ĐẶT VẤN ĐỀ Nghiên cứu các chỉ số về thể lực dinh dưỡng của con người và đánh giá các chỉ số nhân trắc là một bộ phận hết sức quan trọng trong quá trình nghiên cứu các lĩnh vực về phát triển con người. Người ta đã biết, sự phát triển hình thái thể lực của con người một mặt chịu sự ảnh hưởng của yếu tố di truyền (đột biến, chủng tộc...), một mặt chịu sự chi phối của đời sống kinh tế, văn hoá, môi trường, khí hậu...của một quốc gia hay một quần thể người. Chính vì vậy, việc khảo sát nghiên cứu các chỉ số về thể lực dinh dưỡng người nói riêng và nhân trắc nói chung cần phải tiến hành định kỳ, thường xuyên để đánh giá chính xác về hình thái nhân trắc và tình trạng thể lực, dinh dưỡng trong các giai đoạn xã hội lịch sử khác nhau, từng bước cập nhật các chỉ số thu thập được ứng dụng vào thực tế kịp thời, phù hợp với đời sống hàng ngày. Trong thời đại ngày nay, sự phát triển vượt bậc của những ngành kỹ thuật cao đã mang lại ngày càng nhiều phương tiện thăm dò mới về các thành phần cấu trúc của cơ thể người như khối xương, khối nạc, khối mỡ... (như các phương pháp đo tỉ trọng cơ thể, phân tích điện trở sinh học, đo độ hấp thụ X quang năng lượng kép hoặc ghi hình bằng cộng hưởng từ hạt nhân) thì nhân trắc học vẫn là phương pháp đánh giá đơn giản nhất, ít tốn kém nhất, được áp dụng phổ biến trên toàn thế giới để đánh giá về tỉ lệ và thành phần của cơ thể con người. Những dữ liệu về nhân trắc học sẽ giúp cho ta phát hiện sớm những bệnh lí về tăng trưởng và dinh dưỡng cũng như việc đánh giá, so sánh chung về tình trạng thể lực và dinh dưỡng của một quần thể dân tộc nhằm cung cấp những thông tin cần thiết để có biện pháp xử lí thích hợp, từ đó được ứng dụng vào thực tế một cách phù hợp với đời sống sinh hoạt hằng ngày. Ở nước ta, sau hoà bình lập lại, đã có nhiều công trình nghiên cứu về nhân trắc đối với nhiều đối tượng lứa tuổi người lớn cũng như trẻ em. Năm 1975, các chuẩn mẫu chỉ số nhân trắc của người Việt Nam được đưa vào số liệu tham khảo qua đề tài “Hằng số sinh học người Việt Nam” do giáo sư Nguyễn Tấn Gi Trọng làm chủ biên [25]. Bước đến năm 1986, số đo nhân trắc theo chuẩn mẫu tham khảo thứ hai được trình bày trong “Atlat nhân trắc học người Việt Nam trong lứa tuổi lao động” do giáo sư Võ Hưng và cộng sự biên soạn. Đến đầu thập kỉ 90 của thế kỷ XX, các số đo nhân trắc theo chuẩn mẫu tham khảo thứ ba đã ra đời do GS. Trịnh Văn Minh tổng kết tr báo cáo toàn văn: "Điều tra cơ bản một số chỉ tiêu sinh học người Việt Nam bình thường ở thấp kỷ 90" [10]. Sự phát triển kinh tế xã hội về mọi mặt làm cho tuổi thọ con người ngày càng được kéo dài, bên cạnh đó những bệnh lý liên quan đến tình trạng dinh dưỡng của người cao tuổi đã xuất hiện với những tính chất ngày càng phức tạp hơn. Việc tìm hiểu các yếu tố có liên quan đến dinh dưỡng người cao tuổi trở nên rất cần thiết. Sự phát triển kinh tế xãhội về mọi mặt làm cho tuổi thọ của con người ngày càng kéo dài, bên cạnh đó những bệnh lý liên quan đến tình trạng dinh dưỡng của người cao tuổi đã xuất hiện với những tính chất ngày càng phức tạp hơn. Vì những lý do trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: "Đánh giá tình trạng dinh dưỡng qua một số chỉ tiêu nhân trắc đối của người cao tuổi tại phường Phước Vĩnh – thành phố Huế", với các mục tiêu sau đây: 1. Đánh giá tình trạng dinh dưỡng qua các chỉ tiêu nhân trắc của người cao tuổi tại phường Phước Vĩnh – thành phố Huế. 2. Nghiên cứu sự tương quan chỉ tiêu và chỉ số nhân trắc dinh dưỡng và huyết áp của người cao tuổi nói trên.
