Giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mạibằng trọng tài thương mại có các đặc trưng như sau:Thứ nhất, trọng tài là hình thức giải quyết tranh chấp với sự tham gia của
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan chuyên đề tốt nghiệp với đề tài: “ Pháp luật về giảiquyết tranh chấp trong kinh doanh thương mại bằng con đường tòa án Thựctiễn giải quyết tranh chấp về kinh doanh thương mại tại Tòa án nhân dân thànhphố Hà Nội”, là đề tài nghiên cứu của riêng tôi không sao chép từ bất kỳ tàiliệu nào Nếu bị phát hiện sao chép, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trướcTrường và Khoa
Sinh viên Vũ Huyền Trang
Trang 2MỤC LỤC DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRONG KINH DOANH THƯƠNG MẠI BẰNG CON ĐƯỜNG TÒA ÁN 3
1.1 Khái quát chung về tranh chấp trong kinh doanh thương mại…… 3
1.1.1 Khái niệm kinh doanh thương mại……… 3
1.1.2 Tranh chấp trong kinh doanh thương mại………6
1.2 Phương thức giải quyết tranh chấp trong kinh doanh thương mại……7
1.2.1 Thương lượng trực tiếp giữa các bên……… 7
1.2.2 Hoà giải các tranh chấp……….9
1.2.3Giải quyết tranh chấp tại trọng tài thương mại………10
1.2.4Giải quyết tranh chấp tại toà án……… 13
1.3 Giải quyết tranh chấp về kinh doanh thương mại tại toà án………….15
1.3.1Khái quát về cơ cấu tổ chức của toà án……… 15
1.3.2Đặc điểm của quan hệ pháp luật tố tụng kinh tế tại toà án………….17
1.3.3 Áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp về kinh doanh, thương mại tại toà án………18
1.3.4Các nguyên tắc cơ bản trong việc giải quyết các tranh chấp về kinh doanh, thương mại theo BLTTDS 2004……… 18
1.3.5Thẩm quyền giải quyết tranh chấp về kinh doanh thương mại của toà án 22
1.3.5.1 Thẩm quyền theo vụ việc……….23
1.3.5.2 Thẩm quyền theo cấp toà án………26
1.3.5.3 Thẩm quyền theo lãnh thổ ……… 29
1.3.5.4 Thẩm quyền theo sự lựa chọn của nguyên đơn ……… 30
1.3.6Trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp về kinh doanh thương mại tại toà án………31
1.3.6.1 Tại toà án cấp sơ thẩm……….31
Trang 31.3.6.2 Tại toà án cấp phúc thẩm……….51
1.3.6.3 Thủ tục xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật……56
CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ KINH DOANH THƯƠNG MẠI TẠI TOÀ KINH TẾ TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 60
2.1 Khái quát về Toà kinh tế TAND thành phố Hà Nội……… 60
2.1.1 Sự hình thành và cơ cấu tổ chức của toà………60
2.1.2Thẩm quyền của toà……….62
2.2 Thực tiễn xét xử……… 63
2.2.1Một số vấn đề về công tác giải quyết án kinh tế qua các năm………63
2.2.2Đánh giá nguyên nhân số lượng án kinh tế tăng đột biến………… 76
2.2.3Phương hướng xét xử án kinh tế trong thời gian tới……… 77
CHƯƠNG 3: KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRONG THỜI GIAN TỚI 79
3.1 Đối với pháp luật về giải quyết tranh chấp nói chung……….79
3.2 Đối với pháp luật về giải quyết tranh chấp trong kinh doanh thương mại……… 86
KẾT LUẬN 91
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 92
PHỤ LỤC MẪU BIÊN BẢN CỦA TÒA……….93
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1 BLTTDS Bộ luật tố tụng dân sự năm
2 TAND Toà án nhân dân
3 VKSND Viện kiểm sát nhân dân
4 HĐTP Hội đồng thẩm phán
Trang 5LỜI MỞ ĐẦU
Hoạt động kinh doanh, thương mại là một hoạt động có từ rất xa xưa trênthế giới Ngay từ thời cổ đại đã xuất hiện các thương gia, các nhà buôn và giữa
họ diễn ra các hoạt động trao đổi hàng hoá Chính các hoạt động này đã gópphần không nhỏ vào sự phát triển kinh tế, sự giao lưu văn hoá giữa các dân tộc.Ngày nay, khái niệm kinh doanh, thương mại ngày càng được hoàn thiện và mởrộng hơn để phù hợp với sự phát triển của xã hội, nó không chỉ còn là một kháiniệm chung chung mà đã được cụ thể hoá trong các văn bản pháp luật Hầu hếtcác quốc gia đều có các văn bản pháp luật để điều chỉnh, mặc dù có thể tên gọi
có thể khác nhau Như ở Nhật Bản và Thái Lan thì văn bản pháp luật điều chỉnhlà Bộ luật thương mại, còn ở Philipin và Việt Nam thì văn bản đó là Luậtthương mại Khái niệm kinh doanh, thương mại còn được quy định trong nhiềuHiệp định quan trọng của các tổ chức như ASEAN, WTO, trong luật mẫu vềtrọng tài thương mại quốc tế của UNCITRAL Tuy nhiên, đây là một lĩnh vựcrất nhạy cảm và phức tạp nên việc xảy ra tranh chấp là một vấn đề khó tránhkhỏi Nhìn chung, hiện nay trên thể giới có 4 phương thức giải quyết cơ bản đólà: thương lượng, hoà giải, trọng tài thương mại và tại toà án Tuỳ và đặc điểmcủa mỗi quốc gia mà phương thức giải quyết nào được sử dụng phổ biến hơn ỞViệt Nam, giải quyết tranh chấp trong kinh doanh, thương mại bằng con đườngtoà án đang là phương thức giải quyết thông dụng và phổ biến nhất hiện nay.Giải quyết tranh chấp trong kinh doanh, thương mại bằng con đường toà ánmang tính cưỡng chế cao và các bên không cần phải có sự thoả thuận trước
Hà Nội là một thành phố lớn tập trung rất nhiều hoạt động của đất nước.Trong đó thì hoạt động kinh doanh, thương mại diễn ra rất sôi động, điều đócũng dẫn tới một thực tế là có rất nhiều tranh chấp giữa các bên trong quan hệnày Do đó Toà án nhân dân Hà Nội nói chung và Toà kinh tế nói riêng với tưcách là toà án cấp tỉnh đóng vai trò rất quan trọng trong việc giải quyết cáctranh chấp này
Trang 6Trong phạm vi nghiên cứu của chuyên đề này, tôi không nghiên cứu toànbộ các vấn đề về giải quyết tranh chấp trong kinh doanh, thương mại mà chỉ tậptrung nghiên cứu một số vấn đề cơ bản như về thẩm quyền của toà án, trình tựthủ tục giải quyết tại phiên toà sơ thẩm và thực tiễn giải quyết tại Toà kinh tế -Toà án nhân dân thành phố Hà Nội
Qua việc nghiên cứu này chúng tôi cũng xin đưa ra một số kiến nghị monghoàn thiện hơn nữa pháp luật về giải quyết tranh chấp trong kinh doanh, thươngmại bằng con đường toà án
Cơ cấu của chuyên đề gồm 3 chương:
Chương 1: Pháp luật về giải quyết tranh chấp trong kinh doanh thương mại bằng con đường toà án
Chương 2: Thực tiễn giải quyết tranh chấp về kinh doanh thương mại tại Toà kinh tế Toà án nhân dân thành phố Hà Nội
Chương 3: Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp trong thời gian tới
Trong quá trình viết báo cáo tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ tậntình của giáo viên hướng dẫn – ThS Nguyễn Anh Tú và bác Phạm Tuấn Anh –Chánh tòa kinh tế, TAND tp Hà Nội cùng các cô, chú thẩm phán, cán bộ tòa áncủa tòa
Trong quá trình viết bài có thể chưa thu thập được đầy đủ thông tin, rấtmong sự đóng góp ý kiến của mọi người!
