1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

“Kết nối nguồn lực phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng tại khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước vân long, huyện gia viễn, tỉnh ninh bình”

46 647 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 46
Dung lượng 627,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc phát triển du lịchcộng đồng ở đây góp phần tạo nên sự đa dạng, phong phú về các loại hình và sản phẩm dulịch để thu hút du khách, các chương trình du lịch cộng đồng bước đầu đã thu

Trang 1

1 Tên đề tài/dự án

“Kết nối nguồn lực phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng tại khu bảo tồn thiên

nhiên đất ngập nước Vân Long, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình”

2 Lý do chọn đề tài

Năm 2015, ngành Du lịch Việt Nam đã trải qua lịch sử 55 năm trưởng thành và pháttriển Trong quãng thời gian đó đã ghi nhận nhiều bước thăng trầm của ngành gắn với bốicảnh phát triển chung của đất nước Những năm gần đây, sự phát triển nhanh chóng củangành Du lịch đã góp phần mang lại một số thành tựu quan trọng trong công cuộc phát triểnkinh tế - xã hội của đất nước, đưa Việt Nam trở thành một điểm đến du lịch của nhiều dukhách quốc tế, mang đến cho cộng đồng địa phương nơi có điểm du lịch giải quyết đượcnguồn lao động đáng kể để có thêm thu nhập Tuy nhiên, một thực tế cần được giải quyếtcòn tồn tại đến nay đó là việc phát triển du lịch sẽ tạo ra bao nhiêu việc làm cho người dânnơi có khu du lịch phát triển, và tạo ra bao nhiêu thu nhập cho dân cư địa phương… Chính

vì lẽ đó mà đã có nhiều xu hướng tiếp cận phát triển du lịch khác nhau trong đó có phát triển

30 nghìn tỷ và năm 2000 chỉ đạt 17,4 nghìn tỷ Tốc độ tăng trưởng của tổng thu từ khách dulịch đang tăng nhanh hơn tốc độ tăng trưởng khách du lịch, đóng góp của ngành Du lịch vào

cơ cấu GDP đất nước ngày càng lớn trong bối cảnh tình hình kinh tế trong nước còn nhiềukhó khăn Ngành Du lịch cũng đang góp phần tạo công ăn việc làm, giải quyết an sinh xãhội Đến năm 2013, ước tính đã có trên 1,7 triệu lao động làm việc trong lĩnh vực du lịch,trong đó 550 nghìn lao động trực tiếp và 1,2 triệu lao động gián tiếp

(Nguồn: http://vietnamtourism.gov.vn)

Ninh Bình được biết tới với nền văn hóa đa dạng, giàu bản sắc và các hệ sinh tháiđiển hình Vì thế Ninh Bình có tiềm năng phát triển du lịch lớn, ở đó có du lịch sinh tháidựa vào cộng đồng Nổi lên trong số đó là khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long.Khu du lịch (KDL) sinh thái Vân Long là một trong những vùng đất ngập nước lớn nhấtđồng bằng Bắc Bộ, nằm về phía Đông Bắc tỉnh Ninh Bình trên địa phận 7 xã là: Gia Hưng,Gia Vân, Liên Sơn, Gia Hoà, Gia Lập, Gia Tân và Gia Thanh thuộc huyện Gia Viễn và điểm

Trang 2

khai thác du lịch chính đặt tại xã Gia Vân Với tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân vănphong phú, đa dạng cùng với lịch sử truyền thống lâu đời KDL sinh thái Vân Long có nhiềutiềm năng để phát triển du lịch Du lịch cộng đồng đã được triển khai tại Vân Long từ đầunhững năm 2000 với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương Việc phát triển du lịchcộng đồng ở đây góp phần tạo nên sự đa dạng, phong phú về các loại hình và sản phẩm dulịch để thu hút du khách, các chương trình du lịch cộng đồng bước đầu đã thu hút đượclượng lớn khách du lịch trong nước và quốc tế, đồng thời đem lại hiệu quả thiết thực chocộng đồng địa phương, cụ thể: Trong năm 2015, khu du lịch sinh thái đất ngập nướcVânLong đã đón: 35.353 lượt khách thu về ngân sách xã là 6.38.586.400, tạo việc làm thời vụcho hơn 300 lao động thuộc thôn Tập Ninh và thôn Chi Lễ xã Gia Vân (Nguồn: Báo cáo kếtquả lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ năm 2015 Phương hướng nhiệm vụ năm 2016) Tuy nhiên,

do nhiều nguyên nhân cho đến nay du lịch cộng đồng ở đây vẫn chưa đạt hiệu quả cao, chưatương xứng với tiềm năng của điểm đến Nguyên nhân chính là do chưa có chiến lược pháttriển rõ ràng do đó việc định hướng cũng như công tác tổ chức, quản lý hoạt động du lịchcộng đồng còn gặp nhiều khó khăn như: Cơ cấu quản lý còn mỏng, đội ngũ thực hiện quản

lý chưa có kiến thức/chuyên môn về phát triển du lịch, hoạt động du lịch được thực hiệnthông qua những điểm giới thiệu trung gian từ các điểm quản lý du lịch tư nhân của công tyNgôi sao hay Emeralda Resort Ninh Bình, vì thế mà nguồn thu từ du lịch tới tay người dânhay thu về ngân sách xã hạn chế bởi chỉ nhận được một phần nguồn thu mặt khác tại nơi đâycòn tồn tại những mối đe dọa tiềm ẩn đối với sự đa dạng sinh học và môi trường đang bị đedọa bởi các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là tác động của cộng đồng: Việckhai thác quá mức gỗ và củi là mối đe dọa chính đối với đa dạng sinh học và đã dẫn đếnrừng ở khu vực bị phá hủy do cháy hoặc sạt lở đất Khả năng tái sinh tự nhiên của thảmrừng cũng bị hạn chế nhiều do hoạt động chăn/thả dê trên các núi đá vôi, hoạt động khai thác

đã cũng đã tác động lớn đến môi trường tự nhiên nơi đây Và câu hỏi đặt ra là: “Làm thế nào

để bảo tồn, phát huy bền vững những giá trị đang có ở Vân Long, đồng thời phát huy vai trò của cộng đồng trong phát triển du lịch” Trên quan điểm của chúng tôi, những TTS của

nghề Công tác xã hội, chúng lựa chọn xây dựng dự án phát triển cộng đồng với chủ đề: “Kết nối nguồn lực phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng tại khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình” để từng bước trả lời câu hỏi

đó với hy vọng nội dung mà chúng tôi nghiên cứu sẽ là một trong những ứng dụng thiết thựcvào thực tế tại nơi đây để cộng đồng địa phương tại khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nướcVân Long, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình sẽ có phân bổ được nguồn lao động hợp lý chohoạt động du lịch và có được nguồn thu tương xứng với những gì họ đầu từ và để khu dulịch sinh thái đất ngập nước Vân Long luôn phát triển bền vững cả hiện tại và tương lai

3 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu nhằm mục đích chính là: là tìm hiểu các hoạt động phát triển du lịch tạiKDL sinh thái Vân Long, các nguồn lực hiện có trong cộng đồng, trên thực tế đó sẽ đề ra

Trang 3

các giải pháp, kết nối nguồn lực trong cộng đồng, nhằm nâng cao mức sống của cộng đồngđịa phương, đồng thời giảm áp lực tới môi trường và tài nguyên du lịch góp phần phát triển

du lịch bền vững tại khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long

4 Nhiệm vụ nghiên cứu can thiệp

Để đạt được mục đích trên thì nhiệm vụ cần hoàn thành là:

- Nghiên cứu và hệ thống lại cơ sở lý thuyết có liên quan về DLST, DLST bền vững,DLST dựa vào cộng đồng; hệ thống lý thuyết về Phát triển cộng đồng và dựa vào cộngđồng Vận dụng được lý thuyết phát triển cộng đồng vào thực hiện đề tài;

- Nghiên cứu kinh nghiệm phát triển DLST dựa vào cộng đồng từ các mô hình củacác nước và các tỉnh thành khác làm cở sở cho việc xây dựng dự án nghiên cứu; và vận dụng

nó vào kết nối nguồn lực phát triển du lịch tại KDL sinh thái Vân Long;

- Tìm hiểu thực trạng phát triển du lịch tại KDL sinh thái Vân Long (những điểm tíchcực và chưa tích cực);

- Xác định nhu cầu và nguồn lực sẵn có tại cộng đồng;

- Phân tích và đánh giá nguồn lực của cộng đồng, xác định phương pháp kết nốinguồn lực cộng đồng vào thực hiện phát triển du lịch dựa vào cộng đồng;

- Khuyến khích và hỗ trợ sự tham gia của cộng đồng;

- Liên kết và huy động nguồn lực cộng đồng

- Xây dựng kế hoạch dựa vào nguồn lực cộng đồng

- Đề xuất các giải pháp phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng tại khu bảo tồnthiên nhiên đất ngập nước Vân Long, tiến hành xây dựng khung mẫu về phát triển du lịchsinh thái dựa vào cộng đồng tại khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long

5 Câu hỏi nghiên cứu can thiệp

Thực trạng phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng tại Khu bảo tồn thiên nhiênđất ngập nước Vân Long hiện nay đang diễn ra như thế nào?

