Tài nguyên nước là các nguồn nước mà con người sử dụng hoặc có thể sử dụng vào những mục đích khác nhau. Nước được dùng trong các hoạt động nông nghiệp, công nghiệp, dân dụng, giải trí và môi trường. Hầu hết các hoạt động trên đều cần sử dụng nước. Nước bao phủ 71% diện tích của quả đất trong đó có 97% là nước mặn, còn lại là nước ngọt. Nước giữ cho khí hậu tương đối ổn định và pha loãng các yếu tố gây ô nhiễm môi trường, nó còn là thành phần cấu tạo chính yếu trong cơ thể sinh vật, chiếm từ 50%97% trọng lượng của cơ thể, chẳng hạn như ở người nước chiếm 70% trọng lượng cơ thể và ở Sứa biển nước chiếm tới 97%. Trong 3% lượng nước ngọt có trên quả đất thì có khoảng hơn 34 lượng nước mà con người không sử dụng được vì nó nằm quá sâu trong lòng đất, bị đóng băng, ở dạng hơi trong khí quyển và ở dạng tuyết trên lục điạ... chỉ có 0, 5% nước ngọt hiện diện trong sông, suối, ao, hồ mà con người đã và đang sử dụng. Tuy nhiên, nếu ta trừ phần nước bị ô nhiễm ra thì chỉ có khoảng 0,003% là nước ngọt sạch mà con người có thể sử dụng được và nếu tính ra trung bình mỗi người được cung cấp 879.000 lít nước ngọt để sử dụng (Miller, 1988).
Trang 1MỤC LỤC
Chương 1.TỔNG QUAN VỀ TÀI NGUYÊN NƯỚC 4
1.1.Giới thiệu chung về tài nguyên nước 4
1.2 Phân loại tài nguyên nước 6
1.2.1 Nước ngọt 6
1.2.2 Nước mặn 6
1.2.3 Nước mặt 6
1.2.4 Nước ngầm 7
1.3 Vai trò của Tài nguyên nước 8
1.3.1 Vai trò của nước đối với con người 8
1.3.2 Vai trò của nước đối với sinh vật 9
1.3.3 Vai trò của nước đối với sản xuất phục vụ cho đời sống con người 9
1.4 Chức năng tài nguyên nước 10
Chương 2 GIỚI THIỆU VỀ TÀI NGUYÊN NƯỚC Ở VIỆT NAM 11
2.1 Tài nguyên nước mặt 11
2.1.1 Tài nguyên nước mưa 11
2.1.2 Tài nguyên sông ngòi 12
2.2 Tài nguyên nước ở các lưu vực sông lớn 14
2.2.1 Lưu vực sông Hồng 14
2.2.2 Lưu vực sông Kỳ Cùng 17
2.2.3 Lưu vực sông Mã 18
2.2.4 Lưu vực sông Cả 19
2.2.5 Lưu vực sông Thu Bồn 20
2.2.6 Lưu vực sông Ba 21
2.2.7 Lưu vực sông Đồng Nai 22
2.3 Tài nguyên nước dưới đất 23
Chương 3 HIỆN TRẠNG KHAI THÁC, SỬ DỤNG TÀI NGUYÊN NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM 24
3.1 Tình hình sử dụng nước trên thế giới 24
3.1.1 Nhu cầu về nước trong nông nghiệp 24
3.1.2 Nhu cầu về nước trong công nghiệp 25
3.1.3 Nhu cầu về nước Sinh hoạt và giải trí 26
Trang 23.1.4 Nhu cầu nước trong thuỷ điện 27
3.1.5 Nhu cầu nước trong giao thông thuỷ 28
3.1.6 Nhu cầu nước trong thuỷ sản 28
3.2 Tình hình sử dụng nước ở Việt Nam 29
3.2.1 Nước ngầm 29
3.2.2 Nước khoáng và nước nóng 30
3.2.3 Tình hình sử dụng nước trong các hoạt động kinh tế 30
3.2.4 Tình hình khai thác sử dụng nước trong đời sống sinh hoạt 31
Chương 4.CÁC VẤN ĐỀ PHÁT SINH DO KHAI THÁC, SỬ DỤNG TÀI NGUYÊN NƯỚC 32
4.1 Tình trạng ô nhiễm, suy thoái tài nguyên nước 32
4.1.1 Ảnh hưởng do hoạt động sống của con người 32
4.1.2 Ảnh hưởng do phát triển nông nghiệp 32
4.1.3 Ảnh hưởng do phát triển công nghiệp và dịch vụ 33
4.1.4 Ảnh hưởng do một số nguyên nhân khác 33
4.2 Tình trạng lãng phí nước 33
4.3 Cạn kiệt nguồn nước 35
4.3.1 Nguyên nhân từ hoạt động thủy điện 35
4.3.2 Nguyên nhân từ chặt phá rừng 35
4.3.3 Các vấn đề khác về môi trường 36
4.3.4 Vấn đề dân số 36
4.4 Tính cạnh tranh trong khai thác và sử dụng nguồn nước 36
4.5 Hệ thống pháp luật về tài nguyên nước còn thiếu đồng bộ 37
4.5.1 Về thể chế, chính sách 37
4.5.2 Về bộ máy, cán bộ làm công tác quản lý 37
4.5.3 Về phân công, phân cấp quản lý, cấp phép tài nguyên nước 38
Chương 5 GIẢI PHÁP QUẢN LÝ TỔNG HỢP TÀI NGUYÊN NƯỚC 39
5.1 Quản lý Tài nguyên nước theo phương thức tổng hợp và thống nhất trên cơ sở Luật và các văn bản pháp quy, theo sự quản lý trên địa bàn, lưu vực sông, theo nguồn nước39 5.2 Nước – Hàng hóa kinh tế 41
5.3 Quản lý TNN theo phương thức tổng hợp và thống nhất về chất lượng và số lượng .41
5.4 Cơ cấu sử dụng nước phải phù hợp với chuyển dịch cơ cấu kinh tế 43
Trang 3Chương 1
TỔNG QUAN VỀ TÀI NGUYÊN NƯỚC
1.1 Giới thiệu chung về tài nguyên nước
Tài nguyên nước là các nguồn nước mà con người sử dụng hoặc có thể sử dụngvào những mục đích khác nhau Nước được dùng trong các hoạt động nôngnghiệp, công nghiệp, dân dụng, giải trí và môi trường Hầu hết các hoạt động trênđều cần sử dụng nước
Nước bao phủ 71% diện tích của quả đất trong đó có 97% là nước mặn, còn lại
là nước ngọt Nước giữ cho khí hậu tương đối ổn định và pha loãng các yếu tố gây
ô nhiễm môi trường, nó còn là thành phần cấu tạo chính yếu trong cơ thể sinh vật,chiếm từ 50%-97% trọng lượng của cơ thể, chẳng hạn như ở người nước chiếm 70%trọng lượng cơ thể và ở Sứa biển nước chiếm tới 97% Trong 3% lượng nước ngọt cótrên quả đất thì có khoảng hơn 3/4 lượng nước mà con người không sử dụng được
vì nó nằm quá sâu trong lòng đất, bị đóng băng, ở dạng hơi trong khí quyển và ởdạng tuyết trên lục điạ chỉ có 0, 5% nước ngọt hiện diện trong sông, suối, ao, hồ màcon người đã và đang sử dụng Tuy nhiên, nếu ta trừ phần nước bị ô nhiễm ra thì chỉ
có khoảng 0,003% là nước ngọt sạch mà con người có thể sử dụng được và nếu tính
ra trung bình mỗi người được cung cấp 879.000 lít nước ngọt để sử dụng (Miller,
1988)
Hình 1: Tỉ lệ giữa các loại nước trên thế giới
Theo nghiên cứu hiện nay thì nước trên hành tinh của chúng ta phát sinh
từ 3 nguồn: bên trong lòng đất, từ các thiên thạch ngoài quả đất mang vào và từtầng trên của khí quyển; trong đó nguồn gốc từ bên trong lòng đất là chủ yếu.Nước có nguồn gốc bên trong lòng đất được hình thành ở lớp vỏ giữa của quả đất doquá trình phân hóa các lớp nham thạch ở nhiệt độ cao tạo ra, sau đó theo các khe nứt
Trang 4của lớp vỏ ngoài nước thoát dần qua lớp vỏ ngoài thì biến thành thể hơi, bốc hơi vàcuối cùng ngưng tụ lại thành thể lỏng và rơi xuống mặt đất Trên mặt đất, nướcchảy tràn từ nơi cao đến nơi thấp và tràn ngập các vùng trủng tạo nên các đạidương mênh mông và các sông hồ nguyên thủy
