Hàm ngôn và hành động mỉa mai, châm biếm trong tiếng việt: tài liệu đưa ra những nhận định, quan điểm của nhiều nhà nghiên cứu về hàm ngôn, từ đó có cái nhìn cụ thể hơn về hàm ngôn. Tài liệu là bài nghiên cứu về hàm ngôn và hành động mỉa mai, châm biếm, được phân tích trên cứ liệu từ lối nói trong đời sống hàng ngày cho đến trong văn chương, thơ ca Việt Nam
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA VĂN HỌC VÀ NGÔN NGỮ
NIÊN LUẬN CHUYÊN NGÀNH: NGÔN NGỮ HỌC
Đề tài:
HÀM NGÔN VÀ HÀNH ĐỘNG MỈA MAI,
CHÂM BIẾM TRONG TIẾNG VIỆT
CBHD: TS NGUYỄN HOÀNG TRUNG SVTH: MAI THANH THIÊN TRANG
LỚP: NGÔN NGỮ K12 MSSV: 1256010181
Trang 2TP.HCM, ngày 04 tháng 01 năm 2015
Trang 3Mục lục
Trang 4Mở đầu
1 Lí do chọn đề tài
Ngôn ngữ có chức năng phản ánh nhận thức của con người về cuộc sống hiện thực Mà nhận thức của con người thì lại muôn màu muôn vẻ, làm sao để người khác hiểu được đầy đủ và chính xác nhận thức của mình và ngược lại, bằng cách nào mà mình có thể hiểu được những gì người khác đang nghĩ là một điều rất khó khăn
Để hiểu được người khác đang nghĩ gì thông qua lời nói của họ thì chúng
ta phải được cung cấp một chìa khóa giải nghĩa Vấn đề đó được gọi là ngữ dụng học Ngữ dụng học là một phân ngành mới của ngôn ngữ học – nghiên cứu về việc bằng cách nào mà con người có thể hiểu được nhau thông qua ngôn ngữ
Trong thực tế, không phải lúc nào con người cũng nói ra những điều mà người ta muốn truyền đạt, và cũng không phải chuyện gì người ta cũng nói ra tất cả Trong rất nhiều trường hợp vì không tiện nói thẳng, hoặc không muốn chịu trách nhiệm về những điều mà mình đã nói nên người ta thường không nói
rõ ra điều mà mình muốn nói, nhưng lại muốn người nghe tự hiểu ra
Nhìn chung, đây là một vấn đề lý thú, nó giúp ta nhận ra được những thông tin ngầm ẩn mà người nói không tiện hoặc không muốn nói ra Những thông tin ngầm ẩn đó được gọi là ý nghĩa hàm ngôn Do đó, niên luận đã chọn
hàm ngôn để nghiên cứu.
Trong hàm ngôn của một người họ có thể thực hiện một hoặc nhiều hành động ngôn ngữ mà họ muốn tác động đến người nghe, trong đó có hành động
Trang 5mỉa mai, châm biếm Hành động mỉa mai, châm biếm là một loại hành động ngôn ngữ mà người nói luôn nói ngược lại với những gì mà mình nghĩ trong đầu, tạo ra tác động đến người nghe, có thể là phê phán hay răn dạy điều gì đó.
Chẳng những trong cuộc sống hằng ngày mà còn trong cả thơ ca, văn học
và nhất là truyện cười dân gian, ta luôn thường xuyên bắt gặp những hành động mỉa mai, châm biếm
Với những điều vừa nêu trên, đó là lý do để chúng tôi thực hiện đề tài
hàm ngôn và hành động mỉa mai, châm biếm trong tiếng Việt.
2 Lịch sử vấn đề
Trong Việt ngữ học, đã có rất nhiều nhà ngôn ngữ nghiên cứu về vấn đề
hàm ngôn và các thuật ngữ liên quan như hiển ngôn, tiền giả định, hàm ý,… Rải
rác trên một số sách ngôn ngữ và tạp chí chuyên ngành, người ta cũng nói về hành động ngôn ngữ, mà cụ thể là hành động mỉa mai, châm biếm Tuy nhiên, chưa có tác giả nào đi sâu vào vấn đề hàm ngôn và hành động mỉa mai, châm
biếm trong tiếng Việt.