Người dân trong cộng đồng tại Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long cónhu cầu, mong muốn nào khi tham gia hoạt động phát triển dịch vụ du lịch sinh thái không,nếu có thì đã được đáp ứng như thế nào?

Cần làm gì để có thể kết nối nguồn lực phát triển du lịch sinh thái tại khu bảo tồnthiên nhiên đất ngập nước Vân Long, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình?

6 Giả thuyết nghiên cứu can thiệp

Hoạt động phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng tại khu bảo tồn thiên nhiênđất ngập nước Vân Long đã được triển khai, tuy nhiên chưa phát huy tốt nguồn lực tại cộngđồng vào tham gia hoạt động du lịch

Người dân trong cộng đồng tại khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long cónhu cầu tham gia nhiều hơn nữa vào các hoạt động du lịch như: xây dựng nhà lưu trú tại gia

Trang 4

đình để phục vụ khách du lịch có nhu cầu lưu trú; giới thiệu những món ẩm thực truyềnthống của quê hương tới khách du lịch… tuy nhiên nhu cầu này của người dân trong cộngđồng vẫn còn bị hạn chế bởi nhiều yếu tố khác nhau (nguồn vốn xây dựng cơ sở vật chấtphục vụ khách du lịch, kỹ năng làm du lịch…)

Cần áp dụng mô hình phù hợp phát triển du lịch dựa vào cộng đồng với điều kiệnthực tế tại khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long, mà theo nhóm TTS nhận thấy

đó là phát huy vai trò của TVCĐ trong hoạt động: “Kết nối nguồn lực phát triển du lịch tạikhu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình”

7 Phương pháp nghiên cứu can thiệp

Để thực hiện nhiệm vụ và mục tiêu đặt ra, nhóm TTS sử dụng một số phương phápnghiên cứu chủ yếu sau:

7.1 Phương pháp thu thập thông tin

Thu thập thông tin cơ bản về hoạt động du lịch cộng đồng ở KDL sinh thái VânLong từ các nguồn chính thống như UBND xã Gia Vân, Sở VHTTDL tỉnh Ninh Bình Cácthông tin này chủ yếu được thu thập từ năm 2014 đến 2015, phục vụ cho công tác phân tích,trích dẫn tài liệu Ngoài ra, các dữ liệu được thu thập từ các nguồn như sách, giáo trình, báo,tạp chí chuyên ngành, các báo cáo, các đề tài nghiên cứu khoa học của tỉnh Ninh Bình, cácthông tin trên mạng Internet

7.2 Phương pháp khảo sát thực địa

Khảo sát thực địa được tiến hành tại KDL sinh thái Vân Long Phương pháp nàynhằm điều tra tổng hợp về điều kiện tự nhiên, xã hội, tìm hiểu giá trị tài nguyên du lịch, dịch

vụ, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch của đối tượng nghiên cứu Đồng thời, việc khảosát thực địa tại địa phương đã giúp tác giả đánh giá thực trạng hoạt động 13 du lịch cộngđồng tại địa phương, đó là cơ sở thực tế giúp TTS xác định nhu cầu và nguồn lực hiện có tạicộng đồng và đề xuất một số giải pháp phát triển du lịch cộng đồng phù hợp với địa phương

7.3 Phương pháp Điều tra xã hội học

Phương pháp điều tra xã hội học được thực hiện thông qua việc thu thập số liệu bằngbảng hỏi và phỏng vấn sâu

Bảng hỏi được thiết kế dành cho hai đối tượng là người dân địa phương có tham giahoạt động du lịch và khách du lịch đến Vân Long Tổng số bảng hỏi khảo sát là: 30 bảng hỏidành cho người dân địa phương và 50 bảng hỏi dành cho khách du lịch đến Vân Long

Ngoài ra, TTS còn sử dụng phương pháp lấy ý kiến chuyên gia thông qua phỏng vấntrực tiếp các cán bộ, chuyên gia du lịch của Trạm Du lịch Vân Long các cán bộ của chínhquyền địa phương

Phỏng vấn người dân trong cộng đồng địa phương tham gia phục vụ du lịch: chèothuyền, trông giữ xe, dọn dẹp vệ sinh, hướng dẫn viên du lịch Phỏng vấn cộng đồng địaphương không tham gia du lịch (trồng lúa, nuôi dê, trồng rau…)

Trang 5

7.4 Phương pháp phân tích và tổng hợp

Phương pháp này là nhằm lựa chọn, sắp xếp các thông tin, số liệu, dữ liệu từ cácnguồn thứ cấp, sơ cấp để định lượng chính xác và đầy đủ phục vụ cho mục đích, yêu cầunghiên cứu, làm cơ sở cho việc nhìn nhận, đánh giá tổng thể về đối tượng nghiên cứu

8 Cơ sở lý luận về “Nghiên cứu phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng tại khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình”

8.1 Các khái niệmcông cụ

8.1.1 Khái niệm du lịch

Theo Tổ chức Du lịch Thế giới (World Tourist Organization): Du lịch bao gồm tất cả

mọi hoạt động của những người du hành, tạm trú, trong mục đích tham quan, khám phá vàtìm hiểu, trải nghiệm hoặc trong mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn; cũng như mục đíchhành nghề và những mục đích khác nữa, trong thời gian liên tục nhưng không quá một năm,

ở bên ngoài môi trường sống định cư; nhưng loại trừ các du hành mà có mục đích chính làkiếm tiền Du lịch cũng là một dạng nghỉ ngơi năng động trong môi trường sống khác hẳnnơi định cư

Còn theo luật du lịch năm 2005 thì: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đếnchuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầutham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định” [1, Điều 3]

8.1.2 Khái niệm Khách du lịch

Theo luật du lịch năm 2005 thì: “Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi dulịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến” [2, Điều3]

8.1.3 Cơ sở lưu trú du lịch

Theo luật du lịch năm 2005 thì: “Cơ sở lưu trú du lịch là cơ sở cho thuê buồng,giường và cung cấp các dịch vụ khác phục vụ khách lưu trú, trong đó khách sạn là cơ sở lưutrú du lịch chủ yếu” [12, Điều 3]

8.1.4 Du lịch bền vững

Theo luật du lịch năm 2005 thì: “Du lịch bền vững là sự phát triển du lịch đáp ứngđược các nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu về du lịchcủa tương lai” [18, Điều 3]

8.1.5 Du lịch sinh thái

Ở Việt Nam vào năm 1999 trong khuôn khổ hội thảo xây dựng chiến lược quốc gia

về phát triển du lịch sinh thái đã đưa ra định nghĩa như sau: “Du lịch sinh thái là hình thức

du lịch thiên nhiên có mức độ giáo dục cao về sinh thái và môi trường có tác động tích cựcđến việc bảo vệ môi trường và văn hóa, đảm bảo mang lại các lợi ích về tài chính cho cộngđồng địa phương và có đóng góp cho các nỗ lực bảo tồn”

Trang 6

Theo Hiệp hội DLST Hoa Kỳ, năm 1998 “DLST là du lịch có mục đích với các khu

tự nhiên, hiểu biết về lịch sử văn hóa và lịch sử tự nhiên của môi trường, không làm biến đổitình trạng của hệ sinh thái, đồng thời ta có cơ hội để phát triển kinh tế, bảo vệ nguồn tàinguyên thiên nhiên và lợi ích tài chính cho cộng đồng địa phương”

Một định nghĩa khác của Honey (1999) “DLST là du lịch hướng tới những khu vựcnhạy cảm và nguyên sinh thường được bảo vệ với mục đích nhằm gây ra ít tác hại và vớiquy mô nhỏ nhất Nó giúp giáo dục du khách, tạo quỹ để bảo vệ môi trường, nó trực tiêpđem lại nguồn lợi kinh tế và sự tự quản lý cho người dân địa phương và nó khuyên kích tôntrọng các giá trị về văn hóa và quyền con người”

Theo luật du lịch năm 2005 thì: “Du lịch sinh thái là hình thức du lịch dựa vào thiênnhiên, gắn với bản sắc văn hoá địa phương với sự tham gia của cộng đồng nhằm phát triểnbền vững” [19, Điều 3]

8.1.6 Du lịch văn hóa

Theo luật du lịch năm 2005 thì: “Du lịch văn hóa là hình thức du lịch dựa vào bản sắcvăn hoá dân tộc với sự tham gia của cộng đồng nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoátruyền thống” [20, Điều 3]

8.1.7 Du lịch sinh thái cộng đồng

Theo nhà nghiên cứu Nicole Hausle và Wollfgang Strasdas (2009): "Du lịch sinh tháicộng đồng là một hình thái du lịch trong đó chủ yếu là người dân địa phương đứng ra pháttriển và quản lý Lợi ích kinh tế có được từ du lịch sẽ đọng lại nền kinh tế địa phương"

Theo tổ chức Respondsible Ecological Social Tours (1997) thì du lịch sinh thái cộngđồng là "phương thức tổ chức du lịch đề cao về môi trường, văn hóa xã hội Du lịch sinh tháicộng đồng do cộng đồng sở hữu và quản lý, vì cộng đồng và cho phép khách du lịch nângcao nhận thức và học hỏi về cộng đồng, về cuộc sống đời thường của họ"

và tinh thần từ phát triển du lịch và bảo tồn thiên nhiên” [16,tr34]

8.1.9 Khái niệm du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng

Du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng là loại hình du lịch sinh thái giúp cho du khách,người dân địa phương thấu hiểu, tận hưởng và bảo vệ môi trường thiên nhiên và di sản vănhóa tồn tại chung quanh cộng đồng,đồng thời tạo ra lợi ích kinh tế cho người dân địaphương (Trung tâm Du lịch sinh thái và Giáo dục môi trường Vườn Quốc gia Bidoup NúiBà)

8.1.10 Cộng đồng

Trang 7

Theo quan điểm Mac-xít, cộng đồng là mối quan hệ qua lại giữa các cá nhân, đượcgiải quyết bởi sự đồng hóa lợi ích giống nhau của các thành viên về các điều kiện tồn tại vàhoạt động của những người hợp thành cộng đồng đó, bao gồm các hoạt động sản xuất và cáchoạt động khác của họ, sự gần gũi các cá nhân về tư tưởng, tín ngưỡng, hệ giá trị chuẩn mựccũng như các quan niệm chủ quan của họ về các mục tiêu và phương tiện hoạt động.

