1. Tính cấp thiết của đề tài Thế giới đã biết đến các nhà lãnh đạo quân sự tài ba của Việt Nam. Một số trong họ đã được ghi vào bộ sử biên niên các nhà quân sự nổi tiếng thế giới như Trần Quốc Tuấn, Nguyễn Huệ, Võ Nguyên Giáp… Không chỉ đánh giặc giỏi mà người Việt Nam còn đóng góp cho nhân loại nhiều nhà tư tưởng, nhiều nhà văn hoá lớn tầm cỡ thế giới. Và không phải ngẫu nhiên mà UNESCO, khi liệt kê các nhà văn hoá lớn của thế giới, đã phải dành chỗ để ghi tên tuổi của các nhà tư tưởng lớn của Việt Nam như Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Chí Minh. Lịch sử dân tộc ta thật là vĩ đại, cho nên việc “…tiếp tục khai thác, nghiên cứu sâu hơn, tổng kết khoa học hơn di sản tư tưởng, trước hết là tư tưởng triết học của ông cha ta, chỉ ra cho được những giá trị lâu bền trong di sản đó, cố gắng tìm trong đó bản sắc, những khía cạnh độc đáo cần kế thừâ và phát triển, giải thích cho được cái làm nên bản sắc dân tộc đó.. Mặt khác, cũng chính việc tổng kết di sản này, rút ra những bài học, những kinh nghiệm của quá khứ sẽ góp phần không nhỏ cho công cuộc xây dựng và phát triển mọi mặt đất nước hiện nay và sắp tới”. Tư tưởng của Nguyễn Trãi là một trong những đóng góp lớn cho di sản vĩ đại đó, đáng để cho chúng ta khai thác, nghiên cứu. Giới lý luận và những người quan tâm đến chính trị thế giới đã từng biết đến một khái niệm dân tộc nổi tiếng mang tính phổ quát, lần đầu tiên đợc Stalin ra trong tác phẩm “Chủ nghĩa Mác và vấn đề dân tộc”, song điều mà các học giả thế giới ít biến đến là, người đầu tiên trong lịch sử thế giới cố gắng tìm kiếm và đã đưa ra được một ý nghĩa dân tộc “tương đối có hệ thống và toàn diện” lại là một người Việt Nam. Đó chính là Nguyễn Trãi, nhà văn hoá lớn đã được thế giới công nhận và xếp hạng. Trong tập kỷ yếu “Kỷ niệm 600 năm sinh Nguyễn Trãi”, nhiều tác giả đã chỉ ra rằng Nguyễn Trãi là nhà quân sự, chính trị, ngoại giao… nhà văn hoá lớn. Cống hiến của Nguyễn TRãi đã được một số tác giả nói tới. Chẳng hạn, theo Giáo sư Nguyễn Tài Thu, Nguyễn Trãi “đã đề cập tới các yếu tố hình thành phát triển mà khoa học chính trị của thế kỉ XX này ít nhiều phải nhắc tới”. Theo Giáo sư Trần Văn Giàu, “dân tộc có gần 5 thế kỷ độc lập lâu dài từ thời Ngô Quyền năm 938 đến đầu thế kỷ XIV. Chính là 5 thế kỷ này, dân tộc Việt Nam (theo ý nghĩa khoa học tiến bộ nhất của k hái niệm dân tộc) được hình thành chỉ còn đợi điều kiện để hoàn chỉnh. Đó là sự tham gia tích cực, bền bỉ cuả quảng đại nhân dân vào việc cứu nước và dựng nước. Điều kiện đó đã xuất hiện với cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. Lãnh thổ chung, văn hoá chung, tập quán, nhất là lịch sử đấu tranh dựng nwocs và giữ nước, đủ làm ra thứ keo sơn kết thành một dân tộc, một quốc gia dân tộc bền vững ngay trong thời Trung đại phong kiến mà không phải chờ đến chủ nghĩa tư bản phát triển tạo thành một thị trường chung. Có đủ điều kiện cho sự hình thành dân tộc song ý thức một cách rõ rệt nhất, đầy đủ nhất về sự hình thành đó là cống hiến tinh thần của Nguyễn Trãi, người có trình độ văn hoá, có ý thức quốc học lớn.. Như vậy, các tác giả Việt Nam đã đề cập ít nhiều đến đóng góp về k hái niệm dân tộc của Nguyễn Trãi, song đáng tiếc là chưa có những bài chuyên sâu về vấn đề này. Bài viết nhỏ này không có tham vọng làm điều đó, mà chỉ dừng lại ở việc so sánh, đối chiếu quan nniệm về dân tộc của Nguyễn Trãi với các khái niệm về dân tộc có trước và sau Nguyễn Trãi để thấy được sự cống hiến của ông về vấn đề này, một sự đóng góp mang tầm cỡ thế giới, ở thế kỷ XV, mà thế giới ít biết đến.