Hình 2: Vòng tuần hoàn nước trên Trái Đất
Theo sự tính toán thì khối lượng nước ở trạng thái tự do phủ lên trên trái đấtkhoảng 1,4 tỉ km3 nhưng so với trử lượng nước ở lớp vỏ giữa của trái đất (khoảng
200 tỉ km3) thì chẳng đáng kể vì nó chỉ chiếm không đến 1% Tổng lượng nước
tự nhiên trên thế giới theo ước tính có khác nhau theo các tác giả và dao động từ1.385.985.000 km3 (Lvovits, Xokolov - 1974) đến 1.457.802.450 km3 (F.Sargent
- 1974)
Bảng 1 Trữ lượng nước trên thế giới (theo F Sargent, 1974)
Loại nước Trữ lượng (km 3 )
Biển và đại dương
Trang 51.2 Phân loại tài nguyên nước
1.2.1 Nước ngọt
Nước ngọt hay nước nhạt là loại nước chứa một lượng tối thiểu các muốihòa tan, đặc biệt là clorua natri (thường có nồng độ các loại muối hay còn gọi là độmặn trong khoảng 0,01 - 0,5 ppt hoặc tới 1 ppt), vì thế nó được phân biệt tương đối
rõ ràng với nước lợ hay các loại nước mặn và nước muối Tất cả các nguồn nướcngọt có xuất phát điểm là từ các cơn mưa được tạo ra do sự ngưng tụ tới hạn của hơinước trong không khí, rơi xuống ao, hồ, sông của mặt đất cũng như trong các nguồnnước ngầm hoặc do sự tan chảy của băng hay tuyết Nước ngọt là nguồn tàinguyên tái tạo, tuy vậy mà việc cung cấp nước ngọt và sạch trên thế giới đangtừng bước giảm đi Nhu cầu nước đã vượt cung ở một vài nơi trên thế giới, trong khidân số thế giới vẫn đang tiếp tục tăng làm cho nhu cầu nước càng tăng Sự nhậnthức về tầm quan trọng của việc bảo vệ nguồn nước cho nhu cầu hệ sinh thái chỉmới được lên tiếng gần đây Trong suốt thế kỷ 20, hơn một nửa các vùng đấtngập nước trên thế giới đã bị biến mất cùng với các môi trường hỗ trợ có giá trị củachúng Các hệ sinh thái nước ngọt mang đậm tính đa dạng sinh học hiện đang suygiảm nhanh hơn các hệ sinh thái biển và đất liền
1.2.2 Nước mặn
Nước mặn là thuật ngữ chung để chỉ nước chứa một hàm lượng đáng kểcác muối hòa tan (chủ yếu là NaCl) Hàm lượng này thông thường được biểu diễndưới dạng phần nghìn (ppt) hay phần triệu (ppm) hoặc phần trăm (%) hay g/l
Các mức hàm lượng muối được USGS Hoa Kỳ sử dụng để phân loại nước mặnthành ba thể loại Nước hơi mặn chứa muối trong phạm vi 1.000 tới 3.000 ppm (1tới 3 ppt) Nước mặn vừa phải chứa khoảng 3.000 tới 10.000 ppm (3 tới 10 ppt).Nước mặn nhiều chứa khoảng 10.000 tới 35.000 ppm (10 tới 35 ppt) muối
Trên Trái Đất, nước biển trong các đại dương là nguồn nước mặn phổbiến nhất và cũng là nguồn nước lớn nhất Độ mặn trung bình của đại dương làkhoảng 35.000 ppm hay 35 ppt hoặc 3,5%, tương đương với 35 g/l Hàm lượngnước mặn tự nhiên cao nhất có tại hồ Assal ở Djibouti với nồng độ 34,8%
1.2.3 Nước mặt
Nước mặt là nước trong sông, hồ hoặc nước ngọt trong vùng đất ngập nước.Nước mặt được bổ sung một cách tự nhiên bởi giáng thủy và chúng mất đi khichảy vào đại dương, bốc hơi và thấm xuống đất Lượng giáng thủy này được thu hồibởi các lưu vực, tổng lượng nước trong hệ thống này tại một thời điểm cũng tùythuộc vào một số yếu tố khác Các yếu tố này như khả năng chứa của các hồ,vùng đất ngập nước và các hồ chứa nhân tạo, độ thấm của đất bên dưới các thểchứa nước này, các đặc điểm của dòng chảy mặt trong lưu vực, thời lượng giáng
Trang 6thủy và tốc độ bốc hơi địa phương Tất cả các yếu tố này đều ảnh hưởng đến tỷ lệmất nước.
Sự bốc hơi nước trong đất, ao, hồ, sông, biển; sự thoát hơi nước ở thực vật vàđộng vật , hơi nước vào trong không khí sau đó bị ngưng tụ lại trở về thể lỏng rơixuống mặt đất hình thành mưa, nước mưa chảy tràn trên mặt đất từ nơi cao đếnnơi thấp tạo nên các dòng chảy hình thành nên thác, ghềnh, suối, sông và được tích
tụ lại ở những nơi thấp trên lục địa hình thành hồ hoặc được đưa thẳng ra biểnhình thành nên lớp nước trên bề mặt của vỏ trái đất
Trong quá trình chảy tràn, nước hòa tan các muối khoáng trong các nhamthạch nơi nó chảy qua, một số vật liệu nhẹ không hòa tan được cuốn theo dòng chảy
và bồi lắng ở nơi khác thấp hơn, sự tích tụ muối khoáng trong nước biển sau mộtthời gian dài của quá trình lịch sử của quả đất dần dần làm cho nước biển càng trởnên mặn Có hai loại nước mặt là nước ngọt hiện diện trong sông, ao, hồ trên cáclục địa và nước mặn hiện diện trong biển, các đại dương mênh mông, trong các hồnước mặn trên các lục địa
1.2.4 Nước ngầm
Nước ngầm hay còn gọi là nước dưới đất, là nước ngọt được chứa trong các lỗrỗng của đất hoặc đá Nó cũng có thể là nước chứa trong các tầng ngậm nướcbên dưới mực nước ngầm Đôi khi người ta còn phân biệt nước ngầm nông, nướcngầm sâu và nước chôn vùi "Nước ngầm là một dạng nước dưới đất, tích trữ trongcác lớp đất đá trầm tích bở rời như cặn, sạn, cát bột kết, trong các khe nứt, hang caxtơdưới bề mặt trái đất, có thể khai thác cho các hoạt động sống của con người"
Nước ngầm cũng có những đặc điểm giống như nước mặt như: nguồn vào (bổcấp), nguồn ra và chứa Sự khác biệt chủ yếu với nước mặt là do tốc độ luân chuyểnchậm (dòng thấm rất chậm so với nước mặt), khả năng giữ nước ngầm nhìn chunglớn hơn nước mặt khi so sánh về lượng nước đầu vào Nguồn cung cấp nước chonước ngầm là nước mặt thấm vào tầng chứa Các nguồn thoát tự nhiên như suối
và thấm vào các đại dương
Theo độ sâu phân bố, có thể chia nước ngầm thành nước ngầm tầng mặt
và nước ngầm tầng sâu Ðặc điểm chung của nước ngầm là khả năng di chuyểnnhanh trong các lớp đất xốp, tạo thành dòng chảy ngầm theo địa hình Nước ngầmtầng mặt thường không có lớp ngăn cách với địa hình bề mặt Do vậy, thành phần vàmực nước biến đổi nhiều, phụ thuộc vào trạng thái của nước mặt Loại nước ngầmtầng mặt rất dễ bị ô nhiễm Nước ngầm tầng sâu thường nằm trong lớp đất đá xốpđược ngăn cách bên trên và phía dưới bởi các lớp không thấm nước Theo khônggian phân bố, một lớp nước ngầm tầng sâu thường có ba vùng chức năng:
• Vùng thu nhận nước
Trang 7• Vùng chuyển tải nước.