Trang 7CHƯƠNG 1: PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRONG KINH DOANH THƯƠNG MẠI BẰNG CON ĐƯỜNG TÒA ÁN 1.1 Khái quát chung về tranh chấp trong kinh doanh thương mại
1.1.1 Khái niệm kinh doanh thương mại
Thuật ngữ “thương mại” ban đầu được dùng để chỉ các hoạt động buônbán của các thương gia Chính vì thế, theo nghĩa hẹp khái niệm thương mạiđược hiểu là hoạt động mua bán hàng hoá với mục đích kiếm lời Cùng với quátrình phát triển kinh tế thị trường, khái niệm thương mại được mở rộng dầnsang các lĩnh vực khác liên quan đến mua bán hàng hoá, ban đầu là các dịch vụkèm theo như vận tải, bảo hiểm, thanh toán… Ngày nay, khái niệm thương mạiđược hiểu theo nghĩa rất rộng nó bao hàm tất cả các hoạt động nhằm mục đíchsinh lời từ đầu tư, sản xuất đến phân phối và cả dịch vụ sau bán hàng…
Ở các nước trên thể giới, khái niệm thương mại ngày càng được mở rộng
ra với với một nội hàm rộng lớn, bao gồm tất cả các hoạt động nhằm mục đíchtìm kiếm lợi nhuận Ví dụ như, Bộ luật thương mại số 48 của Nhật Bản ngày9/3/1899, thuật ngữ thương mại được dùng để chỉ những hoạt động mua bánnhằm mục đích lợi nhuận và hầu hết các dịch vụ trên thị trường như dịch vụvận tải, cung ứng điện hay khí đốt, uỷ thác, bảo hiểm, ngân hàng Luật thươngmại của Philipin tuy không đưa ra các hành vi thương mại cụ thể mà quy địnhphạm vi điều chỉnh là các hoạt động nhằm thúc đẩy sự trao đổi hàng hoá dịch
vụ với mục đích lợi nhuận Ngoài ra, luật thương mại của Philipin còn điềuchỉnh các giao dịch thương mại trong tất cả các lĩnh vực kể cả lĩnh vực vậnchuyển hành khách Bộ luật thương mại của Thái Lan cũng đưa ra khái niệmthương mại khá rộng không chỉ bao gồm việc mua bán hàng hoá mà cả các hoạtđộng thuê tài sản, thuê mua tài sản, tín dụng, thể chấp, đại diện, môi giới, bảohiểm, công ty, hợp danh… Tuy nhiên, sự phát triển của thương mại trên toàncầu đã làm nảy sinh nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm thương mại củanhiều nước Nhằm mục đích giảm bớt sự khác biệt, từng bước thống nhất hoá
Trang 8cách hiểu về pháp luật thương mại trong quan hệ kinh tế quốc tế, ngày21/6/1985 Uỷ ban pháp luật thương mại Liên Hợp Quốc (UNCITRAL) đãthông qua Luật mẫu về trọng tài thương mại quốc tế trong đó đưa ra khái niệm
về thương mại, theo đó thuật ngữ “thương mại” cần được giải thích theo nghĩarộng liên quan đến tất cả các mối quan hệ có bản chất thương mại, dù là quan
hệ hợp đồng hay không phải là quan hệ hợp đồng Những mối quan hệ thươngmại gồm, nhưng không giới hạn ở các giao dịch: bất cứ giao dịch thương mạinào về cung cấp hoặc trao đổi hàng hóa hoặc dịch vụ, thoả thuận phân phối, đạidiện hoặc đại lý thương mại, uỷ thác hoa hồng, cho thuê, xây dựng các côngtrình, tư vấn, kỹ thuật, đầu tư, cấp vốn, ngân hàng, bảo hiểm, thoả thuận kháchoặc tô nhượng, liên doanh và các hình thức khác về hợp tác công nghiệp hoặckinh doanh, chuyên chở hàng hoá hay hành khách bằng đường biển, đườngkhông, đường sắt hoặc đường bộ Cách hiểu khái niệm thương mại nêu trêncũng tương đồng với cách hiểu trong một số hiệp định quan trọng của ASEAN,Hiệp định thành lập tổ chức thương mại quốc tế gồm nhiều Hiệp định cấu thànhnhư Hiệp định GATT, GATS, TRIMP, TRIPS,…
Ở Việt Nam thuật ngữ “thương mại” được sử dụng khá rộng rãi trong đờisống xã hội, tuy nhiên, có lẽ, hầu hết mọi người đều hiểu theo nghĩa thôngthường đó là hoạt động mua bán nhằm mục đích kiếm lời Tuy không trực tiếpnêu ra khái niệm “thương mại” nhưng trong một số đạo luật của chúng ta cũng
ít nhiều nói đến khái niệm này Năm 1990, Quốc hội thông qua hai đạo luật rấtquan trọng, đó là Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp tư nhân Hai luật này đãđưa ra một khái niệm mới trong khoa học pháp lý Việt Nam có liên quan nhiềuđến việc áp dụng pháp luật thương mại, đó là khái niệm “kinh doanh” Kháiniệm “kinh doanh” cũng được nhắc lại trong Luật doanh nghiệp 1999, theo đó
“kinh doanh là việc thưc hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quátrình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thịtrường nhằm mục đích sinh lợi” (khoản 3 điều 2) Khái niệm này trong mộtchừng mực nhất định có những quan điểm tương đồng với khái niệm thương
Trang 9mại theo nghĩa rộng được sử dụng phổ biến trên thế giới hiện nay và cũng đượcgiải thích tại Luật mẫu về trọng tài thương mại quốc tế năm 1985 Khái niệm
“thương mại” theo Luật thương mại 1997 được hiểu theo nghĩa hẹp, bao gồm
14 hành vi điều chỉnh các quan hệ mua bán hàng hoá và dịch vụ liên quan trựctiếp đến mua bán hàng hoá Thậm chí đối tượng của việc mua bán hàng hoácũng chỉ bị giới hạn ở các động sản, chủ yếu là các máy móc, thiết bị, nguyênliệu, vật liệu phục vụ sản xuất, tiêu dùng, các động sản khác được lưu thôngtrên thị trường, nhà ở dùng để kinh doanh dưới hình thức cho thuê, mua bán(điều 5 Luật thương mại 1997) Các bất động sản như nhà máy, công trình xâydựng (không phải là nhà ở), các quyền tài sản như cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu,các hành vi liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hóa như vận chuyển hàng,thanh toán tiền mua hàng qua hệ thống ngân hàng… cũng không thuộc phạm viđiều chỉnh của Luật thương mại 1997 Pháp lệnh trọng tài thương mại ra đời và
có hiệu lực ngày 01/7/2003 nêu rõ: “Hoạt động thương mại là việc thực hiệnmột hay nhiều hành vi thương mại của cá nhân, tổ chức kinh doanh bao gồmmua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, phân phối, đại diện, đại lý thương mại, kýgửi, thuê, cho thuê, thuê mua Xây dựng, tư vấn, kỹ thuật, li xăng, đầu tư, tàichính, ngân hàng, bảo hiểm, thăm dò, khai thác, vận chuyển hàng hoá, hànhkhách bằng đường hàng không, đường biển, đường sắt, đường bộ và các hành
vi thương mại khác theo quy định của pháp luật” Song có thể nói, khái niệmthương mại được hiểu theo nghĩa rộng này mới chỉ được tồn tại trong một vănbản quy phạm pháp luật có giá trị pháp lý cao mang tính nội dung Sự ra đờikhái niệm “kinh doanh” theo Luật doanh nghiệp 1999, sự tồn tại khái niệm
“kinh tế” trong Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế 1989, cũng như khái niệm “thươngmại” theo Pháp lệnh trọng tài thương mại 2003 đã tạo sự nhận thức khác biệttrong cách hiểu về “thương mại” so với Luật thương mại 1997 Phạm vi điềuchỉnh rộng hẹp của khái niệm thương mại trong hệ thống pháp luật nói trên đãtạo ra sự mâu thuẫn, chồng chéo trong việc áp dụng các quy định của pháp luật
về nội dung (Luật doanh nghiệp 1999, Luật thương mại 1997, Pháp lệnh hợp
Trang 10đồng kinh tế 1989) cũng như luật tố tụng (Pháp lệnh trọng tài thương mại2003) Đặc biệt điều này còn ảnh hưởng đến quá trình Việt Nam thích ứng vớicác quy định và tập quán thương mại quốc tế Có thể nói đây là một trongnhững trở ngại lớn nhất của Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế,
cụ thể là việc thực thi Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ cũng như cáccam kết của Việt Nam khi đã trở thành thành viên của Tổ chức thương mại thếgiới Việc xác định phạm vi điều chỉnh theo diện hẹp của Luật thương mại 1997trên thực tế đã phát sinh nhiều vấn đề, không chỉ trong quá trình thực hiện cácgiao dịch thương mại mà còn ảnh hưởng đến việc giải quyết các tranh chấpthương mại, tiếp sau đó là việc công nhận và cho thi hành các bản án, phánquyết của trọng tài nước ngoài
Khắc phục những nhược điểm trên, năm 2005 tại kỳ họp thứ 7, khoá XI,Quốc hội đã thông qua Luật thương mại 2005, có hiệu lực thi hànhngày01/01/2006 thay thế Luật thương mại 1997 Theo đó thì khái niệm “thươngmại” đã được mở rộng rất nhiều thông qua khái niệm “hoạt động thương mại”như sau: “Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồmmua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạtđộng nhằm mục đích sinh lợi khác” (khoản 1 điều 3 Luật thương mại 2005).Khái niệm hàng hoá cũng được mở rộng “hàng hoá bao gồm tất cả các loạiđộng sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai và những vật gắn liền vớiđất đai” Luật thương mại có phạm vi điều chỉnh rộng, không bị giới hạn trong
14 hành vi thương mại của Luật thương mại năm 1997 Luật này đã điều chỉnhtất cả các hoạt động thương mại bao gồm thương mại hàng hoá, thương mạidịch vụ và các khía cạnh thương mại của đầu tư và sở hữu trí tuệ phù hợp vớiquy định của WTO và UNITRAL Việc mở rộng này giúp cho việc giải quyếtcác tranh chấp quốc tế được thực hiện dễ dàng hơn
1.1.2 Tranh chấp trong kinh doanh thương mại
Tranh chấp trong kinh doanh, thương mại là những bất đồng xảy ra tronghoạt động thương mại Khái niệm này tưởng chừng rất đơn giản, nhưng thực ra
Trang 11cho đến nay vẫn chưa có một khái niệm thống nhất về tranh chấp trong kinhdoanh thương mại Ngay cả Luật thương mại 2005 là luật chuyên ngành điềuchỉnh quan hệ thương mại giữa thương nhân, nhưng cũng không hề có quy định
cụ thể nào về tranh chấp trong kinh doanh thương mại Do đó việc xác địnhchính xác thế nào là tranh chấp trong kinh doanh thương mại hiện nằm tản mạntrong các văn bản pháp luật Tuy nhiên, mỗi văn bản lại có quy định khác nhau.Trong khoản 1 điều 29 BLTTDS có quy định: “Tranh chấp phát sinh trong hoạtđộng kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh vớinhau và đều có mục đích lợi nhuận” Nhưng trong nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTP của Toà án nhân dân tối cao lại hướng dẫn Toà kinh tế có nhiệm vụ,quyền hạn giải quyết các tranh chấp và các yêu cầu về kinh doanh thương mạiquy định tại điều 29 và 30 BLTTDS; các tranh chấp kinh doanh, thương mại màmột hoặc các bên không có đăng ký kinh doanh, nhưng đều có mục đích lợinhuận Pháp lệnh trọng tài 2003 quy định “Trọng tài thương mại là phươngthức giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại được các bênthoả thuận…” Mà hoạt động thương mại được Pháp lệnh này quy định là việcthực hiện một hay nhiều hành vi thương mại của các cá nhân, tổ chức kinhdoanh Do đó, so với BLTDS thì Pháp lệnh trọng tài quy định khái niệm tranhchấp trong kinh doanh, thương mại rộng hơn bao gồm mọi cá nhân, tổ chứckinh doanh mà không yêu cầu phải có đăng ký kinh doanh
1.2 Phương thức giải quyết tranh chấp trong kinh doanh thương mại
1.2.1 Thương lượng trực tiếp giữa các bên
Đó là việc khi có tranh chấp hai bên có thể tự bàn bạc, dàn xếp, thảo luận
để đưa ra phương án giải quyết tranh chấp mà không cần có sự trợ giúp của bênthứ ba cũng như là thông qua một thủ tục tố tụng nào Phương thức này làphương thức cố điển, thông dụng nhất bởi nó dễ thực hiện, ít tốn kém, ít tổn hạiđến uy tín cũng như bí mật kinh doanh, không bị ràng buộc bởi bất kỳ mộtnguyên tắc pháp lý nào, đặc biệt là giữ được mối quan hệ lâu dài giữa các bên,thậm chí còn tăng cường sự hiểu biết, sự hợp tác giữa các bên nếu như thương
Trang 12lượng thành công Khi xảy ra tranh chấp thì hầu như các bên sẽ lựa chọnphương thức này đầu tiên, họ chỉ lựa chọn phương thức khác khi mà đã thựchiện phương thức này nhưng không có kết quả Xuất phát từ bản chất của cácmối quan hệ trong kinh doanh thương mại, đó là các quan hệ dân sự theo nghĩarộng, do vậy mà nguyên tắc tự do thoả thuận cũng được đặt lên hàng đầu Theo
đó thì trong quan hệ kinh doanh thương mại, cũng như việc giải quyết các tranhchấp hoàn toàn có quyền tự thoả thuận trên cơ sở những gì mà pháp luật khôngcấm Thương lượng chính là sự thể hiện quyền tự do thoả thuận, tự do định đoạtcủa các bên tranh chấp Các bên tự đề xuất các phương phương án, cách thứcthoả thuận mà không phải tuân theo bất kỳ một thủ tục pháp lý nào Có thể nóiviệc thương lượng giữa các bên có 3 đặc trưng cơ bản sau: thứ nhất là các bêntự mình bàn bạc thoả thuận để giải quyết tranh chấp mà không cần có sự giúp
