi … đẫn đến chứng tâm nhiệt (tươngkhắc)
3.2.8 Vận dụng vào điều trị:
Thuyết ngũ hành được vận dụng vào điều trị theo 2 nguyên tắc:
- Nguyên tắc thứ nhất: “ Con hư bổ mẹ”
Hành đứng trước là hành mẹ (hành mộc là mẹ hành hỏa); hành đứngsau là hành con (hành thổ là con của hành hỏa) Hư là hư chứng
- Nguyên tắc thứ hai: “ Mẹ thực tả con”
Thực là thực chứng; tả là phương pháp tả đối lập với bổ
- Hệ quả: “Hư thì bổ, thực thì tả” Hệ quả này còn quán triệt cho cả
phương pháp điều trị bằng châm cứu xoa bóp
4 NHẬN XÉT VỀ HỌC THUYẾT NGŨ HÀNH
4.1 Ưu điểm:
Là thuyết duy vật biện chứng thô sơ đã bổ sung cho thuyết âm dương
Đã được Y học cổ truyền vận dụng về mặt tổ chức học; khai thác các qui luậtngũ hành cho điều trị và chế biến thuốc cổ truyền …
4.2 Nhược điểm:
Thuyết còn thể hiện sự máy móc, cứng nhắc do sự qui định phạm vihoạt động của thuyết quá hẹp (5 hành); dẫn đến hạn chế trong vận dụng đặcbiệt về mặt triệu chứng, phương pháp điều trị của Y học cổ truyền
HỌC THUYẾT TẠNG TƯỢNG MỤC TIÊU
Sau khi học xong sinh viên phải:
1 Trình bày được chức năng của tạng- phủ
2 Nêu được mối quan hệ của tạng- phủ
Trang 233 Trình bày được mối liên quan chức năng tạng phủ với thuốc cổ truyền.
1 GIỚI THIÊU
- “Tạng” là các tổ chức cơ quan trong cơ thể
- “Tượng” là biểu tượng của hình thái, sinh lý, bệnh lý của nội tạngphản ánh ra bên ngoài cơ thể
- Quan sát cơ thể sống để nghiên cứu phát hiện quy luật hoạt động củanội tạng gọi là học thuyết tạng tượng
- Tâm chủ huyết mạch, tâm quản về huyết mạch:
Tâm huyết và mạch có quan hệ mật thiết với nhau Mạch là đường dẫnhuyết được phân bố khắp cơ thể Huyết có tác dụng dinh dưỡng toàn thân.Tâm và mạch đóng vai trò tuần hoàn huyết dịch, thông qua đó huyết được vậnhành thông suốt Chức năng tâm chủ huyết mạch tốt thể hiện mặt hồng nhuậnsáng sủa, da dẻ tươi nhuận, chức năng này kém thì sắc mặt xanh xao, xámhéo, môi thâm
Chức năng này có thể liên quan đến các loại thuốc hành huyết, hànhkhí, bổ huyết, bổ âm
- Tâm tàng thần:
Thần là biểu hiện tổng hợp của mọi hoạt động tinh thần, trí tuệ ý thức,tri thức của con người, biểu hiện tư duy, sinh lý của vỏ não Chức năng tâmtàng thần tốt biểu hiện sự thông minh hoạt bát và ngược lại tâm không tàngthần, sẽ xuất hiện các chứng hay quên, tư duy kém, mất ngủ, mệt mỏi …Chức năng tâm tàng thần có liên quan mật thiết với tâm chủ huyết mạch Nếutâm huyết bất túc (không đầy đủ) thì ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động củatinh thần Thần chí tốt mắt trong sáng tinh tường, nhanh nhẹn; thần chí kémmắt lờ đờ, chậm chạp
Trang 24Những thuốc liên quan đến chức năng tàng thần của tâm như: Thuốctrấn tâm an thần, gây ngủ, thuốc bổ huyết, bổ âm … thuốc khai khiếu tinhthần.
- Tâm chủ hãn:
Hãn là mồ hôi, được thải qua tấu lý (lỗ chân lông) Các bệnh về hãnnhư: Tự hãn (tự ra mồ hôi), đạo hãn (mồ hôi trộm), vô hãn (không có mồ hôi)đều liên quan đến tâm Chức năng tâm chủ hãn liên quan đến chức năng tàngthần: Khi tâm không tàng được thần thì mồ hôi tự vã ra, đó là khi con ngườiđứng trước sự việc khá kinh khủng; hoặc khi bị trúng phong, trúng thử thầnchí bị hôn mê thì mồ hôi cũng tự vã ra
Những thuốc có liên quan đến chủ hãn như: Thuốc liễm hãn cố sáp cốbiểu, thuốc an thần
- Tâm khai khiếu ra lưỡi:
Biệt lạc của tâm thông ra lưỡi nên lưỡi là sự thể hiện ra bên ngoài củatâm Trên lâm sàng xem chất lưỡi để chẩn đoán bệnh ở tâm như chất lưỡi đỏ
là tâm nhiệt, chất lưỡi nhạt là tâm huyết hư, chất lưỡi xanh, có điểm ứ huyết
là huyết ứ trệ …
Một số bệnh liên quan đến tạng tâm:
- Tâm dương hư: Biểu hiện tim đập nhanh, hơi thở ngắn hoặc khó thở,
mặt trắng, lưỡi nhợt nhạt, môi tím tái, sợ lạnh, hoa mắt chóng mặt Nên dùngthuốc: Dưỡng tâm an thần, hóa đờm, bổ khí, bổ huyết
- Tâm huyết bất túc (Tâm âm hư): Huyết thiếu, tim đập nhanh, hay
quên, ngủ hay mộng, da xanh, lưỡi trắng nhợt, thân nhiệt thường hạ, đạo hãn.Nên dùng thuốc: Bổ huyết an thần
- Tâm huyết ứ trệ: Đau vùng tim, tim đập nhanh, mặt môi móng tay
thâm tím Nên dùng thuốc: Hành khí hành huyết …
- Tâm hỏa vượng: Mặt đỏ, miệng đắng, niêm mạc miệng lưỡi phồng
rộp, đầu lưỡi đỏ, chảy máu cam, tiểu tiện nóng đỏ, lòng bàn tay chân nóng …Nên dùng thuốc: Thanh nhiệt lợi thủy, an thần
2.2 Can
Theo YHCT tạng can được coi như gan và có chức năng được biểu hiệnnhư sau:
- Can tàng huyết:
Trang 25Can là kho dự trữ và điều tiết huyết cho cơ thể Khi cơ thể hoạt độngphần lớn huyết được chuyển từ can đến tận tế bào và cung cấp chất dinhdưỡng cho hoạt động tế bào Khi nghỉ ngơi, khi nằm, khi ngủ phần lớn huyếtđược trở về can Nếu huyết không thu về can được sẽ xuất hiện triệu chứngbồn chồn, khó ngủ.
