1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Phát triển dịch vụ logistics nhìn từ kinh nghiệm quốc tế (1)

13 428 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 40,76 KB
File đính kèm Phat trien dv logistics nhin tu kn quoc te.rar (38 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo nghĩa hẹp, dịch vụ Logistics được định nghĩa là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công việc bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi,

Trang 1

PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ LOGISTICS NHÌN TỪ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ

TS Trịnh Thị Thanh Thủy ThS Đặng Thanh Phương

Viện Nghiên cứu Thương mại

Dịch vụ logistics có vai trò ngày càng quan trọng trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu của Việt Nam Tuy nhiên, khái niệm, định hướng và mục tiêu phát triển dịch vụ logistics của nước ta còn chưa rõ ràng Do vậy, bài báo tập trung nghiên cứu về kinh nghiệm phát triển dịch vụ logistics của một số quốc gia trong khu vực ASEAN và trên thế giới, qua đó rút ra một số bài học để các nhà hoạch định chính sách ở Việt Nam tham khảo và hoàn thiện quan điểm, định hướng và mục tiêu phát triển loại hình dịch vụ này một cách hiệu quả trong thời gian tới.

Từ khóa: Dịch vụ logistics; Kinh nghiệm quốc tế

Trên thế giới cũng như tại Việt Nam, khái niệm dịch vụ Logistics còn chưa thống nhất và thường được hiểu cả theo nghĩa hẹp và nghĩa rộng

Theo nghĩa hẹp, dịch vụ Logistics được định nghĩa là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công việc bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác,

tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác liên quan đến hàng hóa theo thỏa thuận của khách hàng để hưởng thù lao.1

Theo nghĩa rộng, dịch vụ logistics gắn liền với cả quá trình nhập nguyên,

nhiên vật liệu làm đầu vào cho quá trình sản xuất, sản xuất ra hàng hoá và đưa vào các kênh lưu thông, phân phối để tới tay người tiêu dùng cuối cùng Cách hiểu theo nghĩa rộng hiện nay cũng được sử dụng phổ biến hơn

Với định nghĩa như vậy, dịch vụ logistics là một loại hình dịch vụ phức tạp,

đa ngành, đa chức năng, ngày càng phổ biến và có vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia, khu vực và thế giới Sau đây là những phân tích về tình hình phát triển dịch vụ logistics của một số quốc gia trong khu vực và trên thế giới và một số bài học kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam

1 Phát triển dịch vụ logistics tại một số quốc gia

Dịch vụ logistics tại Singapore

Trang 2

Singapore luôn nằm trong nhóm các quốc gia đứng đầu thế giới và khu vực

về dịch vụ logistics Từ năm 2007 đến năm 2012, theo bảng xếp hạng chỉ số năng lực cạnh tranh (Logistics Performance Index- viết tắt là LPI) do World Bank (WB) công bố, quốc đảo này luôn ở vị trí dẫn đầu, thậm chí vượt qua cả các quốc gia có nền kinh tế phát triển mạnh như Đức, Hà Lan, Bỉ Đến năm 2014, mặc dù tụt hạng xuống vị trí thứ 5 nhưng Singapore vẫn luôn được xem là quốc gia có một hệ thống logistics mạnh

Hơn thế nữa, chất lượng và năng lực cung ứng dịch vụ logistics của Singapore ở mức cao tương xứng và ngày càng tăng so chi phí phí trả

Lệ phí và phí cảng biển của Singapore thuộc vào loại cao trên thế giới Theo bảng xếp hạng LPI, 42,86% số người tham gia trả lời lựa chọn mức độ từ cao đến rất cao về chỉ tiêu này, như vậy là cao gần gấp đôi so với Việt Nam (28.57%) và cao hơn hẳn so với Trung Quốc (41.67%) và Malaysia (33.33%)