*Có hai loại nước ngầm: nước ngầm không có áp lực và nước ngầm có áp lực.Nước ngầm không có áp lực: là dạng nước được giữ lại trong các lớp đá ngậmnước và lớp đá nầy nằm bên trên lớp đá không thấm như lớp diệp thạch hoặc lớpsét nén chặt Loại nước ngầm nầy có áp suất rất yếu, nên muốn khai thác nó phải thìphải đào giếng xuyên qua lớp đá ngậm rồi dùng bơm hút nước lên Nước ngầm loạinầy thường ở không sâu dưới mặt đất,ì có nhiều trong mùa mưa và ít dần trong mùakhô
Nước ngầm có áp lực: là dạng nước được giữ lại trong các lớp đá ngậmnước và lớp đá nầy bị kẹp giữa hai lớp sét hoặc diệp thạch không thấm Do bị kẹpchặt giữa hai lớp đá không thấm nên nước có một áp lực rất lớn vì thế khi khaithác người ta dùng khoan xuyên qua lớp đá không thấm bên trên và chạm vào lớpnước này nó sẽ tự phun lên mà không cần phải bơm Loại nước ngầm nầy thường ởsâu dưới mặt đất, có trử lượng lớn và thời gian hình thành nó phải mất hàng trămnăm thậm chí hàng nghìn năm
1.3 Vai trò của Tài nguyên nước
Nước là nguồn tài nguyên vô cùng quan trọng cho tất cả các sinh vật trêntrái đất Nếu không có nước thì chắc chắn không có sự sống xuất hiện trên trái đấtnày, thiếu nước thì cả nền văn minh hiện nay cũng không tồn tại được Từ xưa,con người đã biết đến vai trò quan trọng của nước; các nhà khoa học cổ đại đãcoi nước là thành phần cơ bản của vật chất và trong quá trình phát triển của xã hộiloài người thì các nền văn minh lớn của nhân loại đều xuất hiện và phát triển trênlưu vực của các con sông lớn như: nền văn minh Lưỡng hà ở Tây Á nằm ở lưu vựchai con sông lớn là Tigre và Euphrate (thuộc Irak hiện nay); nền văn minh Ai Cập ở
hạ lưu sông Nil; nền văn minh sông Hằng ở Ấn Ðộ; nền văn minh Hoàng hà ở TrungQuốc; nền văn minh sông Hồng ở Việt Nam
1.3.1 Vai trò của nước đối với con người
Nước có vai trò đặc biệt quan trọng với cơ thể, con người có thể nhịn ănđược vài ngày, nhưng không thể nhịn uống nước Nước chiếm khoảng 70% trọng
Trang 8lượng cơ thể, 65-75% trọng lượng cơ, 50% trọng lượng mỡ, 50% trọng lượngxương Nước tồn tại ở hai dạng: nước trong tế bào và nước ngoài tế bào Nướcngoài tế bào có trong huyết tương máu, dịch limpho, nước bọt… Huyết tươngchiếm khoảng 20% lượng dịch ngoài tế bào của cơ thể (3-4 lít) Nước là chấtquan trọng để các phản ứng hóa học và sự trao đổi chất diễn ra không ngừng trong
cơ thể Nước là một dung môi, nhờ đó tất cả các chất dinh dưỡng được đưa vào cơthể, sau đó được chuyển vào máu dưới dạng dung dịch nước Một người nặng 60
kg cần cung cấp 2-3 lít nước để đổi mới lượng nước của có thể, và duy trì các hoạtđộng sống bình thường
1.3.2 Vai trò của nước đối với sinh vật
Nước chứa trong cơ thể sinh vật một hàm lượng rất cao, từ 50 - 90% khối lượng
cơ thể sinh vật là nước, có trường hợp nước chiếm tỷ lệ cao hơn, tới 98% như ở một
số cây mọng nước, ở ruột khoang (ví dụ: thủy tức, sứa…)
Nước là dung môi cho các chất vô cơ, các chất hữu cơ có mang gốc phân cực (ưanước) như hydroxyl, amin, các boxyl… Nước là nguyên liệu cho cây trong quá trìnhquang hợp tạo ra các chất hữu cơ Nước là môi trường hoà tan chất vô cơ và phươngtiện vận chuyển chất vô cơ và hữu cơ trong cây, vận chuyển máu và các chất dinhdưỡng ở động vật
Nước bảo đảm cho thực vật có một hình dạng và cấu trúc nhất định Donước chiếm một lượng lớn trong tế bào thực vật, duy trì độ trương của tế bàocho nên làm cho thực vật có một hình dáng nhất định Nước nối liền cây với đất vàkhí quyển góp phần tích cực trong việc bảo đảm mối liên hệ khăng khít sựthống nhất giữa cơ thể và môi trường Trong quá trình trao đổi giữa cây và môitrường đất có sự tham gia tích cực của ion H+ và OH- do nước phân ly ra
Nước tham gia vào quá trình trao đổi năng lượng và điều hòa nhiệt độ cơ thể.Ngoài ra, nước còn là môi trường sống của rất nhiều loài sinh vật
Cuối cùng nước giữ vai trò tích cực trong việc phát tán nòi giống của các sinhvật, nước còn là môi trường sống của nhiều loài sinh vật
1.3.3 Vai trò của nước đối với sản xuất phục vụ cho đời sống con người
Trong nông nghiệp: tất cả các cây trồng và vật nuôi đều cần nước đề phát
triển Từ một hạt cải bắp phát triển thành một cây rau thương phẩm cần 25 lít nước; lúa cần 4.500 lít nước để cho ra 1 kg hạt Dân gian ta có câu: “Nhất nước, nhì
phân, tam cần, tứ giống”, qua đó chúng ta có thể thấy được vai trò của nước
trong nông nghiệp Theo FAO, tưới nước và phân bón là hai yếu tố quyết địnhhàng đầu là nhu cầu thiết yếu, đồng thời còn có vai trò điều tiết các chế độ nhiệt,ánh sáng, chất dinh dưỡng, vi sinh vật, độ thoáng khí trong đất, làm cho tốc độ tăngsản lượng lương thực vượt qua tốc độ tăng dân số thế giới Đối với Việt Nam, nước
Trang 9đã cùng với con người làm lên nền Văn minh lúa nước tại châu thổ sông Hồng – cácnôi Văn minh của dân tộc, của đất nước, đã làm nên các hệ sinh thái nông nghiệp
có năng xuất và tính bền vững vào loại cao nhất thế giới, đã làm nên một nước ViệtNam có xuất khẩu gạo đứng nhất nhì thế giới hiện nay
Trong Công nghiệp: Nước cho nhu cầu sản xuất công nghiệp rất lớn Nướcdùng để làm nguội các động cơ, làm quay các tubin, là dung môi làm tan các hóa chấtmàu và các phản ứng hóa học Để sản xuất 1 tấn gang cần 300 tấn nước, một tấn xútcần 800 tấn nước Người ta ước tính rằng 15% sử dụng nước trên toàn thế giới côngnghiệp như: các nhà máy điện, sử dụng nước để làm mát hoặc như một nguồn nănglượng, quặng và nhà máy lọc dầu, sử dụng nước trong quá trình hóa học, và các nhàmáy sản xuất, sử dụng nước như một dung môi Mỗi ngành công nghiêp, mỗi loạihình sản xuất và mỗi công nghệ yêu cầu một lượng nước, loại nước khác nhau Nướcgóp phần làm động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế Nếu không có nước thì chắcchắn toàn bộ các hệ thống sản xuất công nghiệp, nông nghiệp…trên hành tinh này đềungừng hoạt động và không tồn tại
Từ 3.000 năm trước công nguyên, người Ai Cập đã biết dùng hệ thốngtưới nước để trồng trọt và ngày nay con người đã khám phá thêm nhiều khả năng củanước đảm bảo cho sự phát triển của xã hội trong tương lai: nước là nguồn cungcấp thực phẩm và nguyên liệu công nghiệp dồi dào, nước rất quan trọng trongnông nghiệp, công nghiệp, trong sinh hoạt, thể thao, giải trí và cho rất nhiều hoạtđộng khác của con người Ngoài ra nước còn được coi là một khoáng sản đặcbiệt vì nó tàng trữ một nguồn năng lượng lớn và lại hòa tan nhiều vật chất có thểkhai thác phục vụ cho nhu cầu nhiều mặt của con người
1.4 Chức năng tài nguyên nước
Chức năng tài nguyên nước là cung cấp các dịch vụ, sản phẩm, hàng hóa vàmang lại lợi ích cho xã hội, cộng đồng và môi trường Có thể tạm thời phân chia chứcnăng nguồn nước thành các nhóm:
- Chức năng cung cấp nước: Cung cấp nước cho tưới, sinh hoạt, nuôi trồng,thủy sản, phát điện, công nghiệp
- Chức năng điều hòa: Điều tiết một phần dòng chảy, tiêu thoát nước, tiêu thoát
lũ, tiếp nhận nước thải
- Chức năng văn hóa – xã hội: Giải trí, du lịch, tạo môi trường cảnh quan, tinhthần và quân sự
- Chức năng hỗ trợ sinh thái: Cung cấp nguồn dinh dưỡng, phù sa, phục hồisinh thái, cung cấp nơi cư trú và sinh sản cho các loài thủy sinh
Trang 10Chương 2
GIỚI THIỆU VỀ TÀI NGUYÊN NƯỚC Ở VIỆT NAM
2.1 Tài nguyên nước mặt
2.1.1 Tài nguyên nước mưa
Trong điều kiện khí hậu nhiệt đới ẩm của nước ta, mưa là hình thức nước rơi duynhất Do đó số lượng và tính chất của nước mưa cùng sự bốc hơi từ lưu vực đã quyếtđịnh tiềm năng của dòng chảy sông ngòi Mưa và bốc hơi là các yếu tố khí hậu thamgia trực tiếp vào cán cân nước của mỗi lưu vực sông cụ thể
Với vị trí tự nhiên nằm trên bán đảo Đông Dương, tiệm cận với hai đại dươnglớn là Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương và điều kiện khí hậu nhiệt đới ẩm, gió mùacủa nước ta thể hiện rất rõ rệt lượng mưa trung bình trong nhiều năm và tương quangiữa lượng mưa và lượng bốc hơi năm Thật vậy, xét trên toàn lãnh thổ nước ta, thìlượng mưa trung bình nhiều năm khoảng 1960mm So với lượng mưa trung bình cùng