đỡ của bất kỳ bên thứ ba hay cơ quan nào Thứ hai là quá trình thương lượnggiữa các bên không phải tuân theo bất cứ một nguyên tắc hay trình tự thủ tục tốtụng mang tính pháp lý nào Pháp luật chỉ quy định thương lượng như mộtquyền của các bên mà không quy định các hành vi cụ thể của các chủ thể Do
đó các bên hoàn toàn có thể thoả thuận những gì mà pháp luật không cấm Thứ
ba là việc thực hiện các kết quả thương lượng là hoàn toàn phụ thuộc vào sự tựnguyện của các bên, không có một sự ràng buộc cưỡng chế mang tính pháp lýnào Có chăng, cái ràng buộc các bên thực hiện trong trường hợp này đó là uytín của các bên mà thôi Quá trình giải quyết tranh chấp có thể được thực hiệnbằng nhiều phương thức khác nhau do hai bên lựa chọn, hai bên có thể gặp mặttrực tiếp hoặc gửi cho nhau các tài liệu thể hiện các quan điểm của mình nhằmđưa ra được cách giải quyết hợp lý hoặc cũng có thể kết hợp thương lượng trựctiếp và gián tiếp
Tóm lại, thương lượng là phương thức rất thuận tiện, đơn giản, ít tốnkém, nhanh chóng, linh hoạt, hiệu quả bảo vệ được uy tín, bí mật trong kinhdoanh của các bên Tuy nhiên, nó sẽ là rất khó thực hiện nếu các bên không cóthiện chí, đặc biệt là kết quả thương lượng có thể sẽ không được các bên thực
Trang 13hiện, các bên có thể tìm cách trì hoãn thương lượng kéo dài vụ tranh chấp Do
đó, khi lựa chọn phương thức này để giải quyết các bên cũng cần lưu ý để cóthể tìm ra được cách thức giải quyết cho phù hợp nhất
1.2.2 Hoà giải các tranh chấp
Hoà giải là phương thức giải quyết tranh chấp cùng với sự hỗ trợ của bênthứ ba làm trung gian hoà giải Bên thứ ba tham gia giải quyết tranh chấp vớivai trò là người thuyết phục, đưa ra ý kiến để các bên tham khảo Khác với hìnhthức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại hay toà án, ở đây, các ýkiến của bên thứ ba chỉ mang tính chất tham khảo, các bên có thể nghe theohoặc không, quyết định cuối cùng vẫn thuộc về các bên Hoà giải với sự thamgia của bên thứ ba trong trường hợp này là hoà giải ngoài tố tụng, còn hoà giảiđược tiến hành tại trọng tài hay toà án là hoà giải trong tố tụng
Hoà giải ngoài tố tụng có các đặc trưng cơ bản sau:
Thứ nhất, trong quá trình giải quyết tranh chấp luôn có sự xuất hiện củabên thứ ba làm trung gian đưa ra các ý kiến, các giải pháp để các bên có thể lựachọn
Điểm khác biệt giữa hoà giải và thương lượng chính là sự xuất hiện của bênthứ ba Thương lượng được thực hiện bởi cơ chế giải quyết nội bộ, còn hoà giảilại luôn có người thứ ba tham gia Tuy nhiên, bên thứ ba làm trung gian hoàgiải không có quyền quyết định, không có quyền áp đặt bất cứ một vấn đề gìràng buộc các bên, họ chỉ là người đưa ra các sang kiến, các giải pháp mangtính thuyết phục còn quyền quyết định cuối cùng vấn thuộc về các bên
Hoà giải cũng khác biệt với giải quyết tranh chấp bằng trọng tài hay toàán Cả ba hình thức này đều có sự xuất hiện của bên thứ ba, nhưng vai trò bênthứ ba của toà án hay trọng tài lại có quyền đưa ra các phán quyết ràng buộccác bên
Thứ hai, quá trình giải quyết tranh chấp bằng hoà giải không phải tuântheo một quy trình tố tụng khuôn mẫu nào do pháp luật quy định Mọi cách
Trang 14thức để giải quyết tranh chấp đều do các bên thoả thuận cũng giống như thươnglượng.
Thứ ba, cũng giống như thương lượng, kết quả hoà giải thành cũng đượcthực thi hoàn toàn trên sự tự nguyện của các bên, không có một cơ chế pháp lýnào bảo đảm hay cưỡng chế thi hành Giải quyết tranh chấp bằng hoà giải,người thứ ba được các bên lựa chọn có vai trò rất quan trọng Pháp luật không
hề quy định về tiêu chuẩn của bên thứ ba, tuy nhiên, để được các bên tin tưởnglựa chọn họ phải là người có đầy đủ các yếu tố như: có trình độ chuyên môn,nghiệp vụ, am hiểu pháp luật, có kinh nghiệm thực tiễn, đặc biệt là phải độc lậpvới các bên Họ phải là người không có lợi ích liên quan hoặc xung đột với lợiích của các bên tranh chấp
Tóm lại, cả hoà giải và thương lượng thực chất là phương thức giải quyếttranh chấp thông qua cơ chế thoả thuận của các bên, nó không mang tính chất
tố tụng, đơn giản, ít tốn kém và kết quả phụ thuộc chủ yếu vào sự tự nguyệncủa các bên Ngoài ra, hoà giải với sự tham gia của bên thứ ba trong quá trìnhgiải quyết tranh chấp nên còn có ưu điểm mà thương lượng không có Ngườithứ ba làm trung gian hoà giải thông thường là người có trình độ, am hiểu, cókinh nghiệm, khách quan, biết được vị thế của các bên nên thường dễ làm cho ýchí của các bên dễ gặp nhau hơn Kết quả hoà giải được ghi nhận và có sựchứng kiến của bên thứ ba nên mức độ tôn trọng và tự nguyện cao hơn so vớithương lượng Tuy nhiên, cũng giống như thương lượng, hoà giải cũng gặp phảikhó khăn về vấn đề thi hành và khi hoà giải có sự xuất hiện của bên thứ ba nên
có thể làm ảnh hưởng đến uy tín và bí mật kinh doanh của các bên tranh chấp.1.2.3 Giải quyết tranh chấp tại trọng tài thương mại
Trọng tài thương mại là hình thức giải quyết tranh chấp thông qua hoạtđộng của trọng tài viên với tư cách là bên thứ ba độc lập, nhằm chấm dứt xungđột bằng việc đưa ra một phán quyết trên cơ sở sự thoả thuận của các bên tranhchấp và có hiệu lực bắt buộc đối với mỗi bên Theo quy định của Pháp lệnhtrọng tài thương mại năm 2003 thì “trọng tài thương mại là phương thức giải
Trang 15quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại được các bên thoả thuậnvà được tiến hành theo trình tự, thủ tục tố tụng do pháp lệnh này quy định”(khoản 1 điều 2) Như vậy, qua khái niệm này ta đã phần nào thấy được bảnchất của trọng tài thương mại Giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mạibằng trọng tài thương mại có các đặc trưng như sau:
Thứ nhất, trọng tài là hình thức giải quyết tranh chấp với sự tham gia của
bên thứ ba là các trọng tài viên hoặc trọng tài viên duy nhất và việc giải quyếttranh chấp tại trọng tài thương mại phải được các bên thoả thuận Giống nhưhoà giải, giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại cũng có sự xuất hiệncủa bên thứ ba Tuy nhiên, trong hoà giải pháp luật không quy định điều kiệncủa bên trung gian hoà giải còn trong tố tụng trọng tài pháp luật có quy địnhđiều kiện của trọng tài viên, nếu trọng tài viên tham gia giải quyết tranh chấpkhông đủ điều kiện như pháp luật quy định thì có thể ảnh hưởng đến hiệu lựccủa quyết định trọng tài Theo quy định tại điều 12 Pháp lệnh trọng tài thươngmại 2003 thì trọng tài viên phải thoả mãn những điều kiện sau: là công dân ViệtNam có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; có phẩm chất đạo đức tốt, trung thực
vô tư khách quan; có bằng đại học và đã qua thực tế công tác theo ngành học từnăm năm trở lên; người đang bị quản chế hành chính, đang bị truy cứu tráchnhiệm hình sự hoặc đã bị kết án mà chưa được xoá án tích không được làmtrọng tài viên; Thẩm phán, Kiểm sát viên, Điều tra viên, Chấp hành viên, côngchức đang công tác tại toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Cơ quan điềutra, Cơ quan thi hành án không được làm trọng tài viên Tại điều 3.2 Pháp lệnhcũng quy định rõ là khi giải quyết tranh chấp, trọng tài viên phải độc lập, kháchquan, vô tư, phải căn cứ vào pháp luật và tôn trọng thoả thuận của các bên Nhưvậy, không phải ai cũng có thể trở thành bên thứ ba giải quyết tranh chấp trong
Trang 16với hình thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại thì các bên bắtbuộc phải có thoả thuận trọng tài, nếu không hình thức này sẽ không được sửdụng để giải quyết tranh chấp Theo quy định tại khoản 2 điều 2 Pháp lệnhtrọng tài thương mại 2003 thì “thoả thuận trọng tài là thoả thuận giữa các bêncam kết giải quyết bằng trọng tài các vụ tranh chấp có thể phát sinh hoặc đãphát sinh trong hoạt động thương mại” Thoả thuận trọng tài phải được lập bằngvăn bản, thoả thông qua thư, điện báo, telex, fax, thư điện tử hoặc hình thức vănbản khác thể hiện rõ ý chí của các bên, giải quyết vụ tranh chấp bằng trọng tàiđược coi là thoả thuận trọng tài bằng văn bản Thoả thuận trọng tài có thể làđiều khoản trọng tài trong hợp đồng hoặc một thoả thuận riêng (điều 9 Pháplệnh trọng tài thương mại) Tuy nhiên, thoả thuận trọng tài là để giải quyếttranh chấp nếu phát sinh nên nó không thể phụ thuộc vào hiệu lực của hợp đồngmà điều khoản hợp đồng tồn tại độc lập với với hợp đồng Việc gia hạn, huỷ bỏhợp đồng không ảnh hưởng đến hiệu lực của điều khoản trọng tài (điều 11 PLtrọng tài thương mại)
Thoả thuận trọng tài không phải đương nhiên có hiệu lực, nó có thể vôhiệu nếu thuộc một trong các trường hợp quy định tại điều 10 PL trọng tàithương mại
Đặc trưng thứ hai của giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại đólà quá trình giải quyết tranh chấp thông qua một thủ tục tố tụng chặt chẽ Đây làđiểm khác biệt cơ bản giữa phương thức trọng tài và hai phương thức giải quyếttrước Giải quyết tranh chấp tại trọng tài, trọng tài viên và các bên đương sựphải tuân thủ đúng trình tự tố tụng mà pháp luật trọng tài, điều lệ và quy tắc tốtụng của tổ chức trọng tài đó quy định Nếu quy trình tố tụng này không đượctuân thủ, một hoặc các bên không có cơ hội công bằng để trình bày trường hợpcủa mình trước trọng tài viên thì quyết định của trọng tài có thể sẽ không đượccông nhận và không được cho thi hành
Đặc trưng thứ ba, kết quả của việc giải quyết tranh chấp tại trọng tài làphán quyết do trọng tài tuyên bố với các đượng sự của vụ tranh chấp Phán
Trang 17quyết của trọng tài vừa kết hợp yếu tố thoả thuận (các bên đương sự có thể thoảthuận về nội dung tranh chấp, cách thức giải quyết tranh chấp, luật áp dụng đốivới tranh chấp…), vừa kết hợp yếu tố tài phán và phán quyết này có giá trị bắtbuộc đối với các bên Mặc dù phán quyết trọng tài là kết quả của sự thoả thuận
có tính chất riêng tư giữa các bên tranh chấp nhưng phán quyết của trọng tàivẫn có hiệu lực bắt buộc đối với các bên tranh chấp trừ khi một trong số cácbên có yêu cầu toà án tuyên bố huỷ quyết định trọng tài và toà đã xem xét chohuỷ quyết định trọng tài Nếu các bên không tự nguyện thi hành thì có thể bịcưỡng chế thi hành
Về hình thức thì trọng tài thương mại tồn tại dưới hai hình thức là trọngtài vụ việc (trọng tài Ad-hoc, Hội đồng trọng tài do các bên thoả thuận thànhlập và sẽ giải tán khi giải quyết xong tranh chấp); trọng tài thường trực (trọngtài quy chế) là các trung tâm trọng tài, có cơ cấu tổ chức chặt chẽ, có trụ sở cốđịnh, có danh sách trọng tài viên va hoạt động theo điều lệ riêng
Trọng tài thương mại là hình thức giải quyết tranh chấp kết hợp đượcnhiều ưu điểm của các hình thức giải quyết tranh chấp khác như: đảm bảo sự tự
do thoả thuận ý chí, bí mật và uy tín cho các bên, giữ được quan hệ giữa cácbên sau khi giải quyết như hình thức thương lượng, hoà giải, đảm bảo sự chặtchẽ về thủ tục tố tụng và tính tài phán như hình thức toà án Lựa chọn trọng tài,các bên tranh chấp có thể yên tâm vì tranh chấp sẽ được trọng tài giải quyếtnhanh chóng, dứt điểm, tránh lãng phí về thời gian và tiền bạc Do vậy màtrọng tài là hình thức giải quyết tranh chấp phổ biến ở những nước có nên kinhtế thị trường phát triển, được các nhà kinh doanh sử dụng như một hình thức tối
ưu để giải quyết các tranh chấp phát sinh trong lĩnh vực kinh doanh, thươngmại
1.2.4 Giải quyết tranh chấp tại toà án
Toà án là phương thức giải quyết tranh chấp tại cơ quan xét xử nhândanh quyền lực nhà nước, được tiến hành theo trình tự, thủ tục nghiêm ngặt,chặt chẽ và bản án hay quyết định của toà án về vụ tranh chấp nếu không có sự
Trang 18tự nguyện tuân thủ sẽ được bảo đảm thi hành bằng sức mạnh cưỡng chế của nhànước.
