1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vai trò của tòa án trong việc bảo vệ quyền con người ở việt nam hiện nay

29 693 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 38,83 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo tinh thần này, chúng tôi cho rằng cần phải giải quyết những vấn đề mang tính cốt lõi trong việc hoàn thiện pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả bảo

Trang 1

Vai trò của tòa án trong việc bảo

vệ quyền con người ở Việt Nam

hiện nay

cho phép người bào chữa

tham gia từ khi khởi tố bị can đối với những tội xâm phạm an ninh quốc gia; bổ sung nghĩa vụ phải thông báo cho người bào chữa thời gian, địa điểm hỏi cung bị can; không giới hạn số lần tiếp xúc giữa bị can với người bào chữa Ngoài ra cần bỏ quy định về cấp giấy chứng nhận người bào chữa tại khoản 4 Điều 56 Vì những quy định của pháp luật này đều dẫn đến hạn chế quyền được có người bào chữa của

bị can, bị cáo

Thứ ba, song song với việc hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự thì cần phải

nâng cao năng lực và trách nhiệm thi hành luật trong quá trình xét xử Trước hết cần xây dựng các giải pháp bảo đảm năng lực xét xử của Tòa án, như: Xây dựng pháp luật bảo đảm cho hoạt động xét xử độc lập, nâng cao chất lượng đội ngũ Thẩm phán

và hoàn thiện các cơ chế giám sát để kịp thời phát hiện hành vi trái pháp luật và xử

lý nghiêm minh Ngoài ra, xây dựng đội ngũ luật sư đảm bảo yêu cầu tranh tụng và nâng cao chất lượng hiệu quả hoạt động điều tra, truy tố cũng là những giải pháp cần phải được tiến hành đồng bộ

b) Hoàn thiện pháp luật tố tụng dân sự

Trang 2

136

Nghị quyết 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây

dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 đã chỉ rõ cần phải “Cải cách mạnh mẽ các thủ tục tố tụng tư pháp theo hướng dân chủ, bình đẳng, công khai, minh bạch, chặt chẽ, nhưng thuận tiện, bảo đảm sự tham gia và giám sát của nhân dân đối với hoạt động tư pháp; bảo đảm chất lượng tranh tụng tại các phiên toà xét xử, lấy kết quả tranh tụng tại toà làm căn cứ quan trọng để phán quyết bản án, coi đây là khâu đột phá để nâng cao chất lượng hoạt động tư pháp” Tiếp theo đó, Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã chỉ rõ: “Xây dựng cơ chế xét xử theo thủ tục rút gọn đối với những vụ án có đủ một số điều kiện nhất định”; “Tiếp tục hoàn thiện thủ tục tố tụng dân sự”

Như vậy, hai yêu cầu căn bản đặt ra cần phải được giải quyết một cách hài

hoà là đơn giản hoá các thủ tục nhằm đáp ứng đòi hỏi về tính mềm dẻo, linh hoạt của thủ tục tố tụng dân sự trong bối cảnh nền kinh tế thị thường và đẩy mạnh hội nhập quốc đặc biệt là nhu cầu bảo vệ quyền công dân, quyền con người bằng hoạt động xét xử ngày càng gia tăng Theo tinh thần này, chúng tôi cho rằng cần phải giải quyết những vấn đề mang tính cốt lõi trong việc hoàn thiện pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả bảo vệ quyền công dân, quyền con người bằng hoạt động xét xử, bao gồm: Xác định hợp lý vai trò và trách nhiệm chứng minh của các chủ thể; đảm bảo tính linh hoạt và hiệu quả của các quy định về thủ tục áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; thiết lập thủ tục tố tụng dân sự rút gọn nhằm loại bỏ sự rườm rà, đảm bảo tính linh hoạt, mềm dẻo của thủ tục tố tụng dân sự

Thứ nhất, về các quy định liên quan tới nghĩa vụ chứng minh trong tố tụng dân

sự

BLTTDS Việt Nam năm 2004 (BLTTDS) về cơ bản cũng được xây dựng trên

Trang 3

cơ sở thủ tục tố tụng xét hỏi của các nước theo hệ thống luật châu Âu lục địa có kết hợp các yếu tố của thủ tục tố tụng tranh tụng của các nước theo hệ thống pháp luật