Trang 1Phần mở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thế giới đã biết đến các nhà lãnh đạo quân sự tài ba của Việt Nam Một
số trong họ đã đợc ghi vào bộ sử biên niên các nhà quân sự nổi tiếng thế giới
nh Trần Quốc Tuấn, Nguyễn Huệ, Võ Nguyên Giáp… Không chỉ đánh giặcgiỏi mà ngời Việt Nam còn đóng góp cho nhân loại nhiều nhà t tởng, nhiều nhàvăn hoá lớn tầm cỡ thế giới Và không phải ngẫu nhiên mà UNESCO, khi liệt
kê các nhà văn hoá lớn của thế giới, đã phải dành chỗ để ghi tên tuổi của cácnhà t tởng lớn của Việt Nam nh Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Chí Minh Lịch
sử dân tộc ta thật là vĩ đại, cho nên việc “…tiếp tục khai thác, nghiên cứu sâuhơn, tổng kết khoa học hơn di sản t tởng, trớc hết là t tởng triết học của ông cha
ta, chỉ ra cho đợc những giá trị lâu bền trong di sản đó, cố gắng tìm trong đóbản sắc, những khía cạnh độc đáo cần kế thừâ và phát triển, giải thích cho đợccái làm nên bản sắc dân tộc đó Mặt khác, cũng chính việc tổng kết di sản này,rút ra những bài học, những kinh nghiệm của quá khứ sẽ góp phần không nhỏcho công cuộc xây dựng và phát triển mọi mặt đất nớc hiện nay và sắp tới” T t-ởng của Nguyễn Trãi là một trong những đóng góp lớn cho di sản vĩ đại đó,
đáng để cho chúng ta khai thác, nghiên cứu
Giới lý luận và những ngời quan tâm đến chính trị thế giới đã từng biết
đến một khái niệm dân tộc nổi tiếng mang tính phổ quát, lần đầu tiên đợcStalin ra trong tác phẩm “Chủ nghĩa Mác và vấn đề dân tộc”, song điều mà cáchọc giả thế giới ít biến đến là, ngời đầu tiên trong lịch sử thế giới cố gắng tìmkiếm và đã đa ra đợc một ý nghĩa dân tộc “tơng đối có hệ thống và toàn diện”lại là một ngời Việt Nam Đó chính là Nguyễn Trãi, nhà văn hoá lớn đã đợcthế giới công nhận và xếp hạng
Trong tập kỷ yếu “Kỷ niệm 600 năm sinh Nguyễn Trãi”, nhiều tác giả
đã chỉ ra rằng Nguyễn Trãi là nhà quân sự, chính trị, ngoại giao… nhà văn hoálớn Cống hiến của Nguyễn TRãi đã đợc một số tác giả nói tới Chẳng hạn,theo Giáo s Nguyễn Tài Thu, Nguyễn Trãi “đã đề cập tới các yếu tố hình thànhphát triển mà khoa học chính trị của thế kỉ XX này ít nhiều phải nhắc tới”.Theo Giáo s Trần Văn Giàu, “dân tộc có gần 5 thế kỷ độc lập lâu dài từ thờiNgô Quyền năm 938 đến đầu thế kỷ XIV Chính là 5 thế kỷ này, dân tộc ViệtNam (theo ý nghĩa khoa học tiến bộ nhất của k hái niệm dân tộc) đợc hình
Trang 2thành chỉ còn đợi điều kiện để hoàn chỉnh Đó là sự tham gia tích cực, bền bỉcuả quảng đại nhân dân vào việc cứu nớc và dựng nớc Điều kiện đó đã xuấthiện với cuộc khởi nghĩa Lam Sơn Lãnh thổ chung, văn hoá chung, tập quán,nhất là lịch sử đấu tranh dựng nwocs và giữ nớc, đủ làm ra thứ keo sơn kếtthành một dân tộc, một quốc gia dân tộc bền vững ngay trong thời Trung đạiphong kiến mà không phải chờ đến chủ nghĩa t bản phát triển tạo thành mộtthị trờng chung Có đủ điều kiện cho sự hình thành dân tộc song ý thức mộtcách rõ rệt nhất, đầy đủ nhất về sự hình thành đó là cống hiến tinh thần củaNguyễn Trãi, ngời có trình độ văn hoá, có ý thức quốc học lớn
Nh vậy, các tác giả Việt Nam đã đề cập ít nhiều đến đóng góp về k háiniệm dân tộc của Nguyễn Trãi, song đáng tiếc là cha có những bài chuyên sâu
về vấn đề này Bài viết nhỏ này không có tham vọng làm điều đó, mà chỉ dừnglại ở việc so sánh, đối chiếu quan nniệm về dân tộc của Nguyễn Trãi với cáckhái niệm về dân tộc có trớc và sau Nguyễn Trãi để thấy đợc sự cống hiến của
ông về vấn đề này, một sự đóng góp mang tầm cỡ thế giới, ở thế kỷ XV, màthế giới ít biết đến
2 Phạm vi đề tài
Đề tài xoay quanh quan niệm “dân tộc” trong t tởng chính trị củaNguyễn Trãi
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài đợc trình bày không nằm ngoài mục đích giới thiệu với nhữngngời quan tâm đến lĩnh vực chính trị một khía cạnh trong lĩnh vực chính trị
Với mong muốn so sánh, đối chiếu quan niệm về “dân tộc” của NguyễnTrãi với các quan niệm về dân tộc có trớc và sau Nguyễn Trãi đê thấy đợc sựcống hiến của ông cho đất nớc, một sự đóng góp mang tầm cỡ thế giới ở thế
kỷ XV, mà thế giới ít biết đến
4 Phơng pháp nghiên cứu.
Để tạo nên sự phong phú, sâu sắc và tính chính xác cho tiểu luận tôi đãvận dụng một cách linh hoạt về lí luận chính trị học, đồng thời kết hợp ph ơngpháp duy vật biện chứng, phơng pháp logic lịch sử, phơng pháp phân tích…
5 Kết cấu của tiể luận.
Chơng I: Logic của quá trình hình thành và phát triển t tởng chính trịcủa Nguyễn Trãi
1 Đại Việt thế kỉ XIV – nửa đầu thế kỉ XV
2 Cuộc đời, thân thế, sự nghiệp
Chơng II: Quan niệm “dân tộc” trong t tởng chính trị của Nguyễn Trãi
Trang 31 Quốc gia dân tộc
