1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Mô hình nào cho trường phổ thông VN trong tương lai

29 316 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 272,61 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

“Nhận diện” mô hình trường phổ thông hiện nay Xét theo cấp học thì hiện nay ở Việt Nam có trường tiểu học, THCS, THPT và còn tồn tại hình thức trường liên cấp ở một số vùng. Nếu phân loại theo chủ thể thành lập thì hiện có trường công lập và ngoài công lập; nếu phân loại theo tiêu chí đặc điểm của đối tượng thì hiện có trường đại trà và chuyên biệt. Một số băn khoăn về nhà trường phổ thông hiện nay ở nước ta được ông Trần Kiều đưa ra, đó là những hạn chế trong việc thực hiện yêu cầu giáo dục hướng nghiệp, dạy nghề cho học sinh; việc còn coi nhẹ chiều tác động của nhà trường đến cộng đồng trong nhiều lĩnh vực. Từ đó, ông Trần Kiều cho rằng, nhà trường phổ thông Việt Nam không phải là ngoại lệ trước nguy cơ của giáo dục thế giới vào thời kỳ đầu thể kỷ XXI (việc học tập trong nhà trường nặng nề gây những hệ quả xấu về mặt tâm lý, xã hội; nhiều kiến thức song lại không biêt sử dụng, nội dung và kết quả học tập trong nhà trường không đáp ứng được yêu cầu của sự phát triển kinh tế, xã hội; sự phân cực về trình độ, về công bằng xã hội ngày càng lớn). Nhà trường của Việt Nam hiện nay phải là nhà trường hiện đại với đặc trưng trên và mang những đặc thù bản sắc Việt Nam, đáp ứng các yêu cầu của sự nghiệp CNHHĐH và hội nhập quốc tế. Đó là nhà trường thực hiện giáo dục toàn diện; thực hiện nguyên lý giáo dục học đi đôi với hành; tách rời tôn giáo, nội dung giáo dục phải đảm bảo tính khoa học, đại chúng, dân tộc; thực hiện bình đẳng giáo dục... Chính quan niệm về nhà trường hiện đại, theo PGS.TS.Vũ Trọng Rỹ là cơ sở để thiết kế mô hình trường phổ thông sau 1015 năm tới. Đó là nhà trường mở, gắn kết chặt chẽ với gia đình học sinh và cộng đồng; thực hiện giáo dục toàn diện và có đủ điều kiện thưc hiện hiệu quả giáo dục toàn diện; đảm báo dân chủ, hợp tác là nguyên tắc chi phối tất cả các hoạt động trong nhà trường.

Trang 1

Mô hình nào cho trường phổ thông VN trong tương lai?

(GD&TĐ)-Mô hình trường phổ thông của Việt Nam trong 10 – 15 năm tới sẽ như thế nào? Phải chăng là một kiểu nhà trường phổ thông với tư cách là một tổ chức học tập nền tảng, nền tảng trong xây dựng nhân cách con người Việt Nam, nền tảng để học tập suốt đời, nền tảng cho giáo dục vì sự phát triển bền vững, cho sự bảo tồn và phát triển bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam

Đó là gợi ý của nguyên Phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình trong cuộc Hội thảo diễn ra sáng nay (21/9/2010) với sự tham dự của nhiều học giả có tên tuổi trong giới học thuật

“Nhận diện” mô hình trường phổ thông hiện nay

ngoài công lập; nếu

phân loại theo tiêu chí

đặc điểm của đối tượng

thì hiện có trường đại trà

Nhà trường phổ thông hiện nay về cơ bản vẫn là một nhà trường truyền thống, mặc dầu mô hình đó đã dần dần có sự thay đổi để thích nghi với sự phát triển của xã hội, con người Đó là nhận định của PGS.TS Trần Kiều

PGS.TS.Trần Kiều cho rằng, hoạt động cơ bản của nhà trường truyền thống là thầy truyền thụ và trò tiếp nhận những điều đã được quy định sẵn trong sách giáo khoa, với mục đích cuối cùng là hiều được bài, trả lời được các câu hỏi, hoàn thành được các bài tập, làm được các bài kiểm tra, ứng phó được với các kỳ thi Tổ chức dạy học chủ yếu vẫn theo cấp, lớp, môn

Ông Trần Kiều cho rằng, nhà trường phổ thông nước ta cho đến nay vẫn có thể xem là một nhà trường

“chữ nghĩa, ứng thí”

Một số băn khoăn về nhà trường phổ thông hiện nay ở nước ta được ông Trần Kiều đưa ra, đó là những hạn chế trong việc thực hiện yêu cầu giáo dục hướng nghiệp, dạy nghề cho học sinh; việc còn coi nhẹ chiều tác động của nhà trường đến cộng đồng trong nhiều lĩnh vực Từ đó, ông Trần Kiều cho rằng, nhà trường phổ thông Việt Nam không phải là ngoại lệ trước nguy cơ của giáo dục thế giới vào thời kỳ đầu thể kỷ XXI (việc học tập trong nhà trường nặng nề gây những hệ quả xấu về mặt tâm lý,

Bộ Khoa học và Công nghệ đã phê duyệt đề tài độc lập cấp nhà nước

“Nghiên cứu đề xuất các giải pháp cải cách công tác đào tạo giáo viên phổ thông” và giao cho Quỹ Hòa bình và Phát triển Việt Nam chủ trì, tập hợp các nhà khoa học thực hiện.

Mục tiêu của đề tài là đề xuất quan điểm, nguyên tắc và giải pháp mang tính cải cách công tác đào tạo và đào tạo lại đội ngũ giáo viên các cấp của giáo dục phổ thông nhằm đón đầu cuộc đổi mới chương trình giáo dục phổ thông thực hiện sau 2015.

Trang 2

xã hội; nhiều kiến thức song lại không biêt sử dụng, nội dung và kết quả học tập trong nhà trường không đáp ứng được yêu cầu của sự phát triển kinh tế, xã hội; sự phân cực về trình độ, về công bằng

xã hội ngày càng lớn)

Nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình cho rằng, trong những năm gần đây, nước ta đã thực hiện đổi mới giáo dục phổ thông, bắt đầu bằng đổi mới chương trình và sách giáo khoa Kết quả đã đạtđược là đáng khích lệ Tuy nhiên, sự đổi mới này mới là bước đầu, chưa tạo được sự chuyển biến cơ bản tình hình giáo dục phổ thông Nội dung giáo dục vẫn nặng nề, ít gắn với cuộc sống; phương pháp giáo dục vẫn nặng về truyền thụ một chiều Một trong những nguyên nhân cơ bản của yếu kém này làđội ngũ giáo viên phổ thông cong nhiều bất cập về số lượng, cơ cấu, năng lực nghề nghiệp Hệ thống đào tạo giáo viên không theo kịp sự đổi mới chương trình giáo dục phổ thông

Nhấn mạnh vào mô hình trường THCS dạy học 2 buổi/ngày (THCS DH2BN) ở nước ta giai đoạn hiện nay, TS.Phạm Đức Quang – Viện Khoa học GD Việt Nam cho rằng, có thể xem trường THCS

DH2BN là giai đoạn quá độ để chuyển dần sang học cả ngày ở nước ta

Cũng theo TS.Phạm Đức Quang, đa số giáo viên, học sinh, phụ huynh học sinh và cán bộ quản lý được hỏi đều ủng hộ mô hình trường THCS DH2BN bởi nhiều lý do Trong đó có việc dạy 2

buổi/ngày sẽ thoáng hơn, giáo viên có điều kiện tìm hiểu học sinh, đổi mới phương pháp dạy học; học sinh có điều kiện hơn để ôn tập, nâng cao, mở rộng kiến thức, để vui chơi, tham gia các hoạt động, được thêm thời lượng sẽ bớt căng thẳng trong việc học các tiết/môn học

Tuy nhiên, việc dạy 2 buổi/ngày hiện vẫn còn một số khó khăn bất cập như cơ sở vật chất, sân chơi, bãi tập, thư viện, phòng ăn, nghỉ của học sinh, phòng đọc, chưa tương xứng; còn thiếu trợ giảng; việcchỉ đạo về việc dạy và học, hoạt động cho cả ngày, cả tuần, cả tháng, cả năm của HS, GV, tổ chuyên môn, nhà trường còn bỡ ngỡ, bất cập.

Mô hình trường phổ thông VN sẽ như thế nào trong tương lai?

PGS.TS.Vũ Trọng Rỹ - Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam cho rằng, trong nền văn minh tin học, sự phát triển của công nghệ máy tính điện tử và mạng internet trở thành nhân tố ảnh hưởng đáng kể tới nhà trường Nhờ có những công cụ, phương tiện này mà một phần của giáo dục chuyển dịch ra khỏi nhà trường về các gia đình Với kỹ thuật máy tính kết hợp với mạng internet, người ta có thể tự tiến hành đào tạo lại, làm phong phú thêm vốn kiến thức, kỹ năng của mình để thích ứng với sự biến đổi thường xuyên của công nghệ và việc làm mà không nhất thiết phải đến nhà trường Sự phát triển của công nghệ máy tính và kỹ thuật viễn thông đang dẫn đến sự toàn cầu hóa giáo dục và do đó nhà trường cũng mang tính toàn cầu.

Ngày nay, theo PGS.TS.Vũ Trọng Rỹ, nhà trường đang dần trở thành hệ mở, không bị khuôn cứng lại trong một không, thời gian hay nội dung đào tạo nhất định Nhà trường là một hệ mở về đối tượng học; mở về mối quan hệ chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, mở về phương thức đào tạo, thể hiện tính đa dạng hóa của giáo dục.