án lệ Cụ thể là BLTTDS Việt Nam hiện nay vẫn coi hồ sơ vụ án là tài liệu quan

137

trọng làm cơ sở cho việc giải quyết vụ án nhưng đề cao hơn nghĩa vụ tự chứng minh của đương sự so với các quy định trước kia, trong trường hợp xét thấy chứng cứ trong hồ sơ chưa đủ cơ sở để giải quyết thì thẩm phán yêu cầu đương sự giao nộp

bổ sung chứng cứ Toà án chỉ tiến hành các biện pháp thu thập chứng cứ khi đương

sự không thể tự mình thu thập được và có yêu cầu Toà án thu thập chứng cứ [65] Theo BLTTDS hiện nay, mặc dù Hội đồng xét xử giữ vai trò điều khiển phiên tòa nhưng các yếu tố của thủ tục tố tụng tranh tụng được coi trọng như trong phần xét hỏi luật sư có quyền chất vấn bên đối thủ, các đương sự có thể đặt câu hỏi đối với nhau Ngoài ra, đương sự được biết và ghi chép, sao chụp tài liệu, chứng cứ do các đương sự khác xuất trình hoặc do Toà án thu thập; tất cả các tình tiết, chứng cứ, tài liệu dùng làm căn cứ cho việc giải quyết vụ án đều được các bên tranh tụng công khai, trực tiếp và bằng lời nói tại phiên tòa, luật sư giữ vai trò chủ động trong quá trình tranh tụng, Toà án không được hạn chế thời gian tranh luận mà phải tạo điều kiện cho những người tham gia tranh luận trình bày hết ý kiến của họ [65]

Việc tiếp nhận các yếu tố của thủ tục tố tụng tranh tụng trong BLTTDS Việt

Nam cũng đặt ra những vấn đề mà chúng ta cần giải quyết Trong thực tiễn, sau khi BLTTDS có hiệu lực pháp luật, các toà án dường như trút được một gánh nặng trong việc chứng minh làm rõ sự thật của vụ án với quan niệm các đương sự phải tự chứng minh cho quyền lợi của mình, nếu không tự chứng minh được sẽ bị toà án xử bác yêu cầu Tuy nhiên, cũng phải nhìn nhận rằng Việt Nam là một đất nước mà đa phần dân số đều làm nông nghiệp, do vậy, các quy định này của BLTTDS mặc dù không gây xáo trộn đối với các doanh nghiệp, các thị dân thành phố nhưng đối với khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa thì đó lại quả là một vấn đề không nhỏ

Trang 4

Người nông dân Việt Nam vốn xa lạ với pháp đình và càng xa lạ hơn với việc tự chứng minh, do vậy, sau khi nộp đơn kiện rồi thì thường phó mặc cho toà án giải quyết mà không biết rằng mình phải tự đi thu thập các tài liệu cần thiết để chứng minh Trong khi đó, theo quy định của BLTTDS hiện nay thì toà án không còn được

tự mình tiến hành các biện pháp thu thập chứng cứ để hoàn thiện hồ sơ vụ án như trước đây nữa Như vậy, hậu quả tất yếu là thời gian giải quyết vụ án sẽ bị kéo dài

138

hơn so với các quy định trước kia Để khắc phục tình trạng này, thiết nghĩ cơ quan

có thẩm quyền nên có những quy định mang tính chuyển tiếp cho việc thực hiện Cụ thể là cần quy định rõ khi nhận đơn khởi kiện của đương sự, toà án phải giải thích

rõ cho đương sự về nghĩa vụ chứng minh của họ cũng như các chứng cứ, tài liệu cụ thể cho mỗi vụ án mà đương sự phải xuất trình và quyền yêu cầu toà án thu thập chứng cứ nếu không tự mình thu thập được