vĩ độ (100-2000Bắc) thì ở nước ta có lượng mưa khá dồi dào, gấp 2,4 lần Chỉ ở nhữngnơi khuất gió ẩm thì lượng mưa trung bình năm mới giảm xuống dưới 1000mm
Quy luật phân bố của lượng mưa trung bình nhiều năm không đều trong khônggian, phụ thuộc vào độ cao địa hình và hướng của sườn đón gió ẩm Các trung tâmmưa lớn được hình thành trên lãnh thổ như: Móng Cái 2800mm - 3000mm, BắcQuang 4765mm, Hoàng Liên Sơn 2600mm - 3000mm, Mường Tè 2600mm -2800mm, Hoành Sơn 3500mm - 4000mm, Thừa Lưu 2600 - 3662 mm, Trà Mi – Ba
Tơ 2600mm - 3400mm, Sông Hinh 2500mm, Bảo Lộc 2876mm, Hai trung tâm mưalớn nhất nước ta là Bắc Quang và Ba Na đạt 5013mm Vùng có lượng mưa lớn kéodài từ vĩ tuyến 150B đến 160B, thường gọi là vĩ tuyến nước Ngược lại, những trungtâm mưa nhỏ được hình thành ở những vùng thấp, khuất, hoặc nằm song song vớihướng gió ẩm, đo là các vùng: An Châu 1000mm - 1200mm, Sơn La 1000mm -1300mm, Mường Xén 800mm - 1000mm, đặc biệt ở Phan Rang, Phan Rí chỉ đạt 650
mm Vùng có lượng mưa nhỏ kéo dài ở Duyên Hải cực nam Trung Bộ từ vĩ tuyến100B đến vĩ tuyến 120B là vùng ít mưa khá điển hình ở nước ta Vùng ven biển NinhThuận, Bình Thuận có lượng mưa năm nhỏ nhất cả nước (500mm - 600mm)
Sự phân bố mưa trong năm rất không đều và chia thành hai mùa rõ rệt: mùa mưa
và mùa khô Do chịu nhiều ảnh hưởng của các khối không khí tương phản nhau giữaBắc và Nam nên thời điểm bắt đầu và kết thúc mùa mưa cũng chênh lệch nhau giữanơi sớm nhất và muộn nhất đến 4 tháng Bắc Bộ, có mùa mưa từ tháng 5 đến tháng
10, tháng 11 Trung Bộ, Tây Nguyên và Nam Bộ có mùa mưa muộn hơn từ tháng 8, 9đến tháng 11, 12 Khu vực khu IV cũ còn có mưa tiểu mãn Trong mùa mưa lượngmưa chiếm khoảng 70 - 90% tổng lượng mưa năm
Trang 11Mạng lưới trạm đo mưa ở nước ta được hình thành từ cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ
20, sớm nhất là trạm Láng, hoạt động từ năm 1890 Trong thời gian chiến tranh nhiềutrạm phải ngừng hoạt động Tính đến năm 1980 có khoảng 1190 điểm quan trắc mưa
Từ 1991, Tổng cục Khí tượng Thuỷ văn đã quy hoạch lại mạng lưới trạm đo mưa theođúng tiêu chuẩn Theo quy hoạch này cả nước có 765 điểm đo mưa
Theo kết quả công bố của do Tổng cục Khí tượng thủy văn chủ trì, lượng mưamột ngày lớn nhất trung bình nhiều năm đạt 150 - 200 mm, ứng với tần suất 1% đạt
300 - 350mm Lượng mưa 3 ngày lớn nhất trung bình đạt 200 - 250mm, tương ứngvới tần suất 1% là 500 - 600 mm Lượng mưa 5 ngày lớn nhất trung bình nhiều nămđạt 250 - 300 mm, ứng với tần suất 1% là 620 -650mm Do địa hình đa dạng, cấu trúcsơn văn nên sự phân dị khí hậu và kèm theo nó là lượng mưa bị phân hoá rõ rệt theolãnh thổ và chi phối mạnh mẽ đến sự hình thành dòng chảy mặt, đặc biệt là dòng chảysông ngòi
Những vùng mưa lớn như ở vùng Vài Lài thuộc tâm mưa lớn Móng Cái, lượngmưa trung bình đạt tới 2334mm; vùng Hoàng Liên Sơn, đạt tới 2180mm tại Tà Thàng,vùng Bắc Quang trên 3000mm, Mường Tè trên 2000 mm, vùng Hoành Sơn tại sôngRào Cái, Rào Tro, tới 1800mm - 2400mm Vùng mưa lớn Bắc đèo Hải Vân, xấp xỉ2000mm, tại sông Hữu Trạch là 1973mm; vùng mưa lớn Trà Mi – Ba Tơ, Ba Na, vượttrên 2000mm; sông Bùng 2070mm, sông Tranh 2303mm và sông Vệ 2372mm Quávào phía nam có sông Hinh cũng đạt trên 1500mm Ở trung tâm mưa của sông ĐồngNai đạt tới 1100mm - 1428mm Sự lặp lại phân bố của mưa cũng được thể hiện khá rõđối với các trung tâm mưa nhỏ như tại Chi Lăng 470mm, Thác Vai 391mm, Cửa Rào583mm, sông Luỹ 316mm
Yếu tố mưa không những ảnh hưởng đến dòng chảy mặt phân bố trong khônggian như đã đề cập trên đây, mà còn ảnh hưởng đến tính biến động của dòng chảy theothời gian Chế độ mưa ảnh hưởng lớn đến chế độ dòng chảy sông ngòi ở nước ta Khíhậu nước ta có sự phân hoá theo mùa rõ rệt, trên toàn lãnh thổ, ở đâu cũng có mộtmùa khô với lượng mưa thấp hơn lượng bốc hơi và một mùa mưa Do đó dòng chảysông ngòi cũng tăng lên theo mùa, mùa lũ ứng với mùa mưa và mừa cạn ứng với mùakhô
2.1.2 Tài nguyên sông ngòi
Sông ngòi Việt Nam được nuôi dưỡng bởi một nguồn nước mưa dồi dào, là hệquả hoạt động của các khối khí và hoàn lưu gió mùa Mùa lũ là mùa nước sông dângcao ứng với mùa mưa, và tương ứng mùa cạn - mùa nước trong sông tương đối ổnđịnh ứng với mùa khô Mùa lũ kéo dài từ 4 - 5 tháng Vùng Bắc Bộ, mùa lũ kéo dài từtháng 6,7 đến tháng 9, 10; sườn đông dãy Trường Sơn từ tháng 8 đến tháng 11, 12.Mùa cạn kéo dài từ 7 - 8 tháng, có nơi tới 9 tháng Tuy thời gian mùa lũ ngắn nhưnglượng dòng chảy chiếm từ 65 - 90% tổng lượng dòng chảy năm Một số lưu vực sông
Trang 12ngòi Miền Trung còn quan sát thấy lũ tiểu mãn Thời điểm mùa lũ bắt đầu và kết thúc
ở vùng này cũng biến động mạnh do ảnh hưởng của vùng khí hậu chuyển tiếp từ Bắcvào Nam
Vào đầu mùa lũ, do các trận mưa chưa lớn lại chịu tổn thất làm ẩm các lưu vựcnên quy mô các trận lũ nhỏ Những trận lũ lớn thường đi kèm với các hình thế thời tiếtnhư bão, hội tụ nhiệt đới, áp thấp Tuỳ theo khu vực tâm mưa được hình thành tạonên các nét đặc thù lũ trên các sông riêng biệt.Dao động nhiều năm của dòng chảysông ngòi Việt Nam đặc trưng bởi các chu kỳ nhiều năm nước lớn và nước nhỏ khônggiống nhau trên các hệ thống sông Sông Việt Nam nhận một lượng nước lớn xâmnhập từ ngoài lãnh thổ quốc gia Gần 2/3 lượng nước sông là lượng nước ngoại lai,đặc điểm này cần được chú ý khi nghiên cứu tài nguyên nước vì khi các nước lánggiềng dùng nhiều nước thì lượng nước đổ vào nước ta sẽ giảm, ngoài ra còn kéo theo
sự nhiễm bẩn nguồn nước dẫn đến suy giảm chất lượng nước Việc thể hiện phức tạptrong sự phân hoá theo không gian và biến động theo thời gian là những đặc điểmchính của nguồn tài nguyên nước mặt Tính chất này buộc khi khai thác tài nguyênnước cần phải chú ý để đảm bảo sự phát triển bền vững tránh làm cho nó bị suy thoái
và cạn kiệt
Mùa lũ trên các sông xuất hiện chậm dần từ Bắc vào Nam, muộn nhất ở cácvùng ven biển Trung Trung Bộ và Nam Trung Bộ Hiểm hoạ lũ lụt đe doạ cuộc sốngcủa dân cư trên tất cả các triền sông Các hiện tượng thời tiết thời gian gần đây trongquy mô biến đổi khí hậu toàn cầu lại làm phức tạp hóa bức tranh về lũ lụt và các hiểmhoạ này Xét trên toàn lãnh thổ, sự chi phối của chế độ mưa đối với chế độ dòng chảy
là rõ rằng, những dòng chảy sông ngòi còn chịu ảnh hưởng của cấu trúc mặt đệm lưuvực Tuỳ thuộc vào khả năng điều tiết của lưu vực nhiều hay ít mà chế độ dòng chảysông ngòi phụ thuộc vào chế độ mưa với nhiều chế độ khác nhau
Nhìn chung, mùa lũ thường ngắn hơn mùa mưa 1 - 2 tháng và xuất hiện chậmhơn mùa mưa khoảng 1 tháng Nhưng, trong nhiều trường hợp các nhân tố của mặtđệm đã đóng vai trò của nhân tố ảnh hưởng trội đối với chế độ dòng chảy.Đó làtrường hợp các lưu vực sông vừa và nhỏ, lòng sông không thu nhận được toàn bộnước ngầm Ở những vùng đá vôi nhiều hoặc đất bazan có tầng phong hoá sâu, khảnăng thấm lớn thì chế độ dòng chảy thể hiện sự ảnh hưởng của mặt đệm rất rõ rệt.Như ở Tây Nguyên, do khả năng thấm của đất và cuối mùa khô rất lớn trong khi đómưa đầu mùa lại lại cách đoạn, cường độ nhỏ, đã tạo ra một mùa lũ chậm hơn mùamưa tới 1,5-2 tháng Ảnh hưởng của nhân tố khí hậu giảm nhưng ảnh hưởng của mặtđệm tăng lên, trở thành nhân tố trội trong sự hình thành chế độ sông ngòi
Ngoài yếu tố mưa, yếu tố bốc hơi từ bề mặt lưu vực cũng tham gia trực tiếp vàocán cân nước của sông ngòi, ảnh hưởng rõ rệt đến sự hình thành của dòng chảy Ởnước ta có nền nhiệt độ cao, trên toàn lãnh thổ nhiệt độ trung bình năm đều vượt quá
Trang 13210C ở miền Bắc và 25oC ở miền Nam Nhiệt độ cao đã làm cho quá trình bốc hơi trênlưu vực sông từ Bắc vào Nam đều khá lớn Lượng bốc hơi trung bình năm toàn lãnhthổ là 953mm, so với lượng mưa trung bình năm thì hệ số bốc hơi là 0,48, nhỏ hơnkhoảng 35% so với cùng vĩ độ.