2 Dân tộc - đồng nghĩa với t tởng ‘lấy dân làm gốc” của Hồ Chí Minh.Chơng III: Kế thừa và phát triển t tởng dân tộc trong lịch sử của lịch sửViệt Nam
Trang 4Nội dung
Ch ơng I:
Logic của quá trình hình thành và phát triển
t tởng chính trị của Nguyễn Trãi
1 Đại Việt thế kỉ XIV - đầu thế kỉ XV
1.1 Tình hình xã hội
a Sự sa đoạ của tầng lớp quý tộc cầm quyền
Những khó khăn do cuộc chiến tranh xâm lợc của đế chế Mông –Nguyên ở nửa sau thế kỉ XIII dần dần đợc khắc phục Xã hội Đại Việt trở lại
ổn định trong một thời gian Tầng lớp quý tộc nhân đó chuyển sang hoạt động
mở rộng điền trang, thái ấp, tăng thêm số lợng nông nô, nô tì, củng cố địa vịthống trị ở địa phơng mình
ở Trung ơng, đến thời vua Trần Dụ Tông (1341 – 1369), những hiện ợng suy thoái ngày càng tăng thêm Dụ Tông sai đào hố lớn ở vờn ngự, chất
t-đá làm núi, bốn mặt đào kênh thông với sông lớn để lấy nớc vào hồ, làm chỗvui chơi Sau đó, Dụ Tông còn sai ngời đào thêm một hố khác, bắt dân cáchuyện ở Hải Đông chở nớc mặn về chứa để nuôi các loại hải sản Bọn quan lạicũng nhân đó thả sức bắt quân dân xây dựng dinh thự, chùa chiền, nuôi conhát chơi bời Xuất hiện hàng loạt tên nịnh thần và việc triều chính bị chúnglũng đoạn Tự nghiệp Quốc tử giám là Chu An nhận thấy nguy cơ đó đã dâng
sớ xin chém 7 tên nịnh thần (sớ thất trảm) nhng Dụ Tông không nghe; ông đãxin trả ấn, từ quan Việc tranh bè kéo cánh trong hàng ngũ quý tộc đã dẫn đến
sự vu khống, giết hại lẫn nhau, thậm chí Tớng quốc Trần Quốc Chẩn cũng bịvạ lây Tình hình nội bộ rối loạn khiến các nớc nhỏ phía nam không còn thuầnphục nh trớc nữa Để lấy lại uy quyền, vua Trần đã nhiều lần đem quân “chinhphạt” Những năm 1334 – 1335, thợng hoàng Trần Minh Tông hai lần đemquân đi đánh Ai Lao ở mạn tây Nghệ An, có lúc bị thua to, đốc tớng ĐoànNhữ Hài bị giết Từ sau thất bại trong trận tấn công vào Chămpa năm 1318,nhà Trần không còn sức khống chế nớc này Tình hình các cùng đất phía nam,
đặc biệt là hai châu Ô, Lý (Thuận Hoá) mới đợc sáp nhập, luôn luôn mất ổn
định vì các cuộc quấy phá của quân Châmp Mãi đến năm 1352 – 1353, VuaTrần tăng thêm quân biên phòng ở đây, đa Trơng Hán Siêu vào điều giải, tìnhhình mới tạm ổn Những cuộc chiến tranh với Ai Lao, Chămpa đã buộc nhàTrần phải huy động nhiều của cải, lơng thực, binh lính, gây thêm hàng loạtkhó khăn cho nhân dân
Trang 5Năm 1369, Trần Dụ Tông chết không có con trai nối ngôi Bà Thái Hậu(vợ Trần Minh Tông) đa Nhật Lễ, con thứ của một đại vơng nhà Trần lên làmvua Nhật Lễ vốn là con của một ngời phờng chèo, họ Dơng, nên khi lên làmvua, “hàng ngày chỉ vui chơi”, “hoang dâm, rợu chè”, rắp tâm xoá họ Trầnthay bằng họ Dơng của mình, nên tìm cách giết hại các quý tộc cao cấp nhàTrần Thái Hậu biệt giết Tớng quốc Trần Nguyên Trác mu cùng 18 quý tộclật đổ Dơng Nhật Lễ cũng bị bắt giết hết Cả triều Trần hoang mang mãi mộtnăm sau mới cùng nhau hạ đợc Nhật Lễ, đa Trần Phủ lên, tức Trần NghệTông Nhà Trần suy, dòng họ Trần không còn có khả năng khôi phục uy tínngày xa của mình nữa
b Các cuộc khởi nghĩa của nông dân, nô tì
Từ đầu thế kỉ XIV, do mất mùa đói kém, nông dân đã phải bán vợ, báncon, bán minh làm nô tì cho các qúy tộc, địa chủ giàu có Bọn này nhân đóxâm chiếm hoặc mua rẻ ruộng đất, mở rộng điền trang, tăng thêm số ngời làm.Nhiều nhà chùa cũng trở thành chru đất lớn với rất nhiều điền nô Cùng vớitình trạng đó, các cuộc chiến tranh với Ai Lao, Chămpa lại buộc nông dânnghèo phải bỏ ruộng đồng Nhà nớc không còn sức quan tâm đến sản xuấtnông nghiệp, sửa đáp và bảo vệ đê điều, các công trình thuỷ lợi Trong nửa sauthế kỉ XIV đã có 9 lần vỡ đê, lụt lớn Có những năm vừa hạn vừa lụt nh năm
1348, 1355, 1393 v.v Hậu quả tất nhiên của thiên tai và chiến tranh là mấtmùa, đói kém Chỉ tính từ đầu thế kỉ XIV cho đến năm 1379 đã có hơn 10 nạn
đói lớn, dân nghèo phải bán cả nhà cửa, con cái, ruộng vờn Ngân quỹ trốngrỗng, Nhà nớc nhiều lần cho nhà giàu nộp tiền, thóc để nhận quan tớc nhngkhông giải quyết nổi nạno đối và thiếu thốn Năm 1378, vua Trần phải chấpthuận đề nghị của quan lại, buộc mỗi dân đinh phải đóng 3 quan tiền thuế
đinh hàng năm Tớng quốc triều Trần là TRần Nguyên Đán mới ngày nào đócòn vui mừng thốt lên “Triệu tính âu ca lạc thịnh thì” (nghĩa là Trăm họ mừng
ca cảnh thịnh giàu) thì nay đã buồn rầu viết nên mấy câu thơ:
Niên lai hạ hạn hựu thu lâm Hào cảo miêu hơng hại chuyển thâm Tam vạn quyển th vô dụng xứ Bạch đầu không phụ ái dân tâm (nghĩa là “Năm nay hè hạn, thu nớc to, Mạ thối lúa khô hại biết bao”)
Đọc sách triệu trang mà bất lực, Bạc đầu xin phụ nỗi thơng dân”