Chúng ta có thể điểm qua một số công trình nghiên cứu liên quan trực tiếp đến niên luận này
Trong công trình “Tiếng Việt – mấy vấn đề ngữ âm – ngữ pháp, ngữ nghĩa”, Cao Xuân Hạo đã đặt ra vấn đề về nghĩa hiển ngôn và nghĩa hàm ẩn,
theo tác giả, nghĩa hàm ẩn quan trọng hơn cả nghĩa hiển ngôn, nếu chưa hiểu nghĩa hàm ẩn của một câu nói thì cũng tức là chưa thật sự hiểu được nghĩa của
câu nói đó, bởi vì nghĩa hàm ẩn là “những gì không có sẵn trong nghĩa nguyên
Trang 6đến người nghe thông qua một sự suy diễn” Ông còn nghiên cứu rất kĩ về tiền
giả định và hàm ý, ông đưa ra khái niệm và sau đó là phân tích sự thể hiện của tiền giả định và hàm ý trong ngôn ngữ như: tiền giả định trong nghĩa của từ, hàm ý của từ, tiền giả định trong câu, hàm ý của câu và của phát ngôn Dựa vào nguyên tắc cộng tác hội thoại của Grice, ông miêu tả tỉ mỉ các phương châm hội thoại và sau đó chỉ ra được những lí do khiến người ta sử dụng hàm ngôn Đặc biệt, trong công trình của mình, tác giả có một mục nhỏ đề cập đến hành động mỉa mai, ông cho rằng nói mỉa là một trong những lối dùng nghĩa bóng gần với hàm ngôn hội thoại
Công trình “Đại cương ngôn ngữ học – ngữ dụng học, tập 2” , Đỗ Hữu
Châu đã đề cập đến nhiều vấn đề có liên quan đến niên luận của chúng tôi
Trong Chương VII: Ý nghĩa hàm ẩn và ý nghĩa tường minh (hiển ngôn) tác giả
đã dựa trên quan điểm của Grice để phân loại ý nghĩa hàm ẩn, chỉ ra các cơ chế tạo ra ý nghĩa hàm ẩn không tự nhiên Theo ông, ý nghĩa hàm ẩn bao gồm hàm
ngôn và tiền giả định Trong công trình này, Chương III: Hành vi ngôn ngữ tác
giả đã đưa ra định nghĩa và phân loại hành vi ngôn ngữ Đây là nguồn tài liệu chính mà chúng tôi tham khảo trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Trong Tuyển tập ngôn ngữ học của Hoàng Phê có bài viết Hiển ngôn với hàm ngôn (trong chương trình trung học phổ thông lớp 11 hiện nay), Hoàng
Phê đồng tình với quan điểm của Grice và Ducrot, đó là có sự đối lập hiển ngôn với hàm ngôn, Hoàng Phê phát biểu, nghĩa hiển ngôn là nghĩa hiện rõ từ hình thức bề mặt của phát ngôn, còn nghĩa hàm ngôn thì không hiện rõ từ bề mặt của phát ngôn Trong bài viết, Hoàng Phê cũng đề cập đến các thuật ngữ liên quan đến hàm ngôn là tiền giả định và ẩn ý
Trang 7Bên trên, chúng tôi đã điểm qua một số ý kiến quan yếu liên quan đến đề
tài hàm ngôn và hành động mỉa mai, châm biếm trong tiếng Việt.
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Hàm ngôn và hành động mỉa mai, châm biếm là một vấn đề phức tạp trong ngữ dụng học được rất nhiều nhà ngôn ngữ trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu, tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa có một sự thống nhất nào về những thuật ngữ này cũng như các thuật ngữ có liên quan
Trong niên luận, chúng tôi cố gắng tìm hiểu về thuật ngữ hàm ngôn, hành động mỉa mai, châm biếm và những thuật ngữ có liên quan như hiển ngôn, tiền giả định, hàm ý, để có thể hiểu một cách tương đối về những thuật ngữ trên Hành động mỉa mai, châm biếm thật chất cũng là một dạng sử dụng gần với ý nghĩa hàm ngôn, do đó chúng tôi tập trung tìm hiểu sâu hơn về hàm ngôn, cụ thể là chúng tôi tiến hành phân loại hàm ngôn, chỉ ra các chức năng của ý nghĩa hàm ngôn
Phạm vi nghiên cứu của niên luận là những ý nghĩa hàm ngôn, những hành động mỉa mai, châm biếm trích từ nhiều nguồn khác nhau chủ yếu là từ các tác phẩm văn học và các truyện cười dân gian Việt Nam, nhằm có cái nhìn tổng thể và toàn diện về hàm ngôn và hành động mỉa mai, châm biếm trong tiếng Việt
4 Phương pháp nghiên cứu và tài liệu tham khảo
4.1 Phương pháp nghiên cứu
Căn cứ vào mục đích và bình diện nghiên cứu, niên luận chọn phương pháp phân tích hệ thống cấu trúc, phương pháp miêu tả và phương pháp ngữ
Trang 8Niên luận sử dụng thủ pháp phân tích, phân loại và hệ thống.