Trang 1TRẦN ĐĂNG KHOA
ĐÁNH GIÁ TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG
QUA MỘT SỐ CHỈ TIÊU NHÂN TRẮC
CỦA NGƯỜI CAO TUỔI TẠI PHƯỜNG PHƯỚC VĨNH – THÀNH PHỐ HUẾ
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP BÁC SĨ ĐA KHOA
HUẾ, 2010
Trang 2Trang
ĐẶT VẤN ĐỀ
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Sơ lược lịch sự nhân trắc học thế giới
1.2 Tình hình nghiên cứu nhân trắc học ở Việt Nam
1.3.Các chỉ số nhân trắc đánh giá tình trạng dinh dưỡng
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
2.2 Phương pháp nghiên cứu
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Các chỉ tiêu nhân trắc
3.2 Các chỉ số dinh dưỡng và thể lực
Chương 4 BÀN LUẬN
4.1 Các chỉ tiêu nhân trắc
4.2 Đánh giá tình trạng dinh dưỡng và thể lực
KẾT LUẬN TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 3ĐẶT VẤN ĐỀ
Nghiên cứu các chỉ số về thể lực dinh dưỡng của con người và đánh giácác chỉ số nhân trắc là một bộ phận hết sức quan trọng trong quá trình nghiêncứu các lĩnh vực về phát triển con người
Người ta đã biết, sự phát triển hình thái thể lực của con người một mặtchịu sự ảnh hưởng của yếu tố di truyền (đột biến, chủng tộc ), một mặt chịu
sự chi phối của đời sống kinh tế, văn hoá, môi trường, khí hậu của một quốcgia hay một quần thể người Chính vì vậy, việc khảo sát nghiên cứu các chỉ số
về thể lực dinh dưỡng người nói riêng và nhân trắc nói chung cần phải tiếnhành định kỳ, thường xuyên để đánh giá chính xác về hình thái nhân trắc vàtình trạng thể lực, dinh dưỡng trong các giai đoạn xã hội lịch sử khác nhau,từng bước cập nhật các chỉ số thu thập được ứng dụng vào thực tế kịp thời,phù hợp với đời sống hàng ngày
Trong thời đại ngày nay, sự phát triển vượt bậc của những ngành kỹthuật cao đã mang lại ngày càng nhiều phương tiện thăm dò mới về các thànhphần cấu trúc của cơ thể người như khối xương, khối nạc, khối mỡ (như cácphương pháp đo tỉ trọng cơ thể, phân tích điện trở sinh học, đo độ hấp thụ Xquang năng lượng kép hoặc ghi hình bằng cộng hưởng từ hạt nhân) thì nhântrắc học vẫn là phương pháp đánh giá đơn giản nhất, ít tốn kém nhất, được ápdụng phổ biến trên toàn thế giới để đánh giá về tỉ lệ và thành phần của cơ thểcon người Những dữ liệu về nhân trắc học sẽ giúp cho ta phát hiện sớmnhững bệnh lí về tăng trưởng và dinh dưỡng cũng như việc đánh giá, so sánhchung về tình trạng thể lực và dinh dưỡng của một quần thể dân tộc nhằmcung cấp những thông tin cần thiết để có biện pháp xử lí thích hợp, từ đóđược ứng dụng vào thực tế một cách phù hợp với đời sống sinh hoạt hằng
Trang 4ngày Ở nước ta, sau hoà bình lập lại, đã có nhiều công trình nghiên cứu vềnhân trắc đối với nhiều đối tượng lứa tuổi người lớn cũng như trẻ em.
Năm 1975, các chuẩn mẫu chỉ số nhân trắc của người Việt Nam đượcđưa vào số liệu tham khảo qua đề tài “Hằng số sinh học người Việt Nam” dogiáo sư Nguyễn Tấn Gi Trọng làm chủ biên [25] Bước đến năm 1986, số đonhân trắc theo chuẩn mẫu tham khảo thứ hai được trình bày trong “Atlat nhântrắc học người Việt Nam trong lứa tuổi lao động” do giáo sư Võ Hưng vàcộng sự biên soạn
Đến đầu thập kỉ 90 của thế kỷ XX, các số đo nhân trắc theo chuẩn mẫutham khảo thứ ba đã ra đời do GS Trịnh Văn Minh tổng kết tr báo cáo toànvăn: "Điều tra cơ bản một số chỉ tiêu sinh học người Việt Nam bình thường ởthấp kỷ 90" [10]
Sự phát triển kinh tế xã hội về mọi mặt làm cho tuổi thọ con ngườingày càng được kéo dài, bên cạnh đó những bệnh lý liên quan đến tình trạngdinh dưỡng của người cao tuổi đã xuất hiện với những tính chất ngày càngphức tạp hơn Việc tìm hiểu các yếu tố có liên quan đến dinh dưỡng ngườicao tuổi trở nên rất cần thiết
Sự phát triển kinh tế xãhội về mọi mặt làm cho tuổi thọ của con ngườingày càng kéo dài, bên cạnh đó những bệnh lý liên quan đến tình trạng dinhdưỡng của người cao tuổi đã xuất hiện với những tính chất ngày càng phứctạp hơn
Vì những lý do trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: "Đánh giá
tình trạng dinh dưỡng qua một số chỉ tiêu nhân trắc đối của người cao tuổi tại phường Phước Vĩnh – thành phố Huế", với các mục tiêu sau đây:
1 Đánh giá tình trạng dinh dưỡng qua các chỉ tiêu nhân trắc của người cao tuổi tại phường Phước Vĩnh – thành phố Huế.
2 Nghiên cứu sự tương quan chỉ tiêu và chỉ số nhân trắc dinh dưỡng
và huyết áp của người cao tuổi nói trên.