Còn thái học sinh Nguyễn Phi Khanh, vốn sống cùng nhân dân, thôngcảm với cuộc sống của nhân dân, trong th gửi cho cha, viết:
Trang 6Đạo huề thiên lí xích nh thiêu
Điền dã hu ta ý bất liêu
… Lại t võng cổ hồ da kiệt Dân mệnh cao chỉ bán dĩ tiêu…
(nghĩa là: Ruộng lúa ngàn dặm đỏ nh cháy, Đồng quê than vãn trông vào đâu
… Lới chài quan lại còn vơ vét, Máu thịt nhân dân cạn nửa rồi…)
Năm 1343, đại hạn, mất mùa, dân nghèo nổi dậy khắp nơi Năm 1344,dới lá cờ nghĩa của Ngô Bệ, nông dân đã nổi dậy ở vùng núi Yên Phụ (Hải D -
ơng) đánh phá nhà của bọn địa chủ, quan lại Khở nghĩa bị đàn áp nhng 14năm sau, năm 1357 – 1358 nghĩa quân Ngô Bệ lại bùng lên ở Yên Phụ, yếtbảng “chẩn cứu dân nghèo”, chống lại quân triều đình Nghĩa quân làm chủ cảmột vùng rộng lớn thuộc huyện Chí Linh, chiến đấu cho đến năm 1360 mới bị
đàn áp Cùng thời gian này, nhân nạn đói lớn năm 1354, một ngời tên là Tề tựxng là cháu ngoại của Trần Hng đạo, tụ tập các gia nô bỏ trốn, khởi nghĩa và
đánh phá cả vùng từ Lạng Giang (Bắc Giang) đến Nam Sách (Hải Dơng), gianô các nhà vơng hầu nhân đó, trốn khỏi điền trang ngày càng nhiều
Năm 1379, ở Thanh Hoá, Nguyễn Thanh tụ tập nông dân khởi nghĩa, tựxng là Linh đức vơng, hoạt động ở vùng Lơng Giang (sông Chu); Nguyễn Kỵcũng xng vơng hoạt động ở Nông Cống
Đầu năm 1390, nhà s Phạm S Ôn phất cờ khởi nghĩa ở Quốc Oai (HàTây) Nghĩa quân ngày càng đông, lực lợng ngày càng hùng hậu, đã kéo về
đánh kinh thành Thăng Long, Trần Nghệ Tông và Trần Thuận Tông phải bỏchạy sang Bắc Giang và cho gọi tớng Hoàng Phụng Thế đang chỉ huy quânchống cự quân Chămpa ở Hoàng Giang về đánh Nghĩa quân chiếm kinhthành trong 3 ngày rồi rút lên Quốc Oai, sau đó bị đàn áp
Năm 1399, cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Nhữ Cái nổ ra ở vùng Sơn Tây,Vĩnh Phúc, nhân Trần Thuận Tông bị giết Mãi đến đầu năm 1400, cuộc khởinghĩa mới bị dập tắt
Khởi nghĩa nông dân cuối thời Trần đã nói lên cuộc khủng hoảng suythoái của triều đại thống trị, những mâu thuẫn sâu sắc trong chế độ ruộng đất
và nông nghiệp đơng thời Các cuộc khởi nghĩa không chỉ lôi cuốn nông dânnghèo mà còn cả hàng loạt nông nô, nô tì ở các điền trang của vơng hậu, quýtộc
c Nguy cơ xâm lợc từ phơng Bắc
Trang 7Năm 1368, sau khi lật đổ nhà Nguyên, vua Minh Thái Tổ ổn định dầntình hình nội bộ Trung Quốc rồi bắt đầu sai quân lấn chiếm các nớc phơngNam Sự suy yếu của nhà Trần là điều kiện thuận lợi cho chúng thực hiện mu
đồ bành trớng của mình
Năm 1384, quân Minh đánh Vân Nam, bắt nhà Trần phải cung cấp lơngthực cho chúng Vua Trần buộc phải cho ngời vận chuyển 5000 thạch lơng lênnộp
Năm 1388, nhà Minh sai sứ sang đòi ta nộp các thứ quả ngon ngọt vàmợn đờng đi đánh Chămpa bằng cách bắt nhà Trần nộp 50 thớt voi, dặt nhàtrạm chứa sẵn lơng thảo cho quân của họ Nhng đây chỉ là một sự thăm dò
Năm 1395, nhân việc cử quân xuống Long Châu (Quảng Tây) đàn ápmột cuộc nổi dậy của tộc ngời thiểu số, nhà Minh vờ cho ngời sang ta xin giúp
50 con voi, 50 vạn hộc lơng Nhà Trần biết đợc điều đó nên chỉ cấp một ít
đó, những cuộc tấn công đánh phá của Chămpa lại liên tục diễn ra, dù cuốicùng bị đẩy lùi hẳn, đã làm cho cuộc sống của nhân dân thêm khổ cực, triềuchính thêm rối rèn, tài chính kiệt quệ Đã thế, Đại Việt lại đứng trớc nguy cơmột cuộc ngoại xâm ngày càng đến gần Bên trong khủng hoảng, giặc ngoài
đe doạ, đó là những tiền đề dẫn đến cuộc cải cách của Hồ Quý Ly
1.2 Cải cách của Hồ Quý Ly và nhà Hồ
a Cuộc đời hoạt động chính trị của Hồ Quý Ly
Năm 1371, sau khi củng cố cuộc địa vị thống trị của họ Trần NghệTông bắt đầu phong tớc cho những ngời có công ủng hộ mình và tổ chức lại
bộ máy Nhà nớc Một ngời cháu bên ngoại là Lê Quý Ly, đợc đa lên chức khumật đại sứ – một chức vụ quan trọng trong triều, trông coi cấm quân
Lê Quý Ly là cháu 4 đời của Hồ Liêm, dòng dõi Hồ Hng Dạt, ngờiChiết Giang, làm thái thú Diễn Châu vào đầu thế kỉ X Hồ Liêm di c ra ĐạiLại - Thanh Hoá rồi xin làm con nuôi của Tuyên uý Lê Huấn từ đó mang họ
Lê Quý Ly có hai ngời cô đều là vợ Trần Minh Tông và là mẹ của ba vua
Trang 8Trần Hiến Tông, Trần Nghệ Tông và Trần Duệ Tông, nhờ đó rất đợc TrầnNghệ Tông tin yêu.
Năm 1375, Quý Ly đợc giữ chức Tham mu quân sự, năm 1379 thángTiểu t không kiêm khu mật đại sứ và năm 1380, giữ chức nguyên nhung Hảitây đô thống chế Sau khi tham gia một số cuộc hành quân chống đánh quânChăm pa, tuy công không lớn nhng đến 1387 thì đợc Nghệ Tông nâng lênchức Đồng bình chơng sự, quyền nh tể tớng cùng vua bàn việc nớc Dựa vàochức quyền và sự tin yêu của thợng hoàng Nghệ Tông, Lê Quý Ly tìm cách đadần ngời trong họ và bè phái vào nắm các chức quan trọng trong tiều và trongquân đội