Do đó, khái niệm nhà trường cũng mở rộng hơn, không chỉ giới hạn trong nhà trường chính quy mà bao hàm tất cả các kiểu nhà trường khác nhau, trong đó nhà trường chính quy được xem là hệ thống đơn vị nòng cốt của hệ thống giáo dục.

Nhà trường của Việt Nam hiện nay phải là nhà trường hiện đại với đặc trưng trên và mang những đặc thù bản sắc Việt Nam, đáp ứng các yêu cầu của sự nghiệp CNH-HĐH và hội nhập quốc tế Đó là nhà trường thực hiện giáo dục toàn diện; thực hiện nguyên lý giáo dục học đi đôi với hành; tách rời tôn giáo, nội dung giáo dục phải đảm bảo tính khoa học, đại chúng, dân tộc; thực hiện bình đẳng giáo dục

Chính quan niệm về nhà trường hiện đại, theo PGS.TS.Vũ Trọng Rỹ là cơ sở để thiết kế mô hình trường phổ thông sau 10-15 năm tới Đó là nhà trường mở, gắn kết chặt chẽ với gia đình học sinh và cộng đồng; thực hiện giáo dục toàn diện và có đủ điều kiện thưc hiện hiệu quả giáo dục toàn diện; đảm báo dân chủ, hợp tác là nguyên tắc chi phối tất cả các hoạt động trong nhà trường.

Trang 3

Khi đó, nhà trường phải có mục tiêu cụ thể thể hiện rõ triết lý phát triển của nhà trường; được quyền tự chủ về nhân sự, tài chính và tổ chức thực hiện chương trình giáo dục trên cơ sở đảm bảo dân chủ, công khai, minh bạch với sự giám sát của tập thể giáo viên và cộng đồng; thực hiện giáo dục toàn diện; áp dụng các phương pháp dạy học phát huy tính chủ động tích cực, sáng tạo của học sinh; thời gian học tập trong nhà trường được kéo dài cả ngày (từ 6-7 tiếng) và phân bổ hợp lý cho các tiết học và các hoạt động giáo dục khác; đảm bảo về đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý về năng lực, trình độ, phẩm chất đạo đức; có đủ không gian sư phạm với

cơ sở hạ tầng phù hợp đảm bảo cho việc thực hiện có hiệu quả giáo dục toàn diện; có đủ thiết bị dạy học có chất lượng và các phương tiện kỹ thuật khác; môi trường giáo dục thân thiện, lành mạnh

TSKH.Phạm Đỗ Nhật Tiến với cách tiếp cận ở tầm vĩ mô đã đưa ra mô hình theo ông là “mô hình mong muốn

và khả thi” của trường phổ thông Việt Nam trong tương lai, đó là mô hình nhà trường – tổ chức học tập nền tảng Đó là nền tảng để học tập suốt đời, nền tảng cho giáo dục vì sự phát triển bền vững Mô hình này, theo TSKH.Phạm Đỗ Nhật Tiến là sự tương thích giữa mô hình nhà trường với mô hình mới trong tăng trưởng kinh

tế của nước ta Nhà trường được đổi mới theo hướng đa dạng hóa về tổ chức, canh tân trong dạy học nhằm chuẩn bị cho học sinh những năng lực cần thiết để học suốt đời và thành công trong những lựa chọn của mình trên con đường học vấn hoặc vào đời Liên kết giữa nhà trường với các cơ sở giáo dục đại học và doanh nghiệp được tạo dựng và thắt chặt Niềm tin của công chúng và sự hỗ trợ của xã hội đối với nhà trường được tăng cường Công bằng xã hội trong giáo dục được cải thiện Lợi thế của cơ cấu dân số vàng được phát huy Với mô hình này, nhà trường thoát ra khỏa cung cách quan liêu – hành chính trong tổ chức và điều hành để trở thành một tổ chức học tập năng động, gắn kết chặt chẽ với xã hội, chủ động đáp ứng các đòi hỏi mới của sự phát triển kinh tế - xã hội.

Theo TSKH.Phạm Đỗ Nhật Tiến, nước ta hiện đã có các yếu tố cần thiết cho việc thực hiện thành công mô hình này Vấn đề chính yếu còn lại là sự thống nhất về nhận thức và quyết tâm trong tổ chức thực hiện Cuộc vận động hiện nay về xây dựng “Trường học thân thiện – Học sinh tích cưc” cùng những thành công trong hai năm học vừa qua của phong trào này là bước khởi đầu quan trọng.

Hiếu Nguyễn

Hội thảo về mô hình nhà trường phổ thông trong tương lai do Nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình chủ

trì Ảnh: gdtd.vn

Trang 4

Mô hình trường phổ thông VN sẽ như thế nào trong tương lai?

PGS.TS.Vũ Trọng Rỹ - Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam cho rằng, trong nền văn minh tin học, sự phát triển của công nghệ máy tính điện tử và mạng internet trở thành nhân tố ảnh hưởng đáng kể tới nhà trường Nhờ có những công cụ, phương tiện này mà một phần của giáo dục chuyển dịch ra khỏi nhà trường về các gia đình

Với kỹ thuật máy tính kết hợp với mạng internet, người ta có thể tự tiến hành đào tạo lại, làm phong phú thêm vốn kiến thức, kỹ năng của mình để thích ứng với sự biến đổi thường xuyên của công nghệ

và việc làm mà không nhất thiết phải đến nhà trường Sự phát triển của công nghệ máy tính và kỹ thuật viễn thông đang dẫn đến sự toàn cầu hóa giáo dục và do đó nhà trường cũng mang tính toàn cầu.Ngày nay, theo PGS.TS.Vũ Trọng Rỹ, nhà trường đang dần trở thành hệ mở, không bị khuôn cứng lại trong một không, thời gian hay nội dung đào tạo nhất định Nhà trường là một hệ mở về đối tượng học; mở về mối quan hệ chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, mở về phương thức đào tạo, thể hiện tính

đa dạng hóa của giáo dục Do đó, khái niệm nhà trường cũng mở rộng hơn, không chỉ giới hạn trong nhà trường chính quy mà bao hàm tất cả các kiểu nhà trường khác nhau, trong đó nhà trường chính quy được xem là hệ thống đơn vị nòng cốt của hệ thống giáo dục

Nhà trường của Việt Nam hiện nay phải là nhà trường hiện đại với đặc trưng trên và mang những đặc thù bản sắc Việt Nam, đáp ứng các yêu cầu của sự nghiệp CNH-HĐH và hội nhập quốc tế Đó là nhà trường thực hiện giáo dục toàn diện; thực hiện nguyên lý giáo dục học đi đôi với hành; tách rời tôn giáo, nội dung giáo dục phải đảm bảo tính khoa học, đại chúng, dân tộc; thực hiện bình đẳng giáo dục

Chính quan niệm về nhà trường hiện đại, theo PGS.TS.Vũ Trọng Rỹ là cơ sở để thiết kế mô hình trường phổ thông sau 10-15 năm tới Đó là nhà trường mở, gắn kết chặt chẽ với gia đình học sinh và cộng đồng; thực hiện giáo dục toàn diện và có đủ điều kiện thưc hiện hiệu quả giáo dục toàn diện; đảmbáo dân chủ, hợp tác là nguyên tắc chi phối tất cả các hoạt động trong nhà trường

Khi đó, nhà trường phải có mục tiêu cụ thể thể hiện rõ triết lý phát triển của nhà trường; được quyền tựchủ về nhân sự, tài chính và tổ chức thực hiện chương trình giáo dục trên cơ sở đảm bảo dân chủ, côngkhai, minh bạch với sự giám sát của tập thể giáo viên và cộng đồng; thực hiện giáo dục toàn diện; áp dụng các phương pháp dạy học phát huy tính chủ động tích cực, sáng tạo của học sinh; thời gian học tập trong nhà trường được kéo dài cả ngày (từ 6-7 tiếng) và phân bổ hợp lý cho các tiết học và các hoạtđộng giáo dục khác; đảm bảo về đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý về năng lực, trình độ, phẩm chất đạo đức; có đủ không gian sư phạm với cơ sở hạ tầng phù hợp đảm bảo cho việc thực hiện có hiệu quảgiáo dục toàn diện; có đủ thiết bị dạy học có chất lượng và các phương tiện kỹ thuật khác; môi trường giáo dục thân thiện, lành mạnh

TSKH.Phạm Đỗ Nhật Tiến với cách tiếp cận ở tầm vĩ mô đã đưa ra mô hình theo ông là “mô hình mong muốn và khả thi” của trường phổ thông Việt Nam trong tương lai, đó là mô hình nhà trường – tổchức học tập nền tảng Đó là nền tảng để học tập suốt đời, nền tảng cho giáo dục vì sự phát triển bền vững Mô hình này, theo TSKH.Phạm Đỗ Nhật Tiến là sự tương thích giữa mô hình nhà trường với

mô hình mới trong tăng trưởng kinh tế của nước ta Nhà trường được đổi mới theo hướng đa dạng hóa

về tổ chức, canh tân trong dạy học nhằm chuẩn bị cho học sinh những năng lực cần thiết để học suốt đời và thành công trong những lựa chọn của mình trên con đường học vấn hoặc vào đời Liên kết giữa nhà trường với các cơ sở giáo dục đại học và doanh nghiệp được tạo dựng và thắt chặt Niềm tin của công chúng và sự hỗ trợ của xã hội đối với nhà trường được tăng cường Công bằng xã hội trong giáo dục được cải thiện Lợi thế của cơ cấu dân số vàng được phát huy Với mô hình này, nhà trường thoát

ra khỏa cung cách quan liêu – hành chính trong tổ chức và điều hành để trở thành một tổ chức học tập

Trang 5

năng động, gắn kết chặt chẽ với xã hội, chủ động đáp ứng các đòi hỏi mới của sự phát triển kinh tế - xãhội.