Mùa cạn kéo dài 6 - 9 tháng, lượng nước chiếm 20 - 30% tổng lượng dòng chảynăm và biến đổi mạnh giữa các năm Giai đoạn đầu mùa cạn, là giai đoạn chuỷen tiếp,nước trong sông còn lớn, đôi khi còn có lũ cuối mùa Giai đoạn kiệt nhất khi nguồnnuôi dưỡng sông chủ yếu do nước ngầm, kéo dài trong vài tháng, chiếm 1 - 2% tổnglượng dòng chảy năm Giai đoạn cuối mùa cạn thường có lũ sớm xuất hiện Riêng cácsông ngòi Trung Bộ giữa mùa cạn có khi xuất hiện lũ vào tiết tiểu mãn Tóm lại mưa
và bốc hơi là hai yếu tố quan trọng nhất của khí hậu ảnh hưởng đến dòng chảy, nóquyết định tiềm năng dòng chảy sông ngòi ở nước ta
2.2 Tài nguyên nước ở các lưu vực sông lớn
2.2.1 Lưu vực sông Hồng
Sông Hồng dài 1126 km, bắt nguồn từ núi Ngụy Sơn, Vân Nam Trung Quốc,vào Việt Nam tại Hà Khẩu, chảy theo hướng chính Tây Bắc - Đông Nam, đổ ra biểnqua cửa chính Ba Lạt (dài 556 km) Mật độ lưới sông 1 km/km2, hệ số uốn khúc 1,5.Lưu vực có độ cao bình quân 647m, độ dốc 29,9%, diện tích 143700 km2, phần thuộcViệt Nam là 61400 km2 Tổng phụ lưu từ cấp 1 -6 là 614 Phân lưu hữu ngạn có: sôngĐáy tách ra ở Hát Môn, sông Phủ Lý tách ra ở Hưng Yên, sông Nam Định, sông Ninh
Cơ tách ra từ Xuân Trường Phân lưu tả ngạn có: sông Trà Lý tách ra từ Thương Hộ,sông Đuống và sông Luộc chia nước sang hệ thống sông Thái Bình
Dòng chảy sông Hồng rất dồi dào nhưng phân bố không đều Tổng lượng126,8km3/năm, trong đó riêng sông Đà đóng góp 57% Mô đun dòng chảy 25,7l/s.km2 Phần lưu vực thuộc Trung Quốc chỉ tạo ra 40% lượng dòng chảy toàn hệthống Các tâm dòng chảy lớn đều ở Việt Nam và trùng với tâm mưa lớn là BắcQuang, Hoàng Liên Sơn, Mường Tè, mô đun dòng chảy 70 - 100 l/s.km2 Tâm dòngchảy nhỏ nhất ở Đồng Văn, Sơn La, Mộc Châu, mô đun dòng chảy 15 - 20 l/s.km2.Tại Sơn Tây lưu lượng trung bình là 3600 m3/s, lớn nhất 37800 m3/s (tháng 7/1991),nhỏ nhất 840 m3/s, chênh nhau 45 lần
Biến đổi lượng nước năm không nhiều, chênh lệch giữa năm nhiều nước và năm
ít nước khoảng 2 - 3 lần Phân phối dòng chảy theo mùa cực đoan Mùa lũ, từ tháng 6
- 10, cung cấp 70 - 78% tổng lượng dòng chảy năm, tháng 8 thường có lượng dòngchảy lớn nhất, 19 - 23% Kiệt nhất thường gặp vào tháng 3, dòng chảy chỉ đạt 1,7 -2,5% Lũ sông Hồng phức tạp và ác liệt, đặc biệt là ở hạ lưu, do ba sông nhánh hợplưu cùng một chỗ, bờ sông bị hệ thống đê khống chế, thềm bãi sông bị ngăn chặn
Trang 14Đường quá trình dòng chảy có dạng răng cưa, lên xuống hàng chục lần trong mùa lũ,biên độ lũ lớn, cường suất lũ lên lớn, 3 - 7 m/ngày, tốc độ dòng chảy lũ lớn, 3 - 5 m/s Phù sa sông Hồng vào loại lớn, tại Sơn Tây độ đục là 1.310 g/m3, tổng lượngphù sa 120 triệu tấn/năm, trong đó sông Đà cung cấp 53%, sông Thao 35% Phù samùa lũ lớn gấp 5 - 7 lần mùa kiệt, tại Sơn Tây mùa lũ 3500g/m3, mùa kiệt - 500 g/m3 Sông Thái Bình bắt nguồn từ núi Va Ôn 1.060m, đổ ra biển qua cửa Thái Bình,Văn Úc, Cấm Thái Bình do ba phụ lưu lớn là sông Cầu (từ Tam Đảo), sông Thương(từ Lạng Sơn) và sông Lục Nam (từ Đình Lập, là phụ lưu của sông Thương) hợpthành, dài 385km, diện tích lưu vực 12680 km2, độ cao trung bình 190m, độ dốc16,1% Mạng lưới sông xếp theo hình nan quạt, xoè rộng ở Đông Bắc và quy tụ tạiPhả Lại, mật độ 2,1 km/km2, hệ số uốn khúc 2,02; Tổng phụ lưu từ cấp 1 - 6 là 143.Lượng nước sông Thái Bình tại Phả Lại 9,19 km3/năm, trong đó dòng chảy ngầmchiếm 20% Hàng năm, sông Thái Bình nhận được từ sông Hồng gần 33 tỷ m3 nước
và 17 triệu tấn phù sa Mùa lũ từ tháng 6 – tháng 9,10 với dòng chảy chiếm 75% tổnglượng năm Lưu vực sông Cầu khá ẩm ướt, mật độ sông suối phát triển 0,95 - 1,2km/km2, lũ ác liệt, cường suất lũ 1 - 2,5 m/giờ, biên độ mực nước 4 - 10m Mạng lướisông Thương kém phát triển, nhất là vùng đá vôi bờ phải thượng và trung du, mật độ0,5 - 0,7 km/km2 Vùng thượng lưu từ Chi Lăng lên thuộc loại ít nước nhất miền Bắc,13,3 l/s.km2 Chế độ nước sông Lục Nam cực đoan nhất miền Bắc và dòng chảy ngầm
bé nhất miền Bắc (17 - 20% tổng lượng dòng chảy năm)
Lưu vực sông Hồng - Thái Bình là nơi sinh sống của 1/3 dân số và sản xuấtkhoảng 1/5 lượng gạo cả nước Riêng đồng bằng, diện tích 17000 km2, là nơi cư trúcủa 17 triệu dân, tạo ra trên 4/5 thu nhập toàn lưu vực và 1/5 GDP Cơ cấu kinh tếđồng bằng là nông nghiệp 35%, công nghiệp 24% và các dịch vụ 41%
Hiện tại nhu cầu nước dùng cho nông nghiệp là lớn nhất, chiếm khoảng 90%tổng lượng tiêu thụ Gần như toàn bộ diện tích trồng lúa trong châu thổ này đều cầncác biện pháp thuỷ lợi Tưới bơm cấp nước cho khoảng 500000 ha, tiêu bằng bơmphục vụ 450000 ha, phần còn lại được tưới tiêu tự chảy Hệ thống thuỷ lợi thiếu đồng
bộ và kém hiệu quả đang gây tổn thất tài nguyên nước và thiếu nước cho sản xuấtnông nghiệp
Tài nguyên nước lưu vực phong phú, thuận lợi cho khai thác, đáp ứng đủ nhucầu cấp nước trong tất cả các mùa cho trước mắt và trong tương lai gần Nước tiêu thụhiện chiếm 1/4 - 1/2 lượng nước trong sông, tháng 1 cần dưới 700 m3/s trong khi lưulượng tại Sơn Tây là 1367 m3/s, tháng 3 cần khoảng 300 m3/s, trong khi lưu lượng tạiSơn Tây là 1270 m3/s Một số nơi ở Thái Bình đã xảy ra thiếu nước vào những nămhạn lớn
Trang 15Chất lượng nước mặt nhìn chung tốt, đáp ứng các nhu cầu sử dụng Tuy nhiênvẫn còn tồn tại ba vấn đề đáng lưu ý: Phù sa lớn không thuận lợi cho phục vụ sinhhoạt và sản xuất công nghiệp, nhiễm mặn vùng cửa sông ven biển làm giảm khả năngcấp nước và ảnh hưởng tới sản xuất, ô nhiễm nghiêm trọng tại những vùng trực tiếpnhận nước thải của các đô thị và trung tâm công nghiệp
Trữ lượng các tầng chứa nước đồng bằng khoảng trên 1 tỷ m3/năm Khai thácnước ngầm chủ yếu phục vụ cho sinh hoạt và một phần rất nhỏ để tưới Các vấn đề vềnước ngầm hiện nay liên quan chủ yếu tới chất lượng Khoảng 50% số giếng trong lưuvực không đạt ít nhất một tiêu chuẩn cho phép nào đó, trong đó 19% bị nhiễm mặnbởi nước biển, 3% có hàm lượng nitơrat vượt quá tiêu chuẩn cho phép
Thiên tai rủi ro lớn nhất liên quan tới nước trên lưu vực là lũ lụt Trung bình cứ
10 năm thì có khoảng 15 trận bão đổ bộ vào bờ biển lưu vực gây gió to, mưa bão lớntrên diện rộng và sóng cao Tại hạ lưu sông Hồng vấn đề xói lở bờ sông cục bộ vẫnxảy ra liên tục và có xu thế ngày càng tăng