Năm 1388 vua Trần cùng thái uỷ Trần Ngạc mu giết Lê Quý Ly, chẳngmay việc bại lộ Quý Ly tâu việc đó với Nghệ Tông và dùng áp lực của NghệTông phế vua làm Linh đức vơng, đem giam ở chùa T Phúc rồi cho ngời giếtchết Năm 1391, Thái uỷ Trần Ngạc cùng một số quý tộc Trần bị Quý Ly giếtnốt Sự chuyên quyền của Quý Ly lên đến cao độ khiến Trần Nghệ Tông, bấygiờ đã gần kề cái chết, rất lo lắng, cho gọi Quý Ly vào cung dặn dò: “Nay thếnớc suy yếu sau khi ta chết rồi, quan gia (chỉ vua Trần) đánh giúp thì giúp,nếu là ngời hèn kém, ngu dốt thì ngơi tự lấy lấy nớc” Quý Ly rạp đầu khóc,khớc từ
Năm 1395, Thợng hoàng Trần Nghệ Tông mất Quý Ly đợc phongNhập nội phụ chính thái s bình chơng quân quốc trọng sự, tớc Tuyên trung vệquốc đại vơng Quyền hành hầu nh nằm hết trong tay Quý Ly
Năm 1397, Quý Ly cho xây kinh đô mới ở An Tôn (Vĩnh Lộc – ThanhHoá) rồi sau đó bắt vua dời vào ở đây, làm lên nhờng ngôi cho con (mới batuổi) tức Thiếu đế
Năm 1399, Quý Ly cho ngời giết Trần Thuận Tông (cha của Thiếu đế).Một số quý tộc, đại thần của nhà Trần bao gồm các tớng Trần Khát Chân,Trần Nguyên Hãn, Trụ quốc Trần Nhật Đôn, hành khiến Hà Đức Lân v.v tổchức cuộc mu sát Lê Quý Ly, chẳng may việc tiết lộ Tất cả bọn họ cùng thânthuộc cộng hơn 370 ngời đều bị giết, tịch thu gia sản, con gái bị bắt làm tì,con trai bị dìm chết hoặc chôn sống Việc bắt bớ diễn ra suốt mấy năm
Đầu năm 1400, không chần chứ đợc nữa, Quý Ly truất ngôi vua Trần,
tự lập làm vua, đặt niên hiệu là Thánh Nguyên, đổi sang họ Hồ và đổi quốchiệu là Đại Ngu Nhà Hồ thành lập
b Cuộc cải cách của Hồ Quý Ly
Trang 9Cùng với quá trình đi lên trên con đờng chính trị, Hồ Quý Ly từng bớcthực hiện những cải cách của mình
- Về chính trị: từ năm 1375, khi đợc giao chức tham mu quân sự, Quý
Ly đã đề nghị “chọn các quan viên, ngời nào có tài năng, luyện tập võ nghệ,thông hiểu thao lợc thì không cứ là tôn thất, đều làm cho tớng coi quân”
Năm 1397, Quý Ly cho đổi trấn Thanh Ghoá làm trấn Thanh Đô, trấnQuốc Oai làm trấn Quảng Oai, trấn Đà Giang làm trấn Thiên Hng, trấn TrờngYên làm trấn Thiên Quan, trấn Lạng Giang làm trấn Lạng Sơn v.v và quy
định cơ chế làm việc” “ lộ coi phủ, phủ cho châu, châu coi huyện Phàmnhững việc hộ tịch, tiền thóc, kiện tụng đều làm gộp một sổ của lộ, đến cuốinăm báo lên sảnh để làm bằng mà kiểm xét” Khu vực quanh kinh thànhThăng Long đợc đổi gọi là Đông Đô lộ do phủ đô hộ cai quản Sau đó, Quý
Ly cho dời đô vào An Tôn (Tây Đô) Chế độ Thái thợng hoàng tạm bãi bỏ,
nh-ng đến khi nhà Hồ thành lập, năm 1401 Hồ Quý Ly nhờnh-ng nh-ngôi cho con làHán Thơng và tự xng là Thái thợng hoàng
Năm 1400, sau khi lên ngôi, Quý Ly đặt lệ cử quan ở Tam quán và Nộinhân đi về các lộ thăm hỏi cuộc sống của nhân dân và tình hình quan lại đểthăng, giắng Năm 1402, nhà Hồ xuất quân đánh Chăm pa Vua Chăm pa sợphải dâng nộp hai vùng đất Chiêm Động và Cổ Luỹ Năm 1404, một lần nữanhà Hồ đánh vào Chăm pa nhng không có kết quả gì, phải rút quân về
- Về kinh tế: năm 1397, theo đề nghị của Quý Ly, vua Trần “xuốngchiếu hạn định số ruộng t “Đại vơng, trởng công chúa không có hạn định, dới
đến thứ dân không đợc có quá 10 mẫu Ngời nào nhiều ruộng đợc phép lấyruộng chuộc tội, số ruộng thừa ra thì sung công ”
Để kiểm tra việc thực hiện chủ trơng hạn điền, năm 1398, Hồ Quý Lycho các quan về địa phơng làm lại sổ ruộng đất Ai có ruộng t phải kê khai rõ
số ruộng và cắm thẻ ghi tên của mình trên mảnh ruộng Sau 5 năm sổ sáchphải làm xong, ruộng nào không có ai nhận thì Nhà nớc sung công
- Về tài chính: cải cách nổi bật nhất là việc ban hành tiền giấy, thu hồihết tiền đồng Năm 1396, Hồ Quý Ly cho lu hành tiền giấy gọi là “thông bảohội sao”, gồm 7 loại: 10 đồng, 30 đồng, 1 tiền, 2 tiền, 3 tiền, 5 tiền và 1 quan,
đều có hình in khác nhau Nhà nớc cũng quy định, ai làm tiền giả phải tộichết, 1 quan tiền đồng đổi đợc 1 quan hai tiền giấy; ai còn dùng tiền đồng, bịbắt cũng phải tội nh làm giả Năm 1403, trớc phản ứng của nhân dân, nhà Hồban điều luật về tội không tiêu tiền giấy, nâng giá thành hay đóng cửa hàng.Nhà Hồ cũng đặt chức thị giám, ban mẫu về cân thớc, thng đấu
Trang 10Năm 1402, nhà Hồ định lại biểu thuế đinh và thuế ruộng Thuế đinh chỉ
đánh vào ngời có ruộng đợc chia; ngời không có ruộng, trẻ mồ côi, đàn bà goákhông phải nộp Thuế đánh theo lũy tiến: ngời có 5 sào ruộng, nộp 5 tiền… -
có trên 2 mẫu 6 sào nộp 3 quan
Thuế ruộng t: 5 tháng/mẫu
Đất bãi thu: từ 3 quan đến 5 quan/mẫu
- Về xã hội: một chính sách có tầm quan trọng lớn là hạn chế nô tì.Năm 1401, nhà Hồ quy định các quan lại, quý tộc chiếu theo phẩm chất chỉ đ-