Cộng đồng còn được hiểu theo nghĩa thông thường là những người có đặc điểm hoặcmối quan tâm, lợi ích chung Bao gồm:

- Cộng đồng địa lý: Có cùng địa bàn, cùng lợi ích hoặc cùng mối quan tâm; Có chung đặcđiểm văn hóa – xã hội; Có mối quan hệ giàng buộc

- Cộng đồng chức năng: Có cùng hoặc không cùng địa phương hoặc địa bàn cư trú; Có cùnglợi ích (nghề nghiệp, sở thích, hợp tác…)

8.1.11 Phát triển

Theo nghĩa hiểu thông thường Phát triển là quá trình cải thiện về số lượng và chấtlượng, về vật chất và tinh thần nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của các thành viêntrong cộng đồng

8.1.12 Phát triển cộng đồng

Khái niệm phát triển cộng đồng được Chính phủ Anh sử dụng đầu tiên, 1940: “Pháttriển Cộng đồng là một chiến lược phát triển nhằm vận động sức dân trong các cộng đồngnông thôn cũng như đo thị để phối hợp cùng những nỗ lực của nhà nước để cải thiện cơ sở

hạ tầng và tăng khả năng tự lực của cộng đồng”

Định nghĩa của LHQ, 1956: “Phát triển cộng đồng là những tiến trình qua đó nỗ lựccủa dân chúng kết hợp với nỗ lực của chính quyền để cải thiện các điều kiện kinh tế, xã hội,văn hóa của các cộng đồng và giúp các cộng đồng này hộ nhập và đóng góp vào đời sốngquốc gia”

Theo ThS Nguyễn Thị Oanh, 1995: “Phát triển cộng đồng là một tiến trình làmchuyển biến cộng đồng nghèo, thiếu tự tin thành cộng đồng tự lực thông qua việc giáo dụcgây nhận thức về tình hình, vấn đề hiện tại của họ, phát huy các khả năng và tài nguyên sẵn

có, tổ chức các hoạt động tự giúp, bồi dưỡng và củng cố tổ chức và tiến tới tự lực pháttriển”

8.1.13 Nguồn lực

Trong thực tế, những thứ được coi là nguồn lực phải là những thứ được sử dụng hoặc

có khả năng sử dụng trong thời kỳ dự kiến phát triển Tiềm năng chưa đưa được vào sử dụngthì chưa được xem là nguồn lực

Các nguồn lực được xem xét dưới nhiều góc độ Có nghĩa là dưới nhiều góc độ,người ta chia các nguồn lực thành các loại khác nhau để có thái độ đúng đắn và có cách ứng

xử với chúng thích hợp

8.1.14 Kết nối

Trang 8

Theo từ điển Tiếng Việt: “Kết nối là sự kết lại với nha từ nhiều thành phần hoặc tổchức riêng rẽ”.

8.1.15 Kết nối nguồn lực

Kết nối nguồn lực được hiểu theo cách vận dụng và sử dụng trong công tác phát triểncộng đồng là: “Sự gắn kết các nguồn lực của cộng đồng vốn đang rời rạc thành một thểthống nhất, vừa có mối quan hệ chặt chẽ ảnh hưởng, vừa có sự tương tác, tác động qua lại để

bổ sung cho nhau nhằm hỗ trợ cộng đồng yếu kém thành cộng đồng tự lực và phát triển”

8.2 Mô hình can thiệp

Trong phạm vi đề tài nghiên cứu, nhóm TTS giới thiệu một số mô hình phát triểnsinh thái dựa vào cộng đồng và chọn ra mô hình phù hợp với thực tế tại địa điểm mà nhómTTS thực hành:

8.2.1 Mô hình ABCD

8.2.1.1 Khái niệm cách tiếp cận ABCD

Trong thuật ngữ chuyên môn, ABCD là bốn chữ viết tắt của Asset – basedCommunity Development, trong đó:

A: Asset Tài sản, nguồn lực

Ít người nhận thức (hiểu biết) có bao nhiêu nguồn lực của một cộng đồng bất kỳnhư:

- Kỹ năng của người dân, từ người trẻ đến người khuyết tật, từ người có chuyênmôn, thành đạt đến người nghệ sĩ nghèo,…

- Sự cống hiến, đóng góp của các hội đoàn dân sự như: nhà thờ, các nhóm vănhóa, câu lạc bộ, hội đồng hương/ hàng xóm,…

Trang 9

- Các nguồn lực từ các tổ chức (thiết chế) chính thức như: kinh tế/ doanhnghiệp, trường học, thư viện, trường học cộng đồng, bệnh viện, công viên, các tổ chức

xã hội

ABCD là một chiến lược phát triển cộng đồng bền vững Vượt trên sự huy độngcủa một cộng đồng riêng biệt Cách tiếp cận ABCD quan tâm đến việc làm thế nào đểnối kết nguồn lực vi mô với môi trường vĩ mô Nói một cách khác, ABCD quan tâmđến những ranh giới của cộng đồng và làm thế nào đặt cộng đồng trong mối quan hệvới các thiết chế, tổ chức hội đoàn ở địa phương và môi trường kinh tế bên ngoài mà

sự phồn vinh liên tục của cộng đồng tùy thuộc vào đó

Cách tiếp cận ABCD chú ý đến nguồn lực xã hội: tài năng, năng lực của cánhân, và mối quan hệ xã hội mà nó truyền “lửa” cho các hội đoàn thể địa phương vànhững mạng lưới không chính thức ABCD nhận thức về vai trò và những khả năngcủa cộng đồng trong việc lèo lái tiến trình phát triển bằng cách nhận dạng và huyđộng những nguồn lực hiện có nhưng thường không được nhận ra hay không được tậndụng, vì thế đáp ứng và tạo ra cơ hội tại địa phương

ABCD thu hút được sự chú ý của các nhà phát triển cộng đồng với tư cách làmột chiến lược, nhằm kích thích và duy trì sự phát triển trong các vùng gần thành thị

và các cộng đồng ở nông thôn Nó cũng thu hút sự đồng tình của một số người tuykhông nhiều nhưng tận tâm Đó là những người đã bị vỡ mộng với cách tiếp cận pháttriển cộng đồng dựa trên nhu cầu, do đó, nó mở ra triển vọng là kích thích sáng kiếnđịa phương và tăng cường hành động tập thể

8.2.1.2 Lịch sử phương pháp Phát triển cộng đồng dựa vào nội lực trên thế giới và ở

Việt Nam (Nguyễn Đức Vinh, Thị Vinh 2012 Tài liệu tập huấn Phương pháp tiếp cận

phát triển cộng đồng dựa vào nội lực và do người dân làm chủ Kiên Giang).

Lịch sử phát triển cộng đồng trên thế giới và của Việt Nam đã cho thấy nhiềubài học thành công bắt đầu từ phát huy nội lực Qua kết quả nghiên cứu các sáng kiếnphát triển cộng đồng thành công từ các phong trào về quyền công dân ở nhiều bangkhác nhau ở Hoa Kỳ, John McKnight và Jody Kretzman thuộc viện nghiên cứu chínhsách của trường đại học Northwestern, bang Illinois đã xây dựng phương pháp “Pháttriển cộng đồng dựa vào tài sản” hay “ABCD” Những đặc điểm cơ bản của phươngpháp được hai ông trình bày trong cuốn sách viết năm 1993 với tựa đề: “Gây dựngcộng đồng theo hướng từ bên trong ra: Một hướng đi về tìm kiếm và huy động các tàisản của cộng đồng”

Phương pháp đã kế thừa và được phát triển từ bài học thực tiễn và một lý thuyết trongphát triển cộng đồng Cơ sở của phương pháp ABCD bắt đầu từ một thực tế của cáccộng đồng đã huy động được thế mạnh của mình để phát triển Phương pháp được tạmdịch sang tiếng Việt là “Phát triển cộng đồng dựa vào nội lực và do người dân làm

Trang 10

chủ” để tránh nghĩa hẹp về tài sản (Nhà cửa, tiền bạc…) và phù hợp hơn với ngữ cảnhcủa Việt Nam.