Trang 5Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 SƠ LƯỢC LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU NHÂN TRẮC HỌC THẾ GIỚI
Nhân trắc học là khoa học nghiên cứu các kích thước cơ thể con người.Nhân trắc học ra đời từ rất lâu, là một môn khoa học dùng các phương pháptoán học và thống kê để nhận định và phân tích sự đo đạc các kích thước của
cơ thể con người nhằm rút ra các kết luận phục vụ thực tiễn đời sống hàngngày Ngày 5 tháng 11 năm 1754 tại Đại học Y khoa ở Halle đã có một côngtrình nghiên cứu đầu tiên về sự tăng trưởng con người của Christian FriedrichJampert với luận án “Nguyên nhân của sự phát triển cơ thể động vật” (theoTanner) [42] Trong luận án này C.F.Jampert đã đưa ra lý thuyết cho rằng sựtăng trưởng là do áp lực của các chất dịch trong mạch máu lớn hơn sức cảncủa các tổ chức sợi của cơ thể, đặc biệt là tổ chức xương Vì vậy cơ thể tăngtrưởng hay căng ra theo mọi chiều và sự tăng trưởng chỉ ngừng lại khi có sựcân bằng áp lực Tuy nhiên công trình nghiên cứu của C.F.Jampert khôngđược biết đến trong một thời gian dài
Song theo Georges Olivier [34], đến cuối thế kỉ XIX, Topinard (1885)trong cuốn “Các yếu tố nhân trắc học đại cương” mới là người đầu tiên đưa rathuật ngữ “Nhân trắc học cơ thể” đã đánh dấu một mốc quan trọng trong lịch
sử nghiên cứu của nhân trắc học
Năm 1914, nhà nhân học người Đức có tên là Rudolf Martin đã cho rađời cuốn “ Giáo trình nhân học” trong đó ông đã đề xuất và hoàn chỉnh một
hệ thống dụng cụ đo đạc, các phương pháp nghiên cứu nhân trắc học, đặc biệt
là sự ứng dụng toán thống kê sinh học (trích theo Atlat nhân trắc học ngườiViệt Nam [29]) Ông được coi là người đặt nền móng cho khoa học nhân trắchiện đại Những trường phái nhân học tiếp theo sau này đều phải dựa vào cơ
Trang 6sở phương pháp của Martin mà bổ sung và hoàn thiện về mặt lí luận và thựctiễn theo truyền thống khoa học của từng quốc gia Phương pháp này có nhiều
ưu điểm hơn và được nhiều tác giả công nhận Tuy nhiên phương pháp nàycòn tồn tại một nhược điểm đó là 3 chỉ số: chiều cao, cân nặng và vòng ngựcđược coi là 3 đặc điểm biến đổi độc lập với nhau Trên thực tế chỉ có chiềucao đứng là biến đổi độc lập, còn cân nặng và vòng ngực thì biến đổi phụthuộc vào chiều cao Ngoài ra Martin còn sử dụng cả phương pháp tươngquan, nghĩa là chiều cao đứng biến đổi độc lập và cân nặng biến đổi phụthuộc vào chiều cao đứng và vòng ngực cơ thể
Càng về sau, sự phát triển về nghiên cứu nhân trắc càng phong phú và đadạng hơn, cùng với sự phát triển của nhân chủng học Tuỳ theo mục đích nghiêncứu mà người ta chia ra: nhân trắc nhân chủng học, chuyên nghiên cứu hình tháicác chủng tộc loài người; nhân trắc học đường, chuyên nghiên cứu thể lực và cáctiêu chuẩn kiểm tra sức khoẻ học sinh; nhân trắc y học, nghiên cứu sự phát triển
cơ thể trẻ em theo từng lứa tuổi, phân loại tình trạng thể lực và dinh dưỡng, xácđịnh thay đổi hình thái do bệnh lí [22]
1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU NHÂN TRẮC HỌC Ở VIỆT NAM
Ở nước ta, nhân trắc học được quan tâm khá sớm, từ những năm 30 củathế kỉ XX tại Viện giải phẫu học Hà Nội và Ban nhân học thuộc viện ViễnĐông Bác Cổ với những công trình của Đỗ Xuân Hợp, Bigot A, Huard Pđược công bố chủ yếu trong Hội san “Các công trình nghiên cứu của ViệnGiải phẫu học, Đại học y khoa Đông Dương” từ 1936 đến 1944 [11] Tuynhiên trong thời kì này các công trình vẫn còn ít nhiều hạn chế vì chưa vậndụng được toán thống kê vào việc trình bày và nhận định kết quả, các công cụnghiên cứu chưa được nói tới
Công trình nghiên cứu bị gián đoạn qua 9 năm kháng chiến chống Pháp
và bắt đầu khôi phục trở lại từ khi hoà bình được lập lại ở miền Bắc năm
1954, do nhu cầu xây dựng chủ nghĩa xã hội, các công tác điều tra về cơ bản y
Trang 7tế đã được đẩy mạnh, trong đó điều tra nhân trắc đã có những bước tiến đáng
kể Toán thống kê cũng đã được vận dụng vào việc đánh giá và nhận định kếtquả nghiên cứu được chính xác hơn
Nhiều nghiên cứu về hình thái thể lực trên nhiều đối tượng khác nhauđáng chú ý trong giai đoạn này có thể kể là: Hằng số hình thái nhân loại họccủa Đỗ Xuân Hợp và Nguyễn Quang Quyền (1967) [21]; một số hằng số củatrẻ em Việt Nam của Chu Văn Tường và Nguyễn Công Khanh (1972) [24];Nghiên cứu một số kích thước hình thái và thể lực của học sinh phổ thông từ