Tuy nhiên, năng lực và chất lượng dịch vụ của cơ quan hải quan, các cơ quan kiểm tra của Singapore được tới 83,33% và 66,67% người được hỏi đánh giá

là cao vào hàng bậc nhất trên thế giới Bên cạnh đó, hiệu quả của quá trình vận chuyển từ giải phóng và giao hàng đến thực hiện các thủ tục hành chính của Singapore luôn đạt chất lượng (với sự đồng ý của 100% người được hỏi), cao hơn

từ gấp đôi đến gấp 6 lần so với hiệu quả của Việt Nam

Hơn thế nữa, chất lượng được đáng giá là ngày càng tăng so với mức phí phải trả Nếu như vào năm 2010, có từ 30% đến 40% người được hỏi cho rằng lệ phí sử dụng cảng biển, sân bay, kho chứa, phí đại lý của Singapore là cao thì đến năm 2012, 100% đánh giá các mức phí này là không cao Thêm vào đó, cũng trong năm này, có tới 60% đánh giá chất lượng dịch vụ liên quan đến hạ tầng cơ sở là rất tốt, đặc biệt ở đường biển, đường hàng không và kho bãi- trạm trung chuyển và 100% đánh giá là chất lượng dịch vụ liên quan đến hạ tầng là cao và rất cao Điều này cho thấy dịch vụ logistics của Singapore đã đạt đến mức hiệu quả cao, đó là cung ứng dịch vụ chất lượng tốt với chi phí thấp

Để đạt được những thành công như trên, một trong những nguyên nhân cơ bản là vai trò của Chính phủ Chính phủ Singapore đề ra và thực thi chiến lược phát triển hệ thống cảng biển và trung tâm logistics, tự do hóa thương mại bằng các khu kinh tế tự do (FTZ) Mục tiêu của chiến lược phát triển hệ thống Logistics quốc gia của Singapore được xác định là: “Phát triển Singapore trở thành trung tâm Logistics tích hợp hàng đầu thế giới với năng lực vận tải hàng hải, hàng không và đường bộ vượt trội” Với mục tiêu rất tham vọng đó, năm 1997, Singapore triển khai chương trình Logistics Enhangcement and Application Program (LEAP) với 4 nhóm giải pháp và 16 dự án cụ thể về phát triển nguồn nhân lực, tạo điều kiện

Trang 3

thuận lợi cho hoạt động kinh doanh, phát triển năng lực phát triển cơ cấu hạ tầng Trong đó Singapore chú trọng 3 nhóm giải pháp cơ bản là:

Thứ nhất, cam kết của Chính phủ trong việc tạo dựng môi trường kinh doanh thuận lợi cho lĩnh vực vận tải biển và logistics

Chính phủ Singapore đã đưa ra các cam kết như: ưu đãi thuế cho các công ty tàu biển quốc tế; miễn thuế thu nhập từ tàu biển trong 10 năm; hay hưởng tỷ lệ thuế ưu đãi nhỏ hơn 10% trên mức tăng doanh thu từ việc cung cấp dịch vụ trong 5 năm và cho vay ưu đãi với tàu và container, các công ty Singapore cung ứng dịch

vụ Logistics, các công ty cung cấp tín dụng cho vận chuyển và thuê tàu; khuyến khích các công ty kinh doanh dịch vụ Logistics sử dụng dịch vụ cho vay của Singapore để thuê mua tàu biển và Container; hỗ trợ trong đào tạo nhân lực và phát triển kinh doanh cho các công ty Singapore thông qua Quỹ hàng hải

Chính phủ Singapore khuyến khích các công ty trong nước liên doanh với các hãng nước ngoài để thiết lập hệ thống Logistics toàn cầu, khuyến khích các công ty đa quốc gia và các nhà cung ứng dịch vụ Logistics quốc tế đặt trụ sở tại nước mình …

Singapore cũng thực thi một chính sách tự do nhất đối với quyền sở hữu kinh doanh nước ngoài, không có bất cứ một nguyên tắc đặc thù riêng nào đối với nhà đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực kinh doanh

Chính vì vậy, Singapore đã thu hút được một lượng lớn vốn đầu tư nước ngoài vào các thành phần kinh tế cơ bản, thiết lập các trung tâm mua sắm, quảng cáo, phân phối hàng hoá nhờ luật đầu tư nước ngoài minh bạch, cơ chế hành chính hợp lý, hiệu quả

Thứ hai, đầu tư vào các công trình kết cấu hạ tầng Logistics quan trọng có quy mô lớn, hiện đại.