Theo TSKH.Phạm Đỗ Nhật Tiến, nước ta hiện đã có các yếu tố cần thiết cho việc thực hiện thành công mô hình này Vấn đề chính yếu còn lại là sự thống nhất về nhận thức và quyết tâm trong tổ chức thực hiện Cuộc vận động hiện nay về xây dựng “Trường học thân thiện – Học sinh tích cưc” cùng những thành công trong hai năm học vừa qua của phong trào này là bước khởi đầu quan trọng

Hội thảo STEM thu hút đông đảo các chuyên gia giáo dục, cán bộ quản lý giáo dục và bangiám hiệu các nhà trường trên địa bàn Quận Kiến Anh và TP Hải Phòng Sự kiện tổ chứcnhằm giới thiệu và hướng dẫn triển khai giải pháp cho chương trình giáo dục STEM tại cáctrường Tiểu học, THCS Qua đó, cùng trao đổi và cập nhật những xu hướng phát triển giáodục STEM trong chương trình giáo dục phổ thông trên thế giới và tại Việt Nam

Với vai trò là doanh nghiệp đi đầu trong chương trình giáo dục STEM, DTT Eduspec đã cónhững chia sẻ, giới thiệu về mô hình giáo dục STEM và tầm quan trọng của mô hình giáodục này

Ông Đỗ Văn Tuấn – Chuyên gia giáo dục STEM DTT Eduspec phát biểu tại Hội thảo

Đại diện DTT Eduspec, ông Đỗ Văn Tuấn - chuyên gia về chương trình Giáo dục STEM cho biết Giáo dục STEM chính là tương lai, là chìa khóa cho sự đổi mới và tăng trưởng kinh tế trong thế giới kết nối mạng với sự phát triển bởi công nghệ và sáng tạo Giáo dục STEM với rất nhiều điểm khác biệt như chương trình giáo dục được xây dựng có hệ thống, dạy và học dựa trên dự án thực tế và kết quả là đánh giá về tư duy và kỹ năng của học sinh trong thế kỷ 21 với những luồng kiến thức tích hợp cần thiết về các môn học Khoa học, Công nghệ, Kỹ thuật và Toán học, giúp học sinh có năng lực giải quyết các vấn đề thực tiễn Trong đó, hội thảo giới thiệu về các chương trình đào tạo thuộc các khóa học như STEM Khoa học máy tính (STEM Computer Science), STEM Khoa học Robot (STEM Robotics), STEM Công nghệ sáng tạo (STEM Zulama), đây là những môn học tiêu biểu trong chương trình giáo dục STEM.

Sản phẩm TUHOC trong chương trình giáo dục STEM của DTT được trưng bày tại Hội thảo STEM tại Quận

Kiến An, Hải Phòng

Điểm nhấn của Hội thảo là việc đưa ra các Giải pháp triển khai STEM cho các trường Tiểu học, THCS tại Việt Nam Các giải pháp này đã được các chuyên gia về giáo dục STEM cùng lãnh đạo các đơn vị giáo dục tại Quận Kiến An phân tích và thảo luận Từ đó có thể áp dụng để triển khai một cách có hiệu quả và thuận lợi tại các trường học trên địa bàn Quận Kiến An và mở rộng cho các trường phổ thông tại thành phố Hải Phòng Nguồn: stem.vn

Trường THPT FPT được thành lập bởi Trường Đại học FPT, Tập đoàn FPT và được Ủy ban nhân dân Tp Hà Nội ra quyết định thành lập.Với mô hình học tập nội trú nằm trong trường đại học, Trường THPT FPT được thừa hưởng nhiều thành quả giáo dục từ Đại học FPT – ngôi trường chỉ sau 6 năm hoạt động đã đứng trong hàng ngũ các trường đại học

uy tín nhất tại Việt nam và bước đầu đi ra thế giới.

Trường THPT FPT được xây dựng và phát triển theo mô hình của một trường phổ thông thế hệ mới, nơi tạo môi trường cho học sinh phát triển toàn diện, xác định được đam mê và chuẩn bị những kiến thức, kỹ năng, thái độ ứng

xử, nền tảng văn hoá, và trên hết là một tinh thần tự lập hết sức cần thiết cho giai đoạn học tập đại học, với mục tiêu trở thành một công dân toàn cầu đúng nghĩa.Trường THPT là trường theo mô hình nội trú Trong đó học sinh học tập,

Trang 6

sinh hoạt từ thứ 2 đến hết thứ 6 hàng tuần ở một môi trường học tập và rèn luyện tập trung, khép kín Đây cũng là một trong các mô hình của các trường THPT hàng đầu ở Mỹ và nhiều nước khác Tại Việt Nam, một mô hình trung học nội trú, trực thuộc các trường đại học đã được triển khai từ những năm 70 và đã đóng góp rất nhiều thế hệ tài năng cho đất nước.Trong tuần, phụ huynh sẽ không cần lo lắng về việc đón đưa con em hay tìm chỗ học thêm Nhà trường sẽ tổ chức tất cả các hoạt động cần thiết liên quan cho việc học tập theo chương trình chính khóa, học nâng cao và các chương trình phát triển cá nhân toàn diện Thứ Bẩy và Chủ nhật học sinh có thể lựa chọn ở lại trường hoặc về với gia đình.

3 Mục tiêu đào tạo của Trường THPT FPT là gì?

Mục tiêu đào tạo quan trọng nhất của Trường THPT FPT ngoài những kiến thức phổ thông nền tảng là đào tạo ra những thế hệ học sinh sẵn sàng cho các chương trình đại học theo định hướng quốc tế và cơ hội việc làm toàn cầu sau này: có ý thức kỷ luật và thái độ phù hợp; có tính tự lập cao; có tư duy phản biện, sáng tạo; có khả năng ngoại ngữ rất tốt và ứng dụng thành thạo công nghệ thông tin Học sinh cũng sẽ được trang bị nền tảng văn hóa và truyền thống Việt Nam, hiểu được và tôn trọng sự khác biệt văn hóa và các nền văn hóa quốc tế.

4 Triết lý giáo dục của trường THPT FPT là gì?

Tại Trường Trung học phổ thông FPT, Tôn trọng mỗi cá nhân và đề cao sự tự lập là triết lý giáo dục hàng đầu được đặt ra, song hành cùng định hướng Quốc tế hóa nhưng vẫn giữ gìn những giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam.

Trụ sở chính thức của Trường được xây dựng tại Khu Công nghệ cao Hòa Lạc, Km29 Đại lộ Thăng Long, Thạch Hoà, Thạch Thất, Hà Nội là một quần thể trường đại học, trường THPT hiện đại theo tiêu chuẩn quốc tế với các khu học tập, sinh hoạt, thể thao, giải trí trên một diện tích hơn 30 ha.

6 Môi trường học tập dành cho các bạn học sinh như thế nào?

Môi trường học tập tại THPT FPT là môi trường kỷ luật, chuyên nghiệp nhưng cũng rất tôn trọng cá nhân và hòa đồng, thân thiện Học vì kiến thức thật và những thành công thật trong tương lai, không chấp nhận bất cứ sự gian dối, tiêu cực nào trong học tập, sinh hoạt Môi trường được xây dựng để chăm sóc chu đáo cho việc học tập và sinh hoạt của học sinh nhưng cũng định hướng vào việc hoàn thiện tính tự lập và trách nhiệm cá nhân của mỗi học sinh.

Phát triển mạng lưới trường, lớp, tăng cường cơ sở vật chất, thiết bị giáo dục và xây nhà công vụ giáo viên.

TIÊU ĐIỂM - SỰ KIỆN

chat-thiet-bi-giao-duc-va-xay-nha-cong-vu-giao-vien_3787.aspx

http://hoabinh.edu.vn/vn/content/tintuc/tieudiemsukien/phat-trien-mang-luoi-truong-lop-tang-cuong-co-so-vat-Trong năm học 2009 - 2010, ngành GD&ĐT đã triển khai Đề án kiên cố hóa trường, lớp học và nhà công

vụ cho giáo viên giai đoạn 2008-2012 theo Quyết định số 20/2008/QĐ-TTg ngày 01/02/2008 của Chính phủ nhằm thực hiện mục tiêu tiếp tục xóa phòng học tạm các loại, giải quyết nhà công vụ cho giáo viên

ở các xã vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn.