Điều kiện khí hậu và nhu cầu lương thực khiến hình thành trên đồng bằng châuthổ sông Hồng - Thái Bình truyền thống canh tác lúa nước hai ba vụ với yêu cầu chặtchẽ về thời vụ Do các vụ đều có nguy cơ chịu rủi ro do lũ lụt, xâm nhập mặn, một tậpquán lâu đời chung sống với lũ lụt đã khởi sinh từ đầu Công nguyên và đứng vững tạiđây Hiện lưu vực có khoảng 3000 km đê sông và 1500 km đê biển Trong 80 nămthực dân Pháp đô hộ nước ta đã thống kê được 34 năm có vỡ đê sông Hồng và 18 năm
vỡ đê Văn Giang Mỗi lần vỡ đê là một thảm hoạ, ngoài tổn thất người và của do bị lũcuốn trực tiếp thì tổn thất sau lũ do nạn đói và dịch bệnh hoành hành cũng rất nghiêmtrọng
Điều tiết dòng chảy bằng hồ chứa đa mục đích đang được áp dụng đạt kết quả tạilưu vực sông Hồng, với hai hồ chứa lớn và rất nhiều hồ chứa nhỏ Dung tích chứanước thường xuyên của hồ Hoà Bình là 5,6 tỷ m3, của hồ Thác Bà là 1,2 tỷ m3, tuynhiên chúng chỉ có khả năng cắt lũ cho Hà Nội ở mức hạn chế Ngoài nhiệm vụ phòng
lũ, các hồ chứa lớn còn có phục vụ phát điện, giao thông, cấp nước, nuôi trồng thuỷsản, du lịch Bất lợi của việc điều tiết dòng chảy bằng kho nước trên lưu vực sôngHồng là kéo dài thời gian lũ, tăng nguy cơ đe doạ các đoạn đê xung yếu Việc xả nướctrong mùa kiệt theo kế hoạch phát điện (xả không đều đặn) có thể làm tăng nguy cơmặn xâm nhập sâu khi mực nước trong sông hạ thấp Rủi ro vỡ đập có xác suất rấtnhỏ nhưng lại có nguy cơ gây tổn thất rất cao
Tương lai, lưu vực sông Hồng - Thái Bình được qui hoạch phát triển mạnh, cưdân đô thị sẽ tăng đến 80% và sản lượng công nghiệp chiếm khoảng 1/2 tổng sảnphẩm lưu vực Điều này đồng nghĩa với sự tăng mạnh nhu cầu nước dùng chất lượngcao và tăng nguy cơ gây ô nhiễm các nguồn nước do nước thải Mặt khác nhu cầunước cho nông nghiệp có khả năng giảm do giảm diện tích đất nông nghiệp và chuyển
Trang 16đổi cơ cấu cây trồng Hiệu suất sử dụng nước chắc chắn sẽ được nâng cao nhờ hoànthiện các hệ thống thuỷ nông và quản lý tốt tài nguyên
2.2.2 Lưu vực sông Kỳ Cùng
Kỳ Cùng - Bằng Giang là hệ thống sông gồm hai nhánh lớn là Kỳ Cùng, BằngGiang, chảy trong lòng máng Cao Lạng và gặp nhau ở Trung Quốc Lưu vực có lượngmưa 1422 mm/năm, tập trung chủ yếu (85%) vào mùa mưa, từ tháng 4 - 10; Lượngbốc hơi 762 mm/năm Sông Kỳ Cùng bắt nguồn từ đèo Xeo Bo cao 625m, dài 243
km, chảy theo hướng gần Đông Bắc - Tây Nam, lòng sông uốn khúc mạnh, mật độsông suối 0,88 km/km2, tổng phụ lưu từ cấp 1 - 6 là 80, độ cao bình quân lưu vực386m, độ dốc 18,8%, diện tích lưu vực thuộc Việt Nam 6532 km2 Mô đun dòng chảy
17 l/s.km2, nhỏ so với các vùng Bắc Bộ Tổng lượng dòng chảy 3,6 km3/năm, trong đó
70 - 75% là dòng chảy mùa lũ (tháng 6 - tháng 10) Dòng chảy nhỏ nhất thuộc loại bénhất vùng Đông Bắc, mô đun dòng chảy 30 ngày nhỏ nhất liên tục dưới 3 l/s.km2.Sông Bằng Giang dài 108 km, bắt nguồn từ Na Lượng Nưa cao 600m, chảy theohướng Tây Bắc - Đông Nam Diện tích lưu vực thuộc Việt Nam 4000 km2, 40% là núi
đá vôi, độ cao bình quân 482m, độ dốc 20,1% Hệ số uốn khúc lòng sông 1,29; Mật
độ lưới sông 0,91 km/km2, tổng phụ lưu từ cấp 1 - 6 là 26 Cao nguyên Pắc-pó vàBình Lạng có mật độ sông suối rất thấp 0,5 - 0,7 km/km2, vùng núi đất diệp thạch, sathạch mật độ sông suối lớn hơn 0,9 - 1,24 km/km2 Tổng lượng dòng chảy năm 3,73
km3, trong đó 76% là dòng chảy mùa lũ (tháng 6 - tháng 9)
Nhìn chung lượng nước hiện có trong sông ngòi lớn hơn nhu cầu dùng nướcthường xuyên, nhưng vẫn tồn tại vấn đề thiếu nước địa phương do địa hình núi cao vàdòng chảy phân phối cực đoan Đặc biệt nghiêm trọng là thiếu nước sản xuất ở lưuvực sông Kỳ Cùng vào mùa khô, khi tổng dòng chảy ba tháng kiệt nhất chỉ bằng 3%dòng chảy năm, trong khi đó các thoả thuận với Trung Quốc đòi hỏi phải duy trì mộtlượng nước cần thiết trong sông ở biên giới Trong các vùng núi đá vôi xa xôi, vàothời kỳ mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3, ngay nguồn nước cung cấp cho dân cư sinhhoạt cũng rất khan hiếm Lũ mang tính chất núi rõ nét Dòng chảy mùa lũ cao gấp 10 -
15 lần mùa kiệt Tại lưu vực Kỳ Cùng mưa lũ tháng 7 có thể làm ngập tới 10000 hađất nông nghiệp
Cư dân lưu vực chỉ có 1,02 triệu người, đa phần là dân tộc thiểu số, mật độ dânthấp, 91 người/km2, sống rải rác trong các vùng núi, với 86% dân số nông thôn Nôngnghiệp hiện cung cấp 42% tổng sản phẩm khu vực, trong đó 40% là từ chăn nuôi Chỉ
có 10% diện tích lưu vực (tức 135000 ha) được sử dụng để trồng trọt, trong đó có
28000 ha được tưới bằng các công trình thuỷ lợi nhỏ bơm và tự chảy Diện tích lúatrong khu vực liên tục giảm và được thay thế bằng các loại cây trồng trên đất khô nhưngô, khoai tây, khoai lang và sắn Đây là một xu thế chuyển đổi đúng đắn, phù hợpvới điều kiện tự nhiên khu vực Rừng trước đây chiếm 90% diện tích lưu vực, hiện đã
Trang 17bị chặt phá nhiều, nhưng những diện tích này vẫn là đất tiềm năng thích hợp nhất chotrồng lại rừng và cây công nghiệp Sử dụng đất theo hướng này cũng là một giải pháptốt cho phát triển kinh tế trong điều kiện tài nguyên nước hạn chế
2.2.3 Lưu vực sông Mã
Dòng chính sông Mã bắt nguồn từ vùng núi PhoueiLong - Lai Châu, chảy theohướng tây bắc - đông nam, qua Lào một đoạn, đổ ra biển Đông qua ba cửa Sung, LạchTrường, Đồng Hới Diện tích lưu vực 28400 km2, dài 512 km, trong đó phần ở ViệtNam có diện tích 17600 km2 (63%), dài 410 km Độ cao bình quân lưu vực 762m, độdốc 17,6% Mật độ lưới sông 0,66km/km2, hệ số uốn khúc 1,79, tổng phụ lưu từ cấp 1
- 6 là 91 Hai phụ lưu lớn là sông Chu và sông Bưởi đều nhập vào sông Mã tại hạ lưu,cách cửa sông 25 - 48 km, tạo mạng lưới sông hình nan quạt rất nguy hiểm do tăngcường mức ác liệt của lũ Tổng lượng dòng chảy năm 10,8 km3, dòng chảy phù sa2,86 triệu tấn/năm Dòng chảy phân bố không đều Thượng và trung lưu mưa ít, giótây khô nóng nên dòng chảy chỉ khoảng 10 - 20 l/s.km2, hạ lưu 25 l/s.km2 Nhiều nướcnhất là vùng thượng nguồn các sông Luồng, Lò, Bưởi (25 - 35 l/s.km2) Mùa mưa vàmùa lũ ở thượng nguồn bắt đầu sớm hơn hạ nguồn một tháng, khiến mùa lũ hạ nguồnkéo dài 5 tháng, từ tháng 6 - 10, dòng chảy mùa lũ chiếm 70 - 75% tổng lượng năm.Tại Hồi Xuân cường suất lũ lên trên 50 cm/giờ, biên độ mực nước trên 11m Thờigian lũ lên tương đối ngắn, 2 - 3 ngày Hạ lưu thường bị ngập úng trong mùa lũ do độdốc đáy sông nhỏ và ảnh hưởng của triều Nhật triều không đều, biên độ trung bình1,3m, lớn nhất 2,5m gây ảnh hưởng vào sâu tới 35-40 km Sông bị đê khống chế từCẩm Thuỷ