7 đến 18 tuổi ở Thái Bình của Đinh Kỉ và Nguyễn Văn Khoa (1972) [13];Nhận xét về chiều cao, vòng ngực, cân nặng của công nhân Hà Nội của LêGia Khải, Bùi Thụ Và Phạm Quý Soạn (1969) [14] các nghiên cứu thời kìnày cho thấy người Việt Nam nói chung là thấp, bé, nhẹ cân và gầy hơn ngườinước ngoài, nhưng mặt khác vẫn đảm bảo được sức chịu đựng và dẻo dai,biểu hiện ở các thăm dò chức năng hô hấp, tuần hoàn rất bình thường
Sau ngày thống nhất đất bước, các nghiên cứu điều tra nhân trắc hìnhthái thể lực càng được tiếp thu đẩy mạnh và hoàn thiện ở miền Bắc, bắt đầu
và mở rộng ra miền Trung và miền Nam
Ở miền Bắc:
- Năm 1980: Nguyễn Văn Lực và cộng sự tiến hành nghiên cứu 768sinh viên khu vực Thái Nguyên tuổi từ 16-25, đã đưa ra nhận xét: thể lực củasinh viên Thái Nguyên tốt hơn so với hằng số sinh học thể lực được xếp loạitốt trong thang phân loại người Việt Nam bình thường [16]
- Sau năm 1993, Trịnh Văn Minh và cộng sự cũng đã có một công trìnhnghiên cứu “ Đặc điểm sinh thể con người Việt Nam”, tiến hành nghiên cứutầm vóc thể lực và tình trạng dinh dưỡng của 1309 đối tượng tuổi từ 18-60 ởmột xã ngoại thành Hà Nội, đã đưa ra được nhiều nhận định có giá trị về tầmvóc thể lực người Việt Nam đương đại [9]
Trang 8Ngoài ra còn có một số tác giả khác như Trịnh Hữu Vách và Lê GiaVinh (1985 – 1986) [33] nghiên cứu trên các đối tượng người trưởng thànhcủa 5 tỉnh miền Bắc và miền Nam; Nguyễn Thế Hùng (1992) [6] nghiên cứutrên học sinh – sinh viên Hải Phòng đều có nhận xét chung là tầm vóc thể lựccủa các nhóm đối tượng nói trên tốt hơn hằng số sinh học người Việt Nam(1975) chút ít Như vậy sau hơn 10 năm, quy luật gia tăng tầm vóc thể lựctheo thời gian đã dần xuất hiện do hoàn cảnh kinh tế - xã hội của đất nước cónhững thay đổi.
“Nghiên cứu đặc điểm về kích thước hình thái, về sự tăng trưởng và phát triển
cơ thể của học sinh phổ thông thị xã Hà Đông” [19]; Trịnh Văn Minh nghiêncứu về nhân trắc trong công trình nghiên cứu về chỉ tiêu sinh học người ViệtNam thập kỉ 90 của thế kỉ XX; Lê Đình Vấn nghiên cứu sự phát triển hìnhthái của học sinh 6 đến 17 tuổi ở Thừa Thiên Huế [28], [29], [30]
Năm 1998, Võ Phụng và cộng sự trong “Báo cáo một số chỉ tiêu sinhhọc của người bình thường tại khu vực miền Trung” đã có nhận định chung làkích thước nhân trắc của người miền Trung có khuynh hướng tốt hơn so vớihằng số sinh học 1975 [20] Song qua kết quả tổng kết toàn quốc của TrịnhVăn Minh và cộng sự (2000) thì kích thước người miền Trung vẫn thuộc loạithấp so với toàn quốc
Năm 2000, Nguyễn Trường An [1] trong công trình nghiên cứu các chỉ
số nhân trắc hình thái thể lực học của trên 2343 người trưởng thành của 6 xã
Trang 9vùng ven biển huyện Phú Vang – Thừa Thiên Huế từ 15 – 46 tuổi, chủ yếulàm nghề nông đánh bắt thuỷ sản đã có kết luận như sau:
+ Chiều cao tiếp tục phát triển mạnh ở nhóm tuổi 15 – 19 và đạt tối đa
Năm 2004 Nguyễn Trường An [2] với luận án “Đánh giá về mặt nhântrắc học tình trạng thể lực, dinh dưỡng và phát triển người miền Trung từ 15tuổi trở lên” Đã cho thấy, so với kết quả điều tra cơ bản toàn quốc thì cáckích thước nhân trắc của người miền Trung thuộc loại thấp, yếu và gầy Đánhgiá tình trạng thể lực tuy vẫn thuộc loại bình thường theo thang phân loại củaTrịnh Văn Minh, song kém hơn so với trị số trung bình của người Việt Namtoàn quốc Đánh giá dinh dưỡng: chỉ số BMI người miền Trung tương đươngvới người miền Bắc, song kém người miền Nam và Tây Nguyên và kémngười Việt Nam toàn quốc [20]
Ở miền Nam, Nguyễn Thị Đoàn Hương và cộng sự nghiên cứu trên cácđối tượng là sinh viên học tại trường Đại học Y dược thành phố HCM và Đạihọc sư phạm kĩ thuật Thủ Đức (1979) [8]; Nguyễn Hồng Bàng và cộng sựnghiên cứu trên thanh niên tỉnh Long An (1986) [3]; Nguyễn Phi Hùng (2000)nghiên cứu trên học sinh sinh viên Cần Thơ đã nhận thấy ở nam các chỉ số vềtầm vóc thể lực đều lớn hơn so với hằng số sinh học người Việt Nam (1976),còn ở nữ sinh viên thì hầu hết các trị số đều nhỏ hơn [7]
Điểm lại những công trình nghiên cứu về tầm vóc thể lực của ngườiViệt Nam trong thời gian qua có thể nhận thấy:
Trang 10- Người Việt Nam thuộc loại nhỏ bé so với thang phân loại của thế giớinhưng thể lực cũng đủ tốt để đảm bảo sinh hoạt và lao động.