Với tổng số 2.704 phòng học và 1.405 phòng công vụ cho giáo viên Trong đó: 1.125 phòng học và 260 phòng công vụ của mầm non, 982 phòng học và 450 phòng công vụ của tiểu học, 527 phòng học và 479 phòng công vụ của THCS, 70 phòng học và 216 phòng công vụ cấp THPT với tổng kinh phí đầu tư dự kiến 572.533 triệu đồng (trong đó Trung ương 515.280 triệu đồng, ngân sách địa phương 57.253 triệu đồng) Đến nay, số phòng đã hoàn thành bàn giao và đưa vào sử dụng là 1709 phòng học và 622 phòng công vụ Năm 2008, 2009

đã tiến hành giải ngân là 247 tỷ 928 triệu đồng đạt tỷ lệ 100% kế hoạch vốn năm 2008, 2009

Tập trung chỉ đạo tăng cường đầu tư cơ sở vật chất cho các nhà trường Quan tâm, chú trọng xây dựng các phòng chức năng, nhà ở giáo viên, phòng thư viện, thí nghiệm, phòng làm việc hội đồng Toàn tỉnh hiện có 8.749 phòng học, trong đó 5.224 phòng kiên cố chiếm 61,6%; phòng bán kiên cố 2.329 phòng chiếm 27.5%;

926 phòng tạm, phòng khác chiếm 10.9%, có 1145 phòng ở của giáo viên; 564 phòng thư viện; 185 phòng thí nghiệm và phòng học bộ môn Năm 2009, từ nguồn vốn chương trình mục tiêu quốc gia về GD&ĐT đã triển khai xây dựng mới 5 công trình với tổng mức đầu tư là 20.442 triệu đồng, nghiệm thu và đưa vào sử dụng 21 phòng học, phòng bộ môn, phòng thư viện cấp THPT, 6 phòng bộ môn cấp THCS, 8 phòng học khối TTGDTX,

5 công trình trường mầm non với tổng kinh phí là 25.907 triệu đồng Đang thực hiện thủ tục triển khai đầu tư 5 công trình cho các cấp học theo kế hoạch năm 2010 với kinh phí là 10.659 triệu đồng Tiếp tục đầu tư xây dựng từ Dự án phát triển THPT đợt 3 với tổng số 18 phòng học, 12 phòng thí nghiệm, phòng học bộ môn với tổng mức đầu tư khoảng 12.000 triệu đồng

Tiến hành mua sắm bổ sung thiết bị dạy học từ lớp 1 đến lớp 5 là 2000 triệu; thiết bị các trường mầm non đạt chuẩn quốc gia và trường mầm non vùng khó khăn là 3000 triệu; mua sắm bổ sung 8 phòng tin học cho 8 trường THPT, thiết bị hỗ trợ kết nối internet, phòng họp trực tuyến tại Văn phòng Sở là 100 triệu

Tiếp tục triển khai kế hoạch mua sắm thiết bị năm 2010: Mua sắm thiết bị tin học cho 7 trường Tiểu học

và 6 trường THCS với tổng kinh phí 3.000 triệu đồng sắm thiết bị cho 4 trường mầm non phấn đấu đạt chuẩn

Trang 7

Quốc gia và các trường mầm non thực hiện thí điểm chương trình giáo dục mầm non mới với tổng kinh phí 2.000 triệu đồng Mua sắm bổ sung thiết bị dạy học tối thiểu cho cấp THCS và 6 trường THPT mới thành lập với tổng kinh phí 2.300 triệu đồng, trong đó cấp THCS là 2.000 triệu đồng, cấp THPT là 300 triệu đồng Ngoài ra, từ nguồn vốn ngân sách của tỉnh và các nguồn khác đã tiến hành xây dựng, cải tạo nâng cấp

và mua sắm thiết bị cho các trường học với tổng mức đầu tư khoảng 64.000 triệu đồng Năm 2009, mua 3.537.012 quyển sách giáo khoa với tổng kinh phí 20.056 triệu đồng Từ nguồn vốn chương trình mục tiêu quốc gia, mua sắm SGK, SGV, SBT cho học sinh vùng kinh tế xã hội khó khăn với kinh phí là 500 triệu năm 2009,

900 triệu năm 2010

Tập trung chỉ đạo xây dựng trường đạt chuẩn Quốc gia, tính đến thời điểm này, toàn tỉnh có 108 trường mầm non, tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông đạt chuẩn Quốc gia, chiếm tỷ lệ 15.4% (trong đó 19

trường Mầm non, 63 trường Tiểu học, 24 trường THCS, 2 trường THPT) Ngô Thị Oanh

Yên Bái: Giải “bài toán” sắp xếp mạng lưới trường lớp đối với các cấp học

19.06.2016 19:52

NHN Online - Nhằm nâng cao chất lượng giáo dục; quy hoạch mạng lưới trường, lớp học, giảm biên chế ngành giáo dục giai đoạn 2015 – 2020 Tỉnh Yên Bái đã tiến hành xây dựng Đề án sắp xếp qui mô, mạng lưới trường lớp đối với giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông để đáp ứng nhu cầu học tập của học sinh, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện.

Điểm “nhấn” của Đề án

Cách đây vài năm, nhiều phụ huynh đưa con đến trường chỉ vì muốn con mình thoát nạn mù chữ theo đúng chủ trương chủa Đảng và Nhà Nước, thậm chí coi đó là việc bất đắc dĩ, thì nay, nhu cầu đưa con đến trường, biết cái chữ ngày càng cao "Cầu" phát triển, kéo theo yêu cầu nâng quy mô của mạng lưới giáo dục tỉnh Yên Bái lên một bước mới Tới nay, toàn tỉnh Yên Bái đã 100% xã, phường, thị trấn đặt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi, năm 2015, tỉnh đặt chuẩn phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi Giáo dục vùng cao được quan tâm, hệ thống trường dân tộc nội trú tỉnh đứng thứ 2 trong toàn quốc Tính trong 5 năm gần đây, số giải học sinh giỏi tăng trên 400 giải, đặc biệt lần đầu tiên có 01 học sinh đạt giải kỳ thi Olympic Vật lý khu vực Châu Á – Thái Bình Dương; tỷ lệ đỗ đại học đạt trên 35%, có 05 học sinh thi đỗ thủ khoa vào các trường đại học hàng đầu quốc gia, số nhà giáo ưu tú, giáo viên dạy giỏi toàn quốc ngày một tăng; cơ sở vật chất không ngừng được đầu tư, những khó khăn, bất cập về đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên và nhân viên được quan tâm giải quyết.

Thầy Đinh Gia Thừa - Hiệu trưởng Trường tiểu học Phúc Sơn, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái đang hướng dẫn

các em học sinh tại điểm trường Điệp Quang

Góp phần vào kết quả chung đó có sự nỗ lực của chính quyền địa phương Tuy nhiên, mỗi nơi cần phải xác định trọng tâm, "điểm nhấn" phù hợp với điều kiện và khả năng của địa phương mình Căn cứ Công văn số 678/UBND – NC ngày 8/4/2016 của UBND tỉnh Yên Bái về việc Hướng dẫn xây dựng Đề án sắp xếp quy mô, mạng lưới trường lớp đối với giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông trên địa bàn tỉnh; Kế hoạch số 29 của UBND tỉnh Yên Bái về việc triển khai xây dựng Đề án và thực hiện quy hoạch mạng lưới trường, lớp đối với giáo dục mầm non và giáo dục thường xuyên trên địa bàn tỉnh Yên Bái Xây dựng Đề án đến năm 2020 nhằm: Sau khi sắp xếp quy mô mạng lưới trường, lớp: Không làm giảm học sinh ra lớp ở cá độ tuổi, đảm bảo tỷ lệ chuyên cần, không để tình trạng gia tăng học sinh bỏ học so với trước khi rà soát; phấn đấu thực hiện đạt các mục tiêu

về giáo dục của Nghị quyết Đại hội Đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2015-2020; đến năm 2020, duy trì phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi, phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi, phổ cập giáo dục trung học cơ sở ở 100% xã, phường thị trấn và từng bước phát triển theo hướng bền vững; Số lớp sau khi sắp xếp và theo từng năm học phải chính xác trên cơ sở học sinh tuyển mới, dự báo tỷ lệ học sinh chuyển cấp, chuyển lớp, đảm bảo

độ chính xác khi xây dựng đề án.

Ông Phạm Mạnh Tưởng, Trưởng phòng GD&ĐT huyện Trạm Tấu (Yên Bái) cho biết: “Đề án sắp xếp qui mô, mạng lưới trường lớp đối với giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông trên địa bàn với trọng tâm là sát nhập, xóa điểm trường lẻ, tách trường, thành lập trường mới; tập trung chăm sóc cho đội ngũ giáo viên, xây dựng phương án, tổ chức bố trí lại đội ngũ phải đảm bảo công khai, dân chủ, minh bạch; làm tốt công tác tư tưởng cho đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên… Vì vậy mà Đề án đang triển khai rất tốt Trong khi đó, xã Phúc Sơn huyện Văn Chấn chọn việc thu gom điểm trường lẻ để đầu tư tập trung với việc sát nhập 03 điểm trưởng về khu trung tâm với tiểu học, sát nhập 01 điểm trường về khu trung tâm đối với trường mầm non Cụ thể, sau khi sát nhập xã Phúc Sơn sẽ có 04 điểm trường mầm non, 01 điểm trường tiểu học, 01 điểm trường Trung học cơ sở.

Trang 8

Đề án sắp xếp quy mô, mạng lưới trường lớp đối với giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông trên địa bàn tỉnh đối với sắp xếp, điều động, bổ nhiệm cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên lựa chọn những người có năng lực, tinh thần trách nhiệm cao tránh tình trạng “chảy máu chất xám” trên cơ sở công khai, minh bạch, dân chủ… Từ

đó, thực hiện đúng Nghị quyết 39 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về tinh giảm biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức đối với ngành giáo dục Được biết, đối với cán bộ quản lý: trường Liên cấp có

1 hiệu trưởng, tối đa 3 phó hiệu trưởng; trường 2 cấp học có 1 hiệu trưởng, tối đa 2 phó hiệu trưởng; các trường khác thực hiện theo quy định Riêng với giáo viên chuyên môn thực hiện điều động từ nơi thừa đến nơi thiếu trong cùng cấp học, đúng chuyên môn; nếu bố trí, sắp xếp còn dôi dư thì xây dựng phương án bồi dưỡng, đào tạo chuyên môn phù hợp để bố trí dạy học ở cấp học thiếu giáo viên để đảm bảo cân đối, hợp lý tránh tình trạng giáo viên không có việc làm Ngoài ra, bộ phận nhân viên kế toán sẽ bố trí theo hướng một xã, phường, thị trấn: 01 kế tán đảm nhiệm công tác kế toán của các trường trên cùng địa bàn; nhân viên y tế, thiết bị, thư viện… sẽ bố trí nguyên tắc 01 nhân viên đảm nhiệm 2-3 vị trí.