Các đặc trưng cơ bản của phương thức giải quyết tranh chấp bằng conđường toà án như sau:
Thứ nhất, việc giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại toà án có sựtham gia của bên thứ ba đó là toà án thông qua hoạt động xét xử của hội đồngxét xử gồm có các thẩm phán và hội thẩm nhân dân Toà án là cơ quan xét xửnhân danh quyền lực nhà nước và việc giải quyết tranh chấp bằng toà án khôngcần phải có sự thoả thuận trước Nếu như các bên không có thoả thuận gì vềphương thức giải quyết tranh chấp thì tranh chấp sẽ được giải quyết tại toà ánnếu như các bên không tự thương lượng hoặc hoà giải được Cũng giống nhưhình thức trọng tài thì các thành viên tham gia hội đồng xét xử cũng phải thoảmãn các điều kiện mà pháp luật có quy định Nếu không thoả mãn các điều kiệnnày thì không được tham gia xét xử, nếu không thì bản án do những người nàytuyên có thể không có hiệu lực
Thứ hai, việc giải quyết tranh chấp tại toà án phải tuân thủ nguyên tắc tốtụng do pháp luật quy định Việc sai nguyên tắc tố tụng có thể bị kháng cáokháng nghị theo thủ tục phúc thẩm hoặc thủ tục xét lại bản án đã có hiệu lựcpháp luật
Thứ ba, kết quả của việc giải quyết tranh chấp là bản án do Hội đồng xét
xử tuyên có giá trị bắt buộc đối với các bên khi nó có hiệu lực pháp luật, nó cóthể bị kháng cáo, kháng nghị Khi bản án đã có hiệu lực thi hành thì các bênphải tự nguyện thi hành, nếu không sẽ bị cưỡng chế theo quy định của phápluật
Cả trọng tài thương mại và toà án đều là hai phương thức giải quyếttranh chấp kinh doanh thương mại theo mang tính chất tố tụng nhưng chúng cónhững điểm khác biệt cơ bản sau: toà án là cơ quan nhà nước, do đó phán quyếtcủa toà án mang tính quyền lực, pháp lý, còn trọng tài là tổ chức xã hội nghềnghiệp (phi chính phủ), do đó phán quyết của trọng tài mang tính xã hội, pháp
Trang 19lý Toà án có thẩm quyền giải quyết những tranh chấp kinh tế theo quy định củapháp luật Trọng tài có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp phát sinh tronghoạt động thương mại nếu trước hoặc khi xảy ra tranh chấp các bên có thoảthuận trọng tài và thoả thuận đó không vô hiệu Toà án xét xử công khai, trừtrường hợp cần xét xử kín để giữ gìn bí mật của nhà nước, thuần phong mỹ tụccủa dân tộc hoặc để giữ kín bí mật của các đương sự theo yêu cầu chính đángcủa họ Phiên họp giải quyết tranh chấp theo thủ tục của trọng tài thương mạikhông công khai Nguyên tắc hoà giải là thủ tục bắt buộc trừ một số trường hợpđối với phương thức toà án, còn trọng tài thì không cần Lựa chọn trọng tàithương mại để giải quyết tranh chấp các bên có nhiều quyền tự định đoạt hơnnhư là có thể chọn trung tâm trọng tài hoặc hội đồng trọng tài do các bên thànhlập, có thể lựa chọn và đề nghị thay đổi trọng tài viên còn trong tố tụng toà ánthì các bên không có quyền chọn mà chỉ có thể đề nghị thay đổi thành phần hộiđồng xét xử nếu chứng minh được rằng họ không thoả mãn điều kiện do phápluật quy định.
Trên đây mới chỉ nói qua về bản chất của phương thức giải quyết tranhchấp kinh doanh thương mại bằng con đường toà án, còn cụ thể về thẩm quyềnnguyên tắc giải quyết, trình tự, thủ tục giải quyết xin được nghiên cứu kỹ lưỡngtrong phần II dưới đây
1.3 Giải quyết tranh chấp về kinh doanh thương mại tại toà án
1.3.1 Khái quát về cơ cấu tổ chức của toà án
Ở Việt Nam, hệ thống được tổ chức theo đơn vị hành chính, lãnh thổ.Theo quy định tại điều 2 Luật tổ chức toà án nhân dân năm 2002 thì ở ViệtNam có các toà án sau: Toà án nhân dân tối cao; các toà án nhân dân tỉnh, thànhphố trực thuộc trung ương; các toà án nhân dân cấp huyện, quận, thị xã, thànhphố trực thuộc tỉnh; các toà quân sự; các toà khác do luật định Trong đó toà ánnhân dân tối cao là cơ quan xét xử cao nhất trong hệ thống toà án Toà án nhân
dân tối cao gồm có các toà: toà quân sự trung ương, toà hình sự, toà dân sự, toà kinh tế, toà lao động, toà hành chính và các toà phúc thẩm toà án nhân dân tối
Trang 20cao Trong đó thì toà hình sự, toà dân sự, toà kinh tế, toà lao động, toà hành
chính, toà án nhân dân tối cao, giám đốc thẩm, tái thẩm những vụ án mà bản án,quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo quy định của pháp luật
tố tụng Các toà phúc thẩm toà án nhân dân tối cao có nhiệm vụ và quyền hạn
phúc thẩm những vụ án mà bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực phápluật của toà án cấp dưới trực tiếp bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định củapháp luật; giải quyết khiếu nại đối với các quyết định của toà án nhân dân cấptỉnh về tuyên bố phá sản; giải quyết khiếu nại tố cáo đối với các quyết định củatoà án nhân dân cấp tỉnh về việc giải quyết các cuộc đình công theo quy địnhcủa pháp luật
Toà án nhân dân cấp tỉnh gồm có toà hình sự, toà dân sự, toà kinh tế, toà
hình sự, toà hành chính, trong trường hợp cần thiết Uỷ ban thường vụ Quốc hộiquyết định thành lập thêm các toà chuyên trách theo đề nghị của chánh án toà
án nhân dân tối cao Trong đó, toà kinh tế có những nhiệm vụ và quyền hạn là
sơ thẩm những vụ án kinh tế theo quy định của pháp luật, phúc thẩm những vụán kinh tế mà bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của toà áncấp dưới bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật, giải quyết việcphá sản theo quy định của pháp luật
Toà án nhân dân cấp huyện không có các toà chuyên trách, các vụ việcthuộc thẩm quyền của toà án cấp huyện sẽ được giao cho các thẩm phán chuyêntrách giải quyết Do đó những vụ án hình sự thì sẽ giao cho những thẩm phánchuyên trách về hình sự, những vụ án kinh tế sẽ được giao cho những thẩmphán chuyên trách về kinh tế vv… TAND cấp huyện có thẩm quyền sơ thẩmnhững vụ án theo quy định của pháp luật
Trong phạm vi nghiên cứu của chuyên đề này, chúng tôi chỉ tập trungvào nghiên cứu phương thức giải quyết tranh chấp về kinh doanh thương mạinên theo quy định của pháp luật nó sẽ thuộc thẩm quyền của toà kinh tế hay củathẩm phán chuyên trách về các tranh chấp trong kinh doanh thương mại tại toàán cấp huyện, do đó tất cả những vấn đề nói dưới đây về phương thức giải
Trang 21quyết tranh chấp kinh tế tại toà án đều là thẩm quyền của toà kinh tế hoặc làthẩm quyền giải quyết các tranh chấp kinh tế của toà án nhân dân cấp huyện.