Người Việt Nam trong lứa tuổi lao động (17-55) có chiều cao và trọnglượng cơ thể thuộc loại trung bình thấp của thế giới
- Sự chênh lệch giới tính (nam và nữ), về chiều cao, các vòng và trọnglượng có ý nghĩa thống kê thuộc loại bình thường, thường gặp trên thế giới
- Nhiều kích thước cơ thể tăng dần từ miền Bắc vào miền Nam, sự khácbiệt của một số kích thước giữa các miền theo lớp tuổi trẻ và giảm dần
1.3 CÁC CHỈ SỐ NHÂN TRẮC ĐÁNH GIÁ TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG
Trong các kích thước nhân trắc dinh dưỡng, khối lượng cơ thể, biểuhiện bằng cân nặng vẫn là yếu tố hàng đầu Hiện nay trong thực hành dinhdưỡng, khi nói về cân nặng và sức khoẻ, người ta đã nêu lên khái niệm cânnặng hợp lí Theo đó, chúng ta cần biết rõ thành phần cấu tạo cơ thể như làkhối mỡ, khối nạc Như vậy, độ béo gầy được đánh giá từ khối mỡ, khối nạc
là để xác định một cách chính xác hơn cho tình trạng thừa hoặc thiếu cânnặng [2]
Mặt khác, người ta nhận thấy khối mỡ cơ thể rất cần thiết cho sự sống,điều này đã được chứng minh ở những người bị đói, sẽ chết do thiếu mỡ chứkhông phải do thiếu protein Để sống một cách đơn thuần người phụ nữ cầnmột lượng mỡ cơ thể gấp 4 lần so với nam giới, tức là nữ cần 12% còn nam3% mỡ cơ thể Ngoài ra, ở người phụ nữ cần một lượng mỡ lớn hơn nữa đểphục vụ cho việc làm mẹ
Những nghiên cứu mới đây về lâm sàng cũng cho thấy, sự gia tăng quámức của khối lượng mỡ có liên quan chặt chẽ với bệnh tim mạch, cao huyết
áp, đái tháo đường thể không phụ thuộc insulin, tăng lipid máu, bệnh phổi tắcnghẽn, bệnh viêm xương khớp, một vài bệnh ung thư Đặc biệt đối với ngườicao tuổi thì tỉ lệ các bệnh lí trên ngày này càng cao Nhưng quá ít mỡ cơ thể ởnhững người bị rối loạn tiêu hoá hoặc lao động quá sức hoặc có một vài bệnh
Trang 11lí như là xơ hoá dạng nang, cũng có thể dẫn đến các rối loạn chức năng sinh línặng nề [2].
Do tầm quan trọng của khối mỡ cũng như tỉ lệ người trong cộng đồng
bị thừa cân hoặc chính xác hơn là thừa khối mỡ ngày càng tăng cao mà đã córất nhiều công trình nghiên cứu về đề tài này trên thế giới
Trên cơ sở hoạt động của chuyển hoá, người ta chia thành phần cấu tạocủa cơ thể làm 4 thành phần chính: khối nạc, khối mỡ, nước và khối khoángchất Khoảng 50% trọng lượng cơ thể là được tạo từ nước, 25% từ khối mỡ,20% từ khối nạc và 5% từ khối chất khoáng
Tuy nhiên còn có một số yếu tố ảnh hưởng đến sự thay đổi của thànhphần cấu tạo cơ thể như:
- Giới tính: phụ nữ có nhiều mỡ hơn và nam giới có nhiều cơ hơn
- Tuổi: người trưởng thành trẻ có luyện tập và hoạt động thể lực cónhiều nạc và ít mỡ hơn người làm công việc tĩnh tại
- Chủng tộc: phụ nữ da đen có nhiều khối chất khoáng hơn phụ nữ da trắng
- Khí hậu: người ở vùng khí hậu lạnh có nhiều mỡ dưới da hơn người ởvùng khí hậu nóng để bảo vệ nhiệt độ cơ thể
- Người có cân nặng quá mức (thừa cân) hay béo phì có khối mỡ vượtquá mức so với khối nạc
Để sử dụng các chỉ số đo nhân trắc để đánh giá tình trạng dinh dưỡng ởmột người bình thường thì chúng ta có một khái niệm về tình trạng cấu trúc
cơ thể của một người, đồng thời có thể phát hiện các dị dạng hình thái củangười đó
Có nhiều chỉ tiêu nhân trắc hình thái và dinh dưỡng, tuy nhiên tuỳ theomục đích nghiên cứu và tuổi của đối tượng mà ta sử dụng các chỉ tiêu khácnhau Đối với đề tài nghiên cứu này của chúng tôi lứa tuổi là ở người cao tuổi
từ 60 tuổi trở lên, nên chúng tôi chỉ sử dụng các chỉ tiêu sau đây:
* Trọng lượng:
Trang 12Trọng lượng cũng như chiều cao là một chỉ tiêu thường được sử dụngtrong nghiên cứu nhân trắc học.