Singapore đã đầu tư vào các công trình kết cấu hạ tầng logistics như hệ thống cảng biển, tuyến đường sắt Downtown Line, hệ thống đường cao tốc, trung tâm logistics hàng không, trạm không vận hàng tươi sống, trung tâm hàng tiêu dùng, trung tâm kinh doanh và vận chuyển các tác phẩm nghệ thuật…

Diện tích nhỏ và hầu như không có tài nguyên nên ngay từ đầu, Singapore

đã xác định và chọn đường lối phát triển để trở thành trung tâm kinh tế của Đông Nam Á và thế giới là dựa vào thế mạnh của cảng biển và năng lực thương mại Cảng của Singapore có mực nước sâu tự nhiên đến 16 mét với diện tích 600 ha gồm các bến cảng Brani, Keppel, Tanjong Pagar, Pasir Panjang, Jurong, Sembawang Các bến cảng được chuyên dụng cho các mục đích khác nhau như như cảng chuyên dùng cho container, xăng dầu, oto, sắt thép, xi măng… Cảng hiện

Trang 4

có 204 cầu trục, cẩu giàn, kho lưu trữ, hệ thống thông tin hiện đại với một bến xe chuyên dụng cho phép chứa 1 triệu ô tô mỗi năm và chứa 20.000 ô tô cùng lúc Cảng cung cấp các dịch vụ phụ trợ như: nước ngọt, nước lạnh, lương thực, thực phẩm, sửa chữa, bảo dưỡng, theo dõi nhiệt độ của các container đông lạnh, hoa tiêu, lai dắt tàu thuyền … Đối với cảng container có 5 bến đỗ với tổng chiều dài 16km, 50 điểm đỗ tàu, tiếp nhận 30 triệu container mỗi năm trong đó 90% trung chuyển, còn 3 triệu từ trong nước Cảng này có thể đón tàu thương mại lớn nhất thế giới đến 15.500 container

Song song với cảng biển, Singapore xác định phát triển vận tải hàng không với việc mở rộng sân bay Changi trở thành một trung tâm vận chuyển hàng không quốc tế và là cửa ngõ quan trọng của Châu Á nói chung và Đông Nam Á Không chỉ cung cấp các dịch vụ tốt nhất để thu hút vận chuyển hành khách, sân bay này còn cung cấp những điều kiện tốt nhất để phục vụ vận chuyển hàng hóa, đặc biệt là hàng điện tử nhỏ gọn, giá trị cao Hoạt động vận tải hàng không tại sân bay Changi Sinapore diễn ra tại trung tâm vận tải hàng không Changi (CAC) Đây là trung tâm dịch vụ kiểu “một trạm”, theo đó, hàng hóa nhập khẩu được thông quan, bốc dỡ từ máy bay và vận chuyển đến tận tay người nhận hàng trong vòng 1 giờ đồng hồ.2 Trung tâm có diện tích 47ha với 9 nhà ga hàng hóa hàng không (AFT) công suất 3 triệu tấn hàng hóa mỗi năm Ngoài ra, còn có 2 trung tâm là Express và Courier để chứa những lô hàng chuyên dụng trong một khoảng thời gian nhất định

Bên cạnh đó là hệ thống giao thông đường bộ phát triển, trung bình mỗi ngày hơn 50 triệu tấn hàng hóa các loại được vận chuyển trên các tuyến giao thông huyết mạch của Singapore để tập kết tại các kho hàng

Cùng với phát triển và hiện đại hóa cơ sở vật chất, Singapore đã định hướng phát triển Logistics đi kèm với hệ thống công nghệ thông tin hiện đại Điều đó giúp giảm các chi phí liên quan đến thông tin trong các hoạt động Logistics đồng thời tạo ra nguồn thu từ các dịch vụ Logistics của giá trị gia tăng cao Singapore áp dụng hệ thống công nghệ thông tin hiện đại từ hình thức chấp nhận thủ tục trực tiếp, loại hàng hóa, xuất xứ, trọng lượng, nơi đến đến hỗ trợ bốc dỡ, vận chuyển và lưu trữ hàng hóa Các khâu kiểm soát ô tô ra vào cảng và bốc xếp hàng hóa đều được tối ưu hóa bằng máy móc Ngoài ra, Singapore có hệ thống kiểm soát tự động trọng lượng vận tải của container nhằm đảm bảo an toàn cho tàu chở hàng hoạt động

Chính phủ đã nhiều lần áp dụng và cải tiến các dự án áp dụng công nghệ thông tin trong vận hành Logistics với chi phí cao Năm 1989, Singapore chính thức khai trương Mạng TradeNet, và chỉ ngay 1 năm sau 45% chứng từ thương