Các trường sau khi sát nhập, sẽ được tận dụng tối đa cơ sở vật chất hiện có để tổ chức dạy và học, ổn định trường lớp, đầu tư hàng năm nhằm đáp ứng cơ sở vật chất, trang thiết bị cho nhà trường Mặt khác tích cực huy động các nguồn lực xã hội hóa để đầu tư cơ sở vật chất cho các trường sát nhập Khi sát nhập điểm trường cơ sở vật chất dôi dư (đất đai, phòng học…) ở các điểm trường đã xóa sẽ tính toán bàn giao cho cấp học khác hoặc điều chuyển cho xã, thôn bản sử dụng phù hợp, hiệu quả Đối với một số trường đã đạt chuẩn quốc gia sát nhập với các trường chưa đạt chuẩn quốc gia sẽ được quan tâm đầu tư bổ sung, cải tạo cơ sở vật chất để đơn vị mới đủ điều kiện công nhận đạt chuẩn quốc gia.

Trước vấn đề này, UBND tỉnh Yên Bái đã có văn bản hướng dẫn cụ thể đảm bảo lộ trình đến năm 2020 sẽ hoàn thành đề án Những điểm “nhấn” của đề án được thể hiện rõ tính tích cực trong khi mục tiêu là tinh giảm biên chế cán bộ, giáo viên, nhân viên, giảm đầu tư cơ sở vật chất nhưng lại đảm bảo chất lượng giáo dục Muốn vậy, cần sự đồng thuận từ UBND tỉnh Yên Bái, cơ quan chức năng với nhân dân, tổ chức các cuộc đối thoại với phụ huynh để tìm ra những khó khăn từ đó có hướng giải quyết phù hợp Để khi Đề án đưa vào áp dụng thực

tế sẽ tạo ra động lực phát triển giáo dục mạnh mẽ, toàn diện cho tỉnh Yên Bái.

Còn đó những khó khăn

Yên Bái là một tỉnh miền núi phía bắc, trong đó người dân tộc thiểu số chiếm 67%, người dân chủ yếu là canh tác nông nghiệp manh mún, nhỏ lẻ Do là tỉnh còn gặp nhiều khó khăn trong phát triển kinh tế – xã hội, cơ sở hạ tầng thiếu, xuống cấp nên việc áp dụng Đề án sắp xếp qui mô, mạng lưới trường lớp đối với giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông còn vướng mắc khó khăn và nhiều điểm bất cập khi áp dụng vào thực tế.

Bà Nguyễn Thị Hà – Phó Trưởng phòng Giáo dục và đào tạo Văn Chấn (Yên Bái) cho biết: “Việc xóa các điểm trường lẻ để sát nhập vào các điểm trường chính sẽ tiết kiệm được nhân lực, cơ sở vật chất nhưng lại tạo ra khoảng cách đi lại của học sinh đối với cấp mầm non và tiểu học: đường đi lại khó khăn, các cháu tuổi chưa tự

đi, cha mẹ bận làm ăn không có thời gian đưa đón, tốn kém chi phí Tạo nên một áp lực lớn trong lộ trình tính toàn khoảng cách giữa các điểm trường phù hợp với mật độ dân cư địa phương để tránh bức xúc trong dư luận.

Vướng mắc lớn về công tác rà soát, quy hoạch, điều chuyển, cơ cấu, số lượng đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên có đúng nguyện vọng, đủ điều kiện, đủ chỉ tiêu để cán bộ, giáo viên, nhân viên yên tâm công tác dạy và học Một nhân viên đảm nhiệm 2-3 vị trí liệu có đảm bảo về mặt chuyên môn, chất lượng công việc; kinh phí đào tạo, bồi dưỡng nhân lực dôi dư để điều chuyển sang một vị trí khác; sẽ là khó khăn về mặt bằng chất lượng học khi sát nhập một điểm trường chưa đạt chuẩn quốc gia với trường đã đạt chuẩn quốc gia…Bà Nguyễn Thị Hà thông tin.

Mỗi địa phương có một sự khó riêng nhưng về cơn bản là tỉnh Yên Bái đã tận dụng nguồn lực ở mức có thể, muốn tạo sức bật mới trong giai đoạn tiếp theo thì các địa phương cần có thêm giải pháp bổ sung, một tinh

thần chủ động, quyết liệt, sáng tạo như chỉ đạo của lãnh đạo tỉnh Yên Bái./ PHƯƠNG HOA (NHN)

QUYẾT ĐỊNH CỦA THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ

Phê duyệt Quy hoạch mạng lưới các trường đại học

Trang 9

và cao đẳng giai đoạn 2006 - 2020

THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;

Căn cứ Luật giáo dục ngày 14 tháng 06 năm 2005 và Nghị định số 75/2006/NĐ-CP ngày 02 tháng 08 năm

2006 của Chính phủ về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật giáo dục;

Căn cứ Nghị định số 92/2006/NĐ-CP ngày 07 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ về lập, phê duyệt và quản lý quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội;

Căn cứ Nghị quyết số 34/2006/NQ-CP ngày 08 tháng 12 năm 2006 của Chính phủ về phiên họp thường kỳ tháng 11 năm 2006;

Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo tại Tờ trình số 6526/TTr-BGDĐT ngày 25 tháng 06 năm

2007 về đề án “Quy hoạch mạng lưới các trường đại học và cao đẳng Việt Nam giai đoạn 2006 - 2020”,

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1 Phê duyệt Quy hoạch mạng lưới các trường đại học và cao đẳng giai đoạn 2006 - 2020 với các nội

dung chính như sau:

1 Quan điểm Quy hoạch

Xây dựng, phát triển mạng lưới các trường đại học, cao đẳng giai đoạn 2006 - 2020 được thực hiện theo những định hướng cơ bản sau đây:

a) Mở rộng hợp lý quy mô đào tạo đại học, đáp ứng yêu cầu của công nghiệp hóa và hiện đại hóa; phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội và tiềm lực khoa học công nghệ của đất nước; góp phần nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực và đào tạo nhân tài; thực hiện điều chỉnh cơ cấu hệ thống đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo, thực hiện đào tạo theo nhu cầu xã hội; gắn công tác đào tạo với nghiên cứu khoa học và đời sống xã hội;

b) Kết hợp hài hòa giữa việc khai thác mặt tích cực của cơ chế thị trường với việc nâng cao hiệu quả, hiệu lực công tác quản lý nhà nước; nhà nước tăng cường đầu tư ngân sách, đào tạo, bồi dưỡng giảng viên, cán bộ quản lý giáo dục đại học; tạo quỹ đất xây dựng trường; thực hiện công bằng xã hội; ban hành chính sách hỗ trợ vùng khó khăn, hỗ trợ người học thuộc các đối tượng ưu tiên, khuyến khích học tập, đồng thời đẩy mạnh công tác xã hội hóa giáo dục nhằm huy động mọi nguồn lực xã hội tham gia phát triển giáo dục đại học;

c) Thực hiện thống nhất quản lý nhà nước về chính sách, quy hoạch, chất lượng đào tạo, chuẩn giảng viên, các yêu cầu về quản lý tài chính, hợp tác quốc tế đối với các trường đại học, cao đẳng Tăng cường phân cấp quản lý, nâng cao tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các trường đại học, cao đẳng; xây dựng một số trường đại học, cao đẳng mạnh, hình thành các cụm đại học; khắc phục hiện trạng manh mún, phân tán của mạng lưới, nhiều trường nhỏ, đào tạo đơn ngành, chuyên môn hẹp; khuyến khích sự phối hợp giữa các địa phương trong việc mở trường;

d) Phát triển mạng lưới các trường đại học, cao đẳng phải phù hợp với chiến lược phát triển và điều kiện kinh

tế - xã hội, tiềm lực khoa học công nghệ của đất nước, gắn với từng vùng, từng địa phương; xây dựng cơ cấu ngành nghề, trình độ đào tạo, bố trí theo vùng miền hợp lý; xây dựng một số trung tâm đào tạo nhân lực trình

độ cao, gắn với các vùng kinh tế trọng điểm, vùng kinh tế động lực; hình thành một số trung tâm đào tạo nguồn nhân lực tập trung theo vùng, một số khu đại học, đáp ứng yêu cầu di dời của các trường trong khu vực nội thành thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và nhu cầu đầu tư mới;

đ) Bảo đảm đạt các tiêu chí quy định về chất lượng đội ngũ giảng viên, quy mô diện tích đất đai, cơ sở vật chất

- kỹ thuật - trang thiết bị, phù hợp với khả năng đầu tư của ngân sách nhà nước, sự huy động nguồn lực xã hội; e) Ưu tiên thành lập các cơ sở mới có đủ tiềm lực và điều kiện; hạn chế việc nâng cấp các cơ sở hiện có; khuyến khích đào tạo những ngành, nghề thuộc lĩnh vực công nghiệp; cân đối hợp lý cơ cấu đào tạo giữa các trình độ đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề, giữa các ngành nghề, giữa khoa học cơ bản, khoa học kỹ thuật - công nghệ; bảo đảm tính liên thông giữa các loại hình, các trình độ đào tạo;

g) Tập trung đầu tư xây dựng các trường đẳng cấp quốc tế, các trường trọng điểm, các trường ở vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn, các lĩnh vực then chốt; khuyến khích phát triển các trường tư thục nhằm huy động ngày càng nhiều hơn nguồn lực xã hội đầu tư cho giáo dục đại học, trên cơ sở bảo đảm chất lượng, công bằng

xã hội, gắn với phát triển nhân tài.

