ĐẶT VẤN ĐỀ Rối loạn hành vi là những hành vi thường có tính chất xâm phạm đến quyền lợi của người khác cũng như phá vỡ các quy tắc, quy luật của xã hội [1], [9], [13], [15], [34]. Trẻ mắc rối loạn hành vi thường biểu hiện những cách hành xử không thích hợp như trộm cắp, cãi lại người lớn, không vâng lời, nói dối, cư xử thô bạo với súc vật và người, trốn học… Các hành vi này thường lặp đi lặp lại và kéo dài trên 6 tháng, những biểu hiện rối loạn hành vi có thể xảy ra ở nhiều môi trường khác nhau như trong gia đình, trường học, ngoài xã hội… [1], [9], [15], [34]. Đây là một rối loạn tâm thần thường gặp ở trẻ em và trẻ vị thành niên, tỷ lệ mắc của rối loạn này thay đổi tuỳ theo từng quốc gia, tuy nhiên tỷ lệ hiện mắc chung cho rối loạn này ở nhiều quốc gia là 6-11% [28]. Theo Hiệp hội Tâm thần học Hoa Kỳ, tỷ lệ mắc rối loạn hành vi ở trẻ em và thanh thiếu niên tại Hoa Kỳ là 6 - 16% ở nam và 2 - 9% ở nữ [13], [15]. Ở Việt Nam, theo nghiên cứu của Viện sức khoẻ Tâm thần Quốc gia năm 1990, tỷ lệ mắc rối loạn hành vi ở thiếu niên từ 10 – 17 tuổi là 3.7% [5]. Tác giả Hoàng Cẩm Tú và Cs (1997) đã báo cáo tỷ lệ mắc rối loạn hành vi ở trẻ em tại các phường của Hà Nội dao động từ 6 – 10% [11]. Tại các Quốc gia Châu Á khác, tỷ lệ mắc rối loạn hành vi ở trẻ em và trẻ vị thành niên cũng khá cao như Trung Quốc là 8.3%, Hàn Quốc 14.1% và Nhật Bản là 3.9% [6]. Những trẻ mắc rối loạn hành vi thường chịu những ảnh hưởng nặng nề đến các chức năng học tập, giao tiếp, sinh hoạt trong gia đình, trường học và xã hội. Nếu những trẻ mắc rối loạn hành vi không được phát hiện và can thiệp sớm, kịp thời sẽ không thể thích nghi được với nhiệm vụ của mình khi trưởng thành [1], [4], [9], [13], [15] và thường dẫn đến những hành vi chống đối xã hội sau này gây nên những hậu quả nghiêm trọng cho gia đình và xã hội [18], [20]. Chính vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Khảo sát tỷ lệ và những yếu tố liên quan đến rối loạn hành vi ở trẻ em từ 6 – 17 tuổi tại Phường Thuận Lộc – Thành phố Huế”. Mục tiêu nghiên cứu: 1. Khảo sát tỷ lệ và các biểu hiện lâm sàng thường gặp của rối loạn hành vi ở trẻ em từ 6 – 17 tuổi tại Phường Thuận Lộc – TP. Huế 2. Nghiên cứu các yếu tố liên quan đến rối loạn hành vi ở các đối tượng nghiên cứu.
Trang 1PHAN VIỆT BẮC
KHẢO SÁT TỶ LỆ VÀ NHỮNG YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN RỐI LOẠN HÀNH VI Ở TRẺ EM TỪ 6 – 17 TUỔI TẠI PHƯỜNG THUẬN LỘC – THÀNH PHỐ HUẾ
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP BÁC SỸ ĐA KHOA
HUẾ, 2010
Trang 2Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc chúng tôi xin chân thành cảm ơn:
- Ban giám hiệu trường Đại Học Y Dược Huế.
- Phòng giáo vụ - công tác sinh viên trường Đại Học Y Dược Huế,
- Thư viện trường Đại Học Y Dược Huế đã tạo điều kiện cho chúng tôi tim kiếm tài liệu trong thời gian qua.
- Trạm y tế và cộng tác viên Phường Thuận Hòa, thành phố Huế
đã hợp tác giúp đỡ chúng tôi trong quá trình thu thập số liệu.
- Đặc biệt, chúng tôi xin chân thành cảm ơn sâu sắc đến Thạc sĩ, Bác sĩ Trần Như Minh Hằng - giảng viên Bộ môn Tâm thần trường Đại Học Y Dược Huế, đã tận tâm dạy dỗ, truyền thụ những kiến thức quí báu, hướng dẫn dìu dắt chúng tôi trong suốt quá trình học tập, rèn luyện cũng như hoàn thành luận văn này.