%20Aviation%20Authority%20of%20Singapore%29.pdf

Trang 5

mại hàng hóa đường biển và đường hàng không được thực hiện qua TradeNet Sự thành công đó đã đem đến quy định bắt buộc áp dụng TradeNet trong hoạt động Logistics sớm 2 năm so với kế hoạch, bắt đầu thực hiện từ năm 1991 Trong mạng lưới này, 99% hồ sơ được cấp phép và phê duyệt chỉ trong 10 phút, nhưng vẫn đảm bảo được khả năng kiểm soát rủi ro hàng hóa cũng như tính chính xác của hồ sơ Điều này đã giảm tối đa thời gian làm thủ tục, làm tăng khả năng thông quan hàng hóa sớm tại khu vực biên giới Năm 2007, việc ứng dụng phần mềm mới trong quản lý thương mại hàng hóa là TradeXchange đã tạo nên sự chuẩn hóa cho các hóa dơn chứng từ từ các nhà cung cấp dịch vụ nhưng mang lại hiệu quả đáng kể hơn mà vẫn thu được lợi ích thương mại từ các hoạt động hàng hóa Từ đó, các công ty, các nhà sản xuất, công ty giao nhận, bảo hiểm, hàng không, ngân hàng đều thu được lợi nhuận từ TradeXchange Ngoài ra, Singapore còn có các dự án riêng công nghệ thông tin khác áp dụng cho vận tải hàng hóa như mạng hàng hải (Marine Net), mạng cộng đồng vận tải hàng không (Cargo community Network)

Thứ ba, chú trọng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho lĩnh vực Logistics.

Chính phủ Singapore đã tổ chức các hoạt động như cấp học bổng và tài trợ nghiên cứu Logistics cho sinh viên, thành lập học viện Logistics Châu Á – Thái Bình Dương và phát triển học viện này thành cơ sở đào tạo nguồn nhân lực Logistics hàng đầu Châu Á, thành lập viện nghiên cứu Logistics Singapore nhằm phát triển chiến lược và chương trình đào tạo Logistics Do vậy, đã đào tạo được nguồn nhân lực chất lượng cao cho lĩnh vực logistics

Có thể nói, kinh nghiệm của Singapore để có thể trở thành trung tâm logistics hàng đầu của khu vực và thế giới là nhận ra, tận dụng tốt thế mạnh của mình và có những chính sách, chiến lược đầu tư, đổi mới quản lý dịch vụ logistics đúng đắn, hiệu quả

Dịch vụ logistics của Malaysia

Theo đánh giá của WB, năng lực Logistics của Malaysia cũng đang ở vị trí cao so với các nước trong khu vực, xếp thứ 25 trong bảng LPI toàn cầu năm 2014 Trong đó, chất lượng cơ sở hạ tầng đang được đánh giá tốt, đứng thứ hạng 26, chất lượng về khả năng vận chuyển quốc tế được đánh giá rất cao ở hạng thứ 10 trên bảng xếp hạng

Malaysia có nền kinh tế thương mại độc lập với khối lượng vận chuyển hàng hóa đến và đi lớn trong khu vực và trên thế giới Do vậy, dịch vụ Logistics tại Malaysia được xem là một yếu tố chủ chốt trong việc hỗ trợ sự phát triển của các ngành công nghiệp thế mạnh như sản xuất, dầu và khí đốt Ngành Logistics tại

Trang 6

Malaysia có tính chất trải rộng về nhiều ngành Đây là một thế mạnh cạnh tranh trong khu vực

Quốc gia này xác định phát triển dịch vụ logistics dựa trên cơ sở hạ tầng có sẵn, bao gồm:

- 5 cảng biển chính được đầu tư trang thiết bị hiện đại (gồm các cảng Klang, Pelepas, Penang, Kuantan, Bintulu) Trong đó, cảng Bintulu có thể bốc xếp khí hóa lỏng và 2 cảng (K’lang, Pelepas) nằm trong 20 cảng biển lớn nhất thế giới

- Các tuyến đường bộ chính kết nối Bắc Nam và Đông Tây của Malaysia và Pan Borneo

- 4 cảng đường bộ nội địa (Ipoh, Nilai, Segamat, Tebedu)