Chức năng can tàng huyết tốt, cơ thể khỏe mạnh hồng hào do huyếtsung túc, ngược lại can tàng huyết kém cơ thể xanh xao, mệt mỏi, mắt trắngdã
Các thuốc liên quan đến chức năng này là: Thuốc bổ huyết, bổ âm, hoạthuyết hành khí
- Can chủ cân:
Cân là gân, bao cơ, khớp, dây chằng … Can chủ cân kém, xuất hiệngân co duỗi khó khăn, hệ thống dây chằng sa giãn, đi lại khó khăn, teo nhẽo
cơ, trẻ em chậm biết đi hoặc không đi được
Các thuốc có liên quan đến chức năng này là: Thuốc bổ can thận, bổhuyết
- Can chủ sơ tiết:
Đó là chức năng sơ tiết mật, men của gan Chức năng sơ tiết tốt giúpcho việc tiêu hóa của tỳ, vị tốt Ngược lại chức năng sơ tiết kém sẽ dẫn đếncác chứng đầy bụng, ăn không tiêu, hoàng đản hoặc sườn ngực đầy tức, phụ
nữ bế kinh hoặc rối loạn kinh nguyệt
Các thuốc có liên quan đến chức năng này là: Thuốc sơ can giải uất,hành khí hành huyết, lợi mật
Các thuốc liên quan đến chức năng này như: Thuốc an thần gây ngủ,bình can tiềm dương, sơ can giải uất …
- Can khai khiếu ra mắt:
Khí của can được biểu hiện ra ở mắt Khí của can tốt thì thị lực tốt,ngược lại mắt mờ, thị lực suy giảm nhìn vào mắt biết được trạng thái của can
Trang 26Nếu mắt khô sáp, thâm quầng là can huyết bất túc, đỏ do sung huyết là canhỏa thịnh, mắt vàng là là can nhiệt, mắt trắng dã là can huyết hư.
Chức năng này liên quan mật thiết với chức năng can tàng huyết, tànghồn và can chủ sơ tiết
Các thuốc có liên quan chức năng này là: Thuốc bổ huyết nếu can bấttúc, thuốc sơ can giải uất, lợi mật, thuốc thanh nhiệt (táo thấp, lương huyết
…), thuốc bổ âm, bổ thận
Một số bệnh lý của can:
- Can khí uất kết: Hai bên sườn đau tức, đau lồng ngực, đau bụng, phụ
nữ kinh nguyệt không đều, viêm gan mãn Nên dùng thuốc: Sơ can giải uất,hành khí hành huyết
- Can đởm thấp nhiệt: Da vàng tiểu tiện vàng đỏ, sườn đau căng, phụ
nữ khí hư bạch đới Nên dùng thuốc: Thanh nhiệt táo thấp, giải độc, lợi thấp
- Can phong nội động: Ngã đột ngột, thậm chí hôn mê bất tỉnh, bán
thân bất toại, miệng mắt méo xệch … Các chứng động kinh, bệnh ý (Histeria)cũng thuộc chứng bệnh này Nên dùng thuốc: Bình can tắt phong hoặc trọngtrấn an thần, sơ can giải uất, …
- Can hỏa thượng viêm: Đầu đau căng, mặt đỏ, mắt đỏ, miệng đắng,
lưỡi hồng, chảy máu cam (nục huyết) Nên dùng thuốc: Thanh nhiệt kiêm giảibiểu nhiệt chỉ huyết
2.3 Tỳ:
Tỳ là cơ quan có chức năng tiêu hóa dinh dưỡng Như vậy theo chứcnăng của tỳ suy rộng ra thì tỳ bao gồm những cơ quan chức năng: Chứa đựngnhư vị (dạ dày), hấp thu như tiểu tràng, truyền tống như đại tràng, một sốtuyến giúp cho tiêu hóa như tuyến nước bọt, tuyến tụy …
Một số chức năng của tỳ:
- Tỳ ích khí sinh huyết:
Tỳ ích khí (làm giàu phần khí) đóng vai trò tạo nguồn năng lượng cho
cơ thể, khí được lấy từ thủy cốc dinh dưỡng cung cấp cho lục phủ, ngũ tạng
… Tỳ khỏe mạnh, nguồn khí được cung cấp dồi dào khiến cơ thể khỏe mạnh,chức năng này kém gây đoản hơi, vô lực, da xanh xao vì huyết hư
Thuốc liên quan chức năng này như: Thuốc kiện tỳ ích khí, thuốc hànhkhí, bổ huyết
- Tỳ chủ vận hóa:
Trang 27Là sự tiêu hóa, hấp thu và vận chuyển các chất dinh dưỡng của đồ ăn.Sau khi tiêu hóa, các chất dinh dưỡng được tỳ hấp thu và chuyển vận đến tâmphế, thông qua kinh mạch tới toàn thân để nuôi dưỡng cơ thể Mặt khác thủydịch trong cơ thể cũng được tỳ hấp thu rồi vận hóa (tỳ vận hóa nước) chuyểntải đến phế thận, bàng quang góp phần duy trì sự cân bằng về chuyển hóanước trong cơ thể Nếu chức năng này tốt thì việc cung cấp chất dinh dưỡngcho cơ thể tốt và thủy dịch trong cơ thể được điều hòa Nếu chức năng nàykém thì dinh dưỡng cho cơ thể thiếu hụt, đồng thời xuất hiện chứng phù nềđặc biệt phù ở bụng, phù do thiếu albumin.