- Và trên hết là tình cảm yêu thương, lòng biết ơn vô hạn đến cha
mẹ chúng tôi – Người đã sinh thành, nuôi dưỡng – là chỗ dựa tinh thần lớn nhất giúp chúng tôi có đủ nghị lực để vươn lên trong cuộc sống, nhất là những lúc khó khăn vất vả trong thời gian học tập này.
- Xin chân thành cảm ơn bạn bè gần xa và những người thân đã động viên, cổ vũ chúng tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn này.
Huế tháng 6 năm 2010 Phan Việt Bắc
Trang 3CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DSM IV : Diagnostic and Statistical manual of Mental Disorders – Fourth
Edition(Sổ tay thống kê và Chẩn đoán các rối loạn tâm thần – phiên bảnthứ 4)
ICD 10 : International Classification of Diseases – tenth Edition
(Phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10)
Trang 4Trang
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Khái niệm và lịch sử của thuật ngữ "rối loạn hành vi" 3
1.2 Dịch tễ học rối loạn hành vi 4
1.3 Bệnh nguyên, bệnh sinh của rối loạn hành vi 5
1.4 Chẩn đoán rối loạn hành vi 8
1.5 Tiến triển và tiên lượng 10
1.6 Tình hình nghiên cứu về RLHV trên thế giới và Việt Nam 11
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 13
2.1 Đối tượng nghiên cứu 13
2.2 Phương pháp nghiên cứu 13
2.3 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 16
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 18
3.1 Tỷ lệ và các triệu chứng lâm sàng thường gặp của rối loạn hành vi ở các đối tượng nghiên cứu 18
3.2 Các yếu tố liên quan đến rối loạn hành vi 21
Chương 4: BÀN LUẬN 29
4.1 Tỷ lệ và một số biểu hiện lâm sàng thường gặp về rối loạn hành vi ở trẻ em từ 6 - 17 tuổi tại phường Thuận Hòa 29
4.2 Các yếu tố liên quan đến rối loạn hành vi 31
KẾT LUẬN 39 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 5ĐẶT VẤN ĐỀ
Rối loạn hành vi là những hành vi thường có tính chất xâm phạm đếnquyền lợi của người khác cũng như phá vỡ các quy tắc, quy luật của xã hội[1], [9], [13], [15], [34] Trẻ mắc rối loạn hành vi thường biểu hiện nhữngcách hành xử không thích hợp như trộm cắp, cãi lại người lớn, không vânglời, nói dối, cư xử thô bạo với súc vật và người, trốn học… Các hành vi nàythường lặp đi lặp lại và kéo dài trên 6 tháng, những biểu hiện rối loạn hành vi
có thể xảy ra ở nhiều môi trường khác nhau như trong gia đình, trường học,ngoài xã hội… [1], [9], [15], [34] Đây là một rối loạn tâm thần thường gặp ởtrẻ em và trẻ vị thành niên, tỷ lệ mắc của rối loạn này thay đổi tuỳ theo từngquốc gia, tuy nhiên tỷ lệ hiện mắc chung cho rối loạn này ở nhiều quốc gia là6-11% [28] Theo Hiệp hội Tâm thần học Hoa Kỳ, tỷ lệ mắc rối loạn hành vi
ở trẻ em và thanh thiếu niên tại Hoa Kỳ là 6 - 16% ở nam và 2 - 9% ở nữ [13],[15] Ở Việt Nam, theo nghiên cứu của Viện sức khoẻ Tâm thần Quốc gianăm 1990, tỷ lệ mắc rối loạn hành vi ở thiếu niên từ 10 – 17 tuổi là 3.7% [5].Tác giả Hoàng Cẩm Tú và Cs (1997) đã báo cáo tỷ lệ mắc rối loạn hành vi ởtrẻ em tại các phường của Hà Nội dao động từ 6 – 10% [11] Tại các Quốc giaChâu Á khác, tỷ lệ mắc rối loạn hành vi ở trẻ em và trẻ vị thành niên cũng khácao như Trung Quốc là 8.3%, Hàn Quốc 14.1% và Nhật Bản là 3.9% [6]
Những trẻ mắc rối loạn hành vi thường chịu những ảnh hưởng nặng nềđến các chức năng học tập, giao tiếp, sinh hoạt trong gia đình, trường học và
xã hội Nếu những trẻ mắc rối loạn hành vi không được phát hiện và can thiệpsớm, kịp thời sẽ không thể thích nghi được với nhiệm vụ của mình khi trưởngthành [1], [4], [9], [13], [15] và thường dẫn đến những hành vi chống đối xã
Trang 6hội sau này gây nên những hậu quả nghiêm trọng cho gia đình và xã hội [18],
[20] Chính vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Khảo sát tỷ lệ và những yếu tố liên quan đến rối loạn hành vi ở trẻ em từ 6 – 17 tuổi tại Phường Thuận Lộc – Thành phố Huế”.