Hiện nay, Điều 7 BLTTDS và Nghị quyết số 04 của Hội đồng Thẩm phán Toà

án nhân dân Tối cao ngày 17/9/2005 quy định khi có yêu cầu của đương sự thì cơ quan, tổ chức đang lưu giữ, quản lý chứng cứ (thường là các giấy tờ về hộ tịch, nhà đất) có trách nhiệm cung cấp đầy đủ các chứng cứ này cho đương sự, trong

trường hợp không cung cấp được thì phải thông báo bằng văn bản cho đương sự biết và nêu rõ lý do của việc không cung cấp được chứng cứ Trong thực tiễn tố tụng tại Toà án thì văn bản này được coi là điều kiện tiên quyết để đương sự có thể yêu cầu Toà án tiến hành các biện pháp cần thiết để thu thập chứng cứ Nhưng xem

ra quy định này khó có thể được thực hiện trên thực tế khi mà nền hành chính quốc gia chưa thực sự được cải tổ và cơ quan công quyền chưa thực sự “gần dân” Khi người có trách nhiệm quản lý hồ sơ, tài liệu trong các cơ quan công quyền đã không

có thiện chí trong việc cấp cho người dân các giấy tờ, tài liệu có liên quan tới vụ kiện thì có lẽ người dân sẽ không thật dễ dàng để có trong tay bản thông báo nói trên Do vậy, để đơn giản hoá các thủ tục tố tụng, tạo điều kiện thuận lợi cho người

Trang 5

dân trong việc bảo vệ quyền lợi của mình thì cần hoàn thiện các quy định trên theo hướng nếu cơ quan, tổ chức đang lưu giữ, quản lý chứng cứ của vụ án không cung cấp các tài liệu cần thiết và cũng không thông báo bằng văn bản cho đương sự về lý

do của việc không cung cấp thì đương sự có thể ngay lập tức yêu cầu sự can thiệp của Toà án trong việc thu thập chứng cứ

Thứ hai, về các quy định liên quan đến thủ tục áp dụng biện pháp khẩn cấp

tạm thời trong tố tụng dân sự

Theo quy định của BLTTDS hiện hành các quy định về thời điểm áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời trong BLTTDS hiện nay chủ yếu được xây dựng trên

139

cơ sở kế thừa ba pháp lệnh về thủ tục tố tụng trước đó và được bổ sung, hoàn thiện hơn trên cơ sở tham khảo các quy định tương ứng trong pháp luật tố tụng dân sự của một số nước trên thế giới Tuy nhiên, sự tiếp thu quy định của các nước về thời điểm áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời trong BLTTDS Việt Nam cũng còn nhiều hạn chế Theo pháp luật tố tụng dân sự của nhiều nước trên thế giới mà điển hình là pháp luật tố tụng dân sự của Mỹ, Pháp và Trung Quốc thì thủ tục áp dụng các biện pháp khẩn cấp có thể được áp dụng trước khi khởi kiện hoặc trong quá trình Toà án giải quyết một vụ kiện chính hoặc có thể được áp dụng một cách hoàn toàn độc lập Mặc dù, BLTTDS Việt Nam đã mở rộng hơn phạm vi áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời so với các quy định trước kia, cho phép đương sự có thể yêu cầu toà án áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời cùng với việc nộp đơn khởi kiện vụ án hoặc trong quá trình giải quyết vụ án (Điều 99 BLTTDS) nhưng không cho phép yêu cầu áp dụng biện pháp này trước khi khởi kiện vụ án Chính vì vậy, nhằm bảo đảm cho khả năng khôi phục quyền và lợi ích bị vi phạm thì pháp luật tố tụng dân sự cần mở rộng quyền được yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời ngay khi phát hiện được hành vi vi phạm pháp luật xâm hại đến quyền

và lợi ích của cá nhân, tổ chức

Trang 6

Thứ ba, về việc xây dựng các quy định về thủ tục tố tụng dân sự rút gọn

Một trong những yêu cầu của hoạt động xét xử dân sự trong việc bảo vệ quyền công dân là bảo đảm tính kịp thời cho nên việc xây dựng thủ tục tố tụng dân sự rút ngọn là cần thiết trong trường hợp những vụ án dân sự đã có đầy đủ tình tiết, chứng

cứ thể hiện rõ ràng quyền và nghĩa vụ của các bên tranh chấp Nghị quyết số 49 – NQ/TW của Bộ chính trị ngày 2/6/2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm

2020 đã củng cố cho nhận định này và chỉ rõ cần phải tiếp tục: “Xây dựng cơ chế xét xử theo thủ tục rút gọn đối với những vụ án có đủ một số điều kiện nhất định” Qua tham khảo pháp luật tố tụng dân sự nước ngoài có thể thấy rằng pháp luật tố tụng dân sự của các nước trên thế giới có quy định về thủ tục tố tụng dân sự rút gọn thì việc xét xử đều giao cho một Thẩm phán đảm nhiệm Ở Việt Nam, mặc dù tại các Luật Tổ chức Toà án nhân dân năm 1960, 1981, 1992, 2002 đều quy định rằng

140

Toà án xét xử và quyết định theo đa số nhưng không phải là không có ngoại lệ Chẳng hạn điều 12 Luật Tổ chức Toà án năm 1960 quy định “Toà án nhân dân thực hành chế độ xét xử tập thể và quyết định theo đa số Khi sơ thẩm, Toà án nhân dân gồm một Thẩm phán và hai Hội thẩm nhân dân; trường hợp xử những vụ án nhỏ, giản đơn và không quan trọng thì Toà án nhân dân có thể xử không có Hội thẩm nhân dân”

Đối với loại vụ kiện có chứng cứ rõ ràng, một bên đương sự thừa nhận nghĩa

vụ thì xét về bản chất đây là loại việc không có tranh tụng cả về chứng cứ và về quyền, nghĩa vụ giữa các bên đương sự Nếu quy định bị đơn có quyền kháng cáo đối với bản án của Toà án trong trường hợp này thì bị đơn sẽ có thể lợi dụng pháp luật kháng cáo nhằm kéo dài vụ án, trì hoãn việc thi hành nghĩa vụ của mình Vô hình chung pháp luật đã tạo điều kiện cho người không có thiện chí trong việc thực hiện nghĩa vụ có thể trì hoãn việc thực hiện nghĩa vụ gây thiệt hại cho quyền lợi hợp pháp của nguyên đơn Thiết nghĩ, để bảo vệ kịp thời quyền lợi hợp pháp của nguyên

Trang 7

đơn vẫn cần thiết phải quy định phán quyết của thẩm phán đối với những loại vụ kiện có những chứng cứ rõ ràng, một bên đương sự thừa nhận nghĩa vụ, sẽ có hiệu lực pháp luật ngay Tuy nhiên, việc nghiên cứu thiết lập một cơ chế chuyển hoá giữa thủ tục xét xử rút gọn và thủ tục thông thường cũng là một giải pháp nhằm bảo

vệ quyền lợi của các bị đơn “ngay tình” và “trung thực” chống lại sự lạm quyền của bên đi kiện Cụ thể là cần quy định quyết định của Toà án buộc thanh toán nợ không

bị phản kháng trong một thời hạn nhất định sẽ có hiệu lực thi hành Ngược lại, trong trường hợp người bị kiện phản đối quyết định của Toà án buộc thanh toán nợ

(kháng án) thì vụ kiện sẽ lập tức được đưa ra xét xử tại phiên toà sơ thẩm

c) Hoàn thiện pháp luật tố tụng hành chính

Luật Tố tụng hành chính (TTHC) được QH XII thông qua tại kỳ họp thứ 8, có hiệu lực từ ngày 1.7.2011 được đánh giá là một bước tiến lớn trong xây dựng Nhà nước pháp quyền, tăng cường quyền dân chủ của công dân và trách nhiệm của Nhà nước Tuy nhiên, qua thực tiễn giải quyết các vụ án hành chính, một số quy định của Luật Tố tụng hành chính khó được thực thi trong thực tiễn vì nội dung quy định

141

có tính khái quát cao và thiếu cơ sở pháp lý ràng buộc trách nhiệm của người có nghĩa vụ đặc biệt là bên bị khởi kiện Trong tố tụng hành chính, bên bị khởi kiện là

cơ quan công quyền vì thế vấn đề quy định nghĩa vụ pháp lý phải rõ ràng và cần có

cơ chế xử lý nghiêm minh trong trường hợp thoái thác nghĩa vụ tố tụng hành chính trong khi đó Luật Tố tụng hành chính hiện hành chỉ quy định nghĩa vụ mà chưa hề