4.2 Tài liệu tham khảo
Tài liệu lí thuyết là các công trình nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ học, ngoài ra, chúng tôi còn quan tâm đến một số tài liệu đã được số hóa trên Internet Chủ yếu là các tài liệu có liên quan đến ngữ dụng học mà trọng tâm là
đề tài của bài niên luận: hàm ngôn và hành động mỉa mai, châm biếm trong tiếng Việt.
Nguồn dẫn liệu chính là các truyện cười dân gian Việt Nam, và các tác phẩm văn học trong nước
5 Đóng góp của niên luận
Niên luận không có tham vọng giải quyết những vấn đề lí thuyết, mà thông qua những phân tích cụ thể, chúng tôi sẽ khái quát một số phương thức, chức năng của hàm ngôn và hành động mỉa mai, châm biếm, thông qua đó, tiến hành khảo sát hàm ngôn và hành động mỉa mai, châm biếm trên một số tác phẩm tiếng Việt
6 Cấu trúc của niên luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Dẫn liệu, nội dung của niên luận gồm 2 chương
Chương 1: Những vấn đề lí luận chung
Chương này chúng tôi tìm hiểu về thuật ngữ hàm ngôn và các thuật ngữ liên quan như hiển ngôn, tiền giả định, hàm ý,… chỉ ra sự khác biệt giữa tiền giả định và hàm ý, phân loại ý nghĩa hàm ngôn và tìm hiểu chức năng của nó,
Trang 9bên cạnh đó chúng tôi còn đưa ra lí thuyết, phân loại hành vi ngôn ngữ và làm
rõ hành động mỉa mai, châm biếm
Chương 2: Hàm ngôn và hành động mỉa mai, châm biếm khảo sát trên
cứ liệu tiếng Việt
Trong chương này, chúng tôi tiến hành phân tích các ý nghĩa hàm ngôn
và hành động mỉa mai, châm biếm dựa trên một số văn bản tiếng Việt có hàm ngôn và hành động mỉa mai, châm biếm
Trang 10CHƯƠNG 1:
NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG
1.1 Sự khác nhau về tên gọi thuật ngữ hàm ngôn
Hàm ngôn là một thuật ngữ được sử dụng rất nhiều trong các công trình nghiên cứu liên quan đến ngữ dụng học, tuy nhiên, loại nghĩa ngầm ẩn này lại được mỗi tác giả đặt cho một cái tên khác nhau Sự thiếu nhất quán trong vấn
đề thuật ngữ có thể khiến người đọc không hiểu rõ các khái niệm này
- Có tác giả gọi là hàm ngôn trong thế đối lập với hiển ngôn (Đỗ Hữu Châu, Bùi
Minh Toán, Đỗ Thị Kim Liên)
- Có tác giả gọi là hàm ý trong thế đối lập với một bộ phận khác của hàm ngôn
(Nguyễn Đức Dân)
- Bên cạnh đó, có tác giả phân biệt hàm ý (điều hàm ẩn mà người nghe suy ra từ phát ngôn) với hàm ngôn (điều hàm ẩn mà người nói muốn chuyển đến người nghe) (Cao Xuân Hạo)
- Phân biệt hàm ý với ngụ ý (ý nghĩa tình thái ngầm ẩn), coi ngụ ý là một tiểu loại của hàm ý (Hồ Lê)
- Cũng sử dụng hàm ý và ngụ ý, nhưng Hoàng Phê cho rằng hàm ý là nội dung ngầm ẩn chỉ qua một lần suy ý, còn ngụ ý là nội dung ngầm ẩn được rút ra sau hai lần suy ý (Hoàng Phê)
(Dẫn theo Nguyễn Thị Tố Ninh – Phạm Văn Tình, Hàm ý và hàm ý hội thoại (quan niệm, phương thức, hướng phân loại))
Trong bài niên luận, chúng tôi sử dụng thuật ngữ hàm ngôn để đối lập với hiển ngôn
1.2 Hàm ngôn và những thuật ngữ liên quan
1.2.1 Nghĩa hiển ngôn và nghĩa hàm ngôn
Trang 11Mỗi câu nói đều chứa đựng phần thông tin mà người nói muốn truyền đạt đến người nghe Thông tin này thường có hai phần: nghĩa hiển ngôn và nghĩa hàm ngôn.