2 Mục tiêu Quy hoạch

a) Phấn đấu đạt 200 sinh viên/1 vạn dân vào năm 2010; 300 sinh viên/1 vạn dân vào năm 2015 và 450 sinh viên/1 vạn dân vào năm 2020 Đến năm 2020 có khoảng 70 - 80% sinh viên đại học được đào tạo theo các chương trình nghề nghiệp - ứng dụng và 20 - 30% sinh viên được đào tạo theo các chương trình nghiên cứu; b) Đến năm 2020 có từ 30 đến 40% sinh viên học tại các cơ sở giáo dục đại học tư thục;

c) Đến năm 2010 có trên 40% giảng viên đại học và trên 30% giảng viên cao đẳng có trình độ thạc sĩ trở lên; có trên 25% giảng viên đại học và 5% giảng viên cao đẳng có trình độ tiến sĩ;

Đến năm 2015: 70% giảng viên đại học và trên 50% giảng viên cao đẳng có trình độ thạc sĩ trở lên; có trên 50% giảng viên đại học và ít nhất 10% giảng viên cao đẳng có trình độ tiến sĩ;

Đến năm 2020 có trên 90% giảng viên đại học và trên 70% giảng viên cao đẳng có trình độ thạc sĩ trở lên; có trên 75% giảng viên đại học và ít nhất 20% giảng viên cao đẳng có trình độ tiến sĩ.

Trang 10

d) Sau năm 2010 diện tích đất đai và diện tích xây dựng của các trường đạt chuẩn định mức quy định về diện tích tính bình quân trên 1 sinh viên; hình thành các khu đại học dành cho các trường đại học nước ngoài đầu tư vào Việt Nam;

đ) Vào năm 2010 bảo đảm đủ giáo trình, tài liệu dành cho sinh viên theo quy định đối với các môn học, ngành học;

e) Đến năm 2010 có 10 trường đại học mà mỗi trường có ít nhất 1 khoa (ngành) hoặc lĩnh vực đào tạo đạt tiêu chí chất lượng tương đương so với các trường có uy tín trên thế giới; đến năm 2015 có 20 trường đại học đạt tiêu chí nêu trên và năm 2020 có 1 trường đại học được xếp hạng trong số 200 trường đại học hàng đầu thế giới;

g) Thu hút đạt tỷ lệ trên 0,1% vào sau năm 2010; 1,5% vào sau năm 2015 và 5% vào năm 2020 số lượng sinh viên là người nước ngoài so với tổng số sinh viên cả nước đến học tập, nghiên cứu tại Việt Nam.

3 Nội dung Quy hoạch

a) Tổng quy mô đào tạo đại học, cao đẳng:

- Nâng dần quy mô tuyển sinh mới hàng năm của cả mạng lưới để đạt mục tiêu tuyển khoảng 420.000 sinh viên trong năm 2010; gần 600.000 sinh viên trong năm 2015 và 1.200.000 sinh viên trong năm 2020;

- Tổng quy mô đào tạo đại học, cao đẳng của cả mạng lưới đạt khoảng 1,8 triệu người vào năm 2010; 3,0 triệu người vào năm 2015 và 4,5 triệu người vào năm 2020.

b) Quy mô đào tạo của các trường đại học

Quy mô đào tạo của các trường đại học, cao đẳng được xác định trên cơ sở bảo đảm các điều kiện, yếu tố ảnh hưởng chất lượng như: số lượng, chất lượng giảng viên, cơ sở vật chất phục vụ đào tạo, phòng học, phòng thí nghiệm, thực hành, ký túc xá sinh viên, khả năng ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác đào tạo, quản lý nhà trường , đồng thời được cân đối phù hợp với đặc điểm của các trường, ngành nghề đào tạo, bậc đào tạo

và năng lực quản lý để bảo đảm chất lượng đào tạo ngày càng được nâng cao Định hướng quy mô đào tạo (số lượng sinh viên đã quy đổi theo hình thức đào tạo chính quy) của các nhóm trường đại học, cao đẳng như sau:

- Đại học Quốc gia Hà Nội và Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh: khoảng 42.000 sinh viên;

- Các trường đại học trọng điểm khác: khoảng 35.000 sinh viên;

- Các trường đại học, học viện đào tạo các ngành nghề kỹ thuật - công nghệ, kinh tế, luật, sư phạm và các lĩnh vực khác có gắn với kinh tế - kỹ thuật: khoảng 15.000 sinh viên quy đổi;

- Các trường đại học, học viện đào tạo các ngành nghề y tế, văn hoá - xã hội: khoảng 8.000 sinh viên;

- Các trường đại học, học viện đào tạo các ngành năng khiếu: khoảng 5.000 sinh viên;

- Các trường cao đẳng đa ngành, đa cấp: khoảng 8.000 sinh viên;

- Các trường cao đẳng đào tạo theo lĩnh vực công nghệ và trường cao đẳng cộng đồng: khoảng 5.000 sinh viên;

- Các trường cao đẳng đào tạo các ngành năng khiếu: khoảng 3.000 sinh viên.

c) Ngành nghề đào tạo:

- Các ngành, nghề ưu tiên: một số ngành trong lĩnh vực khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và nhân văn; công nghệ thông tin; công nghệ cơ điện tử và tự động hoá; công nghệ sinh học; công nghệ vật liệu mới; một số ngành, nghề kỹ thuật và công nghệ đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá và hiện đại hoá; đào tạo giáo viên và chuyên gia trình độ cao trong lĩnh vực dịch vụ;

- Điều chỉnh cơ cấu số lượng sinh viên được đào tạo theo nhóm các ngành, nghề để đến năm 2020 đạt tỷ lệ như sau: khoa học cơ bản 9%; sư phạm 12%; công nghệ - kỹ thuật 35%; nông - lâm - ngư 9%; y tế 6%; kinh tế

- luật 20% và các ngành khác 9%.

d) Cơ cấu trình độ đào tạo:

- Giảm dần tỷ trọng sinh viên đại học so với tổng số sinh viên đại học, cao đẳng từ mức chiếm 78,4% năm

2005 xuống mức chiếm 72% vào năm 2010; chiếm 64% vào năm 2015 và chiếm 56% vào năm 2020;

- Tiếp tục thành lập mới các trường trung cấp chuyên nghiệp và mở rộng các chương trình đào tạo trung cấp chuyên nghiệp trong các trường cao đẳng, cao đẳng cộng đồng;

- Nghiên cứu phát triển hệ cao đẳng 2 năm.

đ) Loại hình cơ sở giáo dục đại học gồm:

- Trường công lập;

- Trường tư thục;

- Trường có vốn đầu tư nước ngoài (100% vốn hoặc liên kết, liên doanh).

e) Hệ thống các cơ sở giáo dục đại học gồm:

- Đại học quốc gia;

- Các đại học;

- Các trường đại học, học viện, trường cao đẳng, trường cao đẳng cộng đồng.

g) Phân tầng mạng lưới trường đại học, cao đẳng gồm:

- Các trường đại học được xếp hạng trong nhóm 200 trường hàng đầu thế giới;

- Các trường đại học đào tạo định hướng nghiên cứu;

- Các trường đại học, cao đẳng đào tạo định hướng nghề nghiệp - ứng dụng.

Trang 11

h) Phân bố mạng lưới trường đại học, cao đẳng theo vùng như sau:

- Các thành phố Hà Nội; Đà Nẵng - Huế; thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ là các trung tâm đào tạo, có nhièu trường đại học, cao đẳng;

- Vùng Tây Bắc: hiện có 5 trường (1 đại học và 4 cao đẳng) Dự kiến năm 2020 có khoảng 10 trường vào năm

2020 (3 trường đại học và 7 trường cao đẳng);

- Vùng Đông Bắc: hiện có 25 trường (6 đại học, 19 cao đẳng) Dự kiến có khoảng 37 trường vào năm 2020 (10 đại học và 27 cao đẳng);

- Vùng đồng bằng sông Hồng: hiện có 104 trường (61 đại học, 43 cao đẳng) Dự kiến có khoảng 125 trường vào năm 2020;

- Vùng Bắc Trung Bộ: hiện có 22 trường (11 đại học và 11 cao đẳng) Dự kiến có khoảng 45 trường vào năm 2020;

- Vùng duyên hải Nam Trung Bộ: hiện có 31 trường (10 đại học và 21 cao đẳng) Dự kiến có khoảng 60 trường vào năm 2020;

- Vùng Tây Nguyên: hiện có 10 trường (4 đại học và 6 cao đẳng) Dự kiến có khoảng 15 trường vào năm 2020;

- Vùng Đông Nam Bộ: hiện có 90 trường (47 trường đại học và 43 trường cao đẳng) Dự kiến có khoảng 105 trường vào năm 2020;

- Vùng đồng bằng sông Cửu Long: hiện có 24 trường (6 đại học và 18 cao đẳng) Dự kiến có khoảng 70 trường vào năm 2020.

i) Phân bố sinh viên, mạng lưới trường theo 3 vùng kinh tế trọng điểm:

- Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ (gắn với vùng đồng bằng sông Hồng): điều chỉnh giảm dần tỷ lệ sinh viên của vùng chiếm từ 43% vào năm 2005 xuống còn 42% vào năm 2010 và 40% vào năm 2020 so với tổng quy mô sinh viên của cả nước Thu hút đầu tư thành lập một số trường đại học 100% vốn nước ngoài hoặc liên doanh, liên kết trong nước và nước ngoài;

- Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung (gắn với vùng duyên hải Nam Trung Bộ): thành lập mới thêm một số trường đại học, cao đẳng, trong đó ưu tiên thành lập ở khu vực Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi và Bình Định nhằm đáp ứng yêu cầu nhân lực cho công nghiệp hoá và hiện đại hoá của các tỉnh miền Trung Điều chỉnh tăng dần tỷ lệ sinh viên của vùng chiếm từ 8,3% vào năm 2005 tăng lên 10% vào năm 2010 và đạt 15% vào năm 2020 so với tổng quy mô sinh viên của cả nước;

- Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam (gắn với vùng Đông Nam Bộ): điều chỉnh giảm dần tỷ lệ sinh viên của vùng chiếm từ 26% hiện nay xuống 25% vào năm 2010 và 24% vào năm 2020 so với tổng quy mô sinh viên của cả nước Thu hút đầu tư thành lập một số trường đại học 100% vốn nước ngoài hoặc liên doanh, liên kết trong nước và nước ngoài.