đề cập đến những trách nhiệm của bên bị kiện trong trường hợp không thực hiện nghĩa vụ vì thế trong thực tiễn đã xảy ra những tình huống người bị khởi kiện không thực hiện nghĩa vụ tố tụng khiến việc giải quyết vụ án hành chính kéo dài, phức tạp gây thiệt hại quyền lợi của công dân, cá nhân Chính vì thế, cần bổ sung các nghĩa

vụ sau đối với bên bị khởi kiện:

- Thứ nhất, pháp luật cần quy định: Bên bị kiện có nghĩa vụ chứng minh tính

Trang 8

hợp pháp của quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khiếu kiện Nếu pháp luật tố tụng hành chính không bổ sung quy định này thì khó bảo đảm sự bình đẳng giữa các bên trong tố tụng hành chính vì người bị khởi kiện là bên chủ động, có quyền đơn phương ra các quyết định hành chính, thực hiện hành vi hành chính trên

cơ sở các quy định của pháp luật nên họ có ưu thế hơn đối với bên khởi kiện trong việc xác định tính hợp pháp của quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khiếu kiện Nhằm bảo đảm bên bị kiện thực hiện nghĩa vụ này, pháp luật tố tụng hành chính cần giới hạn thời gian “trong một thời hạn nhất định kể từ khi nhận được thông báo về việc bị khởi kiện, nếu bên bị kiện không cung cấp tài liệu, chứng cứ để chứng minh tính hợp pháp của quyết định hành chính, hành vi hành chính bị kiện thì tòa án có quyền coi những điều trình bày của người khởi kiện là đúng sự thật”

- Thứ hai, cần bổ sung quy định giới hạn thời gian, nội dung của quyền “sửa

đổi hoặc hủy bỏ quyết định hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, danh sách cử tri bị khởi kiện” (Khoản 3 Điều 51) vì thực tiễn đã xảy ra trường hợp người bị kiện lợi dụng quyền này để kéo dài thời hạn giải quyết vụ án hành chính khiến cho quyền lợi của người khởi kiện bị thiệt hại nghiêm trọng Nhằm tăng cường việc bảo vệ quyền lợi cho công dân, Luật Tố tụng hành chính nên bổ sung giới hạn về thời điểm thực

4.3.5 Cải cách mô hình tổ chức hệ thống Tòa án theo cấp xét xử và không

phụ thuộc vào cấp hành chính của bộ máy nhà nước

Tổ chức hệ thống Tòa án hiện nay được kết hợp giữa nguyên tắc cấp xét xử

với cấp hành chính lãnh thổ, gồm: Tòa án tối cao tương ứng với cấp hành chính

Trang 9

trung ương; TAND cấp tỉnh tương ứng với cấp hành chính tỉnh và TAND cấp huyện tương ứng với cấp hành chính huyện Cơ cấu tổ chức gắn liền với cấp hành chính tạo thuận lợi cho sự phối hợp giữa hoạt động xét xử với các hoạt động điều tra, truy

tố trong việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương đặc biệt là nhiệm vụ đấu tranh, phòng chống tội phạm trên địa bàn địa phương Tuy nhiên, cơ cấu tổ chức hệ thống Tòa án gắn liền với cấp hành chính địa phương đã tạo ra nhiều nguy cơ hạn chế sự độc lập của Tòa án trong quá trình xét xử cũng như năng lực xét xử của các Tòa án các cấp đặc biệt là TAND cấp huyện

Những nguy cơ đe dọa đến khả năng độc lập của Tòa án, độc lập của hoạt

động xét xử đã được phân tích ở mục 3.3 đã bộc lộ trong thực tiễn hoạt động xét xử

và đã được chính Tòa án cũng như lãnh đạo Đảng và Nhà nước thừa nhận Vì thế, nhằm hạn chế tối đa nguy cơ ảnh hưởng đến tính độc lập của Tòa án thì cần phải thay đổi hệ thống tổ chức Tòa án hiện hành Theo Nghị quyết số 49-NQ/TW, hệ thống Tòa án sẽ được tổ chức trên cơ sở nguyên tắc cấp xét xử theo mô hình: Tòa