- 5 tuyến vận chuyển Container (gồm Butterworth, Cổng Tây, cổng Bắc, Gudang và Pelespas) Các trạm container này nằm sâu trong nội địa hay còn được gọi là cảng cạn/cảng thông quan nội địa Trước đây các khu chứa container chủ yếu được bố trí trong các cảng lớn, nhưng với chính sách thúc đẩy phân phối và lưu thông hàng hóa, Malaysia đã chuyển hướng xây dựng các trạm container nằm bên ngoài cảng nhằm đảm bảo phân phối hàng hóa nội địa và hỗ trợ các cảng chính

- 5 cảng hàng không quốc tế (gồm KLIA, PIA, Senai, KKIA and Kuching) Trong đó, riêng KLIA đã đáp ứng được 25 triệu lượt khách và 650.000 tấn hàng hóa mỗi năm

Bên cạnh hệ thống cơ sở hạ tầng khá tốt, ở Malaysia, chính phủ cho phép các công ty vận tải đường bộ và các công ty Logistics tư nhân được phép sở hữu các kho chứa container, bên cạnh đó còn tiến hành xây dựng các khu thương mại

tự do (Free commercial zone - FCZ) hỗ trợ các cảng chính để chuyển tải hàng hóa trong khu vực nhằm tạo ra các hoạt động thương mại đầu tư, dịch vụ phát triển kèm theo với sự phát triển của dịch vụ Logistics Các cảng FCZ của Malaysia bao gồm cảng K’lang, các cảng khác được hưởng quy chế khu thương mại tự do là cảng Penang và Johor

Kế hoạch phát triển dịch vụ logistics của Malaysia trong giai đoạn từ 2015 trở đi cũng đặt ra các mục tiêu và giải pháp cụ thể nhằm phát triển hơn nữa loại hình dịch vụ này Trong đó, cơ quan quản lý và các giai đoạn phát triển như sau:

- Về cơ quan quản lý, phát triển dịch vụ logistics: theo kế hoạch này, phát triển chính sách Logistics tại Malaysia sẽ được tiến hành dựa trên cơ quan chủ quản quản lý là Hội đồng kinh tế đứng đầu bởi thủ tướng Hội đồng sẽ cập nhật tình hình về chính sách nửa năm một lần trong đó cung cấp kiểm tra giám sát từ trung ương xuống địa phương và chỉ ra các vấn đề tồn tại hoặc các quyết định cần

Trang 7

thiết để giải quyết các ảnh hưởng chính trong ngành Logistics Dưới hội đồng là cơ quan Logistics quốc gia đứng đầu bởi bộ trưởng bộ giao thông vận tải được hỗ trợ bởi ban thư ký cho cơ quan, cơ quan sẽ hàng quý kiểm tra và xem xét lại hoạt động thực thi chính sách Logistics trong nước, các vấn đề liên quan đến khu vực tư nhân, thực hiện các rào cản cần thiết hoặc mở rộng các tiêu chí, cập nhật tình hình trong và ngoài nước để có những kế hoạch cụ thể, phù hợp với thực tế Logistics trong nước Trong cơ quan sẽ chia ra thành 5 ban chính: Ban cơ chế và quy định, Ban thương mại hàng hóa, Ban cơ sở hạ tầng và nhu cầu vận chuyển, Ban Cải cách công nghệ thông tin, Ban phát triển nguồn nhân lực Mục đích của 5 ban này sẽ là trực tiếp kiểm tra và theo dõi hoạt động Logistics tuy nhiên phải đảm bảo hoạt động hợp tác và kết nối thông suốt giữa các phòng ban để đạt hiệu quả cao nhất trong hoạt động Logistics, hàng tháng tổ chức họp để theo dõi các tiến trình và kế hoạch thông suốt và đạt hiệu quả cao đúng như mục tiêu đã đề ra Ngoài ra, phải đảm bảo các quy định của nhà nước đến được tới các doanh nghiệp và sát với nhu cầu thực tiễn, đảm bảo các công ty Logistics hoặc hoạt động trong lĩnh vực logistics hiểu được lộ trình cải cách ngành Logistics của quốc gia

- Với 19 mục tiêu chính, kế hoạch hành động được chia ra là 3 giai đoạn + Giai đoạn 1 (2015 – 2016): Mô hình Hub &Spoke,