Hầu hết các nhà ngôn ngữ học đều cho rằng nghĩa hiển ngôn là phần nghĩa được hiểu trực tiếp dựa trên nguyên văn, do các yếu tố ngôn ngữ và cấu trúc trong phát ngôn mang lại
Đối lập với nghĩa hiển ngôn, nghĩa hàm ngôn là phần nghĩa không được hiểu trực tiếp dựa trên nguyên văn, mà phải dựa vào sự suy ý của người tiếp nhận thông tin mới suy ra được phần thông tin mà người nói muốn truyền đạt
Cụ thể hơn về thuật ngữ hàm ngôn, Cao Xuân Hạo trong bài Nghĩa hiển ngôn và nghĩa hàm ẩn có viết: “những gì không có sẵn trong nghĩa nguyên văn của các từ ngữ và trong những mối quan hệ cú pháp ấy, nhưng vẫn thấu đến người nghe thông qua một sự suy diễn: đó là nghĩa hàm ẩn của câu nói”, phần
nghĩa hàm ẩn còn quan trọng hơn cả phần nghĩa hiển ngôn vì nó truyền đạt được nhiều thông tin mà người nói đôi khi không tiện nói ra
Theo Đỗ Hữu Châu: một phát ngôn ngoài ý nghĩa được nói ra trực tiếp trên câu chữ thì còn rất nhiều ý nghĩa khác nữa mà chúng ta phải dùng đến phương pháp suy ý dựa vào ngữ cảnh, ngôn cảnh, các quy tắc điều khiển hành
vi ngôn ngữ, điều khiển lập luận, điều khiển hội thoại v.v…mới nắm bắt được Các ý nghĩa nhờ suy ý mới nắm bắt được gọi là ý nghĩa hàm ẩn
1.2.2 Tiền giả định và hàm ý
Trang 12Tiền giả định (TGĐ) và hàm ý là những thuật ngữ được các nhà ngôn ngữ học quan tâm trong việc lý giải nghĩa hàm ngôn.
Theo Cao Xuân Hạo: Tiền giả định là “một điều gì phải được giả định là
đã có trước khi nói câu đó, vì nếu không có điều này thì không thể nói câu đó được (câu đó sẽ trở thành phi lý hoặc không thể hiểu được)”, còn hàm ý là
“một điều gì mà khi nghe câu ấy, người nghe phải rút ra như một hệ quả tất nhiên”
TGĐ và hàm ý có thể được toát ra từ nghĩa nguyên văn của cả câu nhờ
sự đóng góp của ngữ cảnh và tình huống Nhưng trong câu, cũng có những từ
mà nghĩa của chúng chứa đựng TGĐ và hàm ý
Hoàng Phê nhận định nghĩa ẩn ý và TGĐ đều hàm ngôn, nhưng giữa hai nghĩa này, vẫn có sự khác nhau quan trọng Dựa vào các định nghĩa của Kerbrat
Orecchioni, Hoàng Phê phát biểu: TGĐ bao gồm những thông tin tuy không được nói ra, nhưng một cách tự động, được ghi vào phát ngôn, và từ phát ngôn được suy ra, còn ẩn ý là những thông tin được chuyển đến bằng một phát ngôn, nhưng sự hiện thực hóa chúng vẫn phải phụ thuộc vào những điều kiện của tình huống cụ thể Nghĩa ẩn ý đòi hỏi một sự giải mã đặc biệt Ngoài mã ngôn
ngữ, còn phải có mã tâm lý, xã hội,…
Đỗ Hữu Châu thì lại dùng thuật ngữ TGĐ và hàm ngôn, ông bước đầu phân biệt TGĐ và hàm ngôn: TGĐ là những căn cứ cần thiết để người nói tạo
ra ý nghĩa tường minh trong phát ngôn của mình Hàm ngôn là tất cả những nội dung có thể suy ra từ một phát ngôn cụ thể nào đó; từ ý nghĩa tường minh (ý nghĩa theo câu chữ) cùng với TGĐ của đó
Trang 13Ông thừa nhận giữa TGĐ, hàm ngôn và nghĩa tường minh có mối quan
hệ với nhau Hàm ngôn là những hiểu biết hàm ẩn có thể suy ra từ ý nghĩa tường minh và TGĐ của ý nghĩa tường minh Nếu không có ý nghĩa tường minh và TGĐ của nó, không thể suy ra được hàm ngôn thích hợp, tuy nhiên, không loại trừ trường hợp hàm ngôn được suy ra từ hàm ngôn do ý nghĩa tường minh của tiền ngôn mà có