Thuốc liên quan chức năng này như: Thuốc kiện tỳ ích khí, thẩm thấp,tiêu đạo …
- Tỳ chủ nhiếp huyết (thống huyết):
Thống huyết có nghĩa quản lý, khống chế huyết Chức năng này chỉ rõkhả năng thu gom huyết lưu thông trong lòng mạch Chức năng này tốt, huyếtvận hành thông suốt trong mạch Ngược lại tỳ hư huyết loạn, huyết tràn rangoài lòng mạch (bị xuất huyết), gây các chứng xuất huyết như rong huyết,đại tiện ra máu lâu ngày v.v…
Thuốc liên quan: Thuốc kiện tỳ kiêm chỉ huyết, thuốc bổ huyết bổ âm
…
- Tỳ chủ về chân tay, cơ nhục:
Tỳ đem các chất dinh dưỡng của đồ ăn đến nuôi dưỡng cơ nhục Nếu tỳkhỏe cơ nhục nở nang béo tốt, hồng nhuận Tỳ yếu cơ thể gầy, chân tay cơnhục teo nhẽo, trẻ chậm biết đi, suy dinh dưỡng, còi xương Những người bịbại liệt đều dẫn đến cơ nhục teo nhẽo, cũng cần được quan tâm đến điều trịtạng tỳ
Các thuốc liên quan: Thuốc kiện tỳ ích khí, thuốc bổ huyết bổ âm, bổdương …
- Khí tỳ chủ thăng (khí tỳ hướng đi lên, lên thượng tiêu)
Cơ thể khỏe mạnh, tỳ khỏe mạnh, khí tỳ luôn hướng lên trên, có tácdụng giữ cho các phủ tạng trong cơ thể ở vị trí tự nhiên của nó Nếu khí tỳ bị
hư, trung khí bị hạ và hãm xuống hạ tiêu làm xuất hiện các chứng sa giángnhư: Sa gan, sa tử cung, lá lách, sa trực tràng, sa sinh dục, sa dạ dày v.v… Dovậy Y học cổ truyền thường dùng các thuốc: Kiện tỳ ích khí, đặc biệt là khí
Trang 28trung tiêu, gia thêm các vị thuốc có tính chủ thăng đặc hiệu như: Thăng ma,sài hồ để nâng các tạng phủ bị sa về vị trí ban đầu (thường dùng bài bổ trungích khí để trị các chứng này).
Các thuốc liên quan: Thuốc kiện tỳ, ích khí, tiêu đạo, hành khí, thăngdương khí
- Tỳ khai khiếu ra miệng:
Tỳ khỏe mạnh thì muốn ăn, ăn ngon miệng, tiêu hóa tốt, nếu tỳ hư thìchán ăn, ăn không tiêu, miệng nhạt Tỳ chủ về cơ nhục, lại khai khiếu ramiệng nên biểu hiện sự vinh nhuận ra môi: tỳ mạnh thì môi hồng nhuận, tỳ hưthì môi thâm xám, nhạt màu
Thuốc liên quan: Thuốc kiện tỳ tiêu đạo, kích thích tiêu hóa …
Một số bệnh lý của tỳ
- Khí tỳ hư nhược: Biểu hiện: Kém ăn hấp thu kém, người gầy, da xanh,
đại tiện lỏng, bụng đầy trướng, thoát giang, trĩ … Nên dùng thuốc: Kiện tỳ íchkhí, hành khí, tiêu đạo
- Tỳ dương hư: Ăn uống kém, bụng sôi, trướng đầy, chân tay lạnh đôi
khi co quắp, phù thủng Nên dùng thuốc: Kiện tỳ kiêm bổ dương, thuốc hóathấp
- Tỳ thấp nhiệt: Biểu hiện: Vàng da, bụng đầy trướng, không muốn ăn,
đại tiện táo kết, tiểu tiện vàng đỏ … Nên dung thuốc: Thanh nhiệt, táo thấp,lợi thủy, nhuận tràng …
- Phế trợ tâm, chủ trị tiết:
Trị tiết là quản lý sự hoạt động có qui luật của các tạng phủ, đồng thờigiúp tâm tàng thần tốt
- Phế hợp bì mao:
Trang 29Phế có công năng đóng mở tấu lý ở da Bình thường lỗ chân lông đóng
mở để điều tiết thân nhiệt và thải trừ một phần cặn bã của sự chuyển hóa (mồhôi) Khi lạnh thì lỗ chân lông đóng lại, khi nóng thì mở ra Sự đóng mở đóđược phế chi phối Vì vậy công năng của phế liên quan đến da và lông Phếkhí sung túc thì quá trình đóng mở nói trên được tiến hành bình thường.Ngược lại, các yếu tố ngoại tà (hàn tà, nhiệt tà) sẽ xâm nhập vào cơ thể thôngqua tấu lý làm ảnh hưởng trực tiếp đến phế, gây ra các chứng phế thực hoặcphế hư, làm cho cơ thể ho, đờm, suyễn tức … Khi phế bị bệnh cũng ảnhhưởng trực tiếp đến khai hợp tấu lý ở biểu Bệnh viêm phế quản mãn do phếkhí kém, lâu ngày tấu lý thường thô to, lỗ chân lông thường xuyên dãn mởlàm cho mồ hôi nhiều, da thô
