LỜI MỞ ĐẦU Tư tưởng giải thoát là tư tưởng chủ đạo và xuyên suốt trong tiến trình lịch sử hình thành và phát triển của triết học Ấn Độ cổ đại. Các trường phái triết học Ấn độ nói chung tuy muôn màu muôn vẻ với những khuynh hướng khác nhau, nhưng hầu như đều tập trung vào lý giải một vấn đề then chốt nhất, đó là vấn đề bản chất, ý nghĩa của đời sống, nguồn gốc nỗi khổ đau của con người và con đường, cách thức giải thoát cho con người khỏi bể trầm luân của cuộc đời. Hướng đến việc giải thoát luôn là mục đích, nhiệm vụ tối cao của các trường phái triết học tôn giáo Ấn độ. Phương Tây cũng có những tôn giáo hay triết học mang đậm tư tưởng giải thoát. Điển hình là các nhà triết học Hy lạp như Pythagoras và Platon. Trong số các tư tưởng gia người Đức cũng có rất nhiều người chủ trương giải thoát. Nói tóm lại, tư tưởng giải thoát và yêu cầu giải thoát ta có thể thấy nó biểu hiện dưới nhiều hình thái và khắp nơi trên thế giới, nhưng nếu muốn tìm đến chỗ xuất phát của tư tưởng giải thoát thì ta không thể không tìm đến Ấn Độ. Từ thời triết học Upanishad trở đi, tất cả tư tưởng Ấn Độ, không những chỉ đứng trên lập trường giải thoát chủ nghĩa mà còn tận tâm tận lực phấn đấu để giải thoát, ta có thể nói điều đó ngoài Ấn Độ ra ta không thể tìm thấy ở một nơi nào khác. Ta không thể hiểu rõ chủ tư tưởng giải thoát của triết học trên phạm vi toàn thế giới nếu không tìm hiểu tư tưởng giải thoát trong triết học Ấn Độ. Với mục đích đi tìm hiểu tư tưởng giải thoát trong Triết học Ấn Độ không phải chỉ để mở rộng kiến thức, mà cái chính là qua đó tìm ra thái độ sống dứt khoát hơn, tích cực hơn để soi sáng cho chính bản thân trong mọi suy nghĩ, lời nói và hành động trong một xã hội vô minh mà trong đó không biết đâu thực sự là đúng sai, phải trái hiện nay. Để từ đó tạo tiền đề có những khảo sát, nghiên cứu chuyên sâu hơn từ đó biết mình phải làm gì để giải thoát chính bản thân và cao hơn là giải thoát con người khỏi sự kìm hãm và bao vây của sự ngu muội và bể khổ trầm luân của cuộc đời. Đây là một vấn đề lớn có thể dài hàng trăm trang, nhưng trong phạm vi hẹp của một tiểu luận, người viết sẽ tiến hành 2 nhiệm vụ chính: vạch ra hoàn cảnh lịch sử căn nguyên dẫn tới hình thành và phát triển tư tưởng giải thoát trong mọi trường phái triết học Ấn Độ và phân tích tư tưởng giải thoát trong những trường phái đó với hy vọng đây sẽ là tư liệu tham khảo có ích cho đối tượng có nhu cầu nghiên cứu về triết học Ấn Độ nói chung và tư tưởng giải thoát trong triết học nói riêng.