1.3.2 Đặc điểm của quan hệ pháp luật tố tụng kinh tế tại toà án
Trong kinh doanh giữa các chủ thể phát sinh các quan hệ kinh tế mà nộidung là các quyền và nghĩa vụ của họ, mỗi bên đều phải thực hiện các nghĩa vụcủa mình Tuy nhiên, do nhiều lý do khác nhau có thể một bên không thực hiệnhoặc thực hiện không đúng không đầy đủ, gây thiệt hại đến lợi ích hợp phápcủa bên kia dẫn đến tranh chấp kinh tế và yêu cầu tất yếu là phải giải quyếttranh chấp đó Khi tranh chấp kinh tế xảy ra, để đảm bảo nguyên tắc tự nguyệnthoả thuận trong kinh doanh, pháp luật cho phép các bên gặp nhau tự bàn bạctìm cách giải quyết Trong trường hợp các bên không thể giải quyết được bằngthương lượng, hoà giải và cũng không có thoả thuận trọng tài hoặc thoả thuậntrọng tài vô hiệu thì tranh chấp kinh tế đó sẽ được giải quyết theo một thủ tụcluật định ở toà án (TAND cấp huyện hoặc toà kinh tế TAND cấp tỉnh) Quátrình giải quyết một vụ tranh chấp kinh tế theo một thủ tục nhất định trước cơquan toà án gọi là tố tụng kinh tế Trong quá trình giải quyết vụ việc kinh doanhthương mại thì phát sinh các mối quan hệ giữa toà án với những bên tham gia tốtụng kinh tế, và giữa họ với nhau Đặc điểm của các quan hệ này là:
- Chúng phát sinh trong quá trình giải quyết tranh chấp kinh tế ở toà án
- Một trong các chủ thể bắt buộc của quan hệ pháp luật kinh tế là toà án
- Căn cứ pháp lý phát sinh tranh chấp, đồng thời làm phát sinh quan
hệ pháp luật tố tụng kinh tế là sự vi phạm pháp luật kinh tế hoặc sự tranh chấp
về quyền và nghĩa vụ giữa các bên;
- Mục đích của việc giải quyết tranh chấp tại toà án là nhằm bảo vệ
các quyền và lợi ích hợp pháp đang bị vi phạm của các bên tham gia quan hệkinh tế nói riêng và nền kinh tế nói chung;
- Nội dung của pháp luật kinh tế bao gồm những quy định về những
Trang 22nguyên tắc giải quyết tranh chấp kinh tế, thẩm quyền và trình tự giải quyếttranh chấp kinh tế của toà án các cấp, quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia
vụ án kinh tế
1.3.4 Các nguyên tắc cơ bản trong việc giải quyết các tranh chấp về kinh doanh, thương mại theo BLTTDS 2004
Nguyên tắc cơ bản của một đạo luật là tổng hợp những tư tưởng, quan điểmchỉ đạo mang tính chất khái quát, xuyên suốt trong cả đạo luật Nội dung củacác quy định tiếp theo chỉ là sự cụ thể hoá các tư tưởng này Do vậy trong giảiquyết tranh chấp trong kinh doanh, thương mại thì toà án cũng phải tuân thủđầy đủ các nguyên tắc này để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bên.Theo quy định của BLDS 2004 thì trong giải quyết các vụ án dân sự có 21nguyên tắc Trong các nguyên tắc này thì có 4 nguyên tắc được coi là cơ bản vàđặc trưng trong tố tụng dân sự nói chung cũng như trong tố tụng kinh tế nóiriêng
- Nguyên tắc về quyền quyết định và tự định đoạt của các đương sự
Trang 23chấm dứt, thay đổi các yêu cầu của mình hoặc thoả thuận với nhau một cách tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội.”
Các quan hệ kinh tế là các quan hệ được xác lập một cách tự nguyện, xuấtphát từ ý chí và nguyện vọng của các bên mà không có bất cứ sự cưỡng ép, đedoạ nào trong quá trình xác lập, thực hiện Trong quan hệ này các bên hoàntoàn có quyền quyết định quyền và nghĩa vụ của mình và được nhà nước bảođảm nếu không trái với các quy định của pháp luật và đạo đức xã hội Nên khiphát sinh tranh chấp, bên bị vi phạm có quyền yêu cầu nhà nước bảo vệ quyềnvà lợi ích hợp pháp của mình, nhưng ngược lại, họ cũng có quyền từ bỏ quyềnlợi của mình đã bị xâm phạm cho dù đã có quyền yêu cầu nhà nước bảo vệ.Nguyên tắc quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự được thể hiện trongsuốt các giai đoạn của quá trình tố tụng: họ có thể khởi kiện hoặc không khởikiện, trong quá trình giải quyết vụ việc, các đương sự có quyền chấm dứt, thayđổi các yêu cầu của mình hoặc thoả thuận với nhau một cách tự nguyện, khôngtrái pháp luật và đạo đức xã hội Việc thực hiện quyền này của đương sự khôngchỉ dừng lại việc giải quyết theo thủ tục sơ thẩm, thủ tục phúc thẩm mà cònđược thể hiện cả trong các giai đoạn của quá trình thi hành bản án, quyết địnhcủa toà án có hiệu lực pháp luật
- Nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng kinh tế
“1 Các đương sự có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ cho Toà án và chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp
2 Cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện, yêu cầu để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ, chứng minh như đương sự.
3 Toà án chỉ tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ trong những trường hợp
do Bộ luật này quy định.”
Xuất phát từ nguyên tắc quyền quyết định và tự định đoạt của các đương sựthì các đương sự có quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp củamình, và khi đã thực hiện quyền đó thì họ đồng thời có nghĩa vụ đưa ra chứng
Trang 24cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp, hoặc đưa rachứng cứ để phản đối yêu cầu của bên kia, vì không ai khác ngoài các đương sựlà người biết rõ nhất nguyên nhân, điều kiện phát sinh tranh chấp, hoặc yêu cầu
có liên quan đến quyền và lợi ích, cũng như những bằng chứng để chứng minhcho yêu cầu của mình
Việc quy định đương sự có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ để chứng minh choyêu cầu của mình là phù hợp, nhưng trên thực tế nảy sinh nhiều vấn đề phứctạp, làm ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án Chẳng hạn, do tính chất củaviệc giải quyết tranh chấp, nếu bên nguyên đơn có lợi thì họ sẽ nhiệt tình tìmkiếm, sẵn sàng cung cấp chứng cứ cho Tòa án, và bên bị đơn thì ngược lại, nếubị bất lợi thì họ không muốn cung cấp chứng cứ cho Tòa án, hoặc khi có vấn đềliên quan đến cơ quan quản lý hữu quan, Tòa án có văn bản yêu cầu các cơquan này cung cấp tài liệu theo quy định của pháp luật, nhưng do nhiều nguyênnhân khác nhau nên khó thực hiện được ngay Do đó nếu không có cơ chế đểTòa án xác minh, thu thập chứng cứ thì sẽ hạn chế nhiều đến việc giải quyết vụán, ảnh hưởng đến thời hạn và chất lượng giải quyết vụ án Trong điều kiện nhưvậy, thẩm phán muốn có căn cứ giải quyết vụ án một cách công bằng, đúngpháp luật thì phải tự mình tiến hành một số biện pháp thu thập chứng cứ
Tuy nhiên bên cạnh mặt tích cực này, quy định như vậy sẽ tạo ra cho thẩmphán cơ chế giải quyết vụ việc khép kín từ thu thập chứng cứ, đánh giá chứngcứ đến xét xử, khó bảo đảm nguyên tắc khách quan, nhất là trong trường hợp cóvấn đề tiêu cực sẽ dẫn đến việc lạm dụng quyền lực, xét xử không đúng, làmảnh hưởng đến lòng tin của người dân vào Tòa án, vào pháp luật
Liên quan đến việc thu thập và cung cấp chứng cứ trong TTDS, BLTTDS
2004 đã bổ sung quy định về trách nhiệm của “Cá nhân, cơ quan, tổ chức trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm cung cấp đầy đủ cho đương sự, Toà án chứng cứ trong vụ án mà cá nhân, cơ quan, tổ chức đó đang lưu giữ, quản lý khi có yêu cầu của đương sự, Toà án; trong trường hợp không
Trang 25cung cấp được thì phải thông báo bằng văn bản cho đương sự, Toà án biết và nêu rõ lý do của việc không cung cấp được chứng cứ.”(Điều 7/BLTTDS 2004)
- Nguyên tắc hoà giải trong tố tụng dân sự (điều 10 BLTTDS 2004)
“Toà án có trách nhiệm tiến hành hoà giải và tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ việc dân sự theo quy định của Bộ luật này.”
Bản chất của quan hệ pháp luật kinh tế là các quan hệ tự nguyện, do đó việcgiải quyết tranh chấp kinh tế cũng phải dựa trên nguyên tắc này theo nhữngbiện pháp nhất định, trong đó hoà giải là một biện pháp quan trọng và lànguyên tắc bắt buộc trong tố tụng dân sự Hoà giải có ý nghĩa hết sức quantrọng, được thực hiện nhằm mục đích phát huy truyền thống đoàn kết, tương trợgiữa các bên tham gia quan hệ kinh tế, nâng cao kết quả giải quyết tranh chấpkinh tế Đồng thời làm tốt hoà giải sẽ hạn chế những tốn kém về tiền bạc, thờigian của nhà nước, công sức của cán bộ nhà nước cũng như của công dân, hạnchế những khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực tư pháp
BLTTDS 2004 cũng được quy định cụ thể việc hoà giải được thực hiện ở tấtcả các giai đoạn sơ thẩm, phúc thẩm, từ khi chuẩn bị xét xử đến khi bắt đầu xét
xử tại phiên toà, trừ những vụ án không được hoà giải như yêu cầu đòi bồithường gây thiệt hại đến tài sản của nhà nước hoặc những vụ án kinh tế phátsinh từ những giao dịch trái pháp luật hoặc đạo đức xã hội
- Nguyên tắc kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự
(điều 21 BLTTDS 2004)
“1 Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, thực hiện các quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị theo quy định của pháp luật nhằm bảo đảm việc giải quyết vụ việc dân sự kịp thời, đúng pháp luật.
2 Viện kiểm sát nhân dân tham gia phiên toà đối với những vụ án do toà án thu thập chứng cứ mà đương sự có khiếu nại, các việc dân sự thuộc thẩm quyền
Trang 26giải quyết của toà án, các vụ việc dân sự mà viện kiểm sát kháng nghị bản án, quyết định của toà án.”
Hoạt động tố tụng dân sự khá đa dạng, phức tạp, lại dễ xâm phạm đến quyền,lợi ích hợp pháp của các chủ thể nên ngoài việc áp dụng pháp luật phải quyđịnh cụ thể quyền, nghĩa vụ tố tụng của các chủ thể thì cần phải có cơ chế kiểmsát các hoạt động này Chính vì thế, kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tốtụng dân sự đã được pháp luật quy định là một nguyên tắc cơ bản trong tố tụngdân sự
Khác với tố tụng hình sự thì viện kiểm sát với vai trò thực hiện quyền công
tố tham gia tất cả các vụ án, trong tố tụng kinh tế viện kiểm sát không tham giatất cả những vụ án mà chỉ tham gia những phiên toà theo quy định của phápluật Trước đây thì viện kiểm sát có quyền khởi tố đối với một số vụ việc dânsự, nhưng hiện nay thì vấn đề có khởi kiện hay không phụ thuộc vào các đươngsự, viện kiểm sát không có quyền khởi tố nữa
1.3.5 Thẩm quyền giải quyết tranh chấp về kinh doanh thương mại của toà án
Trong kinh doanh thương mại, khi xảy ra tranh chấp không phải lúc nào toàán cũng có thẩm quyền giải quyết Toà án chỉ giải quyết khi có yêu cầu củađương sự (nguyên tắc quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự) và tranhchấp đó phải thuộc thẩm quyền giải quyết của toà án Ở nước ta, hệ thống toàán được tổ chức theo đơn vị hành chính lãnh thổ, để tránh chồng chéo thì việcphân định thẩm quyền giữa các toà án là rất quan trọng, tránh tình trạng một vụán có thể được rất nhiều toà thụ lý hoặc không có toà nào thụ lý Điều này cũnggóp phần cho toà án giải quyết nhanh chóng và đúng đắn các vụ việc Bên cạnh
đó, việc xác định thẩm quyền giữa các toà án một cách hợp lý, còn tạo điềukiện thuận lợi cho các đương sự tham gia tố tụng bảo vệ quyền, lợi ích hợppháp trước toà án, giảm bớt những phiền phức cho đương sự Ngoài ra, việc xácđịnh thẩm quyền của các toà án một cách hợp lý và khoa học còn có ý nghĩaquan trọng trong việc xác định những điều kiện về chuyên môn, nghiệp vụ cần
Trang 27thiết của đội ngũ cán bộ ở mỗi toà án và các điều kiện khác, trên cơ sở đó có kếhoạch đáp ứng bảo đảm cho toà án thực hiện được chức năng, nhiệm vụ.