Thuốc có liên quan: Thuốc giải biểu, chỉ ho, hóa đờm, bình suyễn, bổkhí
- Phế chủ thông điều thủy đạo:
Phế có chức năng điều tiết phần thủy dịch thông suốt trong cơ thể, liênquan đến chức năng tỳ vận hóa nước Phế được coi là nguồn nước trên giúpcho thận thủy thanh lọc được bình thường Nếu chức năng này kém dẫn đếnviệc điều hòa thủy đạo trì trệ gây ứ đọng nước, phù nề
Thuốc có liên quan: Thuốc kiện tỳ, lợi thủy thẩm thấp, hóa đờm, chỉ
ho
- Khí phế chủ túc giáng:
Khí phế luôn có khuynh hướng đi xuống dưới, giúp cho chức năngthông điều thủy đạo Nếu khí phế đi lên (khí phế thượng nghịch), gây ra cácchứng ho, hen, suyễn tức
Thuốc có liên quan: Thuốc hành khí, hạ khí, chỉ ho, bình suyễn, hóađờm
- Khí phế chủ thanh:
Âm thanh, tiếng nói của con người được ảnh hưởng trực tiếp bởi khícủa phế Khí phế tốt tiếng nói khỏe mạnh, khí phế kém tiếng nói trầm khàn,yếu ớt hoặc nói không ra tiếng Trường hợp câm bẩm sinh ngoài nguyên nhânnão cũng nên lưu ý đến nguyên nhân khí phế chủ thanh
- Phế khai khiếu ra mũi:
Trạng thái của phế được thể hiện ra qua đường mũi Phế tốt hơi thở quamũi nhịp nhàng, phế nhiệt hơi thở qua mũi nóng, mũi đỏ … Phế tắc cánh mũi
Trang 30phập phồng, phế hư hơi thở ngắn (đoản khí) cánh mũi xẹp, hay thở dài Tùytheo từng chứng có các thuốc thích hợp như: Phế nhiệt dùng thuốc thanhnhiệt, tân lương giải biểu …
Một số bệnh lý của phế
- Phong tà nhập phế: Cơ thể biểu hiện sợ lạnh, sốt cao, đau đầu, ho, sổ
mũi, đau toàn thân Nên dùng thuốc giải biểu kiêm chỉ ho
- Phế âm hư: Ho, ít đờm, đờm có tia máu, sốt về chiều nóng âm ỉ trong
xương, miệng khô khát, chất lưỡi đỏ, người gầy Nên dùng thuốc: Bổ âmkiêm chỉ ho, hóa đờm chỉ huyết
- Phế thấp nhiệt: Ho, suyễn, đờm đặc, vàng, mùi hôi, đau ngực, sốt.
nên dùng thuốc: Hóa đờm hàn chỉ ho bình suyễn, thuốc thanh nhiệt …
- Phế khí hư: Ho nhiều, đờm nhiều loãng, đoản hơi, ra nhiều mồ hôi,
tiếng nói yếu, người mệt mỏi Nên dùng thuốc: Bổ khí, chỉ ho, hóa đờm, cốbiểu liễm hãn …
2.5 Thận
Thận là một tạng được y học cổ truyền đánh giá cao, là tướng hỏa sautâm là quân hỏa Trạng thái của con người như thế nào phần lớn do thận quyếtđịnh Thận có ý nghĩa về sự phát dục, trưởng thành, thọ yểu của con người.Thận có một số chức năng như sau:
- Thận tàng tinh:
Tinh tiên nhiên có sẵn trong bào thai, có nguồn gốc từ bố mẹ, trong đó
có tinh sinh dục Tinh hậu thiên có nguồn gốc từ dinh dưỡng là tinh hoa củathủy cốc Sau khi nuôi dưỡng cơ thể, phần dư thừa được tích ở thận Như vậythận không những tàng tinh cho bản thân nó mà còn tàng tinh cho lục phủ ngũtạng Chức năng này tốt cơ thể khỏe mạnh, hoạt động hoạt bát dẻo dai, sốnglâu Ngược lại chức năng này kém cơ thể mệt mỏi, sinh lý giảm hoặc vôsinh…
Thuốc có liên quan: Thuốc bổ thận âm, bổ thận dương, bổ âm …
- Thận chủ cốt, sinh tủy:
Thận chủ về xương cốt, liên quan đến sức khỏe và bệnh tật của xươngcốt Các bệnh về xương như: Đau nhức xương khớp, đau lưng, đau răng đềuliên quan đến thận Thận sinh tủy, tủy tạo huyết, tủy dưỡng cốt nên cốt và tủyliên quan mật thiết với nhau Do đó các bệnh về tủy (Suy tủy, lao tủy…), về
Trang 31huyết (huyết hư) cần nghĩ tới tạng thận, dùng thuốc vào thận Mặt khác tủy cóliên quan não, não là bể của tủy, do vậy não và thận liên quan mật thiết vớinhau Như vậy khi chữa bệnh ở não cũng cần nghĩ tới thận và ngược lại.