Hàm ngôn lệ thuộc vào ngữ cảnh giao tiếp và topos (các lẽ thường), còn TGĐ thì không lệ thuộc vào topos, tuy nhiên trong một diễn ngôn, điều được nói đến trong tiền ngôn có thể làm TGĐ cho phát ngôn sau
Khi xét đến lượng thông tin và tính năng động trong hội thoại, thì TGĐ
có lượng thông tin thấp, còn ý nghĩa tường minh và hàm ngôn có tính năng động hội thoại cao Do đó, hàm ngôn giúp thúc đẩy hội thoại tiến lên đạt đến đích, còn TGĐ có khi lại cản trở hội thoại tiến lên theo đích đã có
TGĐ có tính chất kháng phủ định, tức TGĐ vẫn được giữ nguyên khi phát ngôn chuyển từ khẳng định sang phủ định, ngược lại, hàm ngôn không giữ nguyên khi phát ngôn chuyển từ khẳng định sang phủ định
TGĐ có tính bất biến khi phát ngôn thay đổi về hành vi ngôn ngữ tạo ra
nó, còn hàm ngôn thì lại không giữ nguyên khi hành vi ngôn ngữ thay đổi với ý nghĩa tường minh
TGĐ không thể loại bỏ ngay trong cùng một phát ngôn bởi cùng một người nói ra Việc khử TGĐ bằng những kết tố lập luận nghịch hướng sẽ dẫn
Trang 14tới sự vô nghĩa hoặc mâu thuẫn, trong khi đó, hàm ngôn có thể khử dễ dàng nhờ kết tử đối nghịch.1
Tóm lại, TGĐ là một loại nghĩa ngầm ẩn, nó là điều kiện cần phải được thỏa mãn để câu nói có thể hành chức được TGĐ là điều mà được người nói và người nghe ngầm ẩn là đã hiểu, đã biết trước hoặc ngay trong lúc phát ngôn, TGĐ không có chức năng thông báo, nhưng nó là điều kiện để ý nghĩa tường minh của câu nói đó là đúng hay sai Khi TGĐ là sai thì câu sẽ trở nên vô nghĩa, không có giá trị
Ngược lại, hàm ý lại là những gì mâu thuẫn với ý nghĩa tường minh, nó khác với những gì mà người nói đang nói ra buộc người nghe phải ngầm ẩn một cách sáng tạo
Để xác định TGĐ, ta dựa vào cơ chế ngôn ngữ (từ từ, cấu trúc của câu),
tuy nhiên, để xác định hàm ý thì ta phụ thuộc vào lời nói, kinh nghiệm của người nghe, và phụ thuộc cả vào ý nghĩa của câu và tình huống giao tiếp Chẳng hạn như trong ví dụ sau:
Ba thi lại những 2 lần
Phát ngôn này có:
Ý nghĩa hiển ngôn: Ba thi lại 2 lần
Ý nghĩa hàm ngôn, trong đó:
Tiền giả định:
1 Kết tử là yếu tố tác động vào một hoặc nhiều phát ngôn để làm thành một lập luận Kết tử liên kết luận cứ với kết luận
Trang 15- Có một người tên Ba
- Ba đã từng thi rớt
Hàm ý (tùy theo ngữ cảnh, ý định của người nói và tư cách của người nói): thi lại như vậy là nhiều
1.3 Phân loại hàm ngôn
Kế thừa quan điểm của P.Grice, Đỗ Hữu Châu đưa ra 2 tiêu chí để phân loại hàm ẩn:
(1) Bản chất của chúng (ngữ nghĩa hay ngữ dụng)
(2) Chức năng của chúng trong diễn ngôn (là đối tượng hay không phải đối tượng của diễn ngôn)
Xét theo (1), ý nghĩa hàm ẩn được chia thành: ý nghĩa hàm ẩn nghĩa học và
ý nghĩa hàm ẩn ngữ dụng học
- Ý nghĩa hàm ẩn nghĩa học: là ý nghĩa hàm ẩn có quan hệ nội dung với mệnh đề
đó Ý nghĩa này chỉ có quan hệ với các nhân tố ngôn ngữ biểu thị nội dung mệnh đề
- Ý nghĩa hàm ẩn ngữ dụng học: là những ý nghĩa hàm ẩn có quan hệ với các quy tắc ngữ dụng học như các quy tắc chiếu vật, quy tắc lập luận, các hành vi ngôn ngữ, các quy tắc hội thoại,…
Ý nghĩa hàm ẩn có thể được tách ra thành hai loại: tiền giả định và hàm ngôn:
Hàm ẩn
Trang 16Tiền giả địnhHàm ngôn Hàm ngôn nghĩa học
Hàm ngôn ngữ dụng họcTiền giả định nghĩa học Tiền giả định ngữ dụng học