Mục tiêu nghiên cứu:
1 Khảo sát tỷ lệ và các biểu hiện lâm sàng thường gặp của rối loạn hành vi ở trẻ em từ 6 – 17 tuổi tại Phường Thuận Lộc – TP Huế
2 Nghiên cứu các yếu tố liên quan đến rối loạn hành vi ở các đối tượng nghiên cứu.
Trang 7Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 KHÁI NIỆM VÀ LỊCH SỬ CỦA THUẬT NGỮ “RỐI LOẠN HÀNH VI” 1.1.1 Khái niệm
Rối loạn hành vi (RLHV) là những hành vi có tính chất xâm phạm đếnquyền lợi của người khác cũng như phá vỡ các chuẩn mực, nội quy, quy tắccủa xã hội lặp đi lặp lại và kéo dài [1], [9], [13], [15], [34] Rối loạn nàythường do những bất lợi về tâm lý xã hội hoặc sinh học gây ra làm ảnh hưởngnghiêm trọng đến các chức năng học tập, giao tiếp, sinh hoạt của trẻ em và trẻ
vị thành niên [1], [4], [9], [13], [15]
Những biểu hiện RLHV thường được chia làm 4 nhóm chính [15], [18],[24], [29], [30], [33]:
- Những hành vi hung bạo với người và súc vật
- Những hành vi huỷ hoại tài sản
- Những hành vi trộm cắp
- Những hành vi có tính chất phá vỡ các chuẩn mực, nội quy: trốnhọc, bỏ nhà qua đêm, đi chơi về khuya dù bố mẹ ngăn cấm…
1.1.2 Lịch sử của thuật ngữ rối loạn hành vi
- Thuật ngữ RLHV bắt đầu được đề cập vào thế kỷ XIX Những mô tả
lâm sàng về các hành vi chống đối xã hội xuất hiện đầu tiên trong lĩnh vựcpháp y [29]
- Sigmund Freud xem những hành vi hung hãn của con người như là
một bản năng trong những tác phẩm của mình Sau khi những tác phẩm nàyđược công bố, các nhà tâm thần học mới bắt đầu xem những hành vi chốngđối xã hội như là một bệnh lý tâm thần [29]
Trang 8Không bao lâu sau khi những tác phẩm của Sigmund Freud được công
bố, những nhà phong tục học (ethologists) bắt đầu quan sát những hành vihung hãn của động vật trong tự nhiên và khám phá ra được mối liên quan giữachúng và những hành vi của con người [29]
Tuy đã được đề cập đến từ thế kỷ XIX nhưng mãi đến năm 1980,RLHV ở trẻ em và trẻ vị thành niên lần đầu tiên mới được phân loại như mộtbệnh lý chính thức trong sổ tay chẩn đoán các rối loạn tâm thần lần thứ III(DSMIII: Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders IIIth Edition)của Hiệp hội Tâm thần học Hoa Kỳ Trong Sổ tay chẩn đoán này RLHV đượcchia làm 4 thể: gây hấn, không gây hấn, thích ứng xã hội và không thích ứng
xã hội [26], [29]
- Năm 1987, DSM III – TR (Text Revision) thay 4 thể RLHV trênthành 3 thể mới là: hành vi gây hấn theo nhóm, những hành vi gây hấn đơnđộc và RLHV không biệt định [26], [29]
- Năm 1994, DSM IV chia RLHV ra làm 2 thể: RLHV khởi phát ở trẻ
em (khởi phát trước 10 tuổi) và RLHV khởi phát ở trẻ vị thành niên [26],[29]
- Trong bảng Phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 (ICD10), RLHV đượcxếp ở mục F91 bao gồm: RLHV trong môi trường gia đình, RLHV khôngthích ứng xã hội, RLHV thích ứng xã hội, RL bướng bỉnh chống đối vàRLHV không biệt định [9], [34]
1.2 DỊCH TỄ HỌC RỐI LOẠN HÀNH VI
RLHV là một RL thường gặp nhất ở trẻ em và trẻ vị thành niên và tỷ lệnày có khuynh hướng ngày càng gia tăng [26] Nhìn chung, tỷ lệ RLHV thayđổi tuỳ theo từng Quốc gia và ngay trong cùng một quốc gia tuỳ thuộc vàoquần thể mẫu được chọn, tỷ lệ RLHV có thể khác nhau [23], [26], [30]