Các thuốc có liên quan: Thuốc bổ thận âm, bổ thận dương, bổ huyết …
- Thận chủ thủy:
Thận chủ về điều tiết thanh lọc phần nước trong cơ thể Phần cặn bãđược dồn xuống bàng quang Chức năng này liên quan đến chức năng 3 tạng:Chủ túc giáng, thông điều thủy đạo của phế; vận hóa nước của tỳ; chủ huyếtmạch của tâm Nếu chức năng này kém sẽ làm cho ứ đọng nước trong cơ thểgây phù nề, phế bị chèn ép gây khó thở Vì vậy muốn chức năng này tốt khíphế phải thông
Thuốc có liên quan: Thuốc thẩm thấp lợi niệu, hóa đờm, chỉ ho bìnhsuyễn
- Thận chủ nạp khí:
Thận đóng vai trò hô hấp ở giai đoạn đưa không khí vào (nạp khí).Thận chủ nạp khí kém gây khó thở, đoản hơi, suyễn tức Như vậy chức năngnày có liên quan mật thiết đến chức năng chủ khí của phế Do vậy, nhữngngười mắc bệnh viêm phế quản mạn, viêm phổi … muốn điều trị tốt phải cốthận Trên thực tế đó là mối quan hệ giữa các hormon của tuyến thượng thận(adrenalin, nor- adrenalin), những hormon này có tác dụng làm giãn cơ trơncủa khí phế quản ở một nồng độ nhất định làm cho khí vào phế dễ dàng (thậnchủ nạp khí) Khi mắc bệnh phế lâu ngày, cơ trơn khí quản co thắt nhiều làmhormon trên tiết ra quá mức, do vậy mà chức năng tuyến thượng thận kém đi
Vì vậy phải cố thận kiêm thanh phế
Thuốc có liên quan: Thuốc bổ thận dương, bổ khí hóa đờm, bình suyễn
- Thận chủ mệnh môn:
Mệnh môn chỉ tướng hỏa, long hỏa chỉ thận dương, tạo ra sức nóng cho
cơ thể, duy trì thân nhiệt hằng định 370C Nếu chức năng này kém chân taylạnh, sợ gió, sợ nước, thân nhiệt hạ Thận dương cung cấp sức nóng cho tỳdương (thận dương ôn hóa tỳ dương) Nếu chức năng này kém dẫn đến đầybụng, sôi bụng tiết tả và thường mắc bệnh ngũ canh tả kèm khó tiêu, kém ăn
Thuốc có liên quan: Thuốc bổ thận dương, hóa thấp, ôn trung, kiện tỳ,tiêu đạo
- Thận khai khiếu ra tai và nhị âm (tiền âm, hậu âm)
Trang 32Sự thể hiện của thận ra tai và nhị âm: Thận khí kém gây ù tai, nặng thìgây điếc, người già hay ù tai, điếc tai là do thận khí kém Tiền âm là nơi bàitiết nước tiểu, bộ phận sinh dục nam hay nữ, thận hư hay gặp chứng đi tiểunhiều ở người già, chứng đái dầm ở trẻ em, chứng di tinh, khí hư … Hậu âm
là nơi đại tiện ra phân, thận khí hư hay gặp chứng đại tiện lỏng, đại tiện táo ởngười già
Thuốc có liên quan: Thuốc khai khiếu, bổ thận, cố tinh sáp niệu
Một số bệnh lý của thận
- Thận dương hư: Đau lưng, mỏi gối, lạnh cột sống, sợ lạnh, tay chân
lạnh, di tinh, liệt dương, vô sinh, ỉa chảy, tiểu nhiều lần Nên dùng thuốc bổthận dương, bổ khí, cố tinh sáp niệu
- Thận âm hư: Hoa mắt, chóng mặt, ù tai, ra mồ hôi trộm, tiểu đục Nên
dùng thuốc bổ âm kiêm liễm hãn, lợi niệu
3 PHỦ
Phủ là những cơ quan đảm nhận chức năng thu nạp, chuyển giao và vàtống thải Có 6 phủ chính (lục phủ) đó là: Đởm, vị, tiểu tràng, đại tràng, bàngquang, tam tiêu Ngoài ra còn có phủ kỳ hằng là những phủ có công năngkhác thường như: Não, xương tủy, mạch, tử cung …
3.1 Đởm (mật)
Đởm là phủ trung tinh nghĩa là đởm có chức năng giữ thăng bằng,chuẩn xác đối với sự hoạt động của các tạng phủ, đởm chứa chất dịch thanhkhiết (mật) và liên quan mật thiết với can về chức năng sơ tiết Đởm chủ vềquyết đoán, là cơ sở của lòng dũng cảm, tinh thần dám nghĩ dám làm Khichức năng này kém làm cho tinh thần bị tổn thương Khi có bệnh ở đởmthường xuất hiện chứng vàng da, miệng đắng, nôn mửa ra chất đắng, hay cáugiận, đau đầu, cao huyết áp
Thuốc có liên quan: Thuốc thanh nhiệt táo thấp, hành khí giải uất, sơcan lý khí, thuốc lợi thấp …
3.2 Vị
Vị có chức năng thu nạp và làm nhừ thủy cốc, sơ bộ tiêu hóa thức ăn vàchuyển đẩy xuống tiểu tràng, công năng này gọi chung là vị khí Vị khí phảituyên hòa tuyên giáng (vị khí hòa giáng) là trạng thái bình thường của vị, “vịkhí tráng, ngũ trạng đều tráng” Nếu không sẽ gây hiện tượng ứ trệ thức ăn,
Trang 33đau bụng … Khi quan sát bệnh tình thường lấy công năng của vị làm thước
đo cho tình trạng sức khỏe của cơ thể “Hữu vị khí tắc sinh, vô vị khí tắc tử”
Thuốc có liên quan: Thuốc kiện vị, tiêu đạo, hành khí, giáng nghịchthanh nhiệt
3.3 Tiểu tràng