Xét theo (2), hàm ẩn được phân biệt thành: ý nghĩa hàm ẩn tự nhiên và ý nghĩa hàm ẩn không tự nhiên2 (như cách phân biệt của Grice)
Trong giao tiếp, có nhiều trường hợp ý nghĩa tường minh không phải là ý nghĩa truyền báo chính mà là ý nghĩa hàm ẩn Trong trường hợp này, TGĐ và
2 Ý nghĩa hàm ẩn không tự nhiên: ý nghĩa hàm ẩn đó phải nằm trong ý định của người nói, và phải được người nghe nhận biết
Trang 17hàm ngôn đều có thể trở thành ý nghĩa không tự nhiên – là nội dung thông báo chính Đối tượng chính của ngữ dụng học là các ý nghĩa hàm ẩn - TGĐ và hàm ngôn không tự nhiên.
Đỗ Hữu Châu chấp nhận quan điểm của Grice, xem TGĐ và hàm ngôn thuộc cùng 1 phạm trù lớn hơn là: phạm trù ý nghĩa hàm ẩn Ông chia hàm ngôn thành 2 loại: hàm ngôn ngữ nghĩa và hàm ngôn ngữ dụng
- Hàm ngôn ngữ nghĩa: là hàm ngôn suy ra từ nghĩa hiển ngôn (từ câu chữ), tức
là từ các luận cứ hoặc kết luận không được nói ra một cách tường minh, để cho người nghe dựa vào quan hệ lập luận mà rút ra
- Hàm ngôn ngữ dụng: là hàm ngôn do sự vi phạm các quy tắc ngữ dụng mà có (quy tắc chỉ xuất, chiếu vật, quy tắc lập luận, quy tắc chi phối các hành vi ngôn ngữ, quy tắc hội thoại)
1.4 Cơ chế tạo hàm ngôn
Muốn tạo ra ý nghĩa hàm ngôn, một mặt người nói phải tôn trọng các quy tắc ngữ dụng học và giả định rằng người nghe cũng biết và tôn trọng các quy tắc ấy Mặc khác, người nói lại cố ý vi phạm các quy tắc ngữ dụng học và giả định rằng người nghe cũng nhận ra chỗ vi phạm đó Ý nghĩa hàm ngôn không tự nhiên xuất hiện và được lí giải ở chỗ vi phạm các quy tắc ngữ dụng học
1.4.1 Sự vi phạm quy tắc chiếu vật và chỉ xuất
Vi phạm quy tắc chiếu vật: người nói sử dụng một biểu thức chiếu vật nhưng ứng với một hoặc nhiều sự vật khác
Trang 18Ví dụ: Trong bài thơ Con cò của Chế Lan Viên, hình ảnh con cò vừa miêu
tả con cò, vừa là tượng trưng cho hình ảnh người mẹ trong cuộc đời mỗi con người
Vi phạm quy tắc chỉ xuất: tiếng Việt có hệ thống từ xưng hô rất phức tạp,
tế nhị Mỗi cặp xưng hô đều tiền giả định những kiểu quan hệ vị thế hội thoại nhất định và việc sử dụng cặp từ xưng hô nào sẽ quy định quan hệ giao tiếp cần giữ trong suốt cuộc thoại Để tạo ra ý nghĩa hàm ngôn, người ta sử dụng các từ xưng hô không theo quy ước hoặc thay đổi cách xưng hô
Ví dụ: Cách xưng hô mình/tớ của Chí Phèo với Thị Nở - người không có
quan hệ huyết thống hay gắn bó nào nhằm ngầm ý tăng cường quan hệ tình cảm
giữa 2 người: “hay là mình sang đây ở với tớ một nhà cho vui” (Chí Phèo,
Nam Cao)
1.4.2 Các hành vi ngôn ngữ gián tiếp
Sử dụng các hành động ngôn ngữ gián tiếp là cách phổ biến để tạo ý nghĩa hàm ngôn
Ví dụ: Người mẹ nói với con gái của mình “trời sắp mưa rồi”, câu nói đó
không nhằm mục đích thông báo lại điều mà ai cũng biết là trời đang chuyển mưa, điều mà người mẹ muốn truyền đạt là cái ngầm ý sau câu nói đó, tùy theo ngữ cảnh mà ngầm ý có thể là (1) mang quần áo vào nhà đi, hoặc (2) mau vào nhà kẽo trời mưa,…
1.4.3 Sự vi phạm các quy tắc lập luận
Trang 19Đôi khi người nói đưa ra luận cứ để người nghe tự suy ra kết luận hoặc ngược lại, đưa ra kết luận buộc người nghe tự suy ra luận cứ Lập luận không đầy đủ là một trong những cách tạo hàm ngôn thông dụng.