Trang 9Theo Les Barrickman, tỷ lệ RLHV ở Hoa Kỳ xấp xỉ 10%, tỷ lệ mắcgiữa nam: nữ là 3.2 - 5.1 [26] Theo DSM IV, tỷ lệ RLHV ở Hoa Kỳ daođộng từ 6 – 16% ở nam và 2 – 9% ở nữ [13], [15] Theo Barry Nurcombe, tỷ
Hà Nội đã đưa ra tỷ lệ 6 -10% cho RLHV ở trẻ em [11]
1.3 BỆNH NGUYÊN, BỆNH SINH CỦA RỐI LOẠN HÀNH VI
Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng cả yếu tố di truyền và yếu tố môitrường đều góp phần làm xuất hiện RLHV ở trẻ Các tác giả đều thống nhấtrằng RLHV thường do nhiều nguyên nhân gây ra chứ hiếm khi do mộtnguyên nhân đơn độc [1], [13], [18], [24] Do đó, với RLHV các tác giả đưa
ra khái niệm yếu tố nguy cơ (risk factors) hơn là nguyên nhân
1.3.1 Yếu tố di truyền
Nghiên cứu các cặp sinh đôi cùng trứng và khác trứng cho thấy yếu tố
di truyền có vai trò trong RLHV Barry Nurcombe và Cs, khi xem xét lạinhững nghiên cứu của các tác giả khác đã cho biết trong 10 nghiên cứu về cáccặp sinh đôi nhận thấy nguy cơ mắc RLHV ở các cặp sinh đôi cùng trứng là50% và các cặp sinh đôi khác trứng là 20% nếu như 1 trong 2 trẻ có RLHV[27] Tác giả Splete đã tổng hợp dữ kiện từ 387 cặp sinh đôi từ 5 – 17 tuổi
Trang 10bằng bảng câu hỏi về các vấn đề RLHV nhận thấy nguy cơ mắc RLHV ở cáccặp sinh đôi là 35% [31].
Những bất thường của nhiễm sắc thể như 47XXY, 47XYY hoặc nhiễmsắc thể Y kéo dài cũng thường kèm theo các RLHV [1], [27]
Tỷ lệ RLHV cũng cao hơn ở những trẻ có bố, mẹ mắc RLHV hoặc cácbệnh lý tâm thần khác như tâm thần phân liệt, rối loạn cảm xúc, RL nhân cáchchống đối xã hội…[4], [5], [18], [26], [27], [29], [32]
Những nghiên cứu gần đây cho thấy nồng độ của một chất chuyển hoácủa serotonin là 5-hydroxyindoleacetic (5-HIAA) thấp trong dịch não tuỷthường có liên quan đến các hành vi hung hãn và tự sát [27], [30]
1.3.3 Những yếu tố bất lợi trong gia đình
Những đứa trẻ sống trong những gia đình thường xảy ra xung đột hoặc
bố mẹ ly dị có nguy cơ cao mắc RLHV [2], [27], [30] Theo Hoàng Cẩm Tú
có 15.66% trẻ RLHV và phạm pháp có bố mẹ ly hôn[11] Ly hôn của bố mẹ
là một yếu tố nguy cơ mắc RLHV cho trẻ, bên cạnh đó thái độ thù địch của bố
mẹ trẻ sau khi ly hôn góp phần quan trọng hơn nhiều trong việc hình thànhRLHV của trẻ [27], [30]
Trang 11Những đứa trẻ thiếu sự gắn bó, tương tác và giao tiếp với bố mẹ cũng
có nguy cơ bị RLHV cao hơn [19], [23], [28] Cách giáo dục và ứng xử của
bố mẹ đối với con cái ảnh hưởng rất nhiều đến hành vi và nhân cách trẻ Bố
mẹ quá nghiêm khắc với con, hay đánh đập và trừng phạt con cái đặc biệttrước mặt những người khác sẽ làm cho trẻ thiếu tự tin và nguy cơ mắcRLHV cao Ngược lại, bố mẹ quá chiều chuộng hoặc thờ ơ không quan tâmđến trẻ cũng làm tăng nguy cơ mắc RLHV ở trẻ [2], [3], [7], [16], [23], [27],[29], [30]
Gia đình đông con hoặc có nhiều thế hệ sống cùng trong một gia đìnhcũng là một trong những nguy cơ của RLHV [27], [28], [29], [30]
Trong gia đình nơi trẻ sống nếu có những người bị RLHV hoặc cónhững thói quen xấu cũng dễ hình thành những thói xấu cho trẻ theo lý thuyếttập nhiễm [2], [3], [16] Theo Tôn Thất Hưng những trẻ có bố nghiện ngậphoặc có các thói quen xấu khác có nguy cơ mắc rối loạn hành vi cao gấp 17.8lần so với nhóm chứng [3]