Tiểu tràng (ruột non) có chức năng tiếp nhận thức ăn đã được sơ bộ tiêuhóa từ vị chuyển xuống, đồng thời tiến hành phân hóa để thu lấy chất thanh(chất trong = chất dinh dưỡng, nước, muối khoáng, vitamin …) cho cơ thể vàthải trừ cặn bã (trọc = chất đục) xuống đại tràng (quá trình thăng thanh giángtrọc) Phần thủy dịch của cặn bã được qua thận, xuống bàng quang thànhnước tiểu Như vậy tiểu tràng có quan hệ nhất định với việc hình thành đạitiểu tiện Tiểu tràng cũng quan hệ mật thiết với tâm vì chất dinh dưỡng màtiểu tràng hấp thu được vận chuyển vào huyết mà tâm chủ huyết mạch
Thuốc có liên quan: Thuốc thanh nhiệt táo thấp, kiện tỳ, tiêu đạo …
3.4 Đại tràng
Đại tràng (ruột già) có chức năng tiếp nhận chất cặn bã từ tiểu tràngchuyển xuống, đồng thời làm nhiệm vụ tống thải chất cặn bã ra ngoài Chấtcặn bã do tiểu tràng chuyển xuống được đại tràng hấp thu một phần nướctrong đó Nếu chức năng hấp thu phần nước này kém là do đại tràng hư hàn,xuất hiện đau bụng sôi bụng, phân nát lỏng, ngược lại đại tràng thực nhiệt,việc hấp thu nước này quá mức gây táo kết Kinh mạch của đại tràng liênquan đến phế, do đó bệnh ở phế có ảnh hưởng đến đại tràng: Phế đoản hơi đạitràng táo bón và ngược lại đại tàng tiết tả phế đoản khí
Thuốc có liên quan: Thuốc thanh nhiệt táo thấp, kiện tỳ, tiêu đạo, tả hạ,
cố sáp …
3.5 Bàng quang
Bàng quang có chức năng chứa đựng và thải trừ nước tiểu Phần thủydịch sau khi qua thận được phân thanh tiết trọc Phần thanh trở lại cơ thể,phần trọc đi vào bàng quang (nước tiểu) Công năng này còn gọi là công năngkhí hóa và liên quan mật thiết với thận dương Nếu sự khí hóa không tốt sẽgây bí tiểu tiện, đái rắt hoặc đái nhiều lần, tiểu tiện không tự chủ v.v…
Thuốc có liên quan: Thuốc lợi thủy thẩm thấp, thanh nhiệt táo thấp,thanh nhiệt giải độc
3.6 Tam tiêu
Trang 34Tam tiêu chỉ: Thượng tiêu, trung tiêu, hạ tiêu Thượng tiêu chứa tâmphế, trung tiêu chứa tỳ vị, hạ tiêu chứa thận, bàng quang Về công năng:Thượng tiêu chủ phân bố tống khí, trung tiêu chủ hấp thu tiêu hóa vật chất, hạtiêu chủ bài tiết Tam tiêu liên quan đến nhiều chức năng của nhiều bộ phậntrong cơ thể, nó không phải là một cơ quan độc lập.
Ngoài ra còn có phủ kỳ hằng là những phủ mang tính chất khác thường,bao gồm: Não, tủy xương, mạch, tử cung Phủ kỳ hằng không giống với lụcphủ mang tính chất chuyển hóa nói chung mà chúng có công năng đặc hiệu làtàng tinh (đởm cũng thuộc loại này)
4 MỐI QUAN HỆ TẠNG PHỦ
4.1 Mối quan hệ giữa tạng với tạng
- Sự liên quan giữa can- tâm- tỳ
Can, tâm, tỳ ba tạng liên quan với nhau về mặt huyết mạch Tâm chủhuyết, can tàng huyết, tỳ thống huyết Tỳ khí vượng, chức năng thống huyếttốt, can huyết sung túc, tâm huyết dồi dào, vận hành điều hòa thông suốt tronglòng mạch Tỳ khí nhược, can huyết bấc túc, tâm hồi hộp (tâm quý), loạnnhịp, mất ngủ, tâm thần suy nhược khiến kém ăn, bụng đầy trướng, chân taymệt mỏi rã rời
- Sự liên quan giữa can và tỳ
Tỳ ích khí, sinh huyết, can tàng huyết Tỳ sinh huyết tốt giúp cho cantàng huyết tốt, cơ thể đầy đủ huyết dịch khỏe mạnh, ngược lại can sơ tiết tốtgiúp tỳ tiêu hóa tốt
- Sự liên quan giữa can và thận
Khí của can luôn có khuynh hướng cường thịnh song luôn được thậnthủy chế ước “thủy chế hỏa” Sự chế hóa tốt, giúp can khí bình thường Nếuthận âm bấc túc, thủy không chế được hỏa đẫn đến can dương thượng cường,xuất hiện các chứng đau đầu, chóng mặt, ù tai, đau lưng, di tinh Do đó bổchân âm, bổ thận âm cũng là tư dưỡng khí của can
- Sự liên quan giữa tỳ và phế
Tỳ hấp thu vận hóa tinh hoa của thức ăn, chất dinh dưỡng của thủy cốcđược nhập vào huyết mạch mà dồn lên phế Tại phế quá trình khí hóa sẽ diễn
ra (khí dinh dưỡng) kết hợp với khí trời thành tông khí Như vậy giữa tỳ vàphế cùng thực hiện một chức năng tạo khí, tạo ra năng lượng cho cơ thể
Trang 35Trong đó tỳ thực hiện giai đoạn 1, phế thực hiện giai đoạn 2 Hai giai đoạnnày gắn bó với nhau tạo thành một chuổi liên tục, không thể tách rời Do đókhí của tỳ hư cũng làm khí phế hư, xuất hiện triệu chứng đoãn hơi ho hen.Ngược lại khí phế không thông, không điều hòa được thủy đạo, gây phù nề.