Giai đoạn này có mục tiêu là tháo gỡ các nút thắt đang vướng mắc của Logistics tại Malaysia Trong đó có chỉ ra các địa điểm thí điểm cụ thể như: cảng Klang, Padang Besar, các lĩnh vực cụ thể như hợp tác chuyên ngành và giữa các đại lý hoạt động logistics, tiêu chuẩn bảo mật, an toàn trong chuỗi cung ứng hàng hóa, tiêu chuẩn tuân thủ, mục tiêu đưa cảng hàng không KLIA trở thành trung tâm trung chuyển hàng hóa bằng đường hàng không, phát triển các kho lưu trữ và trung chuyển hàng hóa, củng cố các trung tâm lưu trữ hàng hóa giao thông đường bộ, hỗ trợ phát triển một ngành logistics xanh

+ Giai đoạn 2 (2017-2018): Phát triển Logistics nội địa

Để thực hiện mục tiêu này, Malaysia đề ra các kế hoạch cụ thể như hỗ trợ tích hợp Logistics thông suốt, đảm bảo ngành Logistics được công nhận trên toàn thế giới, phát triển cụm vận chuyển hàng hóa bằng đường biển, hỗ trợ phát triển thương mại điện tử, các chính sách về cảng biển của quốc gia, hợp nhất các trung tâm vận chuyển hàng hóa đường bộ,đường sắt và tiến hành đo lường nguồn lực về công nghệ và con người

+ Giai đoạn 3 (từ 2019): Đặt nền móng trong khu vực về Logistics

Theo đó, Malaysia sẽ phát triển các giải pháp Logistics tại các khu đô thị và nghiên cứu các cải tiến trong phát triển Logistics

Trang 8

Dịch vụ logistics của Thái Lan

Thái Lan có vị trí địa lý chiến lược trong khu vực Đông Nam Á và hệ thống

cơ sở hạ tầng tốt, là điều kiện quan trọng để phát triển dịch vụ logistics Phía Bắc Thái Lan giáp Lào và Campuchia, phía Nam có đường bờ biển trải dài giáp Vịnh Thái Lan, phía Tây Nam giáp với lãnh hải Indonesia và Ấn Độ ở biển Andaman Thái Lan có hệ thống hạ tầng cơ sở đường bộ khá lớn, tổng chiều dài hơn 4.100 km gồm các hệ thống đường liên thông, đường quốc lộ và cao tốc với nhiều điểm nút giao thông đa phương tiện cho cả vận chuyển hàng không và đường biển, hỗ trợ và tạo thuận lợi cho việc vận chuyển hàng hóa thương mại Bên cạnh đó, hệ thống đường Hàng không của Thái Lan có khả năng hoạt động hiệu quả trong vận chuyển hàng hóa, với sân bay quốc tế Suvarnabhumi và các sân bay Don Meuang, Chiang Mai, Phuket với năng lực vận chuyển hành khách và hàng hóa khá lớn Tuy nhiên, còn một số hạn chế như khả năng tiếp nhận tải trọng trung bình và lớn của hệ thống cảng biển, hạ tầng cơ sở và năng lực vận chuyển đường sắt còn hạn chế, không đáp ứng được nhu cầu vận tải thường xuyên

Năm 2007, Thái Lan đã đưa ra kế hoạch tổng thể quốc gia về Logistics của Thái lan (2007-2011) với mục tiêu thành lập hệ thống Logistics tầm cỡ thế giới nhằm đưa Thái Lan trở thành khu vưc trung tâm và đầu tư của khu vực Đông Dương Để thực hiện mục tiêu này, những giải pháp chính được đề ra là gắn kết sự thuận lợi thương mại với gia tăng hiệu quả chi phí bỏ ra, đồng hành với tính bền vững và an ninh trong chu trình Logistics Trong đó chủ yếu cải thiện doanh nghiệp Logistics, tối ưu hóa mạng lưới hàng lang thương mại mới và Logistics, đầu tư hệ thống dịch vụ Logistics tầm cỡ thế giới nhằm tạo thuận lợi và gắn kết đầu tư thương mại Nhiều giải pháp từ phía Chính phủ đã tác động nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh - trong đó, phải kể đến việc triển khai mạng lưới Logistics điện tử E-Logistics; Thủ tục hải quan điện tử tại các cửa khẩu vùng GMS; và việc thiết lập Trung tâm dịch vụ xuất khẩu một cửa “One Stop Export Service Center” - là một đơn vị liên kết của 14 tổ chức liên quan tới hoạt động xuất khẩu nhằm đẩy nhanh việc giải quyết các thủ tục xuất khẩu Thái Lan cũng chú trọng công nghệ thông tin và đầu tư đào tạo kỹ năng nguồn nhân lực, tập trung vào những ngành công nghiệp chủ chốt và thay đổi cách quản lý tới dịch vụ Logistics Đồng thời, Chính phủ Thái Lan đã chủ trương nâng cấp các cảng biển chính, đặc biệt là đầu tư lớn vào cảng Laem Chabang Port - cảng vận tải lớn nhất của Thái Lan, cảng Sriracha Harbor Pier, cảng Siam Sea Port, nâng cấp hệ thống nhà kho và các cảng nội địa với các bãi container và bãi tập kết hàng rời