Ví dụ: “Không có gì quý hơn độc lập tự do”
(Hồ Chí Minh)Trong phát ngôn trên kết luận bị ẩn đi, nhằm tạo ra nghĩa ngầm ẩn: hãy chiến đấu vì độc lập tự do
(1) Phương châm khéo léo
a Giảm thiểu tổn thất cho người (other)
b Tăng tối đa lợi ích cho người
(2) Phương châm rộng rãi
a Giảm thiểu lợi ích cho ta (self)
b Tăng tối đa tổn thất cho ta
(3) Phương châm tán thưởng
a Giảm thiểu sự chê bai đối với người
b Tăng tối đa khen ngợi người
(4) Phương châm khiêm tốn
a Giảm thiểu khen ngợi ta
b Tăng tối đa sự chê bai ta
(5) Phương châm tán đồng
Trang 20b Tăng tối đa sự đồng ý giữa ta và người
(6) Phương châm thiện cảm
a Giảm thiểu ác cảm giữa ta và người
b Tăng tối đa thiện cảm giữa ta và người
Ví dụ: thành ngữ “nói mồm loa mép giải” là chỉ những người tham gia
hội thoại vi phạm phương châm lịch sự
1.4.5 Quy tắc cộng tác hội thoại của Grice
Thông thường, để đảm bảo cuộc thoại diễn ra một cách bình thường và đạt được kết quả thì các nhân vật tham gia hội thoại phải tuân thủ những nguyên tắc cộng tác hội thoại
Tuy nhiên, điều này không phải là tuyệt đối, trong một số trường hợp, người nói vì muốn tuân thủ nguyên lý cộng tác này mà phải vi phạm nguyên lý cộng tác khác, hoặc cũng có trường hợp, người nói cố tình vi phạm nguyên tắc cộng tác hội thoại nhằm tạo ra những nghĩa ngầm ẩn trong giao tiếp
Dựa theo quan điểm của Grice, Cao Xuân Hạo trong quyển Mấy vấn đề ngữ âm – ngữ pháp – ngữ nghĩa có nói về nguyên tắc cộng tác hội thoại, bao gồm 4 phương châm để thực hiện nguyên tắc như sau:
- Lượng: (a) Hãy nói sao cho có nội dung đáng nói
(b) Đừng nói nhiều hơn cái nội dung đang nói
- Chất: (c) Hãy nói đúng sự thật
(d) Đừng nói điều gì mình biết là không đúng
- Quan hệ: (e) Hãy nói vào đề
- Cách thức: (f) Hãy nói cho rõ, tránh cách nói rối rắm hay mơ hồ
Trang 211.5 Chức năng của hàm ngôn
Trong giao tiếp hằng ngày, quan trọng hơn nghĩa hiển ngôn là phần nghĩa hàm ngôn, ý nghĩa hàm ngôn chứa đựng nhiều thông tin mà nhiều khi nghĩa hiển ngôn không thể truyền đạt được hết, có thể đó là một lời từ chối lịch sự, hoặc cũng có thể là nói ra nhằm những mục đích khác nhau mà nghĩa hiển ngôn không tiện nói ra, trừ các văn bản liên quan đến pháp lý, khoa học, văn bản báo cáo, bài giảng ở nhà trường thì mới không hoặc ít dùng đến hàm ngôn Dưới đây là một số chức năng của ý nghĩa hàm ngôn
1) Vì lí do lịch sự, và những cấm đoán trong truyền thống
Sử dụng hàm ngôn nhằm hạn chế, né tránh việc sử dụng từ ngữ sau đây:
- Những từ ngữ trực tiếp xúc phạm đến thần linh
- Từ chết (thay vào đó là sử dụng những từ có nghĩa bóng để thay thế cho từ này)
- Tên các con thú dữ đáng sợ
- Tên các bộ phận sinh dục và các hoạt động liên quan đến sinh dục
- Tên các cơ quan bài tiết và những từ ngữ chỉ công năng bài tiết