Thẩm quyền giải quyết tranh chấp về kinh doanh thương mại là quyền xemxét giải quyết các tranh chấp kinh doanh thương mại, quyền ra quyết định khigiải quyết các tranh chấp đó theo quy định của pháp luật
Khác với thẩm quyền xét xử hành chính và thẩm quyền xét xử hình sự củatoà án, thẩm quyền của toà án trong giải quyết các tranh chấp kinh tế có nhữngđặc trưng sau:
Thứ nhất, toà án nhân danh quyền lực nhà nước, độc lập trong việc xem xétgiải quyết và ra các phán quyết đối với các vụ việc phát sinh từ các quan hệmang tính chất kinh doanh thương mại
Thứ hai, thẩm quyền của toà án được thực hiện theo thủ tục tố tụng dân sự
Do vậy, ngoài việc tuân thủ các nguyên tắc chung về tố tụng thì toà án khi xemxét và giải quyết các tranh chấp phải tôn trọng và bảo đảm quyền thoả thuận,quyền tự do định đoạt của các đương sự Phạm vi thẩm quyền được giới hạntrong các yêu cầu mà đương sự đưa ra và những vấn đề khác mà trên cơ sở thoảthuận của họ Thẩm quyền của toà án gồm:
+ Thẩm quyền theo vụ việc;
+ Thẩm quyền theo cấp;
+ Thẩm quyền theo lãnh thổ;
+ Thẩm quyền theo sự lựa chọn của nguyên đơn
1.3.5.1 Thẩm quyền theo vụ việc
Trước hết, để hiểu thẩm quyền của toà án theo vụ việc thì chúng ta cần hiểuthế nào là vụ việc dân sự Vụ việc dân sự là những vụ việc về các lĩnh vực màpháp luật tố tụng dân sự coi là quan hệ xã hội về dân sự theo nghĩa rộng Vụviệc dân sự bao gồm vụ án dân sự và việc dân sự Vụ án dân sự là các tranhchấp dân sự theo nghĩa rộng được các bên khởi kiện để yêu cầu toà án giảiquyết Vụ án dân sự gồm 4 loại tranh chấp bao gồm: những tranh chấp dân sựtheo nghĩa hẹp (điều 25 BLTTDS 2004); những tranh chấp về hôn nhân gia
Trang 28đình (điều 27 BLTTDS); những tranh chấp về kinh doanh, thương mại (điều 29BLTTDS); những tranh chấp về lao động (điều 31 BLTTDS) Trong phạm vinghiên cứu của chuyên đề này, chúng tôi chỉ xin nói về loại vụ việc dân sự đólà những tranh chấp về kinh doanh thương mại quy định tại điều 29 BLTTDS.Việc dân sự là những việc cá nhân, cơ quan tổ chức không có tranh chấp nhưng
có yêu cầu toà án công nhận một sự kiện pháp lý là căn cứ làm phát sinh quyền,nghĩa vụ dân sự của mình hoặc của cá nhân, tổ chức khác yêu cầu công nhậncho mình quyền về dân sự Việc dân sự cũng bao gồm 4 loại: việc dân sự theonghĩa hẹp (điều 26 BLTTDS); việc hôn nhân và gia đình (điều 28 BLTTDS);việc kinh doanh thương mại (điều 30 BLTTDS); việc lao động (điều 32BLTTDS)
Thẩm quyền theo vụ việc là thẩm quyền của toà án trong việc thụ lý vụ ánhoặc các việc về kinh doanh thương mại theo thủ tục tố tụng kinh tế Thẩmquyền theo vụ việc của toà án phân định thẩm quyền của toà án với thẩm quyềncủa các cơ quan tổ chức khác trong việc giải quyết các vấn đề nảy sinh trongđời sống xã hội; phân định thẩm quyền của toà án trong việc giải quyết các vụviệc theo thủ tục tố tụng dân sự với thẩm quyền của toà án trong việc giải quyếtcác loại việc theo thủ tục tố tụng hình sự, tố tụng hành chính; phân định thẩmquyền của toà án trong việc giải quyết các vụ việc về kinh doanh thương mạivới thẩm quyền giải quyết các vụ việc dân sự khác như hôn nhân gia đình, laođộng, các vụ việc dân sự theo nghĩa hẹp Việc xác định thẩm quyền của toà ántheo thủ tục tố tụng nào phải căn cứ vào tính chất của loại quan hệ pháp luật nộidung mà toà án cần giải quyết Các vụ việc phát sinh từ quan hệ pháp luật nộidung có cùng tính chất sẽ thuộc thẩm quyền của toà án theo các thủ tục tố tụngtương ứng Ở Việt Nam các quan hệ phát sinh trong lĩnh vực dân sự, kinhdoanh, thương mại, lao động, hôn nhân gia đình được điều chỉnh bởi các vănbản pháp luật khác nhau như Bộ luật dân sự, luật thương mại, luật lao động,luật hôn nhân gia đình Tuy nhiên, các quan hệ pháp luật này đều có cùng tínhchất là các quan hệ tài sản, nhân thân được hình thành trên cơ sở bình đẳng, tự
Trang 29do, tự nguyện, thoả thuận và tự định đoạt của các chủ thể Do đó, mà các tranhchấp phát sinh từ các quan hệ này phải thuộc thẩm quyền dân sự của toà án vàđược giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự Ở đây, chúng tôi chỉ xin đi sâu vềthẩm quyền của toà án trong việc giải quyết các tranh chấp về kinh doanh,thương mại tức là thẩm quyền của toà kinh tế (bao gồm cả thẩm quyền củaTAND cấp huyện trong việc giải quyết các tranh chấp kinh tế).
Theo quy định tại điều 29 BLTTDS 2004 thì toà án có thẩm quyền giảiquyết các tranh chấp về kinh doanh, thương mại sau:
“1 Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận bao gồm:
2 Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân,
tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận.
Trang 303 Tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty.
4 Các tranh chấp khác về kinh doanh, thương mại mà pháp luật có quy định.”
Tuy nhiên, theo hướng dẫn của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối caotại Nghị quyết 01/2005/NQ-HĐTP thì toà kinh tế còn có thẩm quyền giải quyết
các tranh chấp về kinh doanh, thương mại mà một hoặc các bên không có đăng
ký kinh doanh, nhưng đều có mục đích lợi nhuận.
Như vậy, có thể nói toà kinh tế có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp vềkinh doanh thương mại mà các bên đều có mục đích lợi nhuận Điều này cũngtương đối đồng nhất với khái niệm về hoạt động thương mại được quy định trongLuật thương mại 2005 và Pháp lệnh trọng tài thương mại Mục đích lợi nhuậncủa cá nhân, tổ chức trong hoạt động kinh doanh, thương mại là mong muốn củacá nhân, tổ chức đó thu được lợi nhuận mà không phân biệt có thu được haykhông thu được lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh, thương mại đó Nếu các bênkhông có mục đích lợi nhuận thì việc giải quyết các tranh chấp này lại thuộcthẩm quyền của toà dân sự Hoạt động kinh doanh, thương mại là việc thực hiệnmột hoặc nhiều hành vi thương mại Hoạt động kinh doanh, thương mại khôngchỉ là hoạt động trực tiếp theo đăng ký kinh doanh, thương mại mà còn bao gồmcả hoạt động khác phục vụ, thúc đẩy, nâng cao hiệu quả hoạt động, kinh doanhthương mại Ví dụ: Công ty TNHH A được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinhdoanh trong lĩnh vực may mặc Hoạt động của Công ty A không chỉ giới hạn ởviệc may sản phẩm là hàng dệt may để phục vụ thị trường mà còn bao gồm cảhành vi mua nguyên vật liệu về để sản xuất, xây dựng nhà xưởng, mua sắm trangthiết bị, thuê xe ô tô để đưa công nhân đi làm, đi nghỉ hàng năm theo chế đọ hoặcmua một số ti vi để cho công nhân giải trí sau giờ làm việc…
1.3.5.2 Thẩm quyền theo cấp toà án
Việc xem xét theo vụ việc có thể được xem là căn cứ đầu tiên, cơ bản, quantrọng trong việc xem xét vụ việc đó có thuộc thẩm quyền giải quyết của toà án
Trang 31không? Nếu có, thì phải xác định toà án nhân dân cấp nào có thẩm quyền giảiquyết Hệ thống toà án của chúng ta được tổ chức theo đơn vị hành chính lãnhthổ Trong các toà án thì tòa án nhân dân cấp huyện và toà án nhân dân cấp tỉnhlà có thẩm quyền xét xử sơ thẩm các vụ việc dân sự Vì vậy, phải xác định xemtoà án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết đối với những loại tranhchấp nào và toà án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết đối với nhữngtranh chấp nào.