Trang 1Môn: Triết học
Hà Nội, tháng 2 năm 2014
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: SỰ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG GIẢI THOÁT 3
1.1 Sự hình thành và phát triển triết học Ấn Độ cổ đại 3
1.2 Căn nguyên dẫn tới sự hình thành tư tưởng giải thoát 4
CHƯƠNG II: NỘI DUNG TƯ TƯỞNG GIẢI THOÁT Ở TỪNG THỜI KỲ 7
2.1 Tư tưởng giải thoát thời kỳ Veda 7
2.2.1 Tư tưởng giải thoát trong kinh Veda 7
2.2.2 Tư tưởng giải thoát trong kinh Upanishad 8
2.2 Tư tưởng giải thoát thời kỳ Phật giáo - Balamon 10
2.2.1 Tư tưởng giải thoát trong các trường phái triết học chính thống 10
2.2.2 Tư tưởng giải thoát trong các trường phái triết học không chính thống Phật giáo 17
KẾT LUẬN 22
TÀI LIỆU THAM KHẢO 24
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Tư tưởng giải thoát là tư tưởng chủ đạo và xuyên suốt trong tiến trình lịch sửhình thành và phát triển của triết học Ấn Độ cổ đại Các trường phái triết học Ấn độnói chung tuy muôn màu muôn vẻ với những khuynh hướng khác nhau, nhưng hầunhư đều tập trung vào lý giải một vấn đề then chốt nhất, đó là vấn đề bản chất, ýnghĩa của đời sống, nguồn gốc nỗi khổ đau của con người và con đường, cách thứcgiải thoát cho con người khỏi bể trầm luân của cuộc đời Hướng đến việc giải thoátluôn là mục đích, nhiệm vụ tối cao của các trường phái triết học tôn giáo Ấn độ
Phương Tây cũng có những tôn giáo hay triết học mang đậm tư tưởng giảithoát Điển hình là các nhà triết học Hy lạp như Pythagoras và Platon Trong số các
tư tưởng gia người Đức cũng có rất nhiều người chủ trương giải thoát Nói tóm lại,
tư tưởng giải thoát và yêu cầu giải thoát ta có thể thấy nó biểu hiện dưới nhiều hìnhthái và khắp nơi trên thế giới, nhưng nếu muốn tìm đến chỗ xuất phát của tư tưởnggiải thoát thì ta không thể không tìm đến Ấn Độ Từ thời triết học Upanishad trở đi,tất cả tư tưởng Ấn Độ, không những chỉ đứng trên lập trường giải thoát chủ nghĩa
mà còn tận tâm tận lực phấn đấu để giải thoát, ta có thể nói điều đó ngoài Ấn Độ ra
ta không thể tìm thấy ở một nơi nào khác Ta không thể hiểu rõ chủ tư tưởng giảithoát của triết học trên phạm vi toàn thế giới nếu không tìm hiểu tư tưởng giải thoáttrong triết học Ấn Độ
Với mục đích đi tìm hiểu tư tưởng giải thoát trong Triết học Ấn Độ khôngphải chỉ để mở rộng kiến thức, mà cái chính là qua đó tìm ra thái độ sống dứt khoáthơn, tích cực hơn để soi sáng cho chính bản thân trong mọi suy nghĩ, lời nói vàhành động trong một xã hội vô minh mà trong đó không biết đâu thực sự là đúngsai, phải trái hiện nay Để từ đó tạo tiền đề có những khảo sát, nghiên cứu chuyênsâu hơn từ đó biết mình phải làm gì để giải thoát chính bản thân và cao hơn là giảithoát con người khỏi sự kìm hãm và bao vây của sự ngu muội và bể khổ trầm luâncủa cuộc đời Đây là một vấn đề lớn có thể dài hàng trăm trang, nhưng trong phạm
Trang 4vi hẹp của một tiểu luận, người viết sẽ tiến hành 2 nhiệm vụ chính: vạch ra hoàncảnh lịch sử - căn nguyên dẫn tới hình thành và phát triển tư tưởng giải thoát trongmọi trường phái triết học Ấn Độ và phân tích tư tưởng giải thoát trong nhữngtrường phái đó với hy vọng đây sẽ là tư liệu tham khảo có ích cho đối tượng có nhucầu nghiên cứu về triết học Ấn Độ nói chung và tư tưởng giải thoát trong triết họcnói riêng.