án khu vực hay là Tòa án sơ cấp (cấp xét xử sơ thẩm); Tòa án phúc thẩm hay là Tòa

án trung cấp (xét xử sơ thẩm, phúc thẩm); Tòa thượng thẩm hay là Tòa án cao cấp (xét xử phúc thẩm bản án do Tòa phúc thẩm xét xử sơ thẩm) và TAND tối cao Chủ trương cải cách trên là giải pháp hữu hiệu hạn chế sự tác động của bộ máy hành chính địa phương vào hoạt động xét xử của Tòa án đồng thời sẽ hạn chế được xu hướng địa phương hóa hoạt động xét xử của Tòa án đang có chiều hướng gia tăng

Tổ chức hệ thống Tòa án theo cấp xét xử có tác dụng mạnh mẽ trong việc

nâng cao năng lực, chất lượng xét xử của Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm Tổ

143

chức hệ thống theo cấp xét xử tạo điều kiện cho Tòa án linh hoạt trong việc thành lập các Tòa án cấp sơ thẩm Việc từ bỏ sự ràng buộc bởi không gian của đơn vi hành chính địa phương tạo điều kiện quy định thẩm quyền theo không gian trên cơ

sở ước lượng nhu câu xét xử của vùng miền Điều này góp phần hạn chế tình trạng

Trang 10

phân tán nguồn lực đầu tư cơ sở vật chất và con người cho những Tòa án cấp huyện

có số lượng án xét xử ít, nhu cầu xét xử thấp đồng thời tăng cường việc đầu tư cơ sở vật chất, nguồn lực con người cho những vùng miền có nhu cầu xét xử cao, số lượng án phải thụ lý và giải quyết lớn bằng việc lập nhiều Tòa án cấp sơ thẩm ở những vùng miền này

4.3.6 Cải cách cơ chế tuyển dụng, bổ nhiệm Thẩm phán

Một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến chất lượng và hiệu quả xét xử

của Tòa án hiện nay còn nhiều hạn chế là do đội ngũ Thẩm phán chưa đủ về số lượng và hạn chế về trình độ khoa học pháp lý, kỹ năng nghề nghiệp[95] Chính vì thế một trong những nhiệm vụ cần được thực hiện nhằm bảo đảm chất lượng và hiệu quả xét xử của Tòa án là xây dựng và phát triển đội ngũ Thẩm phán đủ về số lượng và đảm bảo trình độ pháp lý, kỹ năng nghề nghiệp và phẩm chất đạo đức Dưới đây là một số giải pháp cần được thực hiện nhằm đáp ứng yêu cầu trên:

- Thứ nhất, cải cách phương thức tuyển dụng và đạo tạo cử nhân luật Cử nhân luật là nguồn nhân lực để tuyển dụng và phát triển Thẩm phán Chất lượng cử nhân luật như thế nào sẽ ảnh hưởng mạnh mẽ đến năng lực và phẩm chất đạo đức của Thẩm phán trong tương lai Hiện nay, chương trình đạo tạo và điều kiện tuyển sinh sinh viên luật còn nhiều hạn chế khiến cho chất lượng cử nhân luật chưa đảm bảo yêu cầu hành nghề luật nói chung, nghề Thẩm phán nói riêng Kinh nghiệm đào tạo luật ở một số nước phát triển cho thấy cần đề cao việc rèn luyện các kỹ năng thực hành nghề luật trong chương trình đào tạo cử nhân trong khi đó chương trình đạo tạo luật của Việt Nam hiện nay chưa chú trọng vấn đề này Chình vì thế, cần phải cải cách chương trình đạo tạo luật theo hướng bổ sung các kiến thức gắn liền với hoạt động thực hành nghề luật tại các cơ sở có luật gia, luật sư và các chức danh tư pháp làm việc (bổ sung các kỳ thực tập của sinh viên tại các công ty luật, văn phòng luật sư, các cơ quan tư pháp trước khi sinh viên viết khóa luận tốt nghiệp cử nhân) Bên cạnh đó, theo chúng tôi, các cơ sở đào tạo cử nhân luật nên thay đổi môn thi