Với những giải pháp đó, dưới góc độ tổng chi phí Logistics, chỉ trong vòng 5 năm Thái Lan đã cải thiện mức tỷ trọng từ 18% xuống 15% tổng sản phẩm nội địa, tuy nhiên vẫn cao hơn so với Malaysia (13%), hay Singapore (8%) Trên bảng xếp

Trang 9

hạng LPI năm 2014, Thái Lan xếp hạng thứ 35 – tương tự năm 2010 trong tổng số

160 quốc gia, xếp sau thứ tự lần lượt các quốc gia khác Singapore (5); Hongkong-Trung Quốc (15); Đài Loan (19); Hàn Quốc (21), và Malaysia (25) Như vậy so với năm 2013 đã tăng 4 bậc xếp hạng

Với chương trình kết nối hàng lang của GMS và ASEAN có nội dụng cụ thể

là phát triển giao thông thông suốt từ Thái Lan – Lào – Trung Quốc thông qua tuyến đường thứ 4, phát triển thương mại biên giới, phát triển cảng biển nước sâu Dawei và phát triển các khu công nghiệp trọng điểm, cộng đồng kinh tế chính trị

và văn hóa Asean, ngoài ra còn phát triển hệ thống tàu điện cao tốc Thái Lan – Lào – Trung Quốc, dự án tàu điện kết nối Trung Quốc và Singapore, dự án đường bộ Hadyai-Sadao Với những thế mạnh đó, trong thời gian tới, Thái Lan đang đặt mục tiêu trở thành một điểm trung chuyển Logistics trong khu vực trong tương lai, trở thành nước dẫn đầu khu vực Đông Nam Á Thái Lan đã đề ra chiến lược Logistics

từ năm 2011 đến năm 2025 với mục tiêu tập trung vào năng lực cạnh tranh thương mại, lồng ghép địa phương với toàn cầu để kết nối cạnh tranh thương mại, cơ bản tạo thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu Tạo ra sự khác biệt giữa chính sách tổng thể và chính sách hàng hóa cụ thể, đưa ra kế hoạch hành động với hơn 100 mục tiêu đo lường, và hơn hết, sử dụng chỉ số phát triển Logistics của WorldBank (LPI) làm cốt lõi nhằm gia tăng số điểm từ 3.1 năm 2011 lên 3.5 vào năm 2025

2 Bài học kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam

Thứ nhất, phát triển dịch vụ logistics quốc gia hiệu quả không thể thiếu vai trò lãnh đạo quan trọng của Chính phủ

Logistics là một lĩnh vực dịch vụ liên quan đến nhiều ngành, từ sản xuất, thương mại đến giao thông, do vậy phát triển dịch vụ logistics cần có sự chủ trì thống nhất từ cấp cao nhất (Thủ tướng Chính phủ) Từ đó xây dựng một khung khổ pháp lý đồng bộ nhằm gắn kết, thống nhất quản lý và phối hợp các ngành để tổ chức thực hiện hiệu quả các chương trình và mục tiêu trọng điểm, tạo điều kiện phát triển mạnh và trọng tâm cho dịch vụ Logistics