Trang 5có điều kiện tự nhiên, địa lý hết sức đa dạng nhưng cũng vô cùng khắc nghiệt Đó
là một bán đảo mênh mông, vừa có núi cao, đại dương, vừa có đồng bằng, nhữngcao nguyên và cả sa mạc Chính sự mạnh mẽ và khắc nghiệt của thiên nhiên đã tácđộng lâu dài đến sinh hoạt vật chất và sinh hoạt tinh thần, đến phong tục tập quán,đặc biệt là tư duy độc đáo vừa trìu tượng vừa vừa cao siêu của người Ấn Độ Bêncạnh đó, tư tưởng triết học Ấn Độ cổ đại cũng chịu sự chi phối sâu sắc của của chế
độ xã hội nô lệ mang đậm tính chất gia trưởng và chế độ công xã nông thôn –không chỉ là một đơn vị kinh tế độc lập mà còn là đơn vị hành chính có quyền tự trịrất lớn, nhà nước hầu như không can thiệp được vào nội bộ của công xã Mác đãtừng nói về công xã nông thôn như sau: “…những công xã ấy đã hạn chế lý trí củacon nguồi trong một khuôn khổ chật hẹp nhất, làm cho nó trở thành một công cụngoan ngoãn của mê tín, trói buộc nó bằng những xiềng xích nô lệ của các quy tắc
cổ truyền…” Bên cạnh công xã nông thôn, Ân Độ có sư phân chia đẳng cấp hếtsức nghiệt ngã, trở thành gánh nặng đè nặng lên vai tất cả người dân Ấn Độ cổ đại,khiến cuộc sống của họ vô cùng vất vả Đó không chỉ góp phần quy định cơ cấu,trật tự xã hội Ấn Độ mà còn ảnh hưởng sâu sắc đến nội dung và tính chất các quanđiểm triết học Ấn Độ cổ đại Bên cạnh những xung đột ngầm trong xã hội bị kìmgiữ bởi sức mạnh vật chất và tinh thần của nhà nước – tôn giáo, nhân dân Ấn Độvẫn đạt được những thành tựu văn hóa tinh thần khá rực rỡ
Về văn hóa, chữ viết đã được người Ấn Độ sáng tạo từ thời văn hóaHaráppa, sau đó chữ Kharosthi (thế kỷ V-TCN) ra đời; chữ Brami được dùng rộng
Trang 6rãi vào thời vua Axôca, sau cùng, nó được cách tân thành chữ Đêvanagari để viếttiếng Sanscrit Thành tựu nổi bật nhất của văn học gồm có các bộ sử thi như Veda,Mahabarata, Ramayana… Nghệ thuật tạo hình như kiến trúc, điêu khắc được thểhiện trong các cung điện, đền chùa, tháp, lăng tẩm, trụ đá, các tượng phật và tượngthần… đã tạo ra một nền điêu khắc và kiến trúc độc đáo và đặc biệt là luôn gắn vớinhững tư tưởng triết lý Ấn Độ cổ đại.
Về khoa học tự nhiên, người Ấn Độ đã làm ra lịch pháp, phân biệt được 5hành tinh và một số chòm sao; đã phát hiện ra chữ số thập phân, số , xây dựngmôn đại số học; đã biết cách tính diện tích các hình đơn giản và xác định đượcquan hệ giữa các cạnh của một tam giác vuông; đã đưa ra giả thuyết nguyên tử…Người An Độ cũng có nhiều thành tựu trong y dược học
Về tôn giáo Ấn Độ là nơi sản sinh ra nhiều tôn giáo, trong đó quan trọngnhất là đạo Bàlamôn (về sau là đạo Hinđu) và đạo Phật; ngoài ra còn có các tôngiáo khác như đạo Jaina, đạo Xích…
Tất cả những điều kiện tự nhiên, kinh tế, chính trị và văn hóa xã hội cùng sựphát triển rực rỡ của nền văn hóa và khoa học Ấn Độ cổ đại thực sự là nhưng tiền
đề quan trọng cho quá trình hình thành và phát triển của triết học Ấn Độ cổ đại
Theo cách chia truyền thống từ thời trung cổ của người Ấn Độ, có thể chiaquá trình hình thành và phát triển của triết học Ấn Độ cổ đại thành 2 thời kỳ:
1 Thời Veda – Sử thi (TK XV-TCN đến TK VII-TCN)
2 Thời Phật giáo – Balamon giáo
1.2 Căn nguyên dẫn tới sự hình thành tư tưởng giải thoát