Tiếp cận ABCD là một trong các phương pháp phát triển cộng đồng được sửdụng ngày càng phổ biến trong những năm gần đây ở nhiều quốc gia trên thế giới Bắtđầu ở Mỹ, phương pháp này đã lan rộng sang các nước khắp các châu lục như Canada,Anh, Úc, Newzeland, Ecuador, Kenya,… Nhiều chương trình tập huấn, các mô hình

áp dụng, hội thảo về ABCD đã được tổ chức hàng năm trên thế giới như ở Mỹ,Canada, Austraylia, thu hút nhiều chuyên gia và các nhà hoạch định chính sách traođổi về lý luận và thực hành của phương pháp ABCD: năm 2008 hội thảo về ABCDChâu Á – Thái Bình Dương được tổ chức tại trường đại học tổng hợp Newcaste,Austraylia; năm 2009 một hội thảo khác về ABCD cũng được học viện quốc tế Coady,Canada tập huấn cho cựu học sinh IFP và một số cán bộ của các tổ chức phi chính phủ

và cơ quan nhà nước với sự tài trợ của trung tâm trao đổi giáo dục với ViệtNam(CEEVN) năm 2006 tại Đại học An Giang Cho đến nay Học viện Quốc tế Coady

đã đào tạo cho Việt Nam hơn hai mươi người là cán bộ từ các cơ quan nhà nước và tổchức phi chính phủ Nhiều khóa học, hội thảo, tư vấn, nghiên cứu về phương phápABCD đã được thực hiện tại một số tỉnh thành trong cả nước như Trung tâm Nghiêncứu – Tư ván Công tác xã hội và Phát triển cộng đồng (SDRC) tại Thành phố Hồ ChíMinh, Trung tâm khoa học sản xuất lâm nghiệp vùng Tây Bắc và Đại học Tây Bắc tạitỉnh Sơn La, tổ chức CRS tổ chức tại Hà Nội, Thanh Hóa, Trung tâm nghiên cứu vàquản lý tài nguyên tại Huế, Hội người khuyết tật thành phố Cần Thơ, UBND tỉnhĐồng Nai, Kiên Giang Năm khóa tập huấn thường niên do trung tâm trao đổi giáodục với Việt Nam tổ chức đã có hơn 130 cựu học sinh IFP và các đối tác tham dự Cáckhóa tập huấn mở rộng, các buổi giới thiệu với Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nôngthôn Việt Nam Mô hình thí điểm phát triển nông thôn mới của bộ NN và PTNT đã áp dụngtiếp cận ABCD: Từ năm 2007-2009 Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông Nghiệp xây dựng 12

mô hình, Viện Chính sách và Chiến lược Phát triển Nông nghiệp Nông thôn xây dựng 5 môhình Nội dung của phương pháp cũng đã được đưa vào giáo trình giảng dạy cho sinh viêntại trường Đại học An Giang, trường Đại học mở TP Hồ Chí Minh Một số tổ chức tại ViệtNam cũng đã và đang áp dụng phương pháp này trong chương trình của mình như tổ chứcNMA (Norwegian Mision Alliance), tổ chức DRD Khuyết tật và Phát triển, tổ chức MCC(Mennonite Central Committee), tổ chức Maryknoll, Tổ chức World Vision Một nghiên cứu

về câu chuyện thành công của HTX Tre Trúc Thu Hồng đã được thực hiện với sự hợp tácgiữa Trung tâm Phát triển Cộng đồng Nông thôn, Bộ NN và PTNT và Học viện Quốc TếCoady-Canada Hội thảo quốc gia lần thứ nhất về ABCD “Phát Triển Bền Vững dựa vào NộiLực” đã được Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội và Trung Tâm trao đổi Giáo dục vớiViệt Nam đồng tổ chức vào ngày 13-14/11/2010 tại Hà Nội Hội thảo đã chia sẻ kinhnghiệm áp dụng ABCD trong các lĩnh vực và vùng miền khác nhau để đưa ra phương hướng

Trang 11

nhân rộng ABCD tại Việt Nam Tuyển tập những câu chuyện thành công từ phát huy nội lực

đã được thu thập và xuất bản nhằm giới thiệu các thành công của cộng đồng bắt đầu từ pháthuy nội lực câu chuyện trong các lĩnh vực phát triển từ Bắc đến Nam: phát triển nông thôn,

y tế, văn hóa giáo dục, môi trường, tạo việc làm, công tác xã hội, xây dựng cơ sở hạ tầng,quản lý đã cho thấy các yếu tố ABCD đã có ở Việt Nam và có khả năng áp dụng phươngpháp này trong phát triển)

ABCD – Một cách tiếp cận phát triển khác

ABCD là một phương pháp tiếp cận không bắt đầu từ “nhu cầu” mà tiếp cận từ

"nội lực" của cộng đồng Tiếp cận theo nhu cầu tập trung vào nhu cầu, sự thiếu hụt vàcác vấn đề của cộng đồng Đây hoàn toàn do cách nhìn nhận của chúng ta khi chúng tacoi nhu cầu, sự thiếu hụt và các vấn đề là thực tế toàn bộ hiện trạng của cộng đồng Phươngpháp “tiếp cận theo nhu cầu” đã từng được các nhà tài trợ và các tổ chức phi chính phủ sửdụng và dùng các hỗ trợ từ bên ngoài (tài chính, kỹ thuật…) để đáp ứng nhu cầu cộng đồng

và thực hiện sứ mệnh hoặc chủ định của tổ chức mình hay của nhà tài trợ Khác với cácphương pháp ấy, ABCD giúp chúng ta có thể nhìn thấy các điểm mạnh, các tiềm năng củacộng đồng và lấy chúng làm đòn bẩy đề khơi dậy và hướng dẫn người dân phát triển cộngđồng của họ

Phương pháp tiếp cận dựa vào nội lực nhìn nhận khả năng của người dân và các

tổ chức tự nguyện của họ là nguồn lực xây lên một cộng đồng mạnh mẽ Với cách nhìn này,cộng đồng có thể gắn kết các sức mạnh theo một khối tổng hòa mới, các cơ hội mới, cácnguồn thu nhập và các khả năng mới khác cho phát triển sản xuất và phát triển cộng đồng “Đối tượng thụ hưởng”có các nhu cầu và thiếu hụt “ Người công dân” cócác năng lực và khả năng thiên phú

Tóm lại: nguyên lý chung của Phương pháp tiếp cận ABCD là một cách tiếp cận mới

trong phát triển cộng động mang tính tích cực, bắt đầu từ việc khơi dậy và phát huy nhữngđiểm mạnh, năng lực vốn có và thành công của cộng đồng làm điểm bắt đầu của sự thay đổi

Từ đó xây dựng một tầm nhìn dài hạn cho cộng đồng với các kế hoạch phát triển cộng đồng

cụ thể, phù hợp với các nguồn lực sẵn có Một chiến lược cho sự phát triển bền vững: Pháttriển vận động từ bên trong ra, dựa vào nội lực trước khi tìm kiếm các hỗ trợ từ bên ngoài,liên kết nguồn lực bên trong với môi trường bên ngoài

Nội lực của cộng đồng gồm năm nguồn lực chính: con người, tài chính, cơ sởvật chất-hạ tầng, tài nguyên thiên nhiên và vốn xã hội Tài sản xã hội được đưa vào trọng tâm của huy động nội lực, tập trung vào các mối liên kết và năng lực hợp tác của các nhóm, tổ chức trong cộng đồng

Cơ sở chủ yếu của phương pháp là sự tham gia của người dân như một công dân tíchcực

Trang 12

Các tổ chức bên ngoài cộng đồng (như các tổ chức phi chính phủ, cơ quan phát triển của chính phủ…) chỉ đóng vai trò hỗ trợ, thúc đẩy, hoặc là cầu nối để giúp cộng đồng có thể liên kết và huy động các hỗ trợ từ bên ngoài cho các hoạt động của họ Cộng đồng địa phương được trao quyền ở cấp độ cao nhất, từ việc lập kế hoạch, ra quyết định và thực hiện các hoạt động, họ “cầm lái” quá trình phát triển của mình

Sử dụng tổng hợp các kỹ thuật để phân tích, huy động và liên kết các nguồn lực

Phát triển du lịch sinh thái tạo sinh kế tích cực cho cộng đồng

Hoạt động du lịch sinh thái vùng cửa sông và ven bờ tại KBT biển Cù Lao Chàm đangphát triển mạnh mẽ Từ vài nghìn du khách vào năm 2004 đến hơn 195.000 du khách thămđảo vào năm 2013, cùng với các loại hình sinh kế tích cực cho cộng đồng, đã nâng thu nhậpbình quân hàng năm của người dân nơi đây từ 6 triệu đồng năm 2005 đến 24 triệu đồng vàonăm 2012