Trọng lượng người gồm 2 phần:
+ Phần cố định: gồm xương, da, các tạng và thần kinh
+ Phần thay đổi: gồm ¾ là trọng lượng của cơ, ¼ là mỡ và nước [2]
* Vòng cánh tay – vòng đùi và vòng bắp chân:
Các vòng chi cho phép ta đánh giá phần nào sự phát triển về khối lượngcủa cơ thể nói chung, biểu hiện cả tình trạng thể lực tập luyện và dinh dưỡngcủa cơ thể Ngoài ra vòng đùi không chỉ thể hiện sự phát triển về cơ bắp, màcòn là nơi tích mỡ quan trọng, đặc biệt là ở nữ
* Bề dày các lớp mỡ dưới da sau cánh tay và trên màu chậu: Bề dày cácnếp da phản ánh tình trạng dinh dưỡng của một người Từ đây người ta có thểtính được tỉ lệ phần trăm mỡ cơ thể thông qua tính tỉ trọng cơ thể
* Chỉ số BMI (Body Mass Index):
BMI còn gọi là chỉ số khối cơ thể BMI mới phổ biến ở Việt Nam gầnđây khi tình trạng phát triển kinh tế kéo theo sự phát triển một số bệnh liênquan đến chuyển hoá và dinh dưỡng, do đó BMI cũng như vòng bụng và vòngmông được nghiên cứu nhiều Tuy nhiên việc nghiên cứu BMI ở người caotuổi chưa nhiều và rải rác ở một số vùng dân cư [33]
BMI còn được WHO khuyến cáo dùng làm chỉ tiêu đánh giá suy dinhdưỡng trẻ em, vì trọng lượng cơ thể phụ thuộc vào chiều cao, một người gầy
Trang 13nhưng cao sẽ có khả năng trọng lượng cơ thể lớn hơn một người béo thấp, do
đó trọng lượng cơ thể có thể đôi khi phản ánh sai độ béo gầy của cơ thể, vìvậy chỉ số khối cơ thể ra đời Chỉ số khối cơ thể là một đại lượng nhằm mô tảtrọng lượng tương đối của cơ thể, nhờ đó mới đánh giá được đố béo gầy mộtcách chính xác [37]
Ở người trưởng thành từ 18 – 60 tuổi, BMI tương đối ổn định nênngười ta sử dụng để đánh giá tình trạng dinh dưỡng
BMI: chỉ số khối cơ thể được tính như sau:
- BMI < bách phân vị 5% theo quần thể tham chiếu NHANESI của Mỹ:suy dinh dưỡng
BMI > bách phân vị 85% theo quần thể tham chiếu NHANESI của Mĩ:nguy cơ thừa cân
- BMI > bách phân vị 95% theo quần thể tham chiếu NHANESI củaMĩ: béo phì
* Khối mỡ cơ thể: có nhiều phương pháp để xác định khối mỡ cơ thể.Những phương pháp như đo độ dẫn điện cơ thể toàn phần, đo độ hấp thụ xquang năng lượng kép đều được thực hiện trong phòng thí nghiệm và chiphí cao Các phương pháp dựa vào nhân trắc học vẫn là phổ biến Ở Việt Namhay dùng công thức của Nguyễn Quang Quyền và LGV
Trang 14Công thức:
Nam: FBM = 6,16 x cao đứng x (vòng bụng)2 + 1,02
FBM = 8,29 x cao đững (vòng bụng)2 + 3,80
Trang 15Chương 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu là 307 người bình thường, gồm 126 nam và 181
* Tiêu chuẩn chọn đối tượng:
- Người lớn bình thường, tuổi từ 60 trở lên đang sống và có mặt tạiphường Phước Vĩnh - Thành phố Huế
- Không dị dạng về hình thái hoặc dị tật bẩm sinh hoặc do mắc phải
- Không mắc các bệnh cấp tính và mạn tính
* Một số nét cơ bản về địa phương nghiên cứu:
+ Phường Phước Vĩnh thuộc thành phố Huế của tỉnh Thừa Thiên Huế códiện tích tự nhiên 102,2ha, phường có 7 khu vực với 22 tổ dân phố, có 3352 hộdân và 15572 người, trong đó 74% dân số là đồng bào có đạo, phần lớn làngười dân lao động phổ thông, buôn bán nhỏ, đạp xích lô, xe thồ (trên 70%)
Các nghề thù công nghiệp và nghề khác chiếm chưa đầy 30% nhìnchung đời sống nhân dân còn gặp nhiều khó khăn, vất vả và thiếu thốn nhiều
+ Về địa lý
Vị trí phường phước Vĩnh nằm phía Tây Nam thành phố Huế:
- Phía Bắc giáp với phường Vĩnh Ninh
- Phía Đông giáp với phường An Cựu
- Phía Nam giáp với phường An Tây
- Phía Tây giáp với phường Trường An
Trang 16+ Kinh tế văn hoá xã hội
- Lao động phổ thông, buôn bán nhỏ, đạp xích lô, xe thồ (70%) còn lại
là nghề khác
- Tỷ lệ hộ nghèo 2,7%
- Thu nhập bình quân: 250.000đ/người/tháng
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu: điều tra ngang
2.2.2 Nội dung nghiên cứu
2.2.2.1 Đo các chỉ tiêu nhân trắc cơ bản
7 Bề dày nếp da sau cánh tay (sau cơ tam đầu)
8 Bề dày nếp da trên mào chậu
9 Huyết áp (huyết áp tối đa và huyết áp tối thiểu)
2.2.2.2 Kỹ thuật đo đạc
- Trọng lượng: Người được đo nam mặc quần đùi, cởi trần, chân đất, nữchỉ mặc bộ đồ nhẹ, kiểm tra lại cân trước khi đo, đặt cân ở vị trí bằng phẳng,chỉnh về vị trí bằng 0
- Chiều cao đứng: người được đo đứng ở tư thế tự nhiên, đầu để thẳng(sao cho đuôi mắt và lỗ tai ngoài nằm trên một đường ngang song song vớimặt đất), 3 điểm mông, lưng, gót chạm vào thước đo, đo từ mặt đất cho tớiđiểm cao nhất trên đỉnh đầu
- Vòng cánh tay trái bình thường: đo qua chỗ to nhất của cánh tay trái,thường là giữa mỏm vùng vai và mỏm khuỷu, cánh tay để duỗi tự nhiên
- Vòng bụng trên mào chậu: đặt thước dây sát trên mào chậu ngườiđược đo thở bình thường
Trang 17- Vòng đùi: đo qua chỗ to nhất của vòng đùi, thường ngay dưới nếp lằn mông.