Dân cư Ấn Độ sống rải rác ở khắp lãnh thổ của đất nước, tập trung thànhnhững trung tâm nhỏ nhờ vào mối liên hệ có tính chất gia trưởng giữa lao độngnông nghiệp và lao động thủ công nghiệp đã hình thành một chế độ xã hội đặc biệt:chế độ công xã nông thôn Nền kinh tế của công xã nông thôn mang tính chất tựcấp tự túc, từ đó đời sống xã hội phát triển hết sức trì trệ và chậm chạp Cùng với
Trang 7chế độ chiếm hữu nô lệ hình thành sau khi người Arya xâm nhập, chinh phục vàbiến những người bản địa Ấn Độ là Dravidian thành nô lệ của mình, tuy rằng chế
độ nô lệ ở Ấn Độ chưa phát triển thuần thục như ở các nền văn minh khác trên thếgiới nhưng sự bóc lột của chủ nô với nô lệ của chế độ công xã nông thôn cũng tànbạo, hà khắc không kém bất cứ chế độ chiếm hữu nô lệ nào trong lịch sử Nó hạnchế lý trí con người, biến con người thành công cụ, thành vật sở hữu ngoan ngoãncủa mê tín tôn giáo, cam chịu trước hoàn cảnh, trói buộc con người bằng xiềng xích
nô lệ
Xã hội Ấn Độ cổ đại không chỉ bị đè nặng bởi nỗi khổ do quan hệ bất công
và sự bóc lột hà khắc của giai cấp quý tộc, chủ nô đối với giai cấp nô lệ và những
kẻ tôi tớ mà còn bị bóp nghẹt bởi chế độ phân biệt chủng tộc, màu da, sắc tộc – chế
độ đẳng cấp hết sức nghiệt ngã Lúc đầu đó chỉ là sự phân biêt màu da, chủng tính,sắc tộc chủ yếu giữa người Arya và người Dravidian để thống trị người dân bản địa
và không bị thổ dân đồng hóa vì lấy người bản địa Sau đó, cùng với sự phát triểncủa xã hội, sự phân biệt được mở rộng về nghề nghiệp, tôn giáo, cấm kỵ hôn nhân,quan niệm về sự trong sạch và cả giao tiếp xã hội… tạo nên sự phân hóa xã hội sâusắc Chế độ phân biệt đẳng cấp luôn được giáo lý của đạo Balamon – tôn giáochính thống của xã hội Ấn Độ đương thời bảo vệ Triết lý tôn giáo Balamon lại lấychế độ phân biệt đẳng cấp làm nền tảng cho xã hội mình Chính vì thế chế độ phânbiệt đẳng cấp ở Ấn Độ rất chặt chẽ và khắc nghiệt Về sau những bộ luật của xã hội
Ấn Độ cổ cũng thừa nhận và bảo vệ cho hệ thống phân chỉa đẳng cấp này, đặt ranhững điều luật rất nghiêm ngặt, nhằm quy định quyền lợi và nghia vụ mỗi đẳngcấp mà đạo Balamon cho rằng đó là trật tự mang tính tiền định, theo ý chí của thầnthánh
Trang 8CHƯƠNG II NỘI DUNG TƯ TƯỞNG GIẢI THOÁT Ở TỪNG THỜI KỲ
Trạng thái giải thoát được mô tả bằng nhiều đặc tính khác Trước hết, giảithoát là vượt ra ngoài sự chi phối của thời gian, vì sống và chết là những hiện tượngtrong thời gian Giải thoát là trạng thái chân như, vượt lên trên mọi giới hạn củathời gian, không gian và hiện tượng Giải thoát là vượt ra ngoài sự chi phối của mọi
sự vật hiện tượng, vì giải thoát là tuyệt đối tự do, tất cả mọi hành động của bậc giảithoát, dù xấu dù tốt cũng đều là những hành động vô tư tưởng Nói cách khác, giảithoát là trạng thái tâm hồn tuyệt đối hạnh phúc vì không biết lo sợ buồn phiền,tuyệt đối sáng suốt vì là nền tảng của mọi sự hiểu biết
2.1 Tư tưởng giải thoát thời kỳ Veda
Ở thời kỳ này, toàn bộ sinh hoạt xã hội, đời sống vật chất và tinh thần củangười dân Ấn Độ đều được thể hiện và phản ánh tập trung trong các bộ kinh Veda
và sau đó là các bộ sử thi anh hùng ca như Ramayana, Mahabrata… Kinh Veda củathời kỳ này mặc dù được coi là nặng về tôn giáo, nhẹ về triết lý nhưng kinh nhưnglại được coi là khởi nguyên của tất cả các hệ thống tư tưởng tư tưởng và tôn giáochính thống của Ấn Độ cổ đại