Theo báo cáo của Ban quản lý KBT, du lịch sinh thái phát triển đã và đang tạo cơ hộicho người dân nơi đây cải thiện sinh kế và nâng cao chất lượng cuộc sống Đến năm 2013 đã

có trên 485 người dân địa phương trong tổng số 560 hộ gia đình tham gia trực tiếp vào hoạtđộng du lịch sinh thái, với các loại hình sinh kế mang lại hiệu quả cao như: Mô hình dánnhãn sinh thái cua đá, nói không với túi ni lông, phân loại rác tại nguồn, lưu trú nhà dân…Thu nhập được nâng cao, chất lượng cuộc sống được cải thiện là động lực cho người dântham gia vào hoạt động BVMT và tài nguyên vùng đảo

Đến nay, du lịch sinh thái Cù Lao Chàm đã nâng lên một tầm mới Nơi đây thực sự trởthành sản phẩm mục tiêu trong phát triển du lịch của Hội An và Quảng Nam Tại điểm cuốicủa vùng hạ lưu, các sản vật được chuyển vào đất liền hoặc phục vụ du lịch trên đảo baogồm các sản phẩm thủy sản, cua đá, lá rừng, võng ngô đồng Tuy nhiên các sản vật tự nhiênnày đang ngày càng bị suy giảm và bài toán cần được cần được các nhà quản lý tính đến là:Phát triển du lịch sinh thái phải đi đôi với bảo tồn nguồn lực tự nhiên

Trang 13

Chú trọng bảo vệ, bảo tồn nguồn lợi tự nhiên KBT biển Cù Lao Chàm

Phát triển du lịch sinh thái luôn gắn liền mật thiết với đời sống kinh tế của người dân địaphương Vì vậy, phát triển du lịch sinh thái chính là sinh kế tích cực của địa phương Nhưvậy, sinh kế cộng đồng phải dựa trên 5 nguồn lực bao gồm: Tự nhiên, xã hội, con người, tàichính, vật chất và cơ sở hạ tầng Tuy nhiên nguồn lực tự nhiên của KBT biển đang bị suygiảm nghiêm trọng, cần phải được bảo vệ, bảo tồn

Các hệ sinh thái rạn san hô, thảm cỏ biển, quần cư rong biển, rừng tự nhiên, bãi cát…lànguồn lực tự nhiênquan trọng hỗ trợ cho sự phát triển du lịch sinh thái Cù Lao Chàm - Hội

An Theo số liệu thống kê, KBT biển có 736 loài thuộc 263 giống của các nhóm sinh vật chủyếu trong hệ sinh thái rạn san hô, cụ thể: Cỏ biển có 5 loài thuộc 3 giống, rong biển kíchthước lớn có 76 loài thuộc 46 giống, san hô tạo rạn có 277 loài thuộc 40 giống, cá rạn san hô

có 270 loài thuộc 105 giống, thân mềm có 97 loài thuộc 61 giống và da gai có 11 loài thuộc

8 giống Hiện nay, một số loài này bị suy giảm nghiêm trọng do hiện tượng chất lượng nước

bị ô nhiễm Tình trạng mở đường quanh đảo, xây dựng bờ kè, sửa chữa tàu, thuyền và cáccông trình hạ tầng hay việc xả rác thải bữa bãi cũng là một trong những nguyên nhân tácđộng đến các vùng rạn san hô

Bên cạnh đó, việc khai thác nguồn lợi thủy sản quá mức và sử dụng các phương phápđánh bắt mang tính hủy diệt, không bền vững của các ngư dân đang làm cho nguồn lợi hảisản ở khu vực này bị suy giảm và có xu hướng cạn kiệt Biểu hiện qua số lượng cá thể giảmdần, kích thước cá thể bé dần Đây là thách thức lớn đối với nguồn lực tự nhiên phục vụ pháttriển du lịch sinh thái lâu bền

Theo Ban quản lý (BQL) KBT, sản lượng khai thác hải sản trước đây của Cù Lao Chàmkhoảng hơn 1.500 tấn mỗi năm, nhưng đến nay chỉ còn 800 tấn/năm từ khi có KBT biển và

du lịch sinh thái, trong đó tổng sản lượng tôm hùm khai thác tại Cù Lao Chàm còn khoảng

15 tấn/năm, ốc vú nàng con cònkhoảng 5 tấn/năm Ba loại ốc vú khác là ốc vú nàng vú, ốc

vú nàng hang và các loài cá rạn, bào ngư, điệp quạt, sao biển, trai tai tượng, cá cảnh, cuađá… hiện đang nằm trong danh sách có nguy cơ tuyệt chủng ở các mức độ khác nhau

Để khắc phục tình trạng trên, BQL KBT biển Cù Lao Chàm đã mở rộng hướng bảo tồnvào các vùng bờ, vùng cửa biển và phục hồi rừng ngập mặn, các bãi sậy, đụn cát trong vùngcửa sông và đặc biệt là phục hồi các rạn san hô Từ năm 2013, KBT biển Cù Lao Chàm đãứng dụng công nghệ phục hồi san hô và nuôi cấy tại vùng phục hồi 4.800 loài san hô và tạivườn ươm 750 loài Tỷ lệ sống của san hô nuôi cấy tại vườn ươm khoảng 87% và tại vùngphục hồi là 74%

Cùng với đó, Ban quản lý KBT phối hợp chính quyền địa phương thông qua các chươngtrình đào tạo xây dựng 12 mô hình sinh kế mới gắn liền với hoạt động du lịch sinh thái tạiđịa phương tạo cơ hội nâng cao thu nhập và cải thiện chất lượng cuộc sống

Mặt khác, các lực lượng chức năng như công an xã, biên phòng, kiểm ngư, dân quân xã

và bảo tồn biển đã phối kết hợp chặt chẽ và hỗ trợ nhau trong công tác tuần tra, kiểm soát,

Trang 14

quản lý và bảo vệ, đến nay đã thực hiện tổng cộng 660 lượt kiểm tra, phát hiện và xử lý 162trường hợp vi phạm, trong đó có 101 trường hợp vi phạm đã bị phạt tiền với tổng số72.400.000 đồng.

Các mô hình sinh kế du lịch mới và người tham gia tại Cù Lao Chàm

8.2.3 Mô hình phát triển Du lịch cộng đồng tại Bản Lác, Mai Châu, Hòa Bình

Đặc điểm của Bản Lác

Bản Lác là một bản miền núi thuộc xã Chiềng Châu huyện Mai Châu., cách thủ đô

Hà Nội khoảng 140 km Cộng đồng cư trú ở đây chủ yếu là người Thái trắng Người Tháitrắng sinh sống ở bản Lác có nền văn hóa phát triển lâu đời, họ đã định cư ở bản Lác trên

700 năm, gồm 5 dòng họ Hà, Lò, Vì, Mác, Lộc, đến nay còn lưu giữ được nhiều giá trị vănhóa đặc sắc như: trang phục của người phụ nữ Thái, phong tục đón khách của dân tộc Thái,cộng đồng người Thái, văn hóa ẩm thực… Toàn huyện hiện có 12 di tích, danh thắng, trong

đó có 5 di tích được công nhận là di tích cấp quốc gia Ngoài ra, Mai Châu còn là địaphương lưu giữ kho tàng văn nghệ dân gian phong phú với những nét đặc trưng của dân tộcThái, Mông qua các hoạt động của người xưa trong các lễ hội, như: lễ hội “Cầu mưa”, lễ hội

“Chá chiêng” của dân tộc Thái và lễ hội “Gầu tào” của dân tộc Mông… Hoạt động du lịchcộng đồng tại bản Lác Trước đây dân bản chỉ sống dựa vào nghề trồng lúa, làm nương và

Trang 15

dệt thổ cẩm Sau này, vẻ đẹp tiềm ẩn của Bản Lác đã dần được du khách khám phá Vàonhững năm 1970, bản Lác là điểm đón các chuyên gia, các đoàn ngoại giao nước ngoài đếnViệt Nam Năm 1993, UBND huyện Mai Châu chính thức đề nghị tỉnh Hòa Bình cho phépkhách du lịch nghỉ qua đêm trong bản Cũng từ đó, cái tên bản Lác đã được nhiều người biếtđến Từ năm 1995, du lịch cộng đồng tại bản Lác ngày càng phát triển Số hộ dân làm dulịch cộng đồng tăng từ 1-2 hộ từ những năm 60 của thế kỷ 20 đến năm 1995 đã có trên 40nhà Đến năm 2012, huyện Mai Châu ngoài 2 nhà nghỉ, 2 khách sạn, ở các xã, thị trấn có 54nhà nghỉ cộng đồng Các hoạt động du lịch cộng đồng - Đón khách nghỉ tại nhà dân: toànbản hiện có hơn 100 hộ gia đình Hiện đã có 37 hộ cung cấp các dịch vụ phục vụ khách dulịch Khách du lịch lưu trú tại các nhà sàn của các hộ gia đình Mỗi nhà có thể lưu trú được

từ 3050 khách du lịch Khách được cung cấp đệm lau trải xuống sàn, chăn, gối và màn Phục vụ ăn uống: Trong bản Lác không có quán ăn Chủ nhà trực tiếp phục vụ ăn uống chokhách du lịch Tùy theo nhu cầu của khách mà họ đưa ra các thực đơn khác nhau Thực đơnkhá phong phú mang đậm nét đặc trưng bản địa nhưng vẫn phù hợp với khách du lịch -Biểu diễn văn nghệ: Cả Bản Lác thường xuyên có 6 đội văn nghệ, ban ngày đi làm ruộng,làm nương, buổi tối biểu diễn phục vụ khách du lịch, một chương trình biểu diễn khoảng 30phút gồm các tiết mục văn nghệ đặc sắc, múa truyền thống dân tộc Thái, dân tộc Mường vàdân tộc Mông, những bài hát ca ngợi quê hương Tây Bắc của Tổ quốc Tái hiện lễ hội CháChiêng của dân tộc Thái…Các đội múa được chia ra thành nhiều lứa tuổi đồng đều, đội trẻtuổi mười tám, đôi mươi Đội nam nữ có một con, đội 2 con, mỗi đội văn nghệ thường có 5