Tuy không thành lập phân toà kinh tế ở toà án nhân dân cấp huyện nhưngtheo quy định tại khoản 1 điều 33 BLTTDS 2004 thì toà án nhân dân cấp huyện
có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm các tranh chấp về kinh doanhthương mại gồm: mua bán hàng hoá; cung ứng dịch vụ; phân phối; đại diện, đạilý; ký gửi; thuê, cho thuê, thuê mua; xây dựng; tư vấn, kỹ thuật; vận chuyểnhàng hoá, hành khách bằng đường sắt, đường bộ, đường thuỷ nội địa Tuynhiên, theo quy định tại khoản 3 điều này thì những tranh chấp trên mà cóđương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải uỷ thác tư pháp cho cơ quanLãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài, cho toà án nước ngoài không thuộc thẩmquyền giải quyết của toà án nhân dân cấp huyện
Nhưng theo quy định tại điều 3 Nghị quyết số 32/2004/QH11 của Quốc hội
về việc thi hành BLTTDS 2004 thì kể từ ngày Bộ luật này có hiệu lực(01/01/2005), những toà án cấp huyện có đủ điều kiện thì được giao thực hiệnngay thẩm quyền mới, đối với những toà án cấp huyện chưa có đủ điều kiện thìvẫn tiếp tục thực hiện thẩm quyền xét xử như trước khi BLTTDS 2004 có hiệulực, là giải quyết những tranh chấp hợp đồng kinh tế mà giá trị tranh chấp dưới
50 triệu đồng, trừ những trường hợp có nhân tố nước ngoài (điều 13 khoản 1Pháp lệnh thủ tục các vụ án kinh tế) Hiện nay, theo quy định tại Nghị quyết742/2004/NQ-UBTVQH11 thì có tất cả 123 toà án cấp huyện được thực hiệnthẩm quyền xét xử theo quy định tại điều 33 BLTTDS 2004 Trong đó, Hà Nội
có 5 toà án cấp quận đó là Q.Hoàn Kiếm, Q Đống Đa, Q.Hai Bà Trưng, Q.Thanh Xuân, Q Ba Đình
Trang 32Thẩm quyền giải quyết các tranh chấp về kinh doanh, thương mại của toà ánnhân dân cấp tỉnh thuộc về toà kinh tế và uỷ ban thẩm phán toà án nhân dân cấptỉnh Theo đó thì toà án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết rất nhiềutranh chấp về kinh doanh, thương mại Toà kinh tế toà án nhân dân cấp tỉnh cóthẩm quyền sơ thẩm tất cả những tranh chấp về kinh doanh thương mại, trừnhững tranh chấp thuộc thẩm quyền của toà án nhân dân cấp huyện Cụ thể làcác tranh chấp về vận chuyển hàng hoá, hành khách bằng đường hàng không,đường biển; mua bán cổ phiếu, trái phiếu và giấy tờ có giá khác; đầu tư, tàichính, ngân hàng; bảo hiểm; thăm dò, khai thác; tranh chấp về quyền sở hữu trítuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau và đều có mục đíchlợi nhuận; tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty, giữa cácthành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giảithể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty;các tranh chấp khác về kinh doanh, thương mại mà pháp luật có quy định Cáctranh chấp về kinh doanh, thương mại mà đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài,hoặc cần phải uỷ thác tư pháp cho cơ quan lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài,cho toà án nước ngoài cũng thuộc thẩm quyền của toà án nhân dân cấp tỉnh.Ngoài ra, toà án nhân dân cấp tỉnh còn có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơthẩm những tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của toà án nhân dân cấphuyện mà toà án nhân dân cấp tỉnh thấy cần phải lấy lên để giải quyết (điều 34BLTTDS 2004)
Theo quy định của pháp luật thì ngoài thẩm quyền sơ thẩm thì toà kinh tế toàán nhân dân cấp tỉnh còn có thẩm quyền phúc thẩm đối với những vụ án mà bảnán, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của toà án cấp huyện bịkháng cáo, kháng nghị Uỷ ban thẩm phán toà án nhân dân câp tỉnh có thẩmquyên giám đốc thẩm, tái thẩm với những vụ án mà bản án quyết định sơ thẩm
có hiệu lực pháp luật của toà án nhân dân cấp huyện bị kháng nghị theo trình tự
tố tụng
Trang 33Thẩm quyền giải quyết tranh chấp về kinh doanh thương mại của tòa tối caothuộc toà kinh tế, toà phúc thẩm và hội đồng thẩm phán toà án nhân dân tối cao.Toà kinh tế toà án nhân dân tối cao có thẩm quyền giám đốc thẩm, tái thẩmnhững vụ án mà bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của toà án nhândân cấp tỉnh bị kháng nghị theo trình tự tố tụng Toà phúc thẩm toà án nhân dântối cao có thẩm quyền phúc thẩm đối với những vụ án mà bản án, quyết định sơthẩm chưa có hiệu lực pháp luật của toà án cấp tỉnh bị kháng cáo, kháng nghị.Hội đồng thẩm phán toà án nhân dân tối cao có thẩm quyền giám đốc thẩm, táithẩm đối với những vụ án mà bản án, quyết định của các toà thuộc toà án nhândân tối cao bị kháng nghị theo trình tự tố tụng
1.3.5.3 Thẩm quyền theo lãnh thổ
Việc xác định thẩm quyền theo vụ việc và thẩm quyền theo cấp giúp chochúng ta có thể xác định được một vụ việc xảy ra có thuộc thẩm quyền giảiquyết của toà án hay không và toà án cấp nào sẽ giải quyết vụ việc đó Tuynhiên, do đặc điểm của hệ thống toà án ở nước ta, nên việc xác định đến đóchưa đủ kết luận toà án cụ thể nào sẽ giải quyết vụ việc đó Một công ty ở thànhphố Hồ Chí Minh ký hợp đồng mua bán hàng hoá với công ty ở Hà Nội trị giá 1
tỷ đồng, sau đó giữa hai bên có tranh chấp và giữa hai bên không có thoả thuậntrọng tài Vấn đề đặt ra là toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh hay TANDthành phố Hà Nội có thẩm quyền giải quyết tranh chấp trên Do đó, để xác địnhtoà án nào có thẩm quyền giải quyết trong tình huống trên thì chúng ta cần phải
đi xác định xem thẩm quyền giải quyết theo lãnh thổ của toà án
Theo quy định tại điều 35 BLTTDS thì toà án có thẩm quyền giải quyết tranhchấp về kinh doanh, thương mại là toà án nơi bị đơn cư trú, làm việc nếu bị đơnlà cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở nếu bị đơn là tổ chức Quy định này củapháp luật là hoàn toàn có căn cứ khoa học, bởi vì bị đơn trong vụ án về kinhdoanh thương mại là người bị buộc phải tham gia tố tụng Về mặt tâm lý bịđơn, người đại diện hợp pháp của họ thường không muốn tham gia tố tụng vàthường nêu ra những khó khăn để không đến với toà án Việc quy định như vậy
Trang 34sẽ tạo điều kiện thuận lợi để bị đơn, người đại diện hợp pháp của họ tham gia tốtụng Mặt khác, toà án này cũng có khả năng điều tra và nắm được các vấn đề
cụ thể của vụ việc, trên cơ sở đó có đường lối giải quyết phù hợp với vụ việcnày Tuy nhiên, để tạo điều kiện thuận lợi cho các bên đương sự và để phù hợpvới tính chất của quan hệ pháp luật nội dung thì pháp luật còn quy định cho cácđương sự có thể tự thoả thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu toà án nơi cư trú,làm việc hoặc trụ sở của nguyên đơn giải quyết những tranh chấp về kinh doanhthương mại
Đối với tranh chấp về bất động sản thì toà án nơi có bất động sản sẽ có thẩmquyền giải quyết Bởi lẽ, bất động sản là một loại tài sản gắn liền với đất khôngthể dịch chuyển được và thông thường các giấy tờ, tài liệu liên quan đến bấtđộng sản sẽ do cơ quan nhà đất hoặc chính quyền địa phương nơi có bất độngsản đó lưu giữ Do vây, toà án nơi có bất động sản sẽ là toà án có điều kiện tốtnhất để tiến hành xác minh, xem xét tại chỗ tình trạng của bất động sản và thuthập các giấy tờ, tài liệu liên quan đến bất động sản Đối với tranh chấp về bấtđộng sản thì các bên đương sự không có quyền thoả thuận là toà án nơi không
có bất động sản giải quyết Do đó, trong một tranh chấp mà bị đơn không cư trúhoặc có trụ sở tại nơi có bất động sản thì toà án nơi bị đơn đó cư trú hoặc có trụ
sở đó sẽ không có thẩm quyền giải quyết và chỉ có toà án nơi bất động sản tồntại mới có thẩm quyền giải quyết
1.3.5.4 Thẩm quyền theo sự lựa chọn của nguyên đơn
Trong thực tế, nếu chỉ xác định thẩm quyền của toà án theo vụ việc, theolãnh thổ thì sẽ phát sinh những vụ việc có nhiều toà án cùng có thẩm quyền giảiquyết hoặc có những trường hợp không thể xác định được toà án có thẩm quyềngiải quyết Ví dụ như trong một tranh chấp mà có rất nhiều bị đơn, hoặc cótrường hợp lại không thể xác định được nơi bị đơn cư trú… Vì vậy để bảo đảmquyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn (những người đang rất bức xúc)trong những trường hợp này, trong điều 36 BLTTDS 2004 có quy định có thểxác định thẩm quyền của toà án theo sự lựa chọn của nguyên đơn Cụ thể khi
Trang 35yêu cầu giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại, nguyên đơn có quyềnlựa chọn:
+ Toà án nơi bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở cuối cùng hoặc nơi bị đơn cótài sản giải quyết nếu không biết nơi cư trú làm việc của bị đơn;
+ Toà án nơi tổ chức có trụ sở hoặc chi nhánh giải quyết nếu tranh chấptranh chấp phát sinh từ hoạt động của chi nhánh tổ chức;
+ Toà án nơi mình cư trú, làm việc giải quyết nếu bị đơn không có nơi cưtrú, làm việc, trụ sở tại Việt Nam;
+ Toà án nơi hợp đồng được thực hiện giải quyết nếu tranh chấp phát sinh từquan hệ hợp đồng;
+ Toà án nơi một trong các bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở giải quyết nếucác bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở khác nhau;
+ Toà án nơi có một trong các bất động sản giải quyết nếu tranh chấp về bấtđộng sản mà bất động sản có ở nhiều địa phương khác nhau
Ngoài ra, trong điều 37 BLTTDS 2004 còn quy định khi mà tranh chấpkhông thuộc thẩm quyền của toà án đã thụ lý thì toà án đó ra quyết định chuyển
hồ sơ vụ việc cho toà án có thẩm quyền và xoá sổ thụ lý Tranh chấp về thẩmquyền giữa các toà án nhân dân cấp huyện trong cùng một tỉnh do chánh án toàán nhân dân cấp tỉnh giải quyết Tranh chấp về thẩm quyền giữa các toà ánnhân dân cấp huyện thuộc các tỉnh khác nhau hoặc giữa các toà án nhân dân cấptỉnh do chánh án toà án nhân dân tối cao giải quyết
Việc nhập hoặc tách vụ án được quy định tại điều 38 BLTTDS 2004
1.3.6 Trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp về kinh doanh thương mại tại toà
án
1.3.6.1 Tại toà án cấp sơ thẩm
1.3.6.1.1 Khởi kiện và thụ lý vụ án
Hiến pháp nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đã quy định quyềnvà nghĩa vụ cơ bản của công dân Trong các quyền đó thì quyền dân sự củacông dân có ý nghĩa rất quan trọng Theo đó thì công dân được phép xử sự theo
Trang 36một cách nhất định hoặc được yêu cầu người khác thực hiện những hành vi nhấtđịnh để thoả mãn lợi ích của mình Quyền năng này được bảo đảm bằng sựcưỡng chế của nhà nước Sử dụng quyền dân sự này, trong quan hệ kinh doanhthương mại cá nhân tổ chức có các quyền tự do kinh doanh và các quyền hợppháp khác để tạo ra thu nhập đáp ứng nhu cầu của mình Nhà nước ta bảo hộquyền chính đáng ấy Khi quyền dân sự của một chủ thể bị xâm phạm thì chủthể đó có quyền tự bảo vệ theo quy định của Bộ luật này hoặc yêu cầu cơ quan
tổ chức có thẩm quyền: công nhận quyền dân sự của mình; buộc chấm dứt hành
vi vi phạm; buộc xin lỗi cải chính công khai; buộc thực hiện nghĩa vụ dân sự;buộc bồi thường thiệt hại Trong quan hệ kinh doanh thương mại, khi xảy ratranh chấp mà các bên muốn yêu cầu cơ quan nhà nước là toà án bảo vệ quyềnlợi cho mình thì thủ tục đầu tiên mà nguyên đơn cần làm đó là khởi kiện vụ án.Khởi kiện vụ án kinh tế là yêu cầu toà án giải quyết những tranh chấp kinh tế.Quyền khởi kiện vụ án kinh tế thuộc về các chủ thể tham gia quan hệ pháp luậtkinh tế Điều 161 BLTTDS 2004 có quy định: “Cá nhân, cơ quan, tổ chức cóquyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án (sauđây gọi chung là người khởi kiện) tại Toà án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệquyền và lợi ích hợp pháp của mình.” Tuy không trực tiếp quy định về điềukiện khởi kiện nhưng trong điều này cũng cho thấy cá nhân, tổ chức muốn khởikiện được phải thoả mãn những điều kiện sau
Thứ nhất là điều kiện về chủ thể: Đối với cá nhân, họ chỉ có quyền khởi kiệnkhi họ có đủ năng lực hành vi dân sự, trong trường hợp họ bị mất năng lực hành
vi thì quyền khởi kiện của họ được thực hiện thông qua người đại diện hợppháp Cơ quan, tổ chức có quyền khởi kiện để yêu cầu toà án bảo vệ quyền vàlợi ích hợp pháp của mình khi bị các chủ thể khác xâm phạm Ngoài ra, cả cánhân và cơ quan tổ chức khởi kiện phải có quyền lợi bị xâm phạm Trừ trườnghợp cơ quan, tổ chức trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có quyềnkhởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu toà án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích củanhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách
Trang 37Thứ hai là vụ án được khởi kiện phải thuộc thẩm quyền giải quyết của toà án.Thứ ba là vụ án còn thời hiệu khởi kiện Thời hiệu khởi kiện là thời hạn màchủ thể được quyền khởi kiện để yêu cầu toà án giải quyết vụ tranh chấp bảo vệquyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyềnkhởi kiện, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác (điều 159.1 BLTTDS).Theo quy định của pháp luật nếu không có quy định khác về thời hiệu khởi kiệnthì thời hiệu khởi kiện vụ án kinh tế là 2 năm, kể từ ngày quyền và lợi ích hợppháp của cá nhân, cơ quan tổ chức, lợi ích công cộng, lợi ích của nhà nước bịxâm phạm, các quy định về thời hiệu khởi kiện được áp dụng theo quy định củaBLDS 2005.Việc pháp luật quy định thời hiệu khởi kiện vừa có ý nghĩa bảo vệquyền và lợi ích hợp pháp cho cá nhân, tổ chức không bị xâm phạm vừa đảmbảo việc giải quyết tranh chấp được nhanh chóng kịp thời Vì vậy việc khởikiện phải tiến hành trong thời hiện khởi kiện.