2.2.1 Tư tưởng giải thoát trong kinh Veda
Thực ra, Veda không do một nhân vật nào sáng tác, mà đó là một bộ sáchbao gồm nhiều câu da cao, bài thơ phú nói về sự giàu đẹp, hùng vĩ của thiên nhiên
Ấn Độ, những tập tục, nghi lễ và các bài thánh ca cầu nguyện các đấng thần linh…của người Arya Với những hiện tượng tự nhiên và xã hội ẩn dấu những điều bí ẩn,tuy là cái nôi sinh trưởng của con người nhưng lại luôn gây ra cho họ những taihọa, bất trắc khôn lường Do vậy người Ấn Độ cổ đại đã tạo nên một thế giới các vịthần có tính chất tự nhiên nhằm giải thích các hiện tượng tự nhiên phong phú, phứctạp của hiện thực Các vị thần đầu tiên xuất hiện trong các kinh Veda đều tượngtrưng cho sức mạnh của các lực lượng, các sự vật tự nhiên mà người Ấn Độ thờ
Trang 9phụng như trời, đất, mặt trời, mặt trăng, lửa, nước, gió mưa, rạng đông… Về sau,người Ấn Độ lại tạo ra nhiều biểu tượng các vị thần mới để lý giải các hiện tượngtrong lĩnh vực đạo đức, luân lý xã hội như thần ác, thần thiện, pháp thần, thần công
lý Họ say mê gửi gắm tâm hồn, cuộc sống tự nhiên của mình vào thế giới các vịthần linh Họ rất sùng thượng, tín ngưỡng, cầu nguyện và hiến tế để cầu xin sự trợgiúp của các thần linh mong cầu sự giải thoát khỏi biển khổ trầm luân của cuộc đờitrong kiếp nhân sinh Nghĩa là cách thức và con đường giải thoát được đề ra trongkinh Veda là thông qua việc tế tự, tôn thờ và cầu xin sự phù hộ của các đấng thầnlinh biểu tượng cho sức mạnh của tự nhiên và xã hội
2.2.2 Tư tưởng giải thoát trong kinh Upanishad
Là một trong những kinh quan trọng nhất của bộ kinh Veda, kinh Upanishadxuất hiện và phát triển vào khoảng thế kỷ VIII-TCN đến TK V-TCN, là tập hợpnhững lời bình chú tôn giáo triết học về các lẽ thiết yếu và ý nghĩa triết lý sâu xacủa các bài kinh cũng như thần thoại Veda Sự xuất hiện của Upanishad đánh dấubước chuyển quan trọng từ thế giới quan thần thoại tôn giáo sang tư tưởng duy triếthọc, từ tôn giáo đa thần sang nhất thần trong buổi đầu hình thành tư tưởng triết lý
Ấn Độ Nếu như các kinh Veda thiên về các con đường thờ phụng cầu xin sự phù
hộ và ban ơn của các đấng thần linh thì kinh Upanishad lại nhằm mục đích lý giảivấn đề bản thể vũ trụ, thực chất bản tính con người và mối quan hệ giữa đời sốngtinh thần của con người với sự sống bất diệt của vũ trụ, từ đó chỉ ra con đường,cách thức giải thoát con người khỏi sự ràng buộc của thế giới sự vật TheoUpanishad, giải thoát có các đặc tính: giải thoát là sự vươn ra ngoài sự chi phối củathời gian; giải thoát vượt qua mọi ảo tưởng, nhận thức được bản thể vũ trụ tuyệt đốitối cao và chân bản tính của con người; giải thoát thoát là trạng thái tự do tuyệt đối,vượt qua quan niệm sống chết, còn mất, tha ngã, thoát khỏi sự chi phối của nghiệpbáo luân hồi Giải thoát chia làm 3 giai đoạn: Giai đoạn thứ nhất là việc đi tìm giảithoát, nhưng giải thoát phải tìm ở tự nơi mình, không phải là tìm ở bên ngoài, cho
Trang 10nên nhân của giải thoát là tự giác, nhân của luân hồi là bất giác; Giai đoạn thứ hai,muốn thoát luân hồi cần phải an trụ cái bản tính, và bồi dưỡng phần trí tuệ; Giaiđoạn thứ ba, phải noi theo phương pháp tu trì để mong phát minh trực quán trí, tức