1.3.4 Những yếu tố liên quan đến trường học
Những trẻ học kém thường có nguy cơ mắc RLHV cao hơn so vớinhững trẻ học khá giỏi và ngược lại những đứa trẻ mắc RLHV thường có kếtquả học tập kém hơn so với những trẻ khác [21], [27], [33] Từ đầu nhữngnăm 1960, có nhiều nghiên cứu đã nhận thấy sự thất bại trong học tập thườngdẫn đến những hành vi chống đối xã hội sau này Theo các tác giả này, họckém làm trẻ mất tự tin, cảm giác không được giúp đỡ, mất dần sự quan tâmcủa bố mẹ và giáo viên, từ đó trẻ tìm cách trốn khỏi môi trường học tập bằngcách trốn học và từ đó dễ bị thâm nhiễm bởi những thói xấu ngoài xã hội [33]
Kết bạn với bạn xấu ở trường cũng làm tăng nguy cơ mắc RLHV [3],[21], [33] Theo Tôn Thất Hưng, trẻ kết bạn với bạn bè xấu có nguy cơ bịRLHV cao gấp 8.3 lần so với nhóm chứng [3]
Trang 121.3.5 Các yếu tố tâm lý xã hội khác
Tình trạng kinh tế xã hội thấp, nghèo túng, bố mẹ thất nghiệp, thiếu sự
hỗ trợ của cộng đồng hoặc cộng đồng có nhiều người phạm pháp, RLHVcũng làm tăng nguy cơ mắc RLHV ở trẻ [16], [27], [29], [30]
Hoàng Cẩm Tú khi nghiên cứu trên 36 trẻ có RLHV nhận thấy tỷ lệ trẻ
có hoàn cảnh kinh tế nghèo chiếm 91.6% [12], tỷ lệ này theo Tôn Thất Hưng
là 22.4% [3]
Theo Tôn Thất Hưng trẻ sống trong môi trường xã hội không lànhmạnh, có nhiều tệ nạn có nguy cơ mắc RLHV cao gấp 8.6 lần so với nhữngtrẻ sống trong môi trường xã hội tốt [3]
Những trẻ mắc các RL tâm thần như chậm phát triển trí tuệ, rối loạnlưỡng cực, tâm thần phân liệt, tăng động giảm chú ý cũng thường đi kèm vớicác RLHV [3], [27], [29], [30]
1.4 CHẨN ĐOÁN RLHV
RLHV là những những hành vi có tính chất xâm phạm đến quyền lợicủa người khác cũng như phá vỡ các chuẩn mực, nội quy, quy tắc của xã hộilặp đi lặp lại và kéo dài Tỷ lệ RLHV ở các nghiên cứu có thể khác nhau bêncạnh yếu tố địa lý, văn hoá, kinh tế xã hội, sự khác nhau này còn tùy thuộcvào tiêu chuẩn chẩn đoán RLHV mà các nhà nghiên cứu áp dụng Hiện nay có
2 bảng tiêu chuẩn chẩn đoán RLHV nói riêng và các RLTT nói chung thường
Trang 13được áp dụng tại nhiều Quốc gia, đó là DSMIV của Hiệp hội Tâm thần họcHoa Kỳ và ICD 10 của Tổ chức Y tế Thế giới
Trong khuôn khổ của luận văn cũng như trong nghiên cứu này, chúng tôi
sử dụng tiêu chuẩn chẩn đoán ICD10 phiên bản dùng cho nghiên cứu như sau:
Trẻ có ít nhất 3 trong số những hành vi sau lặp đi lặp lại và kéo dàitrong thời gian ít nhất là 6 tháng [34]
(1) Có những cơn giận dữ thường xuyên hoặc gay gắt một cáchkhác thường so với độ tuổi phát triển của trẻ
(2) Hay cãi vã với người lớn
thường những quy định trong cuộc sống
(4) Cố ý quấy rối, làm phiền người khác
(5) Thường đổ lỗi cho người khác vì lỗi lầm hoặc hành vi sai tráicủa mình
(6) Hay tự ái hoặc dễ bực tức với người khác
(8) Thường hay có thái độ thù địch, không khoan nhượng
(9) Hay nói dối hoặc không giữ lời hứa nhằm mục đích có lợicho mình hoặc trốn tránh nghĩa vụ
(10) Hay gây sự bằng bạo lực