-cô gái và 4-5 chàng trai Các ông, các bà từ tuổi trung niên trở lên ở Bản Lác hầu hết đềubiết múa hát và họ chỉ múa, hát khi có khách quý cùng tuổi ông tuổi bà với nhau Khách đếnbản Lác không phỉa trả tiền xem biểu diễn sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ nhưng phải trảtiền xem biểu diễn văn nghệ Cuối năm, các hội dân trong bản có trách nhiệm đóng góp 10%thu nhập của mình cho chính quyền địa phương, 90% thu nhập còn lại các hộ dân thườngdùng để nâng cấp nhà cửa

- Hướng dẫn khách tham quan các tuyến đi bộ trong địa bàn Mai Châu: Cộng đồngtại bản Lác có dịch vụ dẫn đường cho khách theo các tuyến: bản Lác – Pom Cọn – Nà Phòn– bản Lác hoặc bản Lác – Xăm Khòe – bản Xô – bản Vặn – hang Kia – Pà Cò – bản Lác.Các đoàn khách vẫn có hướng dẫn suốt tuyến đi kèm, hướng dẫn viên địa phương có nhiệm

vụ dẫn đường, giải thích các phong tục tập quán địa phương, hoặc nấu ăn cho khách khi lưutrú

8.3 Bài học kinh nghiệm từ các mô hình đã trình bày:

Từ đặc điểm của các mô hình đã nêu ở trên, Nhóm TTS đã chọn mô hình ABCD là

mô hình mẫu để áp dụng phát triển cộng đồng tại cơ sở thực hành Bởi mô hình ABCD baophủ khá đầy đủ các yếu trong nguyên tắc trong phát triển cộng đồng và phát huy tối đa đượcnguồn lực của cộng đồng về cả vốn con người, vốn tự nhiên, vốn vật chất, vốn tài chính, vốn

xã hội và vốn văn hóa truyền thống của địa phương; đồng thời đảm bảo lợi ích của các bên

Trang 16

khi tham gia hoạt động phát triển du lịch tại cộng đồng, đồng thời rút kinh nghiệm từ cácnhược điểm mà hai mô hình đã áp dụng từ thực tiễn ở Việt Nam được nêu ở trên như:

- Cộng đồng địa phương có trách nhiệm quản lý các hoạt động du lịch nhưng nguồnkhách phần lớn phụ thuộc vào các công ty lữ hành sắp xếp và bố trí

- Hoạt động dịch vụ du lịch chưa có cơ quan quản lý hướng dẫn, đào tạo và giúp đỡ.Mỗi hộ phải tự tổ chức các dịch vụ và liên hệ với các công ty lữ hành để đón khách

- Cộng đồng không được hỗ trợ về tài chính và kinh nghiệm phát triển du lịch cộngđồng của các tổ chức trong và ngoài nước Cộng đồng địa phương chưa có sự hỗ trợ về đàotạo ngoại ngữ, kỹ năng đón tiếp khách và nấu ăn

- Nguồn thu từ hoạt động du lịch tại địa điểm du lịch chưa được tái đầu tư

- Vấn đề bảo tồn, bảo vệ tài nguyên và bản sắc văn hóa truyền thống chưa được quantâm đúng mức để tránh lặp lại những nhược điểm đó trong quá trình triển khai hoạt độngthực tiễn với điểm điểm mà nhóm TTS sẽ thực hành

8.4 Tiêu chí xây dựng mô hình du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng tại khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình

- Người dân nên được tham gia vào quá trình lên kế hoạch và quản lý hoạt động dulịch tại cộng đồng;

- Hoạt động du lịch này phải mang lại lợi ích một cách công bằng cho cộng đồng;

- Hoạt động du lịch này nên bao gồm tất cả các thành viên của cộng đồng hơn chỉ là

sự tham gia của một vài thành viên;

- Quan tâm đến sự bền vững của môi trường;

- Mọi hoạt động du lịch sinh thái cộng đồng phải tôn trọng nền văn hoá và các "cấutrúc xã hội" tại cộng đồng;

- Có hệ thống/ phương pháp để giúp người trong cộng đồng có thể "vượt qua" nhữngảnh hưởng của những khách du lịch phương tây;

- Hoạt động du lịch thường được giữ ở quy mô nhỏ nhằm hạn chế tối đa những ảnhhưởng đến văn hoá và môi trường;

- Hướng dẫn tổng quan cho khách du lịch về cộng đồng để giúp họ có những hànhđộng hợp lý trong quá trình du lịch;

- Không yêu cầu người trong cộng đồng phải thực hiện những hoạt động trái với vănhoá/tôn giáo của họ;

- Không yêu cầu người dân trong cộng đồng tham gia vào các hoạt động du lịch nếu

Trang 17

- Người dân trong cộng Cộng đồng tham gia hoạt động phát triển du lịch được hỗ trợ

về tài chính và kinh nghiệm phát triển du lịch cộng đồng của các tổ chức trong và ngoàinước; được hỗ trợ về đào tạo ngoại ngữ, kỹ năng đón tiếp khách và nấu ăn

- Nguồn thu từ hoạt động du lịch tại địa điểm du lịch được tái đầu tư hợp lý;

- Vấn đề bảo tồn, bảo vệ tài nguyên và bản sắc văn hóa truyền thống được quan tâmđúng mức

9 Đánh giá thực trạng, nhu cầu, biện pháp đã thực hiện, nguồn lực

9.1 Thực trạng tại khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long

9.1.1 Vị trí địa lý

Quy hoạch chi tiết KDL sinh thái Vân Long được phê duyệt tại Quyết định số222/QĐ-UBND ngày 24/01/2007 của UBND tỉnh Ninh Bình nêu rõ KDL sinh thái VânLong nằm trên địa phận của 7 xã Gia Hưng, Liên Sơn, Gia Hoà, Gia Vân, Gia Lập, GiaThanh, Gia Tân và một số điểm du lịch về nguồn thuộc xã Gia Phương, Gia Thắng và GiaTiến, thuộc huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình

Phía Bắc, KDL sinh thái Vân Long giáp huyện Lạc Thủy, Hoà Bình qua sông Đáy.Phía Nam, giới hạn bởi con đê Đầm Cút, kéo dài từ thôn Mai Phương, xã Gia Hưng tới đồiSói thuộc xã Gia Thanh Phía Tây, giới hạn bởi núi, một (bên tả ngạn sông Bôi) thuộc xãGia Hưng Phía Đông, được giới hạn bởi chân núi Đồng Quyển đến núi Mây xã Gia Thanh,ven sông Đáy Trung tâm KDL sinh thái Vân Long ở xã Gia Vân cách huyện lỵ Gia Viễn 5

km về phía đông bắc, cách thành phố Ninh Bình gần 14 km về phía bắc tây bắc và cách HàNội gần 80 km về phía nam Diện tích quy hoạch KDL sinh thái Vân Long là 3.710 ha, cótọa độ địa lý từ 20°21′30″ tới 20°24′00″ vĩ độ bắc, và từ 105°48′53″ tới 105°54′ 40″ kinh độđông Trong đó bao gồm:

- KBT thiên nhiên đất ngập nước Vân Long, có diện tích 2.734 ha

+ Khu du lịch sinh thái Đầm Cút - động Hoa Lư

- Khu dịch vụ du lịch sân gôn Đá Hàn và resort

- Khu dịch vụ du lịch sinh thái Vân Long

9.1.2 Đặc điểm địa hình

Đặc điểm địa hình Dựa trên đặc điểm địa hình, KDL sinh thái Vân Long có thể chia

ra ba khu vực chính:

- Vùng đồng bằng nổi cao

Trang 18

đá vôi, tạo nên những bức tranh đa màu sắc Các hang động trong khu vực Vân Long nổitiếng với các nhũ đá, măng đá, cột đá, rèm đá… đa dạng về kích thước và màu sắc

9.1.3 Đặc điểm khí hậu, thủy văn

Vân Long nằm ở phía Tây Nam châu thổ sông Hồng, chịu ảnh hưởng của khí hậunhiệt đới gió mùa với sự phân hoá sâu sắc giữa các mùa trong năm Nhiệt độ trung bình nămkhá cao và tương đối đồng đều: 23,30 C – 23,40C, độ ẩm dao động 84-85% Mùa lạnhthường tới sớm vào cuối tháng 11 và kết thúc muộn vào đầu tháng 3 (số ngày lạnh trungbình từ 50 – 60 ngày) chủ yếu do ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc Tháng lạnh nhất làtháng 1, xong cũng có năm là tháng 12 Nhiệt độ thấp nhất có thể xuống tới 5-6oC và mỗiđợt có thể kéo dài 5 -7 ngày Mùa nóng bắt đầu từ tháng 3 Nhiệt độ trung bình nóng nhấtvào tháng 7 (290C) Khu vực này ít chịu ảnh hưởng của gió Lào mà phần lớn là gió mùaĐông Nam