2) Giữ thể diện cho người nghe
Muốn đạt được hiệu quả trong giao tiếp, đòi hỏi người nói phải quan tâm đến việc giữ thể diện cho người nghe, không được đánh giá thấp, và cũng không được đánh giá quá cao người nghe Đánh giá thấp thì mất lòng, đánh giá quá cao thì đôi khi lại bị hiểu là xúc phạm đến người nghe
3) Người nói không nhận trách nhiệm về phát ngôn của mình
Trang 22Khi sử dụng hàm ngôn, người nói bao giờ cũng có thể phủ nhận lại những
ẩn ý mà mình đã nói ra Vì hàm ngôn là phần thông tin được người nghe tự suy
ý mà ra, nên nó dễ được người phát ngôn bác bỏ, phủ định ý mà mình đã nói.4) Giễu cợt, trêu chọc
Ngoài những chức năng trên, hàm ngôn còn có tác dụng giễu chợt, trêu chọc người nghe Hàm ngôn làm cho những hành động đó tác động sắc bén hơn đến người nghe và khiến cho người nghe cảm thụ một cách thấm thía hơn
How to things with words (nói là làm).
Khi người nói (người viết) tạo ra một phát ngôn cho người nghe (người đọc) trong một ngữ cảnh, hoàn cảnh giao tiếp (cụ thể) là khi đó người nói (người viết) đã thực hiện một hành động ngôn ngữ Hành động ngôn ngữ được thực hiện nhờ phương tiện là ngôn ngữ, như các hành động hỏi, yêu cầu, đề nghị, hứa, xin lỗi, cảm ơn, mỉa mai, châm biếm …
Thông qua hành động ngôn ngữ, người nói (người viết) làm thay đổi trạng thái, tâm lý, hành động của người nghe (người đọc), thậm chí của cả người nói
Trang 23(người viết) Hành động ngôn ngữ có vai trò rất lớn trong hoạt động giao tiếp của con người.
1.6.2 Phân loại hành động ngôn ngữ
Theo quan điểm của J.L.Austin, ông chia hành động ngôn ngữ thành ba loại: (1) hành động tạo lời, (2) hành động mượn lời, và (3) hành động ở lời
(1) Hành động tạo lời: là hành động sử dụng các yếu tố và quy tắc ngôn ngữ để tạo
ra phát ngôn về hình thức và nội dung
(2) Hành động mượn lời: là hành động dùng phát ngôn để tạo ra một hiệu quả
ngoài ngôn ngữ ở các nhân vật giao tiếp
(3) Hành động ở lời: là hành động mà người nói thực hiện ngay trong lời nói của
mình Ví dụ như các hành động ngôn ngữ kể, tả, hỏi, yêu cầu, đề nghị, khen, chê, chào, hỏi, hứa, ra lệnh,…
Ví dụ: Nam học giỏi quá
- Hành động tạo lời: Chủ ngữ (Nam) + Vị ngữ (học giỏi quá)
- Hành động mượn lời: Nam nghe thấy rất vui, phấn khởi
- Hành động ở lời: khen
J.L.Austin đã đưa ra 5 tiêu chí để phân loại hành động ngôn ngữ
- Lớp phán xét: miêu tả, phân tích, kể, đánh giá, nêu đặc điểm,…
- Lớp hành xử: ra lệnh, chỉ huy, bổ nhiệm, kết án, tuyên bố, cảnh báo,…
- Lớp cam kết: hứa, thề, bảo đảm, thỏa thuận,…
- Lớp ứng xử: xin lỗi, khen, chê, chia buồn, phê phán, thách thức,…
- Lớp bày tỏ: khẳng định, phủ định, giải thích, bác bỏ, minh họa,…
1.6.3 Hành động mỉa mai, châm biếm
- Mỉa mai: là từ thuần Việt, từ này được phái sinh từ từ “mỉa”.