(11) Từng dung hung khí gây thương tích cho người khác (ví dụ:gậy, dao, vỏ chai, súng…)
(12) Hay về nhà khuya cho dù bố mẹ ngăn cấm
(13) Biểu lộ sự hung ác với người khác (ví dụ: đánh đập, trói,chém )
Trang 14(15) Cố tình phá hoại tài sản của người khác (không kể đến gâycháy)
(20) Phạm tội có đối mặt với nạn nhân (bắt cóc, tống tiền, trấn lột)
(22) Hay bắt nạt hay ức hiếp người khác (bắt phải chịu đau đớnhoặc cố ý làm nhục, xúc phạm người khác)
(23) Đột nhập vào nhà hoặc xe của người khác
Ghi chú: các biểu hiện ở mục 11, 13, 15, 16, 20, 21 và 23 chỉ cần xuất
hiện một lần đã đủ để chẩn đoán RLHV
Không chẩn đoán RLHV nếu bệnh nhân đủ tiêu chuẩn chẩn đoán tâmthần phân liệt, rối loạn cảm xúc (hưng cảm hoặc trầm cảm), RL phát triển lantoả, RL tăng động giảm chú ý
RLHV được chia làm 3 mức độ như sau: [34]
- Mức độ nhẹ: số biểu hiện RLHV ít và chỉ gây tổn hại tối thiểu chongười khác (nói dối, trốn học, không tuân theo những quy định của bố mẹ…)
- Mức độ vừa: số biểu hiện RLHV và mức độ tổn hại gây ra cho ngườikhác nằm ở mức trung gian giữa mức độ nặng và nhẹ
- Mức độ nặng: số biểu hiện RLHV nhiều và gây ra những tổn hạinghiêm trọng cho người khác (cưỡng dâm, hung bạo với người, cố tình gâycháy, bắt cóc, đột nhập vào nhà người khác…)
1.5 TIẾN TRIỂN VÀ TIÊN LƯỢNG
Trang 15RLHV có thể xảy ra ở lứa tuổi từ 3-5 tuổi hoặc sau 17 tuổi nhưngthường hay xảy ra ở lứa tuổi từ 10 -16 tuổi hơn [18], [25], [26] Nhiều tác giảtiên lượng các RLHV dựa vào độ tuổi khởi phát và các tác giả này chia cácRLHV theo 2 kiểu khởi phát như sau: [3], [15],
- RLHV khởi phát sớm: các RLHV khởi phát trước 10 tuổi
- RLHV khởi phát muộn: các RLHV khởi phát sau 10 tuổi
Theo Les Barrickman, RLHV khởi phát càng sớm tiên lượng càngnặng, nữ tiên lượng nặng hơn nam và những biểu hiện hành vi ở mức độ nặngtiên lượng nặng hơn mức độ nhẹ [26] Cũng theo tác giả này, có 50% trẻ mắcRLHV sẽ dẫn đến rối loạn nhân cách chống đối xã hội khi trưởng thành và1/3 trường hợp các biểu hiện RLHV sẽ biến mất khi trưởng thành [26]
Theo Stewart, tiên lượng rối loạn hành vi tuỳ thuộc vào tuổi khởi phát,
số lượng, tần suất và mức độ biểu hiện của các hành vi rối loạn cũng nhưnhững môi trường mà các rối loạn hành vi này xuất hiện [32]
1.6 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ RLHV TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
1.6.1 Trên thế giới
Harachi T.W tìm hiểu về những yếu tố có liên quan đến RLHV ở trẻnam và nữ nhận thấy các yếu tố như xung đột gia đình, năng lực học tập kémảnh hưởng lên RLHV ở nam và nữ như nhau, trong khi đó trình độ học vấncủa bố mẹ, sự quan tâm của bố mẹ đối với trẻ thường là yếu tố nguy cơ củaRLHV ở trẻ trai Còn ở trẻ gái, các yếu tố nguy cơ thường là mẹ bị trầm cảm,kinh tế gia đình nghèo hoặc chỉ có bố hoặc mẹ [22]
Stewart khi tổng hợp từ nhiều nghiên cứu khác nhận thấy có 25 – 50%trẻ mắc RLHV sẽ hình thành nhân cách chống đối xã hội sau này, 18% bị tâmthần phân liệt, 41% rối loạn nhân cách ranh giới, 18% có tiền án và 21% ổnđịnh khi trưởng thành [32]
Trang 161.6.2 Ở Việt Nam
Đinh Đăng Hoè thống kê từ tháng 8/1992 – 10/1996 thấy trong 770 trẻ