Dựa trên kinh nghiệm từ các nước nghiên cứu đã cho thấy, Một số quốc gia

đã hình thành cơ quan chuyên trách hoặc hội đồng tư vấn với các thành viên đến từ các bộ ngành liên quan nhằm đề ra một kế hoạch hành động mang tính chiến lược với tầm nhìn dài hạn 5-10 năm cho phát triển ngành Logistics Do vậy, Việt Nam cũng cần phải đưa ra một quy hoạch mang tính chất dài hạn cụ thể cho hoạt động Logistics về việc tập trung trọng điểm như Malaysia, hay tập trung một lần như Thái Lan hoặc đầu tư dàn trải như Malaysia Dựa trên tình hình thực tế, nghiên cứu

để nâng cấp, cải tạo cơ sở hạ tầng, chỉ xây mới những hạng mục còn thiếu, cần hỗ trợ cho sự phát triển của ngành Logistics

Trang 10

Thứ hai, các giải pháp để phát triển dịch vụ logistics của các quốc gia có những điểm khác nhau dựa trên những thế mạnh riêng của từng quốc gia Tuy nhiên, tựu trung lại thường tập trung vào 3 nội dung chính là: (1) phát triển cơ sở

hạ tầng đối với phát triển dịch vụ logistics gồm hạ tầng giao thông và hạ tầng thông tin; (2) các chính sách ưu đãi của Chính phủ đối với doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics và (3) phát triển nguồn nhân lực

Trước hết, đối với phát triển hạ tầng thì phát triển dịch vụ logistics dựa trên thế mạnh cảng biển là rất quan trọng đối với Việt Nam vì nước ta có bờ biển dài và nhiều cảng biển Do đó cần đầu tư xây dựng hệ thống cảng biển, các trung tâm dịch vụ logistics cảng biển quốc tế tại các vị trí chiến lược trên lãnh thổ, những vị trí ở gần các khu liền kề thành phố, cụm công nghiệp, vùng kinh tế trọng điểm, ưu tiên đầu tư hệ thống kho bãi với đầy dủ trang thiết bị hiện đại Song song với đó là phát triển hệ thống hạ tầng giao thông đồng bộ, cả về đường bộ, đường biển, đường thủy, đường hàng không, hình thành một chuỗi dịch vụ logistics theo mô hình một cửa (One-stop)

Áp dụng công nghệ thông tin cũng là nhân tố quan trọng và không thể thiếu

để có thể phát triển một hệ thống logistics mạnh Việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động logistics có thể giúp các công ty giao sản phẩm theo yêu cầu của khách hàng và cung cấp các dịch vụ gia tăng Ngoài ra, việc ứng dụng công nghệ thông tin còn giúp tiết kiệm được thời gian, đảm bảo thông tin thông suốt không chỉ giữa các hãng tàu mà còn giữa các cơ quan quản lý, giảm thiểu tổn thất trong quá trình lưu kho và thời gian lưu kho, nhằm đơn giản hóa trong việc tiến hành các thủ tục hành chính liên quan đến hoạt động xuất nhập khẩu, thông quan, trung chuyển và giao nhận hàng hóa

Tiếp theo, theo kinh nghiệm của các quốc gia đã nghiên cứu, các chính sách

ưu đãi tập trung vào việc tạo thuận lợi trong thủ tục hải quan và hoạt động đầu tư, thương mại Thu hút các công ty Logistics lớn trên thế giới đặt chi nhánh hoặc trụ

sở bằng các chính sách ưu đãi về thuế, về hoạt động vận chuyển hàng hóa làm gia tăng số lượng vốn đầu tư nước ngoài và quan trọng hơn là kinh nghiệm và sự tham gia môi trường quốc tế của các nhà điều hành dịch vụ Logistics Do đó, Việt Nam cần khuyến khích các công ty trong nước liên doanh với các hãng nước ngoài nhằm thiết lập hệ thống dịch vụ logistics toàn cầu Phát huy những sáng kiến, kinh nghiệm nhằm thu hút các công ty dịch vụ logistics cũng như các nhà sản xuất, kinh doanh nước ngoài đầu tư vào kinh doanh lĩnh vực dịch vụ logistics tại Việt Nam Tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho dịch vụ logistics cảng như đẩy nhanh tiến trình giảm thuế nhập khẩu, ưu đãi thuế, hỗ trợ tài chính và đào tạo nguồn nhân lực nhằm tăng cường năng lực cung cấp dịch vụ và khả năng cạnh tranh của dịch vụ logistics Việt Nam so với thế giới

Ngày đăng: 31/08/2016, 10:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w