ợc nuôi một số nô tì, nông nô nhất định Số thừa ra sung công Mỗi gia nô đợcNhà nớc đền bù 5 quan tiền, trừ loại mới nuôi hoặc gia nô ngời nớc ngoài, sốgia nô còn lại phải ghi dấu hiệu ở trán theo tớc phẩm của chủ
Cùng năm đó, nhà Hồ cho các lộ làm lại sổ hộ, biên hết tên những ngời
2 tuổi trở lên Những dân phiêu tán đều bị lkoại ra ngoài sổ, dân kinh thànhtrú ngụ ở các phiên trấn phải trở về quê quán Khi sổ làm xong, số dân từ 15-
60 tuổi tăng lên gấp hai lần
Năm 1403, sau khi đánh chiếm đợc vùng đất từ Hoá Châu đến Cổ Luỹ(bắc Quảng Ngãi) nhà Hồ “ những ngời có của mà không có ruộng” vào, biênlàm quân ngũ, ở lại trán giữ lâu sài Sau đó kêu gọi nhà giàu nộp trâu để đavào đây
Năm 1405, nạn đói xảy ra, nhà Hồ đã lệnh cho các quan địa phơng đikhám xét nhà giàu có thừa thóc, bắt phải bán cho dân đói nghèo theo thời giá.Nhà Hồ cũng đặt Quảng tế thự để chữa bệnh cho dân
- Về văn hoá - giáo dục: năm 1392, Hồ Quý Ly soạn sách “Minh đạo”phê phán Không tử, chê trách các nhà Tống Nho, đề cao Chu Công
Năm 1396, Hồ Quý Ly bắt tất cả các nhà s cha đến 50 tuổi phải hoàntục và tổ chức thi về giáo lí nhà Phật, ai thông hiểu mới đợc ở lại làm s
Nhà Hồ cũng ngăn cấm và xử phạt nặng những ngời làm nghề phơngthuật
Hồ Quý Ly là ngời có ý thức đề cao chữ Nôm; tự mình dịch thiên “Võdật” (không lời biếng) trong sách Thợng thứ để dạy cho vua Trần Thuận Tông,dịch sách Kinh Thi để cho các nữ quan dạy các phi tần, cung nữ Hồ Quý Lycũng làm nhiều thơ Nôm (hầu hết bị mất)
Năm 1396, Hồ Quý Ly cho sửa đổi chế độ thi cử, đặt kì thi Hơng ở địaphơng và thi Hội ở kinh thành Những ngời đã thi Hội phải làm thêm 1 bài vănsách do vua ra đề để định thứ bậc Trong 4 thơng thi, Hồ Quý Ly bỏ tờng thi
ám tả cổ văn thay bằng thi kinh nghĩa Năm 1404, ông đặt thêm trờng thứ 5 thi
Trang 11viết chữ và toán Theo nhà sử học Ngô Thời Sĩ: “phép khoa cử đến đây mới đủvăn tự 4 trờng, đến nay còn theo, không thay đổi đợc”
Năm 1397, Hồ Quý Ly đề nghị Nhà nớc dặt học quan ở các lộ SơnNam, Kinh Bắc, Hải Đông và cấp ruộng cho các phủ, châu từ 10 – 12 – 15mẫu, tiếc rằng chủ trơng này không đợc thực hiện
Cùng năm này, Hồ Quý Ly cho nhân dân xây kinh đô mới ở An Tôn(Vĩnh Lộc – Thanh Hoá), để lại cho thời sau một công trình kiến trúc lớn tụcgọi là thành nhà Hồ Thành hình chữ nhật, chu vi khoảng 3km, mặt ngoài đợcxây bằng những khối đá hình hộp mặt mài nhẵn, phảng dài từ 2-4m, cao 1m,dày 0,70m Cổng xây rất công phu, ghép đá hình vòm, cao 8m Trong thành
có khu dinh thự, nay còn lại những con rồng đá chạỵ dọc bậc thềm
Do nhu cầu tăng cờng lực lợng quân sự, chuẩn bị chống ngoại xâm,những năm cuối thế kỉ XIV – đầu thế kỉ XV cũng xuất hiện những súng đạibác (thần cơ sang pháo), những thuyền lớn đi biển có lầu với tên gọi “Tải lơng
cổ lâu”, sự thực là những thuyền chiến Ngời sáng chế và chỉ đạo chế tác, theo
sử sách ghi lại, là Hồ Nguyên Trừng, con cả của Hồ Quý Ly, giữ chức Tả tớngquốc
Tóm lại, cuộc khủng hoảng xã hội ở nửa sau thế kỉ XIV đã phản ánhtình trạng suy thoái của nhà Trần cũng nh tính chất lỗi thời của cấu trúc Nhànớc đơng thời Nhân vật Hồ Quý Ly đã ra đời và nổi bật l ên trong bối cảnh
đó Từng bớc tiến lên nắm mọi quyền hành, Hồ Quý Ly đã mong muốn cứuvãn tình thế đặc biệt khó khăn và phức tạp đó và ông đã kiên quyết thực hiệncuộc cải cách Có thể thấy, đó là một cuộc cải cách toàn diện, từ chính trị đếnkinh tế – tài chính, văn hoá giáo dục, xã hội
Hồ Quý Ly dự định xoá bỏ đặc quyền và thế lực của tầng lớp quý tộcTrần, xây dựng một Nhà nớc quan liêu không đẳng cấp, quyền lực tập trung,
để trực tiép giải quyết những khó khăn trong nớc và chống lại các thế xâm lợc
từ bên ngoài Tuy nhiên, cuộc cải cách có chỗ quá mạnh so với thời đó (nhphép hạn điền), có chỗ cha thật triệt để (gia nô, nô tì không đợc giải phóng).Chính sách tiền tiệ nhằm thu lại và hạn chế việc sử dụng đồng trong chỉ dùnghàng ngày, tập trung nguyên vật liệu phục vụ quốc phòng – một nhu cầu bứcthiết Nhng, lu hành tiền giấy là một vấn đề hoàn toàn mới mẻ đối với nớc ta
đơng thời, khôgn đáp ứng đúng thực tiễn phát triển còn hạn chế của Đảnghàng hoá cuối thế kỉ XIV Cải cách văn hoá, giáo dục có ý nghĩa tiến bộ đầy
đủ hơn
Trang 12Trong tình thế bị thúc bách về nhiều mặt, một số việc làm của Hồ Quý
Ly đã gây thêm mâu thuẫn trong nội bộ, ảnh hởng sâu sắc đến ý thức đoàn kếtthống nhất của nhân dân khi xảy ra nạn ngoại xâm Chính Hồ Nguyên Trừng
đã nói lên điều đó khi phát biểu “Tôi không sợ đánh giặc mà chỉ sợ lòng dânkhông theo” và Hồ Quý Ly đã thừa nhận khi thởng cho Hồ Nguyên Trừng cáihộp trầu bằng vàng
Dẫu sao thì Hồ Quý Ly vẫn là nhà cải cách lớn đầu tiên trong lịch sử n