em đến khám và điều trị tại Viện Sức khoẻ Tâm thần Quốc gia tỷ lệ RLHV là8.3% [17]
Trần Đình Thông (1989) điều tra trên 2420 thanh thiếu niên từ 10 -17tuổi tại Thành phố Đà Nẵng thấy tỷ lệ RLHV là 2,14% chỉ gặp ở nam trong
đó biểu hiện trộm cắp thường gặp nhất (43.9%) [7]
Tôn Thất Hưng (2004), nghiên cứu trên 5453 trẻ em ở một số phườngcủa Thành phố Huế thấy tỷ lệ RLHV là 2.73%, nam nhiều hơn nữ với mức độnặng là 55.03%, vừa 20%, còn lại ở mức độ nhẹ Tác giả này cũng đưa ra cácyếu tố liên quan đến RLHV như gia đình hay xung đột, bố có thói quen xấu,
bố mẹ hay vắng nhà, môi trường trẻ ở thiếu lành mạnh, trẻ có sở thích khônglành mạnh, bố mẹ có trình độ học vấn thấp và gia đình đông con
Trang 17Chương 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu của chúng tôi gồm những trẻ từ 6 – 17 tuổi sống cùng bố,
mẹ hoặc người giám hộ tại phường Thuận Hoà - Thành phố Huế
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
- Nghiên cứu cắt ngang để xác định tỷ lệ rối loạn hành vi ở thanh thiếu
niên từ 6 – 17 tuổi tại Phường Thuận Hoà – Thành phố Huế
- Nghiên cứu bệnh chứng để tìm hiểu các yếu tố liên quan đến rối loạn
hành vi ở các đối tượng nghiên cứu
- Nghiên cứu từng trường hợp để phát hiện những biểu hiện thường gặp
của rối loạn hành vi, hoàn cảnh gia đình của từng trẻ
1 ( 1 )
p p Z
Với ε = 0.05 (tỷ lệ RLHV trong nghiên cứu của chúng tôi so với các nghiên
cứu khác khác biệt ≤5% là chấp nhận được)
Trang 18138 2
) 05 0 (
9 0
* 1 0
* 2 ) 96 1 (
2.2.2.2 Tiêu chuẩn loại trừ
Chúng tôi không chọn những đối tượng nghiên cứu có rối loạn hành vi
do các bệnh lý tâm thần khác như chậm phát triển trí tuệ, tâm thần phân liệt,rối loạn cảm xúc lưỡng cực…
2.2.3 Công cụ thu thập số liệu
- Phiếu khảo sát các yếu tố tâm lý, gia đình và xã hội để tìm hiểu các
yếu tố liên quan đến rối loạn hành vi như
+ Tuổi: trẻ sinh từ tháng 01/1991 đến tháng 12 năm 2003 Tuổi đượcphân thành 3 lớp như sau
Từ 6 – 10 tuổi : tương đương trình độ văn hoá tiểu học
Từ 11 – 15 tuổi: tương đương trình độ văn hoá THCS
> 15 tuổi: tương đương trình độ văn hoá THPT
+ Tình trạng kinh tế của gia đình: để xem xét mối liên quan giữa tìnhtrạng kinh tế nghèo và RLHV Tình trạng kinh tế nghèo được xác định dựavào chuẩn nghèo quốc gia giai đoạn 2006 – 2010 do Thủ tướng Chính phủban hành theo quyết định số 170/2005/QĐ – TTg như sau:
Khu vực nông thôn: hộ được coi là nghèo khi thu nhập bình quân đầungười <200.000 đồng/ tháng [8]
Khu vực thành thị: hộ được coi là nghèo khi thu nhập bình quân đầungười <260.000 đồng/ tháng [8]
+ Hôn nhân của bố mẹ trẻ
+ Trình độ học vấn của bố, mẹ; thói quen xấu của những người tronggia đình, mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình
Trang 19+ Học lực, sở thích, quan hệ bạn bè của trẻ
+ Tệ nạn, thói quen xấu của cộng đồng nơi trẻ sống…
- Bảng liệt kê các biểu hiện RLHV thường gặp theo tiêu chuẩn chẩnđoán của bảng Phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 (ICD10) dành cho nghiêncứu [34]
2.2.4 Các bước tiến hành
- Soạn bộ câu hỏi điều tra