Sông Chu, phụ lưu lớn nhất, bắt nguồn từ Lào, diện tích 7550 km2, dài 325 km.Phần thuộc Việt Nam có diện tích 2050 km2, dài 160km, mạng lưới sông suối pháttriển, 0,98 km/km2 Dòng chảy hạ lưu bị điều tiết từ đập Bái Thượng Tổng lượngdòng chảy năm 4,6 km3 Chế độ lũ hai mùa: lũ tiểu mãn đầu hè và lũ chính từ tháng 7
- 11 Lũ ác liệt, cường suất lũ lên 40 - 60 cm/giờ trên sông chính và trên 100 cm/giờtrên sông nhánh Biên độ lũ xấp xỉ 10m Kiệt nhất vào tháng 3, dòng chảy chỉ đạt 1 -3% tổng lượng năm Mặn vào sâu 12 km trên sông Lèn
Dân số lưu vực 3 triệu người, 93% sống ở nông thôn, mức sống thấp Kinh tế lưuvực chủ yếu là nông nghiệp, sản xuất lúa gạo chiếm 90% Công nghiệp tập trung vàochế biến nông sản, sản xuất xi măng và phân bón Kinh tế và tăng trưởng trong lưuvực bị hạn chế bởi nguồn nước, đất đai kém màu mỡ và điều kiện khí hậu khắc nghiệt.Diện tích đất nông nghiệp 240000 ha (75% tổng tiềm năng), trong đó 136000 ha đượctưới và 27000 ha được tiêu bằng các công trình tự chảy hoặc bơm Mỗi năm lưu vựcchịu tác động của ít nhất một trận bão, kèm theo mưa lớn và lũ lụt Diện tích bị ngậpúng thường xuyên khoảng 44000ha Đê biển không đủ cao và vững chắc nên vẫn bịnước mặn tràn, vỡ đê, nhất là khi có bão, sóng lớn Nguồn nước hiện có trong tháng 3,
Trang 18tháng 4 không đủ đáp ứng cho nhu cầu canh tác vụ xuân ở các vùng sông Chu, Lèn,gây thiếu nước trên 27000 ha Ngập úng và hạn hán là những thiên tai gây tổn thấtnghiêm trọng cho sản xuất nông nghiệp Mùa kiệt thiếu nước tưới và xâm nhập mặnsâu gây thiệt hại cho nông nghiệp khoảng 17 triệu đô la/năm, bão và ngập úng mùamưa gây thiệt hại vài chục tỷ/năm
Khả năng tăng nhu cầu nước nông nghiệp trong tương lai có thể xảy ra do tăng
vụ và tăng diện tích đất nông nghiệp, cũng như đất nông nghiệp được tưới Nước dùngcho nông nghiệp và sinh hoạt sẽ tăng Việc cấp nước đô thị, vùng đông dân và vùngcao sẽ có thể trở thành vấn đề nghiêm trọng trong tương lai Chiến lược điều tiết dòngchảy hợp lý cho lưu vực là tăng cường xây dựng các hồ chứa đa năng, phục vụ phátđiện và tưới
151, hệ số uốn khúc 1,74 Dòng chảy không lớn, 21 km3/năm (ở Lào 4,9 km3/năm)
Dòng chảy phù sa 4,4 triệu tấn/năm Mô đun dòng chảy ở thượng lưu 20 l/s.km2 và ở
hạ lưu 30 l/s.km2 Lũ tiểu mãn tháng 5, 7 Mùa lũ chính từ tháng 7, 8 – tháng 11, dòngchảy chiếm 65 - 75% tổng lượng năm Biên độ mực nước 10 - 15m Kiệt nhất là tháng
3 hoặc tháng 4, mô đun 30 ngày liên tục nhỏ nhất là 4,8 - 5,5 l/s.km2
Phụ lưu lớn nhất là sông Hiếu (sông Con), diện tích lưu vực 5340 km2, dài 228
km Thượng lưu mưa nhiều, mật độ sông suối rất phát triển, 1 -1,28 km/km2, tổnglượng dòng chảy năm 5 km3 Mô đun dòng chảy trung bình 20 - 30 l/s.km2, mô đun
dòng chảy nhỏ nhất 30 ngày liên tục chỉ có 2 - 3 l/s.km2
Phụ lưu lớn thứ hai là sông Ngàn Sâu, diện tích lưu vực 3210 km2 Mật độ sôngsuối phát triển trên1 km/km2, nguồn nước phong phú, 6 km3/năm (40 - 70 l/s.km2) Lũtiểu mãn tháng 5, tháng 7 Mùa lũ chính ngắn, chậm, từ tháng 9 – tháng 11, chiếm 50 -
60% tổng lượng nước năm Mô đun dòng chảy liên tục 30 ngày nhỏ nhất 3 - 4 l/s.km2
Hệ thống thuỷ lợi được xây dựng khá tốt, như Nham Hùng Nghi, Diễn Yên Quỳnh,Nghệ An và Linh Cảm, nhưng hiệu quả sử dụng chưa cao, diện tích trồng trọt đượctưới ước đạt 85000 ha
Dân số lưu vực 3 triệu người, 90% sống ở nông thôn, 15% là dân tộc ít người.60% GDP của lưu vực là từ nông nghiệp, trong đó sản xuất lúa gạo chiếm 80% Côngnghiệp chỉ giới hạn trong lĩnh vực xây dựng, sửa chữa đầu máy xe lửa, đóng tàu, chếbiến chè và hải sản, với tỷ trọng khoảng 14% GDP Tốc độ tăng trưởng kinh tế thấp,một số người dân sống rất nghèo khổ
Trang 19Trở ngại lớn đối với sự phát triển là bão, lũ lụt Lũ ác liệt và ngập lụt thường gâythiệt hại cho sản xuất trên diện tích 30000 - 60000 ha/năm, làm mất khoảng 10-20%sản lượng nông nghiệp, tương đương với khoảng 20-40 triệu đô la Mỹ Nước kiệttháng 3 gây nhiễm mặn nặng vào sâu tới 20 km Hạn hán có thể xảy ra vào tháng 5,tháng 6 cũng là những trở ngại đáng kể cho sản xuất nông nghiệp Giải pháp hạn chếthiên tai hiệu quả nhất là hồ chứa đa mục đích và cải thiện hệ thống kiểm soát lũ
2.2.5 Lưu vực sông Thu Bồn
Sông Thu Bồn dài 205 km, diện tích lưu vực 10350 km2, trong đó 80% là caonguyên với nhiều thung lũng hẹp và đỉnh núi cao, 80% là rừng, độ cao bình quân lưuvực 552m, độ dốc 25,5% Hệ thống sông phát triển mạnh, hệ số uốn khúc 1,86, tổngphụ lưu từ cấp 1 - 6 là 81 Thượng nguồn Thu Bồn (sông Tranh) bắt nguồn từ núi NgọcLĩnh cao 1600m, chảy theo hướng bắc - nam, đổ ra biển tại cửa sông Thạnh ChâuĐông Sông Cái bắt nguồn từ núi Ngọc Lĩnh, chảy gần song song sông Tranh, hợp vớisông Bung tạo thành sông Vũ Gia Sông Vũ Gia và Thu Bồn hợp lưu nhau tạo thànhsông Hội An Hạ lưu sông Thu Bồn phát triển chằng chịt, với nhiều phân lưu như sôngNgang, Vĩnh Điện, Tĩnh Yên đổ vào vịnh Đà Nẵng qua sông Hàn, sông Trường đổ vàovịnh An Hoà, đồng thời cũng ăn thông với sông Tam Kỳ qua phá Trường Giang Hiệntượng xói lở bồi lấp dòng sông vùng hạ lưu diễn biến rất phức tạp
Dòng chảy phân bố đồng đều trên lưu vực Tổng lượng dòng chảy năm là 20
km3, trong đó dòng chảy ngầm 6 km3 Mùa lũ từ tháng 9, 10 – tháng 12, lượng dòngchảy 65% tổng lượng năm Lũ lụt xảy ra đồng bộ trong cả hệ thống và rất ác liệt Biên
độ mực nước lên tới gần 20m Cường suất lũ lên tại nhiều nơi khá lớn, tới vài mét/giờ
Lũ quét cũng là mối đe doạ thường xuyên Dòng chảy mùa cạn khá lớn, 18 - 41
l/s.km2 Dòng chảy tháng nhỏ nhất (tháng 4) chỉ chiếm 2% tổng lượng nước năm Nông nghiệp là hoạt động kinh tế chính của lưu vực, với các cây trồng chủ yếu
là lúa, mía, lạc, thuốc lá và sắn Sản lượng nông nghiệp chiếm khoảng 60% tổng GDP.Đất nông nghiệp hạn chế, chỉ có 64000 ha (6% diện tích lưu vực), trong đó trên 2/3nằm ở vùng đất thấp đã được khai thác, còn khoảng 20.000 ha nằm trên cao nguyênkhai thác hạn chế 70% diện tích đất canh tác đã được tưới tiêu bằng hệ thống các hồchứa nhỏ và đập dâng nước, trong đó khoảng 30.000 ha trồng lúa Nước cho nôngnghiệp có nguy cơ thiếu hụt do mùa kiệt kéo dài và xâm nhập mặn Lũ lớn và tìnhtrạng cửa sông không ổn định đe dọa vùng hạ lưu và cửa sông trong đó có thành phố