Trang 11

144

tuyển sinh đầu vào, theo đó, chỉ nên thi ba môn là toán, văn và ngoại ngữ Vì kiến thức của những môn này là nên tảng quan trọng để phát triển các kỹ năng cơ bản của người thực hành nghề luật còn những môn như: Địa lý, vật lý, hóa học hầu như không cần thiết đối với sinh viên theo học chương trình cử nhân luật

- Thứ hai, cải cách phương thức tuyển dụng và quy trình bổ nhiệm Thẩm

phán Hiện nay quy trình bổ nhiệm Thẩm phán[99],[100] chưa hợp lý đặc biệt là Thẩm phán cấp huyện và Thẩm phán cấp tỉnh Pháp luật vẫn còn đặt nặng vai trò của cấp ủy địa phương, Hội đồng nhân dân địa phương trong việc quy hoạch và tuyển chọn Thẩm phán dẫn đến khó đảm bảo được việc đánh giá chính xác năng lực của người được tuyển chọn vì những người tham gia hội đồng tuyển chọn đa số không hành nghề luật mà chủ yếu là cán bộ, công chức hành pháp Việc cho phép đại diện của nhiều cơ quan địa phương vào Hội đồng tuyển chọn Thẩm phán khiến cho nguy cơ Thẩm phán bị áp lực bởi các chủ thể này trong quá trình công tác Ngoài ra, cơ chế tuyển chọn Thẩm phán hiện hành còn bất cập ở tâm lý kép kín nguồn nhân lực tuyển chọn Đa số các Hội đồng tuyển chọn đều chủ yếu tuyển chọn những người đã công tác trong Tòa án đã được đào tạo nghề Thẩm phán trong khi theo thông lệ hiện hành thì chỉ có những cán bộ, công chức ngành Tòa án mới được tham gia các khóa đào tạo nghề Thẩm phán cho nên nguồn nhân lực được tuyển chọn và bổ nhiệm Thẩm phán bị hạn chế và khép kín trong nội bộ ngành Tòa án Chính điều này dẫn đến không tuyển chọn được những người có trình độ khoa học pháp lý cao, có kinh nghiệm thực hành pháp luật đang công tác ở các lĩnh vực khác đặt biệt là đội ngũ luật sư, luật gia và những người giảng dạy pháp luật Như vậy, một trong những giải pháp có thể khắc phục được tình trạng thiếu và yếu của đội ngũ Thẩm phán là cải cách cơ chế tuyển chọn nguồn nhân lực để bổ nhiệm Thẩm phán Xây dựng Hội đồng tuyển chọn Thẩm phán quốc gia và thay đổi trình tự đào tạo và bổ nhiệm Thẩm phán theo quy trình:

Trang 12

Cùng với việc thay đổi quy trình tuyển chọn Thẩm phán thì việc cải cách

chính sách tiền lương, phụ cấp và nguồn thu nhập cho Thẩm phán nhằm thu hút được những người có trình độ khoa học pháp lý cao, kỹ năng thực hành nghề nghiệp tốt vào công hiến cho hoạt động xét xử

4.3.7 Nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự

Trang 13

Điều 136 Hiến pháp 1992 đã khẳng định: "Các bản án và quyết định của

TAND đã có hiệu lực pháp luật phải được các cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, các đơn vị vũ trang và mọi con người tôn trọng; những người và các đơn vị vũ trang phải nghiêm chỉnh chấp hành" Nhằm bảo đảm nghĩa vụ hiến định

đó cho những người có nghĩa vụ chấp hành án, hệ thống pháp luật thi hành án đặc biệt là thi hành án dân sự ngày càng được hoàn thiện Trong những năm vừa qua, hệ thống cơ quan Thi hành án dân sự đã được hình thành từ Trung ương đến địa

phương, bao gồm Tổng cục Thi hành án dân sự, Cục Thi hành án dân sự, Chi cục Thi hành án dân sự; nhiều bản án, quyết định của Toà án đã được thi hành dứt điểm, bảo đảm được quyền, lợi ích hợp pháp của nhà nước, của cơ quan, tổ chức và các cá nhân công dân, một số vụ án phức tạp, kéo dài đã được tập trung giải quyết, việc thi hành án dân sự tồn đọng giảm đáng kể, góp phần vào việc ổn định tình hình