-ớc ta và cuộc cải cách của ông đã khiến ngời đời sau, các nhà nghiên cứu suynghĩ, đánh giá
c Cuộc xâm lợc của nhà Minh và thất bại của nhà Hồ
- Tiến trình xâm lợc của quân Minh: từ lâu, nhà Minh đã có âm mu xâmlợc Đại Việt, nhng khi nhà Hồ thành lập thì tình hình Trung Quốc cũng rốiloạn Mãi đến năm 1403, khi Minh Thái Tông diệt Huyệt đến, lên ngôi, âm m-
u xâm lợc Đại Việt mới đợc đẩy mạnh Nhiều đoàn sứ thần đợc cử sang thăm
dò, liên lạc với những quan lại cũ của nhà Trần có t tởng chống nhà Hồ, chuẩn
bị nội ứng
Năm 1405, lấy cớ nớc ta trớc đây chiếm Lộc Châu, là đất của chúng vuaMinh sai ngời sang đòi, Hồ Quý Ly phải cử Hoàng Hối Khanh làm cát địa sứlên cắt 59 thôn ở Cổ Lâu trả cho chúng
Năm 1406 mùa hè, nhà Minh sai hai tớng Hàn Quan và Hoàng Trung
đem hơn 5000 quân kéo sang nớc ta, lấy cớ là hộ tống Trần Thiêm bình về nớclàm vua Thiêm Bình nguyên là một gia nô nhà quý tộc Trần, trốn sang TrungQuốc, đổi tên và tự xng là con của Trần Nghệ Tông Quân Minh đến LạngSơn thì bị quân nhà Hồ do tớng Hồ Vấn chỉ huy đánh tan Chúng phải xin nộpThiên Bình để đợc bình yên rút về
Không chịu ngừng tay, tháng 10 năm ấy, nhà Minh cử 2 đạo quân lớngồm hàng chục vạn lính chiến và dân công tấn công xâm lợc nớc ta theo hai đ-ờng vào Lạng Sơn và vào mạn Tây Bắc Những tên tóng cầm đầu là Chu năng,Trơng Phụ, Mộc Thạnh phát hịch rêu rao tìm con cháu họ Trần để lập lại làmvua Chúng còn cho ngời vợt biển sang Chămpa, xúi giục Chăm pa đánh vàophía Nam Đại Ngu Một số quan chức cũ của nhà Trần đã phản lại Tổ quốc,xin hàng quân Minh làm rối hàng ngũ kháng chiến
- Cuộc kháng chiến và thất bại của nhà Hồ
Trớc thái độ thách thức của vua Minh, từ những năm 1403 – 1404, nhà
Hồ đã khẩn trơng chuẩn bị phóng vệ Biên giới phía Nam đợc củng cố bằngnhiều cuộc hành quân và di dân khai hoang, bảo vệ Năm 1405, nhà Hồ thành
Trang 13lập 4 kho quân khí (xởng chế tạo vũ khí), thăm dò cho dân đóng cọc chặnvùng sông Bạch Hạc (Phú Thọ) ngăn giặc từ bắc xuống, hạ lệnh cho nhân dâncác vùng gần đờng lớn thông từ bắc xuống kinh thành Thăng Long phải phá
bỏ lúa má khi có giặc đến lại lệch cho dân ở Tam Đái, Bắc Giang (bắc SôngHồng) chuẩn bị nhà cửa sẵn ở vùng đất hoang phía Nam sông, tích trữ lơngthực để khi giặc đến thì di chuyển, cho dân phu đắp thành Đa Bang (TiênPhong – Hà Tây)
Cuối năm 1406, quân Minh vợt qua Lạng Sơn đánh về Thăng Long
Đầu năm 1407 chúng vợt sông Hồng đánh vào thành Đa Băng Cuộc chiến
đấu diễn ra quyết liệt Quân ta chết rất nhiều nhng vẫn cố thủ Ngày
20-1-1407, thành Đa Bang thất thủ, tuyến phóng ngự bị phá vỡ Giặc tràn vàoThăng Long, cớp bóc của cải, phá hoại cung điện, nhà cửa Hồ Nguyên Trừng
đóng quân ở Hoàng Giang (Hà Nam) Giặc Minh đem quân tấn công, buộcquân của Trừng rút về Muộn Hải (Giao Thuỷ – Nam Định) Trong lúc đóquân của Hồ Đỗ, Hồ Xạ bị thua ở mạn Bắc, cũng rút về Muộn Hải hợp sức với
Hồ Nguyên Trừng để chiến đấu Hai bên đổi luỹ đánh nhau Bị bệnh tật nhiều,quân Minh phải rút về Hàm Tử (Hng Yên) Hồ Nguyên Trừng tập trung quântấn công giặc nhng bị thua to, phải cùng Hồ Quý Ly và Hồ Hán Thơng rút vềThanh Hoá, đóng lại ở Tây Đô (Vĩnh Lộc) Tháng 5-1417, quân Minh do Tr-
ơng Phụ, Mộc Thạnh chỉ huy tấn công Tây Đô Hồ Quý Ly cùng đình thầnchạy vào Nghệ An Một số quân tớng nhà Hồ đầu hàng quân Minh, dẫn đờngcho chúng đánh vào Nhiều tớng của nhà Hồ bị bắt, cuối cùng, mấy cha con
Hồ Quý Ly cũng sa lới kẻ thù ở vùng Kỳ La, Cao Vọng (Kỳ Anh – Hà Tĩnh).Quân Minh tiếp tục đánh vào Thuận Hoá, chiếm nốt phần đất phía Nam.Trong lúc đó, quân Chăm pa cũng thừa cơ đánh ra, lấy lại vùng Thăng Hoa(Quảng Nam, Quảng Ngãi) Nh vậy là vào cuối tháng 6-1407, cuộc khángchiến của quân nhà Hồ hoàn toàn thất bại Đất nớc rơi vào \ách đô hộ của nhàMinh
Mặc dầu biết mình ở trong tình thể rất khókhăn, đúng nh câu nói của
Hồ Nguyên Trừng “chỉ sợ lòng dân không theo”, nhà Hồ vẫn kiên quyết tổchức cuộc kháng chiến chống quân xâm lợc Minh Thực tế cuộc kháng chiếncũng chứng tỏ rằng, quân tớng nhà Hồ và một bộ phận nhân dân đã chiến đấurất anh dũng, quyết liệt Thế nhng, cuốc cùng, cuộc kháng chiến vẫn thất bại,
và sau này, khi nhân dân nổi dậy khởi nghĩa thì những ngời lãnh đạo lại khôngphải là quan, tớng của nhà Hồ Sự thực đó chứng tỏ rằng, thất bại của cuộckháng chiến có phần do cách đánh nhng chủ yếu do hậu quả của những năm
Trang 14trớc đó Cuộc khủng hoảng cuối Trần dã làm suy yếu lực lợng tự vệ của cảtriều đình lẫn nhân dân, đồng thời kàm suy yếu lực lợng tự vệ của cả triều
đình lẫn nhân dân, đồng thời làm tăng thêm mâu thuẫn giữa nhân dân và giaicấp thống trị Mong sớm giải quyết cuộc khủng hoảng trớc nguy cơ ngoại xâm