4 Giải pháp thực hiện

a) Nhóm giải pháp về đầu tư, huy động vốn:

- Từng bước tăng đầu tư ngân sách nhà nước cho giáo dục đại học, đồng thời tăng cường quản lý, nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách nhà nước;

- Đẩy mạnh xã hội hoá giáo dục;

- Thu hút các nguồn vốn ODA và FDI đầu tư cho giáo dục đại học;

- Đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, cung cấp các dịch vụ chất lượng cao theo nhu cầu

xã hội nhằm tăng thu nhập cho các trường.

b) Nhóm các giải pháp về phát triển đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý giáo dục đại học:

- Bổ sung số lượng, nâng cao chất lượng giảng viên đại học, cao đẳng để đạt định mức quy định về tỷ lệ sinh viên trên giảng viên đối với các trường đại học, cao đẳng, các nhóm ngành nghề đào tạo;

- Hỗ trợ công tác đào tạo, bồi dưỡng giảng viên đại học, cao đẳng (kể cả ở các trường công lập và tư thục) Triển khai chương trình đào tạo 20.000 tiến sĩ để bổ sung và nâng cao chất lượng giảng viên đại học, cao đẳng;

- Xây dựng, ban hành Quy chế làm việc đối với giảng viên đại học, cao đẳng;

- Xây dựng và thực hiện chính sách tiền lương mới phù hợp đối với giảng viên đại học, cao đẳng;

- Ban hành chính sách thu hút, sử dụng các nhà khoa học thuộc các viện nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước tham gia giảng dạy ở trường đại học, cao đẳng;

- Đổi mới công tác đánh giá giảng viên đại học, cao đẳng, thông qua nhiều hình thức và gắn với sinh viên;

- Xây dựng kế hoạch đào tạo sau đại học dành riêng cho các vùng khó khăn.

c) Nhóm các giải pháp tăng cường cơ sở vật chất:

- Hỗ trợ các trường về đất đai Diện tích đất tối thiểu đối với trường cao đẳng có quy mô khoảng 3.000 sinh viên là 6ha; có khoảng 5.000 sinh viên là 10ha và có khoảng 7.000 sinh viên là 15ha Diện tích tối thiểu đối với trường đại học có quy mô khoảng 5.000 sinh viên là 10ha; có khoảng 15.000 sinh viên là 30ha và có khoảng 25.000 sinh viên là từ 40ha trở lên;

Đối với những trường công lập có diện tích quá nhỏ (dưới 2ha) ở trong khu vực nội thành các thành phố lớn cần có giải pháp chuyển đổi đất và các công trình xây dựng trên phần đất để di dời ra khu vực mới vùng ngoại thành có diện tích từ 10ha trở lên.

Trang 12

- Ban hành các cơ chế tạo điều kiện cho các trường chủ động khai thác các nguồn lực đầu tư nhằm đổi mới cơ

sở vật chất kỹ thuật, trang thiết bị;

- Tăng cường năng lực và nâng cao chất lượng hoạt động của thư viện ở các trường; hình thành hệ thống thư viện điện tử kết nối các trường trên cùng địa bàn, cùng một vùng và trên phạm vi toàn quốc;

- Thiết lập mạng thông tin toàn cầu và mở rộng giao lưu quốc tế cho tất cả các trường đại học, cao đẳng trong nước;

- Quy hoạch, sắp xếp lại công tác xuất bản giáo trình, sách và tài liệu tham khảo;

- Tập trung đầu tư hiện đại hoá trang thiết bị phòng học, giảng đường; nâng cao chất lượng các hoạt động dịch

vụ cho sinh viên;

- Đầu tư cải tạo, nâng cấp và xây dựng mới các khu ký túc xá sinh viên, nhất là đối với các trường ở khu vực thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh; khuyến khích đầu tư xây dựng một số khu đại học thuộc các vùng Bắc Bộ, Nam Bộ và Trung Bộ;

- Tăng cường sự phối hợp giữa các viện, trung tâm nghiên cứu khoa học và công nghệ và các trường đại học trong công tác đào tạo, nghiên cứu; xây dựng một số phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia thuộc các trường đại học trọng điểm, trường đầu ngành; gắn nhiệm vụ nghiên cứu cơ bản với các trường đại học trên cơ sở bảo đảm các điều kiện, chất lượng Từng bước hỗ trợ hình thành, phát triển các cơ sở thực nghiệm về công nghệ ở các trường cao đẳng.

d) Nhóm các giải pháp về quản lý:

- Xây dựng và ban hành các tiêu chí cụ thể về thành lập trường đại học, cao đẳng, mở các mã ngành đào tạo Nghiên cứu sửa đổi, bổ sung các điều lệ, quy chế tổ chức và hoạt động của các loại hình trường đại học, đáp ứng yêu cầu mới;

- Triển khai đại trà công tác đánh giá và kiểm định chất lượng giáo dục đại học; thực hiện định kỳ xếp hạng các trường đại học, cao đẳng;

- Xây dựng Trung tâm Dự báo nhu cầu nguồn nhân lực nhằm cung cấp các dữ liệu thống kê, thông tin, dự báo đầy đủ, chính xác, phục vụ cho công tác quy hoạch phát triển ngành và cơ sở đào tạo;

- Thực hiện đa ngành hoá, đa lĩnh vực hoá đối với các trường đại học, cao đẳng đơn ngành;

- Củng cố, nâng cao năng lực, chất lượng đào tạo của các trường, khoa sư phạm, sư phạm kỹ thuật;

- Nghiên cứu việc phân cấp quản lý các trường đại học, cao đẳng phù hợp với điều kiện thực tiễn Bộ Giáo dục

và Đào tạo tập trung quản lý nhà nước đối với giáo dục đại học, các trường trọng điểm, trường đầu ngành, trường có vốn đầu tư nước ngoài;

- Tăng cường quản lý công tác tuyển sinh, đào tạo của các trường, đáp ứng các tiêu chí bảo đảm chất lượng

do Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định;

- Xây dựng, ban hành các chính sách hỗ trợ cụ thể nhằm đẩy mạnh xã hội hoá giáo dục, phát triển các trường đại học tư thục, trường đại học có vốn đầu tư nước ngoài.

5 Các giai đoạn triển khai

a) Giai đoạn từ năm 2006 đến năm 2010:

Cùng với việc thành lập các trường mới có chất lượng, phù hợp quy hoạch, bổ sung cho mạng lưới cần tập trung vào việc củng cố, tăng cường đầu tư; mở rộng diện tích, đất đai, bổ sung đội ngũ giảng viên, thiết bị, cơ

sở vật chất, nâng cao chất lượng đào tạo của các cơ sở giáo dục đại học hiện nay; nghiên cứu, điều chỉnh, bổ sung các cơ chế, chính sách nhằm đổi mới, tăng cường quản lý chất lượng giáo dục đại học.

b) Giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2020:

Tập trung phát triển mạnh đội ngũ giảng viên, nâng chất lượng các trường đại học, cao đẳng lên một bước; đẩy mạnh hội nhập quốc tế, áp dụng các chương trình đào tạo tiên tiến; tạo bước chuyển biến cơ bản trong việc đổi mới phương pháp đào tạo ở các trường; tiếp tục phát triển, mở rộng mạng lưới trường đại học, cao đẳng một cách phù hợp, theo đúng Quy hoạch.

Điều 2 Tổ chức thực hiện quy hoạch

Bộ Giáo dục và Đào tạo có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan liên quan, các địa phương, các trường đại học, cao đẳng cụ thể hoá nội dung Quy hoạch này thành các chương trình, kế hoạch triển khai cụ thể để chỉ đạo, hướng dẫn, tổ chức thực hiện hàng năm và từng giai đoạn, định kỳ tổng hợp kết quả thực hiện Quy hoạch, báo cáo Thủ tướng Chính phủ.

Các Bộ, ngành, địa phương, các cơ sở giáo dục đại học có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ với Bộ Giáo dục và Đào tạo để quán triệt, tổ chức triển khai thực hiện Quy hoạch này; chủ động xây dựng định hướng, kế hoạch phát triển, củng cố mạng lưới trường đại học, cao đẳng thuộc phạm vi quản lý và trên địa bàn của mình, góp phần từng bước hoàn thiện có chất lượng mạng lưới trường đại học, cao đẳng của cả nước, gắn với các mục tiêu, nhiệm vụ đã đề ra.