Đà Nẵng Trong tháng 11 và tháng 12, khoảng 31000 ha ven biển thường bị ngập lụtngắn, khoảng 1 - 3 ngày
Trong tương lai gần, nhu cầu nước lưu vực khó biến động do diện tích canh tácnông nghiệp khó tăng Tuy nhiên cần tính tới biến động bất thường của tài nguyênnước và nhu cầu nước cho đô thị, khu công nghiệp tăng Dự kiến để khai thác hợp lýtài nguyên đất và nước trong lưu vực có thể áp dụng các giải pháp kho nước nhỏ ở
Trang 20thượng nguồn, thay đổi cơ cấu cây trồng trong mùa khô, thay lúa bằng cá trong mùaúng ngập, đầu tư xây dựng cống ngăn mặn
2.2.6 Lưu vực sông Ba
Sông Ba dài 388km, bắt nguồn từ Công Pông, trên cao nguyên miền Trung cao1200m, đổ ra biển qua cửa Ngọc Đăng Lưu vực dài và hẹp, độ cao trung bình 400m,
độ dốc 10,9%, diện tích 13900 km2, phân bố ở cả hai sườn dãy Trường Sơn, với 80%
là cao nguyên có các thung lũng hẹp và đỉnh núi cao nên thường có mưa lớn, lũ nhanh
và tiềm năng thuỷ điện dồi dào Mật độ sông suối 0,94 km/ km2, hệ số uốn khúc 1,98,tổng phụ lưu cấp 1 - 6 là 106 Tổng lượng dòng chảy 10 km3, trong đó nước ngầm
chiếm khoảng 15% Vùng nhiều nước là lưu vực sông Hinh, 50 l/s km2 và thượng
nguồn sông chính, 25 - 35 l/s km2 Lưu vực sông Ba thường được xem là có lượngnước dồi dào nhưng phân bố bất lợi theo thời gian Mùa lũ ở thượng và trung lưu từtháng 8 -11, mức lũ không lớn, ở hạ lưu từ tháng 9 – tháng 12, thường xảy ra lũ lớn vàngắn, đặc biệt là cuối mùa Dòng chảy mùa lũ chiếm 60 - 73% tổng lượng năm Tháng
có lượng dòng chảy lớn nhất xuất hiện đồng bộ trên toàn lưu vực vào tháng 9, vớilượng dòng chảy chiếm tới 21 - 40% tổng lượng năm, gây nguy cơ rất lớn cho vùngtrung hạ lưu Riêng trận lũ từ ngày 9 - 20 tháng 11 năm 1981 đã có lượng nước là 4
km3 (bằng 40% dòng chảy trung bình năm và lớn hơn dòng chảy năm của sông KỳCùng) Mùa lũ 1996 tỉnh Phú Yên phải huy động hàng vạn người đào cồn cát chắncửa sông Ba để thoát lũ Tháng kiệt nhất là tháng 4 ở Đông Trường Sơn và tháng 7 ởTây Trường Sơn, dòng chảy 0,9 - 1,6% tổng lượng năm Những năm ít nước các sôngsuối nhỏ hầu như khô cạn, mặn xâm nhập sâu qua cửa sông 15 - 20 km
Cư dân lưu vực sông Ba khoảng 1 triệu người, thưa nhất trong cả nước, tỷ lệ dân
đô thị khoảng 20% Kinh tế chỉ đóng góp chưa đầy 1% tổng GDP cả nước Nôngnghiệp hiện đang sử dụng 150.000 ha trong tổng số 268.000 ha có khả năng canh tác.Diện tích được tưới khoảng 21.500 ha, nhu cầu tưới rất lớn, vì tám tháng mùa khô đều
có lượng mưa nhỏ hơn bốc hơi, đặc biệt là tháng 2, 3, 4 khi lượng mưa xuống dưới 40mm/tháng Vùng ven biển đã có các hệ thống thuỷ lợi ổn định, nhưng thường xuyênchịu tác động của bão, lũ Vùng đất trũng đã xảy ra lụt nghiêm trọng Hiện trên lưuvực chưa có công trình kiểm soát lũ và úng ngập Ba công trình dự kiến khả thi nhất là
hồ chứa Ya Yun và sông Hinh điều tiết nước phục vụ thuỷ lợi, An Khê phục vụ phátđiện và chuyển nước sang sông Con ngoài lưu vực với lưu lượng 14 - 18m3/s Mặc dùđược dự đoán là hoạt động đồng thời của ba công trình sẽ không gây ảnh hưởng lớntới dòng chảy mùa kiệt ở hạ lưu, tuy nhiên tình hình sẽ phụ thuộc rất nhiều vào hoạtđộng thực tế của từng công trình
2.2.7 Lưu vực sông Đồng Nai
Trang 21Sông Đồng Nai, bắt nguồn từ Nhơn Giao trên cao nguyên Lâm Viên cao 1700m,chảy ra biển qua cửa Soi Rạp, Vũng Tàu, là con sông dài nhất nội địa Việt Nam, 635
km Diện tích lưu vực 44100 km2, ở Việt Nam 37400 km2, độ cao bình quân lưu vực470m, độ dốc 4,6% Mật độ lưới sông 0,64 km/ km2, hệ số uốn khúc 2,16, tổng phụlưu từ cấp 1 - 6 là 266 Phụ lưu chính là La Ngà, Sông Bé, Sài Gòn và Vàm Cỏ.Thượng và trung lưu sông chảy qua sơn nguyên Đà Lạt, cao nguyên Di Linh, MơNông, dòng sông nhiều đoạn bằng phẳng xen lẫn thác ghềnh (Pren, Trị An) Hạ lưusông qua đồng bằng Nam Bộ, lòng sông mở rộng, hội với sông Sài Gòn rồi đổ ra biểnbằng nhiều nhánh chằng chịt, trong đó có Lòng Tào và Soài Rạp Lòng Tào sâu, ít bãibồi, là đường chính cho tàu bè vào cảng Sài Gòn Tả ngạn Soài Rạp nhận thêm nướcsông Vàm Cỏ ngay trước khi đổ ra biển
Thượng nguồn sông Đồng Nai có dòng chảy trung bình, 20 - 30 l/s km2 Lưuvực sông Sài Gòn, sông Vàm Cỏ mưa ít, bốc hơi mạnh nên lượng nước kém, 10 - 20
l/s km2 Trung lưu sông Đồng Nai, La Ngà và thượng nguồn sông Bé có nguồn nước
dồi dào, trên 40 l/s km2 Tổng lượng dòng chảy sông Đồng Nai là 33 km3/năm, trong
đó dòng chính và sông Bé cung cấp 24,2 km3/năm, sông Sài Gòn 4,1 km3, sông Vàm
Cỏ 4,5 km3 (3,1 km3/năm của hai sông này là nhận từ nước ngoài) Mùa lũ từ tháng 7
-11, mức độ tập trung dòng chảy cao nhất nước, 80 - 85% tổng lượng dòng chảy năm,tháng có dòng chảy lớn nhất có thể là 9, 10, cấp 25 - 30% tổng lượng nước năm Dòng
chảy mùa kiệt tương đối lớn, 20 - 30 l/s km2
Nguồn thuỷ năng của hệ thống sông Đồng Nai rất dồi dào, tính đến Trị An là 31
tỷ kW/h, còn trên sông Bé 9 tỷ kW/h Lưu vực hiện có ba hồ chứa đa mục tiêu là Trị
An, Đa Nhim, Thác Mơ và hồ Dầu Tiếng phục vụ cấp nước sinh hoạt và nông nghiệp.Các công trình trên chứa tổng cộng trên 6 km3 nước, đảm bảo cho trên 700 MW côngsuất lắp đặt thuỷ điện Trị An và Dầu Tiếng hiện cấp 225 m3/s nước trong mùa khô,nhưng nước mặn có nồng độ tối đa trung bình 4000 ppm vẫn xâm nhập sâu 7km trênđoạn hợp dòng của sông Đồng Nai và Sài Gòn, gây nguy cơ làm giảm chất lượngnước Tp.Hồ Chí Minh và khu vực xung quanh
Châu thổ sông Đồng Nai có vành đai kinh tế Tp Hồ Chí Minh - Biên Hoà làtrung tâm phát triển kinh tế lớn nhất ở Việt Nam Phần lớn châu thổ, chiếm 10% diệntích cả nước, là nơi sinh sống của trên 10 triệu dân hoạt động trong ba khu vực côngnghiệp - dịch vụ, cây công nghiệp - lâm nghiệp và sản xuất nông nghiệp (tập trungtrong đồng bằng phù sa Long An) Thu nhập bình quân đầu người cao, gần gấp đôitrung bình cả nước
Không giống như nhiều vùng khác, châu thổ sông Đồng Nai hầu như không cóbão, do vậy lụt không nghiêm trọng, trừ úng ngập xảy ra ở ven biển trong mùa mưa dokhả năng tiêu thoát nước kém Nhiệt độ, độ ẩm, nắng thuận lợi cho nông nghiệp Diện