là phép tu Yoga Theo thứ tự như thế mà tu, dần dần chân ngã sẽ toàn hiện, tới lúcchân ngã toàn hiện, thì Atman (hơi thở, linh hồn, bản thể chính yếu trong conngười) trở thành Brahman (thực tại có trước nhất và là thực tại duy nhất, tuyệt đối,tối cao vĩnh viễn…, là bản chất của tất cả, xâm nhập và bao hàm tất cả, ở ngoài giớihạn của không gian và thời gian), tức là giải thoát, chấm dứt luân hồi Để nhận thứcđược bản thể tuyệt đối tối cao của vũ trụ, Upanishad đã phân chia sự nhận thức củacon người thành hai trình độ hiểu biết khác nhau: trình độ nhận thức ở bậc hạ trí (sựphản ánh thế giới sự vật hiện tượng cụ thể, hữu hình) và bậc thượng trí (“cái biết
mà nhờ đó người ta biết được cái gì chưa biết mà cũng như học rồi, chưa nghĩ màcũng như đã nghĩ rồi, chưa từng hiểu mà như cũng đã hiểu rồi”) Khi hiểu biết đượcthực tại tuyệt đối tối cao, nhận thức được thực tướng của vạn vật và bản tính củamình, con nguồi có thế đạt tới giác ngộ và giải thoát Trả lời cho câu hỏi: “Cái gì làthực tại đầu tiên tối cao duy nhất, là căn nguyên của tất cả mà khi nhận thức được
nó, người ta sẽ biết cả vũ trụ, và có thể giải thoát được linh hồn con người khói nỗikhổ của cuộc đời”, Upanishad giải đáp rằng: đó là “tinh thần vũ trụ tối cao”Bradman Bradman cũng chính là Atman Atman không tự nhiên sinh ra cũngkhông tự nhiên mất đi, Atman nhỏ hơn cái nhỏ nhất, lớn hơn cái lớn nhất, là cáitiềm ẩn trong lòng tất cả mọi chúng sinh Vì Atman là đồng nhất với Bradman nên
về bản chất linh hồn tồn tại vĩnh viễn Nhưng do linh hồn tồn tại trong thể xác conngười nên con người ta cứ lầm tưởng cho rằng linh hồn là cái tách biệt với tinh thần
vũ trụ tối cao, là cái của con người, do con người Vì vậy, mọi hành động suy nghĩlời nói… đều nhằm thỏa mãn mọi ham muốn của con người trong đời sống trần tục
đã che lấp đi bản tính chân thực của con người đó, gây nên những hậu quả, giamhãm và rằng buộc linh hồn bất tử đầu thai vào hết thân xác này đến thân xác khác,
Trang 11từ kiếp này sang kiếp khác, gọi là luân hồi (samsara) Kinh Upanishad cho rằngmuốn giải thoát linh hồn bất tử khỏi vòng nghiệp báo luôn hồi cần đưa linh hồn cábiệt vốn là cái thể hiện của linh hồn tối cao trở về đồng nhất với linh hồn tối cao,tức là con người phải toàn tâm toàn ý, dốc lòng tu luyện đọa đức và trí tuệ, nhận rachính bản tính của mình và thực tại của vũ trị vạn vật, đạt tới mức giác ngộ và giảithoát Tu luyện đạo đức là hành động theo đúng bổn phận tự nhiên, không tính toán
vụ lợi, diệt mọi dục vọng, vượt ra khỏi sự ràng buộc của thế giới đẩy rẫy những dụcvọng vô thường này Tu luyện trí tuệ là quá trình dầy công thiền định, dốc lòng suy
tư chiêm nghiệm nội tâm, bằng tri giác trực tiếp, trực cảm, linh cảm mới đạt đượcchân lý tối thượng, hòa nhập vào bản thể vũ trụ tuyệt đối, tối cao, an lạc và thanhtịnh Các phương pháp như karma-yoga và jana-yoga đều là những phương phápnhận thức để đạt tới sự giác ngộ và giải thoát
2.2 Tư tưởng giải thoát thời kỳ Phật giáo - Balamon
2.2.1 Tư tưởng giải thoát trong các trường phái triết học chính thống
Trường phái triết học Samkhya do nhà thông thái Kapila sáng lập vào