- Tham gia tập huấn về cách sử dụng bảng câu hỏi, những kiến thức vềrối loạn hành vi, cách chẩn đoán và chẩn đoán phân biệt
- Tiến hành điều tra:
+ Sử dụng phiếu khảo sát các yếu tố tâm lý, xã hội, gia đình và bảngliệt kê các biểu hiện rối loạn hành vi
+ Phỏng vấn trực tiếp trẻ, kết hợp với phỏng vấn bố mẹ hoặc ngườigiám hộ để thông tin thu thập được chính xác và đầy đủ
- Quá trình điều tra được tiến hành theo 2 bước
+ Bước 1: điều tra sàng lọc
Khảo sát tất cả 495 trẻ được chọn ngẫu nhiên từ cộng đồng phườngThuận Hoà để xác định những trường hợp rối loạn hành vi
Kết hợp với trạm y tế phường để có danh sách những trẻ mắc các rốiloạn tâm thần như chậm phát triển tâm thần, động kinh, tâm thần phân liệtphường đang quản lý ngoại trú để loại trừ ra khỏi các đối tượng nghiên cứu
Chẩn đoán các trường hợp rối loạn hành vi và mức độ rối loạn dựavào tiêu chuẩn chẩn đoán ICD 10 phiên bản dùng cho nghiên cứu [34]
+ Bước 2: Sau khi đã qua sàng lọc xác định được các trường hợp rốiloạn hành vi, tiến hành nghiên cứu bệnh chứng để tìm hiểu các yếu tố liênquan đến rối loạn này ở các đối tượng nghiên cứu
Trang 202.3 ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
2.3.1 Địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu của chúng tôi được tiến hành tại Phường Thuận Hoà –Thành phố Huế
Phường Thuận Hoà là một phường thuộc TP Huế nằm trong khu vựcthành nội, có diện tích tự nhiên là 1km2
- Phường gồm có 2844 hộ, có 2348 trẻ vị thành niên, trong đó nam là
- Mức thu nhập bình quân trên đầu người/năm khoảng 7 triệu đồng Việt Nam
- Trình độ văn hoá tối thiểu biết đọc, biết viết
- Tình hình trật tự an ninh: Khu vực 2 trường bán công là nơi tụ tập một
số học sinh cá biệt có học lực và hạnh kiểm yếu kém kết hợp với môi trường
có nhiều tụ điểm, điện tử, internet nên thường hay có gây gỗ, đánh nhau, cờ
Trang 21bạc, đề số, rượu chè và các hoạt động không lành mạnh khác Đây cũng làmôi trường làm ảnh hưởng đến nhân cách của lứa tuổi vị thành niên.
2.3.2 Thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu của chúng tôi được tiến hành từ tháng 9 năm 2008 đếntháng 4 năm 2009
2.4 XỬ LÝ SỐ LIỆU
Số liệu thu thập được được xử lý theo phương pháp thống kê toán họcbằng phần mềm SPSS 15.0
Trang 22Chương 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 TỶ LỆ VÀ CÁC TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG THƯỜNG GẶP CỦA RỐI LOẠN HÀNH VI Ở CÁC ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
3.1.1 Tỷ lệ rối loạn hành vi ở trẻ em từ 6 – 17 tuổi phường Thuận Hoà Bảng 3.1 Tỷ lệ rối loạn hành vi ở trẻ em từ 6- 17 tuổi phường Thuận Hoà
3.1.2 Các biểu hiện rối loạn hành vi thường gặp ở các đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.2 Các biểu hiện rối loạn hành vi thường gặp (n=38)
Trang 233.1.3 Tổng số biểu hiện rối loạn hành vi ở các đối tượng nghiên cứu
Nhận xét: Đa số bệnh nhân có 3 biểu hiện rối loạn hành vi (73.7%), sốbệnh nhân có từ 5 biểu hiện rối loạn hành vi trở lên chiếm tỷ lệ thấp nhất(7.9%)
3.1.4 Mức độ rối loạn hành vi ở các đối tượng nghiên cứu
Trang 243.1.5 Thái độ của trẻ sau khi có các biểu hiện rối loạn hành vi