Lượng mưa ở mức trung bình (1800 – 1900 mm/năm) phân bố không đều giữa cácmùa Mùa mưa từ cuối tháng 4 đến cuối tháng 10, chiếm tới 88 -99% tổng lượng mưa hàngnăm Mưa nhiều nhất là tháng 8, 9 có ngày mưa tới 451 mm

Có 3 hệ thống sông lớn, ảnh hưởng trực tiếp đến chế độ thủy văn trong vùng: SôngĐáy, sông Bôi, sông Hoàng Long, các con sông này có độ dốc nhỏ, nhiều uốn khúc quanh

co, lại có nhiều sông nhỏ nối tạo nên một mạng lưới khá dày đặc Các hang xuyên thủy động

là một trong những nhân tố duy trì sự ổn định của độ ẩm, chế độ nước cho khu vực Tuyến

đê bao khu đất ngập nước Vân Long tạo ra sự khác biệt về chế độ thủy văn giữa trong đê vàngoài đê Ngoài ra trong khu bảo tồn còn có một số con suối nhỏ chảy vào đầm Vân Longnhư suối Tép, suối Cút và một loạt hang động trong núi đá vôi cung cấp nước thường xuyên

cho đầm Cút và đầm Vân Long 9.1.4 Đặc điểm kinh tế xã hội

a Dân cư và lao động

Trang 19

Dân số và mật độ dân số các xã trong KDL sinh thái Vân Long

Gia Hòa

Gia Vân

Gia Lập

Gia Tân

Gia Thanh

Tổng cộng

Thực tế cho thấy số người bình quân trong một hộ thấp, chỉ khoảng 4 người/1 hộ Chỉtrừ vài xóm kinh tế mới của xã Gia Hòa là khá đông (bình quân 5-6 người/hộ) Hiện tạitrong vùng lõi của khu bảo tồn vẫn còn 400 hộ với khoảng 2.500 nhân khẩu đang sinh sốngthuộc 5 thôn: Hoa Tiên, Cọt (xã Gia Hưng), vườn Thị, đồi Ngô, Gọng Vó (Gia Hòa) Tuy đãchuyển một số hộ gia đình vào sâu trong các thung lũng để khai hoang, nhưng mật độ dân sốtrung bình ở khu vực này còn rất cao 530 người/km2 , song sự phân bố dân cư lại khôngđồng đều theo địa bàn các xã Tại các xã có ít ruộng canh tác thì mật độ dân số cao, nhưngcác xã có nhiều đất ruộng và nhất là đất chưa sử dụng (như vùng núi đá, đầm lầy) thì mật độgiảm nhiều so với mật độ trung bình toàn vùng Mặt khác, do hệ thống cơ sở hạ tầng vềđường giao thông, thủy lợi, điều kiện canh tác gặp nhiều khó khăn do đó mật độ dân số ởkhu vực này có giảm hơn so với các vùng khác

Toàn khu vực có 20.460 lao động, chiếm 44% dân số Trong đó lao động nữ là10.470 người (chiếm 51% lực lượng lao động)

Trong số 20.460 lao động được phân theo ngành nghề như sau:

- Khối lao động nông nghiệp: 87,3%

Trang 20

- Khối lao động thủy sản: 1,1%

- Khối lao động thủ công chế biến: 5,9%

- Khối lao động xây dựng: 1,2%

- Khối lao động thương nghiệp dịch vụ: 3,8%

- Khối lao động hành chính y tế giáo dục: 0,7%

(Nguồn: Niên giám thống kê huyện Gia Viễn 2011)

Mặc dù lao động hoạt động ở các ngành nghề khác nhau, nhưng có quy mô nhỏ, phântán, sự phân công lao động đơn giản, chủ yếu tập trung ở khối sản xuất nông nghiệp Còncác ngành khác chiếm tỷ lệ thấp Ngoài ra, cần chú ý thực trạng trình độ chuyên môn nghiệp

vụ của lao động trong khu vực còn yếu, hầu hết lao động nông nghiệp chưa được đào tạo Vìvậy, khi huy động lực lượng lao động tham gia hoạt động du lịch cần chú ý đến việc xâydựng kế hoạch, chương trình đào tạo nguồn nhân lực cho KDL

b Hạ tầng kỹ thuật

* Giao thông

Hệ thống cơ sở hạ tầng của KDL tương đối hoàn chỉnh và đồng bộ Đây là một lợi thế

để khai thác tiềm năng sẵn có của địa phương phục vụ cho phát triển du lịch cũng như kinh

tế xã hội nói chung của cả vùng Giao thông hiện có 20 km đường bê tông trên đê đầm Cút,

20 km đường đá Hàn đi tỉnh lộ 477, gần 100 km liên thôn xã Hiện nay hầu hết các đườngliên thôn đã được đầu tư nâng cấp, đổ bê tông đi lại thuận tiện

Các tuyến đường thủy: trong khu du lịch bước đầu mới đưa 2 tuyến đường thủy vàophục vụ khách du lịch

Một số tuyến giao thông đi đến các điểm tham quan du lịch đang xuống cấp cần đượcđầu tư cải tạo như tuyến giao thông liên thôn liên thị, tuyến giao thông từ Cầu Cọt vào thung

Lá, vào đá Hàn

* Cấp điện: Điện là nguồn năng lượng quan trọng đối với sản xuất, phát triển kinh tế cũng

như đối với đời sống của nhân dân Đến năm 2012, trong KDL đã có 93,5% số hộ dùng điệnquốc gia

* Cấp nước: Công trình ngăn lũ đê đầm Cút là công trình thủy lợi lớn nhất trong vùng.

Trong một số dự án đã xây dựng được 3 trạm bơm Các công trình này giúp dân địa phươngchống được lũ và giúp nông dân tăng vụ trong sản xuất nông nghiệp Đồng thời các côngtrình này cũng có tác dụng giữ nước để tạo điều kiện bảo tồn đa dạng sinh học đất ngậpnước và phục vụ du lịch

Hệ thống cấp nước sạch nhìn chung còn trong tình trạng yếu Phần lớn nước sinh hoạtchưa đảm bảo vệ sinh an toàn, chưa được xử lý trước khi đưa vào sử dụng

* Thoát nước bẩn và vệ sinh môi trường

Trang 21

Hệ thống thoát nước chưa có, hiện nay nước mưa và nước thải chủ yếu thoát ngay racác khu vực xung quanh và tập chung vào các ao, kênh mương hiện có trong khu vực dân

cư, gây ảnh hưởng tới nguồn nước và môi trường của các khu vực xung quanh

Rác thải: chủ yếu là rác thải sinh hoạt trong khu vực dân cư hiện nay cũng chưa đượcthu gom và xử lý Vệ sinh môi trường bước đầu có sự quản lý của địa phương và các thônxóm, song làng xóm chưa được sạch đẹp chưa đáp ứng yêu cầu phục vụ khách du lịch

Môi trường trong KDL chưa thực sự trong lành do ảnh hưởng khí thải của các nhàmáy trong khu công nghiệp Gián Khẩu nằm liền kề KDL

* Cơ cấu kinh tế

Trong KDL sinh thái Vân Long nông nghiệp là ngành kinh tế mũi nhọn với hai ngànhchính là trồng trọt và chăn nuôi Ngoài ra còn phát triển ngành thương mại và du lịch, nhưngcác hoạt động còn mới bước đầu đi vào hoạt động, chưa tương xứng với tiềm năng của khu

du lịch

Ngành nông nghiệp:

- Trồng trọt: Hiện nay trong khu vực về cơ cấu cây trồng lương thực khá đơn giản,

các cây chính ngoài lúa nước, sắn và rau đậu các loại, cây công nghiêp ngắn ngày chiếm tỷ

lệ rất ít Kinh tế của các hộ gia đình phần lớn đều phục thuộc vào sản xuất nông nghiệp,trong đó canh tác cây lúa nước đóng vai trò quan trọng nhât Diện tích lúa nước chiếm35,6% diện tích đất canh tác trong khu vực, ở phía ngoài đê Đầm Cút chiếm khoảng 65%,còn lại 35% diện tích ở bên trong khu bảo tồn và chủ yếu là diện tích lúa 1 vụ Phân bố chủyếu ven chân núi đá vôi, kéo dài từ núi Cận xã Gia Hưng qua thôn Cọt, đồi Ngô, Gọng Vóđến thôn vườn Thị thuộc xã Gia Hòa, bao gồm những vạt đất bằng hoặc vùng đất ngập nướcven chân núi cũng đã được dân khai phá tận dụng Đất màu chiếm một diện tích tương đốilớn, phân bố trong các thung lũng núi đá vôi hoặc các sườn đồi thoải, nhưng do trình độcanh tác chưa cao, phần lớn theo kiểu quảng canh, chưa đầu tư thâm canh và đúng kỹ thuật,

hệ thống tưới không có, cây trồng chính trong khu vực là cây sắn, do vậy năng xuất cũngnhư giá trị kinh tế không cao