khoảng thế kỷ thứ VII-TCN là trường phái nhị nguyên luận, tức là thừa nhận sự tồntại của vật chất lẫn sự tồn tại của linh hồn Điểm khác biệt của trường phái này sovới quan điểm truyền thống là họ cho rằng thế giới không do Thượng Đế sáng tạo,vạn vật có được là do nguyên thể vật chất đầu tiên Prakriti sinh ra
Nếu Prakriti được xem là bản nguyên của vạn vật, thì Purusha được xem làbản nguyên của tinh thần Hai bản nguyên Prakriti và Purusha tuy tồn tại độc lậpnhưng lại có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Purusha không hoạt động nhưng lại làyếu tố cần thiết, làm chất xúc tác cho Prakriti Còn Prakriti hàm chứa nguyên nhâncho cơ năng để tạo nên vật chất, cơ năng đó chính là sự liên kết, tương tác giữa batính chất: Sattva (thuần chất), Rajas ( kích chất) và tamas (ế chất) Nhưng khi có sựquan chiếu của Purusha thì trước tiên phần kích chất tự phá vỡ ra ngoài trạng tháitĩnh, tiếp theo là yếu tố thuần chất và cuối cùng là ế chất, lúc ấy vạn vật mới được
Trang 12hình thành, trong đó có con người Do sự tác động qua lại của ba tính chất khi phá
vỡ trạng thái tĩnh thì đầu tiên prakriti sinh ra tri năng tức khả năng tri giác, khảnăng này cũng tự biến hóa sinh ra năm cơ năng (thị năng, thính năng, khứu năng, vịnăng và xúc năng) và ý thức (cảm quan thứ sáu) Từ cơ năng hình thành năm giácquan (mắt, tai, mũi, lưỡi và da) và năm cơ quan (cuống họng, bàn tay, bàn chân, cơquan bài tiết và cơ quan sinh dục) của con người Cơ thể con người trở nên trọn vẹn
và cũng bắt đầu có sự “chấp ngã”, tức là con người cho rằng: cái này là ta; Cái này
là của ta; Cái này là tự ngã của ta Chính sự chấp ngã này đã khiến con người đi lạc
ra ngoài phạm vi của bản tính và cũng vì thế mà con người bị kìm hãm, bị trói buộcvào nghiệp, và bị chìm ngập trong biển sanh tử luân hồi chứ không phải Purusha bịluân hồi sinh tử Phái Samkhya cho rằng, chính sự khác biệt về linh hồn trong mỗi
cá thể nên dẫn đến mỗi người có ý nghĩ và hành động cũng như lời nói khác nhaudẫn đến nghiệp - Karman khác nhau Vì vậy, muốn giải thoát thân-linh hồn khỏiluân hồi sanh tử thì con người phải dốc lòng, quyết tâm tẩy sạch hết dơ bẩn, tức làđoạn trừ tất cả nghiệp để tinh thần trở nên trong sạch, trở về với tự tính bất sinh, bấtdiệt, trường tồn và bất biến Nhưng muốn đắc quả giải thoát, theo Kapila thì conngười phải: Hiểu được hai mươi lăm thực thể thì được giải thoát mà được giải thoát
là biết được cái trí duy nhất chân chính Cái trí duy nhất chân chính ấy là trí nội tại,
là phần anh minh của tinh thần thuần túy chứ không phải là trí thức thông thường
Và khi giải phóng linh hồn khỏi thể xác thì lúc đó tất cả chỉ là tinh thần, là trí thôngminh trong sáng và tuyệt vời, trong sáng và tuyệt vời đến mức không còn khái niệm
cá thể nữa, tức là biết được rằng không có “ta”, không có cái gì thuộc về ta cả”
Bên cạnh việc hiểu được hai mươi lăm thực thể thì Yoga là phương pháp hổtrợ cho trí nội tại hoàn thành sứ mạng giải thoát cho vi tế thân Đó là phương pháp
mà những người theo phái Sankhya cần phải thực hành nếu muốn giải thoát
Trường phái triết học Yoga do đạo sĩ Patanjali sáng lập vào khoảng năm
150-TCN Yoga theo nghĩa đen là “sự đoàn kết” có nghĩa là sự đoàn kết tinh thần