- Sự liên quan giữa phế và thận
Phế và thận liên quan về hô hấp Phế chủ khí, thận chủ nạp khí Haitạng cùng hiệp đồng làm chức năng hô hấp Nếu thận thủy không thông, phếtắc, khó thở, ngược lại phế không thông, tiểu tiện bí, dắt … thận âm bấc túc,dẫn đến phế âm hư xuất hiện chứng trào nhiệt ho khan
- Sự liên quan giữa tỳ và thận
Tỳ chủ vận hóa tiêu hóa, song chức năng này phải được sự giúp đỡ củathận dương Thận dương kém làm tỳ không vận hóa được “thận dương ôn hóa
tỳ dương”
4.2 Sự liên quan giữa phủ với phủ
Giữa các phủ liên quan với nhau về 3 phương diện: Hấp thu, chuyểnhóa tiêu hóa và bài tiết Nếu một khi mối quan hệ giữa các phủ không đượcđiều hòa sẽ dẫn đến rối loạn chức năng các phủ
- Sự liên quan giữa đởm, vị, tiểu tràng: 3 phủ này liên quan với nhau
về tiêu hóa Vị chứa đựng làm nhừ thức ăn, đởm sơ tiết mật giúp tiêu hóa, tiểutràng hấp thu dinh dưỡng
- Tiểu tràng và đại tràng: Liên quan về chức năng hấp thu dinh dưỡng,
nước, muối khoáng … và chức năng tống thải cặn bã
- Đại tràng và bàng quang: Liên quan về chức năng bài tiết cặn bã.
4.3 Sự liên quan giữa phủ và tạng
Giữa phủ và tạng liên quan biểu lý từng cặp:
- Giữa tỳ và vị: Liên quan về chức năng tiêu hóa, hấp thu dinh dưỡng
cho cơ thể, có ý nghĩa tạo nguồn khí huyết cho cơ thể
- Giữa tâm và tiểu tràng: Liên quan về phương diện hấp thu dinh
dưỡng, làm huyết sung túc, tâm chủ về huyết mạch, chuyển tải chất dinhdưỡng đi toàn cơ thể
- Giữa can và đởm: Liên quan chức năng sơ tiết (mật, men) giúp cho
tiêu hóa thức ăn
Trang 36- Giữa phế và đại tràng: Liên quan về phương diện khí hóa Phế khí
kém làm đại tràng khô kiệt gây táo bón, ngược lại khí đại tràng kém gây đoảnhơi đoản khí ở phế
- Giữa thận và bàng quang: Liên quan về chức năng thanh lọc thủy
dịch, làm cân bằng chất điện giải, thải chất trọc lấy chất thanh “thăng thanhgiáng trọc”
HỌC THUYẾT KINH LẠC MỤC TIÊU
Sau khi học xong sinh viên phải:
1 Trình bày được thế nào là kinh lạc
Trang 372 Trình bày được các đường kinh chính và ý nghĩa của kinh lạc trong
y học cổ truyền và thuốc cổ truyền.
1 GIỚI THIỆU HỌC THUYẾT KINH LẠC
Kinh lạc là những đường phân bố khắp cơ thể
Kinh là đường thông của khí huyết vận hành trong cơ thể, là nhữngđường phân bố theo chiều dọc của cơ thể và đi sâu
Lạc là những đường nhánh nhỏ nối liền giữa các đường kinh, làm thànhmột mạng lưới hoàn chỉnh, thông suốt trên dưới trong ngoài liên hệ giữa cáctạng phủ và các cơ quan khác nhau và đi nông
2 ĐƯỜNG KINH CHÍNH
Hướng đi của đường kinh: Đường kinh âm có hướng đi từ tạng rangoài, đường kinh dương hướng từ ngoài và phủ
Hướng đi của 12 kinh chính:
- 3 kinh âm ở tay hướng đi từ tạng ra tay
- 3 kinh dương ở tay hướng đi từ tay lên đầu, vào phủ
- 3 kinh dương ở chân hướng từ đầu xuống chân, vào phủ
- 3 kinh âm ở chân hướng từ chân vào tạng
Trang 38hợp: Căng tức, giật tê, mỏi nóng …) Khi châm cứu phải lấy được cảm giác
“đắc khí” mới có thể đạt yêu cầu chữa bệnh Nếu huyệt vị nằm trên đườngkinh chính thì phần lớn chúng nằm ở các giao điểm của các lạc với các đườngkinh, hoặc ở các góc, hốc của xương mà đường kinh đi qua
4 Ý NGHĨA CỦA KINH MẠCH VÀ HUYỆT VỊ
Học thuyết có ý nghĩa quan trọng trong việc qui kinh của thuốc Mỗiđường kinh liên quan trực tiếp đến một tạng hoặc phủ phủ nhất định Mỗi vịthuốc có thể qui nạp khí vị tác dụng của nó vào một hay nhiều đường kinh đó.Dựa trên cơ sở qui kinh và tác dụng của thuốc người ta có thể điều trị cácbệnh khác nhau Ngoài ra kinh mạch và huyệt vị còn có ý nghĩa trong việcxoa bóp, bấm huyệt và châm- cứu
HỌC THUYẾT THỦY HỎA MỤC TIÊU
Sau khi học xong sinh viên phải:
1 Trình bày được xuất xứ, cơ sở của học thuyết