đang đến gần, Hồ Quý Ly đã mạnh tay tiến hành cuộc cải cácáh về mọi mặt,thậm chí giành lấy ngôi vua, lập triều đại mới để cải cách Nhà Hồ đã làm đợcmột số việc phù hợp với yêu cầu chung của xã hội ta hồi ấy nhng lại khôngxoa dịu đợc những mâu thuẫn sâu sắc vốn có Một số hành động đàn áp, tànsát do việc chuyển đổi triều đại gây ra lại tạo thêm khó khăn cho việc giảiquyết những mâu thuẫn nói trên Cuộc kháng chiến thất bại, cha con họ Hồ bịgiặc bắt đa về Trung Quốc cùng với một số tớng lĩnh trung thành
Nhng, thất bại của cuộc kháng chiến thời Hồ chỉ là tạm thời Với truyềnthống yêu nớc lâu đời và với niềm tự hào sâu sắc về một đất nớc văn hiến cóhàng ngàn năm lịch sử và 500 năm trởng thành trong độc lập, tự chủ, nhân dân
Đại Việt đã liên tục nổi dậy cầm vũ khí chống quân xâm lợc đô hộ, giành lạinền độc lập quý báu của Tổ quốc
Lam Sơn (Thọ Xuân – Thanh Hoá) lúc bấy giờ đợc gọi theo tên Nôm
là làng Cham, là hơng thuộc huyện Lơng Giang, phủ Thanh Hoá Đó là mộtvùng đồi nói thấp xen kẽ những dải rừng tha và cánh đồng hẹp Phía trên, LamSơn tiếp giáp với những núi rừng trùng điệp của thợng du Sông Chu, sông Mã,phía dới liền với vùng đồng bằng rộng lớn của Thanh Hoá Về mặt giao thông,Lam Sơn nằm bên tả ngạn sông Chu, một mạch máu giao thông quan trọnggiữa miền núi và miền biển
Lam Sơn là quê hơng của ngời anh hùng Lê Lợi và là căn cứ buổi đầucủa cuộc khởi nghĩa do Lê Lợi lãnh đạo
Lê Lợi (1385 – 1433) vốn là một hào trởng có uy tín và ảnh hởng lớn ởvùng Lam Sơn Bài văn bia Vĩnh Lãng do Nguyễn Trãi soạn, cho biết rõ ông
tổ ba đời của Lê Lợi là Lê Hối đã tổ chức khẩn hoang, lập nên một trang trại ởvùng này Từ đó “đời đời làm quân trởng một phơng” Nhân dân địa hơngquen gọi là Lê Lợi là Đạo Cham
Bia Vĩnh Lăng ghi: “Tuy gặp thời loạn lớn mà chí càng bền, ẩn náutrong núi rừng, chăm nghề cày cấu” Vì giận quân giặc tàn bạo lấn hiếp nêncàng chuyên tâm về sách thao lợc, dốc hết cửa nhà, hậu đãi tân khách” Theodõi cuộc khởi nghĩa Trần Ngỗi, Trần Quý Khoáng, Lê Lợi “biết rõ thời thế”,cho là tất cả không thành công, bởi thế không dự và hết sức ẩn kính hình tích,
Trang 15không lộ tiếng tăm” Lê Lợi bí mật chuẩn bị một cuộc khởi nghĩa mới và dùngtrang trại Lam Sơn cùng toàn bộ tài sản của mình để lo toan nghiệp lớn.
Sau khi cuộc khởi nghĩa Lam Sơn toàn thắng Đất nớc trở lại thanhbình Ngày 15 tháng 4 năm Mậu Thân (29 tháng 4 năm 1428) Lê Lợi chínhthức lên ngôi Hoàng đế ở Đông Kinh (Thăng Long); khôi phục tên nớc là ĐạiViệt, mở đầu triều Đại Lê (thơng đợc gọi là nhà Lê sơ hay Hậu Lê để phânbiệt với thời tiền Lê của Lê Đại Hành)
Trải qua các triều vua, đất nớc Đại Việt dần dần đợc hồi phục và pháttriển lên một đỉnh cao mới về tất cả các mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, giáodục…
2 Cuộc đời, thân thế, sự nghiệp.
Nguyễn Trãi, hiệu ức Trai (1380 - 1442) Quê gốc làng Chi Ngại,huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dơng, sinh ra ở Thăng Long trong dinh ông ngoại làquan t đồ Trần Nguyên Đán, về sau dời về sống ở xã Nhị Khê, huyện ThờngTín, tỉnh Hà Tây Ông là con trai của Nguyễn Phi Khanh (trớc đây có tên làNguyễn ứng Long); vốn là học trò nghèo thi đỗ thái học sinh và bà Trần ThịThái – con quan t đồ Trần Nguyên Đán, dòng dõi quý tộc nhà Trần
Nguyễn Trãi sống trong thời đại đầy biến động dữ dội Nhà Trần suyvong, Hồ Quý Ly lên thay, lập ra nhà Hồ, đổi tên nớc là Đại Ngu
Năm 1400 Hồ Quý Ly tổ chức thi tuyển để kén chọn nhân tài Là ngờichịu ảnh hởng sâu sắc của t tởng Nho gia và là con cháu quý tộc nhà Trần nh-
ng Nguyễn Trãi đã vợt lên những thiên kiến kẹp hòi của thời đại những mong
đem tài năng sở học của mình xây dựng đất nớc, Nguyễn Trãi ra thi và đỗThái học sinh (tiến sĩ) khi vừa tròn 20 tuổi và đợc Hồ Quý Ly cử giữ chức Ngự
sử đài chánh chởng Cha ông – Nguyễn Phi Khanh đỗ Thái học sinh từ năm
1374 cũng đợc Hồ Quý Ly cử làm quan Hai cha con cùng đỗ tiến sĩ và làmquan đồng triều Nhng chẳng bao lâu sau (1470) quân Minh sang đánh nớc
Đại Ngu Nhà Hồ thua trận, cha con Hồ Quý Ly cùng các triều thần bị bắtsang Trung Quốc, trong đó có Nguyễn Phi Khanh Đất nớc lâm vào hoạ diệtvong trớc nguy cơ đồng hoá mà nhà sử học đơng thời là Ngô Sĩ Liên đã nhậnxét: xét những cuộc loạn trong cõi nớc việt ta cha bao giờ tột cùng nh lúcnày… Hơn 20 năm, thay đổi phong tục nớc ta theo tóc dài, răng trắng, biếnngời nớc ta thành ngời Ngô cả Than ôi, hoạ loạn tột cùng đến thế !” (Đại việt
sử ký toàn thứ, Q10, từ 53a)
Tơng truyền lúc ấy, Nguyễn Trãi muốn giữ tròn đạo hiếu, đã cùng emtrai là Nguyễn Phi Hùng theo cha anh sang Trung Quốc Nhng đến ải Nam