Điều 3 Quyết định này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo.

Quyết định này thay thế Quyết định số 47/2001/QĐ-TTg ngày 04 tháng 04 năm 2001 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch mạng lưới trường đại học, cao đẳng giai đoạn 2001 - 2010.

Điều 4 Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban

nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.

Trang 13

Nhi m v tr ng tâm năm h c 2015-2016 c a Ngành Giáo ệm vụ trọng tâm năm học 2015-2016 của Ngành Giáo ụ trọng tâm năm học 2015-2016 của Ngành Giáo ọng tâm năm học 2015-2016 của Ngành Giáo ọng tâm năm học 2015-2016 của Ngành Giáo ủa Ngành Giáo

d c ụ trọng tâm năm học 2015-2016 của Ngành Giáo

(TG)-Một trong những nhiệm vụ là rà soát sắp xếp mạng lưới trường lớp, hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc dân.

Thực hiện Nghị quyết 29-NQ/TW về đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo, trong năm học 2014-2015 Ngành Giáo dục đã đạt được một số kết quả nổi bật, đáng được ghi nhận trong giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông và giáo dục thường xuyên, đó là: Có sự thống nhất trong quản lý, chỉ đạo từ trung ương tới địa phương Công tác quản lý giáo dục tiếp tục được đổi mới theo hướng tăng cường phân cấp và giao quyền tự chủ, tăng cường quản lý chất lượng và hiệu quả giáo dục Thực hiện có hiệu quả công tác kiểm tra và đánh giá kết quả giáo dục như đánh giá học sinh tiểu học, tổ chức kỳ thi trung học phổ thông quốc gia Công tác đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông được chú trọng triển khai, bước đầu có kết quả, được xã hội đánh giá cao.

Tuy nhiên, trong năm học vừa qua giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông và giáo dục thường xuyên vẫn còn những hạn chế như: Chất lượng giáo dục chưa đáp ứng được mục tiêu, còn nhiều hạn chế trong giáo dục đạo đức, lối sống và kỹ năng sống cho học sinh Hiện tượng dạy thêm học thêm, thu chi không đúng quy định vẫn còn nhiều Tiến độ thực hiện công tác phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi và công tác định hướng, phân luồng học sinh sau trung học cơ sở chậm, không đáp ứng được yêu cầu

Trong năm học 2015-2016, ngành giáo dục tập trung vào một số nội dung trọng tâm sau:

Thứ nhất là đổi mới công tác quản lý giáo dục: Đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền về các chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về giáo dục và đào tạo Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Hoàn thiện, nâng cao hiệu quả cơ chế phối hợp giữa các bộ, ban, ngành và địa phương trong quản lý giáo dục Tiếp tục tăng quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm và trách nhiệm giải trình của các cơ sở giáo dục Đổi mới, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra giáo dục các cấp.

Thứ hai là đổi mới chương trình giáo dục, công tác thi kiểm tra và đánh giá kết quả giáo dục: Đối với giáo dục mầm non, đổi mới hoạt động chăm sóc, giáo dục trẻ theo quan điểm lấy trẻ làm trung tâm; chú trọng giáo dục hình thành và phát triển kỹ năng sống phù hợp với độ tuổi của trẻ Đẩy mạnh công tác phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi nhằm hoàn thành đúng lộ trình đạt chuẩn theo quy định Đối với giáo dục phổ thông, đẩy nhanh tiến độ triển khai Đề án đổi mới chương trình, sách giáo khoa Củng cố và nâng cao kết quả phổ cập giáo dục tiểu học và trung học cơ sở; thực hiện xóa mù chữ Tăng cường công tác tư vấn hướng nghiệp và định hướng nghề nghiệp Tiếp tục đổi mới phương pháp dạy học, thi, kiểm tra, đánh giá theo hướng phát triển năng lực học sinh, bảo đảm trung thực, khách quan Phát triển và nâng cao chất lượng các chương trình giáo dục thường xuyên đáp ứng nhu cầu học tập suốt đời của mọi người.

Thứ ba là rà soát sắp xếp mạng lưới trường lớp, hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc dân: Bổ sung, hoàn thiện mạng lưới cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông Chú trọng tới việc sáp nhập các trung tâm giáo dục trên địa bàn cấp huyện.

Thứ tư là phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục: Rà soát, điều chỉnh và tăng cường quản lý, kiểm tra việc thực hiện quy hoạch phát triển nhân lực đáp ứng yêu cầu về số lượng, chất lượng đội ngũ Tiếp tục xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục gắn với nhu cầu đào tạo nhân lực của ngành và đáp ứng yêu cầu đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông Tăng cường các hình thức bồi dưỡng giáo viên, cán bộ quản lý; tăng cường chất lượng sinh hoạt tổ/nhóm chuyên môn Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra với các hoạt động bồi dưỡng cấp chứng chỉ và công tác tuyển dụng, sử dụng, thực hiện chế độ làm việc của đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý.

Thứ năm là đổi mới cơ chế tài chính giáo dục và tăng nguồn vốn đầu tư: Tập trung, ưu tiên các nguồn lực để hoàn thành phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi; xây dựng Đề án phát triển giáo dục mầm non giai đoạn 2016-2025 Trình Chính phủ ban hành một số chính sách về tài chính như cơ chế hoạt động và cơ chế tự

Trang 14

chủ; hỗ trợ về giáo dục và đào tạo cho các địa bàn khó khăn và đối tượng chính sách;… Tăng cường kiểm tra, giám sát đầu tư, công tác đấu thầu, công tác quyết toán trong xây dựng cơ bản, mua sắm thiết bị của các đơn vị Đẩy mạnh công tác xã hội hóa giáo dục, nhất là giáo dục mầm non.

Thứ sáu là hợp tác quốc tế trong giáo dục: Củng cố và mở rộng hợp tác đa phương và song phương, tiếp tục đàm phán thương lượng ký kết các thỏa thuận hợp tác về giáo dục với các nước Đẩy mạnh hợp tác về giáo dục nghề nghiệp với các quốc gia có kinh nghiệm tốt và các tổ chức quốc tế

Ngô Thanh Long

Vụ Giáo dục và Đào tạo, Dạy nghề-Ban Tuyên giáo Trung ương

Phát tri n m ng l ển mạng lưới trường đạt chuẩn quốc gia ạng lưới trường đạt chuẩn quốc gia ưới trường đạt chuẩn quốc gia i tr ường đạt chuẩn quốc gia ng đ t chu n qu c gia ạng lưới trường đạt chuẩn quốc gia ẩn quốc gia ốc gia

Các tỉnh, thành phố tập trung nguồn lực xây dựng cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên và quản lý trường trung học phổ thông chuyên, trường phổ thông dân tộc nội trú Phấn đấu để mỗi tỉnh, thành phố đều có ít nhất một trường trung học phổ thông chuyên và một trường phổ thông dân tộc nội trú đạt chuẩn quốc gia trong năm học này

Theo dự kiến sẽ có hơn 22 triệu học sinh, sinh viên bước vào năm học mới Trong đó, có khoảng hơn 15,9 triệu học sinh phổ thông các cấp Số học sinh, sinh viên năm nay tăng hơn năm trước gần 150.000 em, đặt ra nhu cầu lớn về trường lớp cũng như chất lượng giảng dạy.

Để đáp ứng nhu cầu trường lớp, không để tình trạng học ca 3 và lớp ghép… trong năm học mới, mạng lưới trường lớp trung học cơ sở, trung học phổ thông sẽ được xây dựng quy hoạch đến năm 2015, tầm nhìn đến 2020

Thiết bị dạy học sẽ được ưu tiên hiện đại hóa, nhất là thiết bị dạy tin học, ngoại ngữ Để thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện, cần tăng số trường lớp trung học cơ sở, trung học phổ thông có đủ cơ sở vật chất, giáo viên để dạy học 2 buổi/ngày (trên 6 buổi/tuần).

Mục tiêu trong năm 2010 là tất cả các tỉnh, thành phố đạt chuẩn quốc gia phổ cập giáo dục trung học cơ sở vào năm 2010.

Đối với các tỉnh, thành phố đã được công nhận đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học cơ sở, phải củng cố và nâng cao vững chắc chất lượng phổ cập giáo dục, thực hiện việc kiểm tra, đánh giá, công nhận và báo cáo hàng năm

Hiện nay, trên toàn quốc còn rất nhiều địa phương chưa đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học cơ sở Đây là những tỉnh kinh tế-xã hội còn nhiều khó khăn, điều kiện thực hiện và bảo đảm chất lượng phổ cập giáo dục trung học cơ sở còn nhiều hạn chế như: Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Lai Châu, Sóc Trăng, Đắk Nông Tại tỉnh Quảng Nam, cuối năm 2006 có 12 huyện với 184 xã đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học cơ sở, tỉ lệ 70% nhưng đa phần là thuộc đồng bằng.

Những tỉnh, thành phố đã đạt chuẩn thì còn có một số nơi chưa thực sự bền vững, hoặc chưa chú trọng đến việc duy trì, củng cố và phát triển kết quả phổ cập nên có nguy cơ bị mất chuẩn

Các địa phương mới chỉ quan tâm đến mục tiêu trước mắt là phấn đấu đạt chuẩn, chứ chưa quan tâm đúng mức đến việc xây dựng kế hoạch củng

Ngày đăng: 30/08/2016, 22:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w