Trang 392 Nêu được nội dung của học thuyết
3 Trình bày được sự vận dụng của học thuyết trong y học cổ truyền
1 XUẤT XỨ
Học thuyết thủy hỏa hay còn gọi là học thuyết tâm thận do đại danh yHải Thượng Lãn Ông của Việt Nam ở thế kỷ 18 hoàn thiện học thuyết, ông đãdựa trên cơ sở giáng tâm hỏa, ích thận thủy, lấy phương châm điều hòa thủyhỏa, cân bằng âm dương trong cơ thể để xây dựng nên học thuyết Ông đãdùng hai phương thuốc cổ: Lục vị để bổ âm, bổ thận âm bổ thủy, Bát vị để bổthận dương, bổ hỏa làm gốc Thông qua phép biến phương, từ hai phươngthuốc cổ trên xây dựng nên nhiều phương khác dùng điều trị trên 50 bệnhchứng khác nhau
2 CƠ SỞ CỦA HỌC THUYẾT THỦY HỎA
Học thuyết thủy hỏa được xây dụng dựa trên cơ sở học thuyết âmdương ngũ hành và tạng tượng của y học cổ truyền Trong âm dương thủythuộc nước thuộc âm, hỏa thuộc lửa thuộc dương Với thuyết ngũ hành, thủyhỏa là hai hành tương khắc còn với thuyết tạng tượng là tâm thận là hai tạngtrong ngũ tạng Thủy- Hỏa là hai phạm trù mang tính đối lập, tồn tại kháchquan trong thiên nhiên Ánh nắng mặt trời là nguồn gốc tạo ra quá trình sốngcủa muôn vật, nước nuôi sống muôn loài Hai thứ đó luôn luôn có mối quan
hệ hữu cơ, thiếu một trong 2 thì sự sống sẽ không còn tồn tại Do đó sự giaohòa giữa thủy và hỏa bao trùm lên mọi hoạt động của sinh vật và con người
và sự giao hòa luôn ở trạng thái cân bằng tương đối
3 NỘI DUNG HỌC THUYẾT THỦY HỎA
Lấy cân bằng thủy hỏa của 2 tạng tâm và thận trong cơ thể làm gốc, coihỏa là dương khí thủy là âm tinh, dựa trên nguyên tắc giáng tâm hỏa, ích thậnthủy Cơ thể con người được coi là vũ trụ nhỏ, con người và muôn loài muốntồn tại phải có hỏa Cái hỏa trong con người trước hết thuộc tạng tâm (quânhỏa), hỏa của tâm được cân bằng với tâm huyết (phần âm của tâm), hỏa thứhai do tạng thận sinh ra (tướng hỏa, thận dương, mệnh môn hỏa) và hỏa nàyđược cân bằng với thủy của thận (thận nằm trong hành thủy ngũ hành) Trong
cơ thể con người, hỏa ở trên là hỏa của tâm có công năng chủ thần minh, hỏa
Trang 40ở dưới là hỏa của thận có công năng chủ sinh thành Như vậy tâm hỏa tácđộng vào thận thủy mới có sáng suốt, minh mẫn được Thần minh sinh ra từtinh khí của thận (thận tàng chí) song lại qui nạp vào tạng tâm (tâm tàngthần) Hai tạng này có quan hệ mật thiết với nhau, đặc biệt về mối quan hệthủy hỏa Do đó lấy cân bằng thủy hỏa của 2 tạng tâm thận làm gốc
4 SỰ VẬN DỤNG CỦA HỌC THUYẾT THỦY HỎA
Học thuyết thủy hỏa được ứng dụng vào trong điều trị rất phong phú,
đa dạng Bệnh tật trong con người phát sinh là do thủy hỏa thiên lệch, âmdương mất cân bằng Chính vì vậy việc điều trị bệnh là lấy lại sự thăng bằngthủy hỏa của cơ thể Người chân dương thịnh phải bổ âm, người chân âmthịnh phải bổ dương Tuy vậy khi bổ âm phải kèm theo vị bổ dương để khôngảnh hưởng đến tỳ vị
- Thông thường để bổ âm (bổ thủy), Hải thượng khuyên dùng phươnglục vị do Trương Trọng Cảnh một danh y đời nhà Hán xây dựng:
Thục địa 8 lạng Trạch tả 3 lạng
Hoài sơn 4 lạng Phục linh 3 lạngTất cả luyện với mật ong làm thành hoàn Ngày uống 8- 16 gam
Công dụng: Bổ can thận âm, chữa âm suy kém tinh khô, huyết kiệt, đau lưng,
mỏi gối hoa mắt ù tai, tiêu khát
- Bổ dương (bổ hỏa) dùng phương bát vị hoàn của Trương Trọng Cảnh:
5 NHẬN XÉT VỀ HỌC THUYẾT THỦY HỎA
Học thuyết thủy hỏa mang tính sáng tạo, đã vận dụng các học thuyếttriết học phương đông để xây dựng nên, góp phần xây dựng về mặt lý luậncho y học cổ truyền Việt Nam Học thuyết có ý nghĩa lớn về thực tiễn nhất làtrong điều trị theo y học cổ truyền Có thể nói rằng với học thuyết thủy hỏa,Hải Thượng Lãn Ông đã góp phần làm phong phú thêm về lý luận và thựctiễn cho y học cổ truyền Việt nam