an ninh, chính trị, trật tự, an toàn xã hội của đất nước, tạo tiền đề cho phát triển của kinh tế - xã hội[02] Mặc dầu vậy, hệ thống pháp luật và hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự trong những năm qua vẫn còn bộc lộ những hạn chế cần được tiếp tục khắc phục Theo báo cáo 6 tháng năm 2011 (từ ngày 01/10/2010 đến ngày 31/3/2011), thì số việc thi hành án dân sự tồn chuyển kỳ sau còn phải thi hành tính

từ khi chuyển giao công tác thi hành án dân sự từ Tòa án sang cho Chính phủ quản

lý (Tháng 7 năm 1993) là 285.482 việc với 24.186.587.393.000 đồng[02] Tình

146

trạng án dân sự tồn đọng do nhiều nguyên nhân khác nhau trong đó có nguyên nhân

"Nhiều việc bên phải thi hành án là các cơ quan nhà nước không tự nguyện thi hành, trong khi chúng ta chưa có cơ chế hữu hiệu buộc các đơn vị này phải thi hành"; "Khối lượng công việc các cơ quan Thi hành án dân sự phải tổ chức thi hành nhiều, trong khi lực lượng mỏng, trình độ, năng lực còn nhiều bất cập, cơ sở vật chất còn thiếu thốn dẫn đến quá tải trong việc thực hiện nhiệm vụ"[02] Ngoài ra, sự cứng nhắc của Tòa án trong khi ra phán quyết phải thực hiện nghĩa vụ dân sự chỉ

Trang 14

căn cứ trên cơ sở quy định của pháp luật mà không tính đến khả năng thi hành cũng

là một trong những nguyên nhân dẫn đến các bản án đó gần như là không thể thi hành được Những hạn chế đó của hoạt động thi hành án đã khiến cho một bộ phận người dân đặc biệt là những người được thi hành án bất bình và mất niềm tin vào sự nghiêm minh của pháp luật đặc biệt có những vụ việc thi hành án bị cơ quan thi hành án, chấp hành viên hoặc cơ quan nhà nước cố tình không chấp hành án hoặc thi hành không phù hợp với quy định của pháp luật, phán quyết của Tòa án khiến cho dư luận bất bình, đồng thời đã xâm hại nghiêm trọng đến quyền của người được thi hành án Chính vì vậy, nâng cao chất lượng hoạt động thi hành án dân sự là một trong những vấn đề cấp bách cần được thực hiện nhằm bảo đảm cho các bản án, quyết định của Tòa án được thể hiện một cách đầy đủ trong thực tiễn xã hội

147

KẾT LUẬN CHƯƠNG 4

Trên cơ sở các quan điểm của Đảng về cải cách hệ thống chính trị nói chung,

cải cách bộ máy nhà nước nói riêng đặc biệt những quan điểm của Đảng về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, luận án đã xây dựng phương hướng cơ bản nhằm bảo đảm việc đề xuất các giải pháp nâng cao vai trò của Tòa án trong việc bảo

vệ quyền con người có tính khoa học và phù hợp với điều kiện kinh tế và chính trị -

xã hội Việt Nam trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Từ việc xác định các quan điểm cụ thể cần phải được quán triệt trong quá trình xây dựng các giải pháp và những yêu cầu cấp thiết của nhu cầu nâng cao vai trò của Tòa án trong việc bảo vệ quyền con người, các giải pháp khoa học được đề xuất đặc biệt chú trọng đến các giải pháp hạn chế những nguyên nhân ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả bảo vệ quyền con người của Tòa án trong đời sống xã hội, như: Nâng cao tính độc lập của hoạt động xét xử, chất lượng đội ngũ Thẩm phán; hoàn thiện pháp luật tố tụng tư pháp bảo đảm quyền của bị can, bị cáo và đương sự trong quá trình giải quyết vụ án; cải cách mô hình tổ chức hệ thống tòa án; mở rộng thẩm quyền bảo vệ quyền

Ngày đăng: 30/08/2016, 23:14

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w