- Vòng bắp chân: đo qua chỗ to nhất của cẳng chân trái tư thế đứng chuẩn
- Các nếp da: khi đo dùng tay trái véo da và lớp mỡ dưới da lên tới sátlớp cân nông, tay phải dùng thước kẹp vào lớp da và lớp mỡ đó, buông nhẹtay cầm thước để cho kim chạy, khi kim dừng quay đọc số ngay, tất cả cácnếp da đều được đo bên trái, lần lượt đo ở các điểm
+ Sau cánh tay (sau cơ tam đầu), điểm giữa mặt sau cánh tay
+ Trên mào chậu: trên đường nách giữa, dưới sườn cuối và trên mào chậu
- Đo huyết áp (HA)
+ Đối tượng phải được nghỉ trước khi đo 5 phút, đo HA cánh tay lấy
HA tay trái làm chuẩn, đo tư thế ngồi
+ Bao hơi cỡ thông thường (12 x 24cm) quấn phía trên nếp gấp khuỷutay 3cm, mặt trống ống nghe đặt sát gần bờ dưới bao hơi
+ Bơm nhanh bao hơi lên 200mmHg hoặc trên mức huyết áp tâm thu(HATT) mà ta có thể nhận biết bằng bắt mạch quay thấy biến mất xả bao hơi
ra theo tốc độ quay của kim vào khoảng 2mmHg/giây
Ghi số HATT khi nghe thấy tiếng động đầu tiên, số HA lấy tới chữ sốhàng đơn vị mmHg (không lấy tròn chục)
Ghi số huyết áp tâm trương (HATTr) khi mất hẳn tiếng đập
+ Số lần đo: đối tượng nghiên cứu được đo 2 lần/ngày, mỗi lần cáchnhau ít nhất 2 phút, kết quả huyết áp được lấy để đánh giá mức độ huyết áp làtrung bình cộng của 2 lần đo trên
+ Áp dụng bảng phân loại mức độ huyết áp theo hướng dẫn của JNC
VI (1997) hay WHO/ISH (1999) [32]
2.2.2.3 Dụng cụ đo đạc
Dụng cụ nghiên cứu gần các dụng cụ nghiên cứu về nhân trắc của bộmôn giải phẫu học trường Đại học Y - Dược Huế
Trang 18Các dụng cụ này đã được chuẩn hoá và được tiểu ban nhân trắc củachương trình điều tra cơ bản hằng số sinh học người Việt Nam thông qua.