Thứ tư là tranh chấp chưa được giải quyết bằng một bản án hay quyết địnhcủa toà án hoặc quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã có hiệu lựcpháp luật
Đơn khởi kiện là hình thức biểu đạt yêu cầu của người khởi kiện đến toà ánnhằm giải quyết tranh chấp kinh tế Do đó, nó phải thoả mãn những điều kiệntheo quy định của pháp luật
Nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của mình thì thông thường thẩmphán sẽ lập một đề xuất thụ lý và nếu được lãnh đạo toà duyệt thì phải báo chođương sự biết để họ nộp tiền tạm ứng án phí Án phí sẽ do toà án dự tính tuỳtheo từng vụ án, căn cứ trên mức độ lỗi, lợi ích của các bên từ vụ tranh chấp vàtheo khung án phí do Chính phủ quy định, toà án sẽ ghi vào phiếu báo và giaocho người khởi kiện để họ nộp Theo quy định tại điều 15 Nghị định 70/CPngày 12/6/1997 quy định về án phí và lệ phí thì:
Mức án phí kinh tế sơ thẩm đối với các vụ án kinh tế không có già ngạch là500.000 đồng
Trang 38Mức án phí kinh tế sơ thẩm đối với các vụ án kinh tế có giá ngạch được quyđịnh như sau:
Giá trị tranh chấp kinh tế (x) Mức án phí
trị vượt quá 1.000.000.000đ
Mức án phí kinh tế phúc thẩm đối với tất cả các vụ án là 200.000 đồng
Khi khởi kiện nguyên đơn phải nộp tiền tạm ứng án phí, và là một điều kiện
để toà án thụ lý vụ án để giải quyết Còn vấn đề nguyên đơn có phải chịu án phíhay không, tỷ lệ là bao nhiêu do toà án quy định vào cuối quá trình tố tụng.Người kháng cáo bản án, quyết định sơ thẩm để yêu cầu giải quyết theo trình tựphúc thẩm phải nộp tạm ứng án phí phúc thẩm
Sau khi người khởi kiện nộp biên lai nộp tiền tạm ứng án phí thì toà án quyếtđịnh tiến hành thủ tục thụ lý vụ án Trong trường hợp người khởi kiện đượcmiễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí thì toà án phải thụ lý vụ án khinhận được đơn khởi kiện và tài liệu chứng cứ kèm theo Thụ lý vụ án là thủ tụcpháp lý khẳng định sự chấp nhận của toà án đối với đơn khởi kiện của đương sự
để giải quyết vụ án Việc thụ lý vụ án được thể hiện bằng việc toà án sẽ ghi vào
sổ thụ lý vụ án Thụ lý vụ án là công việc đầu tiên của toà án trong quá trình tốtụng Nếu không có việc thụ lý của toà án sẽ không có các bước tiếp theo củaquá trình tố tụng Thụ lý vụ án dân sự bao gồm hai hoạt động cơ bản là nhậnđơn khởi kiện xem xét và vào sổ thụ lý vụ án để giải quyết Việc thụ lý vụ án có
ý nghĩa pháp lý quan trọng vì nó đặt trách nhiệm cho toà án phải giải quyết vụ
Trang 39án trong thời gian luật định Thụ lý vụ án còn có ý nghĩa thiết thực bảo đảmviệc bảo vệ kịp thời những quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể
1.3.6.1.2 Chuẩn bị xét xử tại toà án cấp sơ thẩm
- Thời hạn chuẩn bị xét xử được tính từ ngày thụ lý vụ án đến ngày toà án đưa ra một trong các quyết định giải quyết vụ án Thời hạn chuẩn bị xét xử làkhoảng thời gian cần thiết để toà án tiến hành lập hồ sơ vụ án, xác minh, thuthập chứng cứ, hoà giải vụ án, và xem xét để đưa vụ án ra xét xử Đối với cáctranh chấp kinh tế thì thời hạn là 2 tháng kể từ ngày thụ lý vụ án Đối với các
vụ án có tính chất phức tạp hoặc do trở ngại khách quan thì Chánh án toà án cóthể quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử, nhưng không được quá mộttháng Trong thời hạn chuẩn bị xét xử, toà án tiến hành các công việc chủ yếusau:
Một là, trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày thụ lý vụ án, toà án phảithông báo bằng văn bản cho bị đơn, cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền lợi,nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết vụ án, cho Viện kiểm sát cùng cấp vềviệc toà án đã thụ lý vụ án
Hai là, toà án xác minh, thu thập chứng cứ Theo đó, toà án có quyền yêu cầuđương sự cung cấp, bổ sung chứng cứ, hoặc cung cấp những vấn đề cần thiết.Yêu cầu cơ quan nhà nước, tổ chức hữu quan, cá nhân cung cấp bằng chứng có
ý nghĩa cho việc giải quyết vụ án; yêu cầu người làm chứng trình bày về nhữngvấn đề cần thiết; xác minh tại chỗ tình hình vụ án, trưng cầu giám định, yêu cầu
cơ quan chuyên môn định giá hoặc lập hội đồng giám định tài sản có tranhchấp Thông thường sau khi thụ lý vụ án thì toà sẽ làm giấy triệu tập các bênđương sự đến lấy lời khai của mỗi bên Trong trường hợp nếu như lời khai củacác bên có sự khác nhau thì toà án sẽ cho các bên đối chất và lập biên bản đốichất
Ba là, Toà án sẽ tiến hành hoà giải để các đương sự có thể thoả thuận vớinhau về việc giải quyết vụ án
Trang 40Toà án tiến hành hoà giải tất cả các vụ án dân sự - đây là thủ tục bắt buộcphải tiến hành, trừ những vụ án không thể tiến hành hoà giải được thì toà án cóthể quyết định đưa vụ án ra xét xử mà không cần hoà giải Các vụ án kinhdoanh, thương mại không thể tiến hành hoà giải được quy định tại điều 182BLTTDS.
Khi các đương sự thoả thuận được với nhau về các vấn để phải giải quyếttrong vụ án thì toà án lập biên bản hoà giải thành, trong đó nêu rõ nội dung củatranh chấp và những nội dung đã được thoả thuận Biên bản này chưa có giá trịpháp lý, nó chỉ là tài liệu xác nhận một sự kiện và nó là cơ sở để toà án ra quyếtđịnh công nhận sự thoả thuận của đương sự Biên bản hoà giải phải có các nộidung theo quy định tại khoản 1 điều 186 BLTTDS Ngoài ra, biên bản hoà giảithành phải có đầy đủ chữ ký hoặc điểm chỉ của các đương sự có mặt trongphiên hoà giải, chữ ký của thư ký toà án ghi biên bản và của thẩm phán chủ trìphiên hoà giải Biên bản này được gửi ngay cho các đương sự tham gia phiênhoà giải
Khi phiên hoà giải kết thúc, các bên đã thoả thuận được với nhau về việc giảiquyết tranh chấp Tuy nhiên, BLTTDS quy định phải dành cho các bên đươngsự một khoảng thời gian nữa để họ suy nghĩ và cân nhắc lại tất cả những nộidung mà họ đã thoả thuận giải quyết tranh chấp Hết thời hạn đó mà không cóđương sự nào thay đổi ý kiến thì toà án mới tiến hành ra quyết định công nhận.Theo quy định tại điều 187 BLTTDS thì hết thời hạn 7 ngày, kể từ ngày lậpbiên bản hòa giải thành mà không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thoảthuận đó thì thẩm phán chủ trì phiên hoà giải hoặc một thẩm phán được Chánhán toà án phân công ra quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự.Thẩm phán chỉ ra quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự nếu họthoả thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án Trong trường hợpquy định tại điều 184.3 của BLTTDS mà các đương sự có mặt thoả thuận đượcvới nhau về việc giải quyết vụ án thì thoả thuận đó chỉ có giá trị đối với nhữngngười có mặt và được thẩm phán ra quyết định công nhận nếu không ảnh hưởng