Trong những năm gần đây, người dân đã từng bước chuyển đổi cơ cấu cây trồng,chuyển dần các diện tích vườn tạp sang thành vườn cây ăn quả, nhiều cây có giá trị kinh tếcao đã được người dân trong các thôn Vườn Thị, đồi Ngô, Gọng Vó sưu tầm về trồng trongdiện tích vườn nhà như: Xoài, Na, Vải, Nhãn, Hồng không hạt, Bưởi Bước đầu cũng đãđem lại hiệu quả, góp phần tăng thêm thu nhập cho kinh tế hộ gia đình

- Chăn nuôi: Cùng với sự phát triển của trồng trọt, chăn nuôi cũng đã từng bước

phát triển Ngoài việc giải quyết sức kéo cho sản xuất nông nghiệp còn cung cấp thực phẩmtại chỗ và xuất ra bên ngoài, đồng thời tăng nguồn phân bón hữu cơ cho cây trồng và đồngruộng Theo số liệu điều tra trực tiếp tại các thôn cho thấy, việc chăn nuôi đại gia súc trongkhu vực chưa phát triển mạnh, hầu hết hình thức chăn nuôi theo kiểu tận dụng, bình quân

Trang 22

mỗi gia đình có từ 1 đến 2 con bò, lợn và 10 đến 15 con gia cầm các loại, chưa có mô hìnhchăn nuôi công nghiệp Hiện nay chăn nuôi trong khu vực đã góp phần không nhỏ vào việccải thiện và tăng thu nhập cho bà con nông dân trong vùng

- Sản xuất lâm nghiệp: Rừng ở vùng núi đá chủ yếu là rừng cây nhỏ, lùm bụi, dây

leo, tre nứa…Đây là hậu quả của việc khai thác chặt phá rừng không kiểm soát được cùngvới việc chăn nuôi đại gia súc Hiện nay, hầu hết diện tích đất có rừng đã được ban quản lýkhu bảo tồn kết hợp với chính quyền địa phương tiến hành giao khoán cho các hộ gia đìnhquản lý, bảo vệ rừng, với suất đầu tư cho 1 ha khoanh nuôi, bảo vệ rừng là 50.000đ/ha, từ đódiện tích rừng tái sinh đã dần được phục hồi Hoạt động sản xuất lâm nghiệp cũng đã gópphần không nhỏ nâng cao thu nhập kinh tế cho một số hộ gia đình trong vùng Góp phần làmhạn chế nhiều hiện tượng lên núi chặt gỗ, chặt phá rừng

- Thương mại và du lịch: Trên các khu vực xã vùng đệm có 207 cơ sở tham gia vào

hoạt động dịch vụ thương mại, số lao động tham gia chiếm 12% số lao động trong khu vực.Hiện nay tại các xã như Gia Vân, Gia Thanh, Gia Hưng hoạt động du lịch đã dần từng bướcphát triển, góp phần làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong xã

9.2 Nhu cầu của người dân trong cộng đồng với hoạt động tham gia phát triển du lịch tại khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long

Như chúng ta đã biết, hoạt động du lịch có thể cung cấp công việc trực tiếp đến ngườidân tại cộng đồng nơi có điểm du lịch phát triển và từ đó thu nhập của người dân cũng cóthể được cải thiện khi tham gia vào các hoạt động du lịch như: chèo thuyền, trông xe, bánhàng, hướng dẫn viên du lịch… Chính vì những lí do đó mà đa phần người dân được hỏi đềuthể hiện nhu cầu được tham gia vào hoạt động phát triển du lịch tại cộng đồng phù hợp vớiđiều kiện của bản thân và gia đình họ

9.3.Những biện pháp mà địa phương đã thực hiện để phát triển du lịch tại cộng đồng

9.3.1.Chính sách phát triển du lịch

Trên cơ sở các nghiên cứu, điều tra tài nguyên về đa dạng sinh học khu bảo tồn thiênnhiên đất ngập nước Vân Long, UBND tỉnh Ninh Bình đã ra Quyết định 2888/QĐ-UBNDngày 18/12/2001 thành lập Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long Mục tiêu chủyếu là để bảo tồn hệ sinh thái rừng trên núi đá vôi, hệ sinh thái đất ngập nước nội đồng điểnhình của vùng châu thổ sông Hồng và loài voọc quần đùi trắng, một loài linh trưởng đặc hữucủa Việt Nam đang trong tình trạng cực kỳ nguy cấp, hiện chỉ phân bố ở vùng núi đá vôi tamgiác Thanh Hóa, Ninh Bình và Hòa Bình Đây là một trong những tiền đề để Bộ Khoa học &Công nghệ công nhận Vân Long là một trong những Khu bảo tồn thiên nhiên lớn nhất đồngbằng Bắc Bộ Sau khi các Quyết định đó được ban hành, Khu bảo tồn đã nhận được sự quantâm, chỉ đạo xây dựng các chương trình, kế hoạch, các định hướng phát triển và bảo vệ tàinguyên trong khu vực Điều này là một trong những thuận lợi tạo điều kiện cho du lịch tạiVân Long phát triển Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Ninh Bình đến năm 2010, định

Trang 23

hướng đến 2015 đã xác định Khu du lịch sinh thái Vân Long là một trong bảy không gian dulịch của tỉnh Ninh Bình Trên cơ sở Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Ninh Bìnhthời kỳ 1995-2010 UBND tỉnh Ninh Bình đã chỉ đạo ngành du lịch Ninh Bình lập quy hoạchchi tiết các khu du lịch trong đó có Quy hoạch chi tiết khu du lịch sinh thái Vân Long Quyhoạch phát triển du lịch đã tạo điều kiện quan trọng thu hút đầu tư vào cơ sở hạ tầng, vậtchất kỹ thuật, hình thành các khu, điểm du lịch, sản phẩm dịch vụ du lịch của địa phươngtrong thời gian vừa qua Các cơ chế, chính sách pháp luật về phát triển du lịch luôn đượcquan tâm đổi mới hoàn thiện để tạo cơ sở pháp lý cho việc quản lý, phát triển du lịch, xúctiến đầu tư và quảng bá hình ảnh du lịch Ninh Bình nói chung cũng như du lịch Vân Longnói riêng KDL sinh thái Vân Long được quy hoạch trên cơ sở khu bảo tồn thiên nhiên đấtngập nước Vân Long và một số điểm du lịch về nguồn, một số điểm du lịch lân cận khác.Ngay sau khi được thành lập vào năm 2001, khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước VânLong đã được đầu tư theo đề án khả thi được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn vàUBND tỉnh Ninh Bình phê duyệt

Nhiều cơ quan, trường học đã có những dự án hoặc đề tài nghiên cứu tại khu bảo tồnnày Đồng thời, các tổ chức quốc tế cũng quan tâm đến Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngậpnước Vân Long Điển hình như: Quỹ môi trường toàn cầu; Quỹ bảo vệ động vật hoang dã;

Tổ chức động, thực vật quốc tế; Hội động vật Frankfurt tại Việt Nam Các dự án, đề tàinghiên cứu được triển khai từ các nguồn khác nhau nhưng cùng chung một mục đích: tậptrung để bảo vệ và phát triển khu bảo tồn giá trị này Các chương trình dự án đó đã góp phầnkhông nhỏ thay đổi hành vi của cộng đồng theo hướng có lợi cho bảo tồn Các ngành chứcnăng, chính quyền địa phương đã tìm được tiếng nói chung, cùng nhau đề xuất và triển khainhiều biện pháp để bảo vệ, khai thác, phát triển bền vững tài nguyên quý giá trong KDL

Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước ta về “phát triển du lịch trong tình hìnhmới” và “phát triển du lịch thật sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn” Ngày 13/7/2009, Banthường vụ Tỉnh ủy Ninh Bình đã ban hành Nghị quyết số 15-NQ/TU về phát triển du lịchđến năm 2020, định hướng đến năm 2030, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã tham mưucho Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Bình xây dựng và thực hiện Kế hoạch số 07/KH-UBNDngày 17/7/2009

Kế hoạch đã nêu rõ nhiệm vụ, công việc cụ thể hàng năm của các cơ quan đơn vịtrong tỉnh từ việc xây dựng các quy hoạch du lịch đến đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, kỹthuật và sản phẩm du lịch, từ việc tăng cường quản lý nhà nước về du lịch đến phát triển thịtrường, đẩy mạnh quảng bá và xúc tiến du lịch, chuẩn hóa và nâng cao chất lượng nguồnnhân lực du lịch Trong đó một trong những sản phẩm du lịch Ninh Bình hướng tới là pháttriển loại hình du lịch nghỉ tại nhà dân (homestay)

Trên chủ trương này, UBND tỉnh Ninh Bình đã giao cho Sở Văn hóa, Thể thao & Dulịch xây dựng Dự án phát triển loại hình du lịch homestay tại Vân Long Đồng thời UBNDtỉnh Ninh Bình cũng chỉ đạo Sở Xây dựng thiết kế các mẫu nhà theo mẫu nhà truyền thống

Ngày đăng: 30/08/2016, 13:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w