- Thước đo chiều cao mô phỏng thước Martin: thước gỗ, dán thước kimloại của Trung Quốc với độ chính xác milimét, kèm theo thanh trượt thẳng góc
- Compas đo bề dày nếp da là compas Harpenden Skinfold caliper,nhãn hiệu Holtain - Anh quốc độ chính xác 0,2 milimét
- Cân bàn của Trung Quốc, độ chính xác 0,5kg
- Thước dây vải nhựa của Trung Quốc để đo các kích thước vòng với
độ chính xác milimét
- Máy đo huyết áp: huyết áp kế kiểu đồng hồ, ALPK 2 do Nhật sảnxuất
2.2.3 Tổ chức thu thập số liệu
2.2.3.1 Tập huấn kỹ thuật đo đạc
Bản thân chúng tôi được tập huấn kỹ về kỹ thuật đo đạc tại bộ mônGiải phẫu trường Đại học Y - Dược Huế Tiến hành điều tra tại nhà của chínhđối tượng nghiên cứu
Một người đo và đọc kết quả, một người ghi vào phiếu điều tra in sẵn
2.2.3.2 Thời gian nghiên cứu: từ ngày 20/9/2008 đến 25/6/2009
2.2.3.3 Tính các chỉ số hình thái, thể lực, dinh dưỡng
BMI = cân nặng/(cao đứng)2
Phân chia theo bảng phân loại của tổ chức béo phì quốc tế
(IOTf: International Obesity Task force) đối với người Châu Á [40].Gầy: < 18,5
Trang 19- Trung bình bề dày nếp da = tổng bề dày 2 nếp da/2
2.2.4 Xử lý kết quả điều tra
- Dùng phần mềm Epi info 6.04 và SPSS for windows 13.0
- Nhập số liệu bằng máy tính
- Kết quả thống kê đều được tính bằng các bảng X SD
) / (
X n X
x : Trung bình cộng của mẫu
n : Số lần quan sát
x : Giá trị của từng biến số một
- Sử dụng các phép tính thống kê sau đây
T - Student để so sánh 2 trị số trung bình
B
B A
A
B A
n
O n O
X X T
2
2 ' '
A
X ; X B : Số trung bình của mẫu A và mẫu B
O'B; O'A : Độ lệch chuẩn của mẫu A và B
nA, nB : Là số lần quan sát của mẫu A và mẫu B
+ Tính hệ số tương quan để nghiên cứu mối tương quan giữa 2 đại lượng
) )(
(
y y x
x
y y x x n
Tương quan r được đánh giá như sau:
Trang 20Chúng tôi tiến hành nghiên cứu 307 người cao tuổi (từ tuổi 60 trở lên),trong đó: nam 126 và nữ 181 người, kết quả được trình bày trong các bảng sau:
Biểu đồ 3.1 Cân nặng theo nhóm tuổi và giới
Cân nặng của hai giới giảm theo từng nhóm tuổi Ở nhóm tuổi 70-79nam giảm 3,09kg; nữ giảm 2,32kg Ở nhóm tuổi ≥ 80 nam giảm 0,08kg; nữgiảm 1,24kg So sánh giữa nam và nữ ở nhóm tuổi 60 - 70 và nhóm tuổi ≥ 80,nam lớn hơn nữ, chênh lệch khoảng 4,78 - 5,17kg, ở nhóm tuổi 70 - 79 chênhlệch 4,01kg, sự khác biệt rất có ý nghĩa thống kê (p < 0,01)
3.2 CHIỀU CAO ĐỨNG
Bảng 3.2 Chiều cao đứng theo tuổi và giới
Trang 21Biểu đồ 3.2 Chiều cao đứng theo nhóm tuổi và giới
Chiều cao nam nhóm tuổi 70-79 giảm 1,90cm, nhóm tuổi ≥ 80 tăng1,10cm Ở nữ nhóm tuổi 70-79 giảm 2,32cm, nhóm tuổi ≥ 80 tăng 0,51cm
Nam cao hơn nữ, chênh lệch gần bằng nhau qua các nhóm tuổi (khoảng5,88 - 6,89cm) Sự khác biệt rất có ý nghĩa thống kê với p < 0,01
Trang 22Biểu đồ 3.3 Vòng cánh tay theo nhóm tuổi và giới
Vòng cánh tay trái duỗi của hai giới đều giảm dần theo từng nhóm tuổi
Ở nam nhóm tuổi 70 - 79 giảm 1,13cm, nhóm tuổi ≥ 80 giảm nhẹ 0,03cm Ở
nữ nhóm tuổi 70 - 79 giảm nhẹ (0,03cm), nhóm tuổi ≥ 80 giảm 0,95cm
So sánh giữa nam và nữ theo từng nhóm tuổi thì vòng cánh tay xấp xỉbằng nhau Sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05
3.4 VÒNG BỤNG
Trang 23Bảng 3.4 Vòng bụng theo nhóm tuổi và giớiNhóm
Biểu đồ 3.4 Vòng bụng theo nhóm tuổi và giới
Vòng bụng ở nam giảm mạnh nhóm tuổi 70-79, nhóm tuổi ≥ 80 tăng1,17cm Ở nữ nhóm tuổi 70 - 79 giảm nhẹ 0,28cm; nhóm tuổi ≥ 80 tăng nhẹ0,84cm So sánh vòng bụng nam và nữ xấp xỉ nhau, chênh lệch ít Riêngnhóm tuổi ≥ 80 nữ lớn hơn nam 2,17cm Sự khác biệt này rất có ý nghĩathống kê với (p < 0,01)
3.5 VÒNG ĐÙI
Bảng 3.5 Vòng đùi theo nhóm tuổi và giới
Trang 24Biểu đồ 3.5 Vòng đùi theo nhóm tuổi và giới
Vòng đùi đều giảm cả hai giới Ở nam nhóm tuổi 70 - 79 giảm 3,55cm,nhóm tuổi ≥ 80 (0,14cm) Ở nữ nhóm tuổi 70 - 79 giảm 1,75cm, nhóm tuổi ≥
80 giảm 0,43cm So sánh vòng đùi giữa nam và nữ xấp xỉ bằng nhau ở cácnhóm tuổi, chênh lệch 0,03 - 0,07cm
Trang 25Bề dày nếp da sau cánh tay Ở nam giảm dần theo từng nhóm tuổi (0,16
- 0,60mm), ở nữ, nhóm tuổi 70 - 79 tăng 0,46mm, nhóm tuổi ≥ 80 tăng0,88mm So sánh giữa hai giới nam và nữ tương đương nhau từng nhóm tuổi,chênh lệch 0,10 - 0,96mm