Hy Lạp là một trong những cái nôi của nền văn minh nhân loại, đã trải qua những thời kỳ phát triển rực rỡ của xã hội loài người. Nơi đây hội tụ những điều kiện hết sức thuận lợi cho nền văn hóa tinh thần, trong đó triết học là một lĩnh vực phát triển mạnh mẽ, trở thành đỉnh cao của nền văn minh Hy Lạp, là môn khoa học của mọi khoa học. Triết học Hy Lạp cổ đại ra đời vào khoảng cuối thế kỷ VII – đầu thế kỷ VI TCN và tồn tại đến thế kỷ II – III sau CN, trong bối cảnh diễn ra sự chuyển biến lâu dài và sâu sắc các quan hệ xã hội. Là quê hương thứ hai của nền triết học Phương Tây, được hình thành trên cơ sở của nền kinh tế công thương nghiệp phát triển, xã hội chiếm nô đạt tới mức cao và trên nền tảng của những thành tựu khoa học tự nhiên, ít bị chi phối bởi tôn giáo. Ngay từ xa xưa, người Hy Lạp đã sản sinh ra những tư tưởng triết học với các hình thái, xu hướng khác nhau, phản ánh những quan điểm của các giai cấp và các khuynh hướng kinh tế, chính trị khác nhau, có thể kể đến những nhà triết học tiêu biểu như: Héraclite, Đêmôcrít, Xôcrát, Platông, Aristote…
Trang 1MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 2
1 Điều kiện ra đời và phát triển triết học Hy Lạp cổ đại 3
1.1 Điều kiện ra đời của triết học Hy Lạp cổ đại 3
1.1.1 Điều kiện tự nhiên 3
1.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 3
1.1.3 Sự phân rã của thần thoại và sự xuất hiện triết học 4
1.1.4 Sự kế thừa và phát triển văn hoá Cận Đông 5
1.2 Lịch sử phát triển 6
2 Đặc điểm của Triết học Hy Lạp cổ đại 9
2.1 Tính giai cấp sâu sắc 10
2.2 Tính bao trùm về mọi lĩnh vực trong thế giới quan của con người 10
2.2.1 Giá trị về thế giới quan 10
2.2.2 Giá trị về nhận thức luận 16
2.3 Coi trọng vấn đề con người 17
2.4 Tính biện chứng sơ khai 18
2.5 Triết học Hy Lạp cổ đại gắn liền với thành tựu khoa học tự nhiên 19
2.6 Triết học Hy Lạp cổ đại có sự phân chia và đối lập 19
3 Ý nghĩa, ưu điểm và hạn chế 20
3.1 Ý nghĩa của triết học Hy Lạp cổ đại đối với lịch sử triết học và ngày nay 20
3.2 Ưu điểm và hạn chế: 21
3.2.1 Ưu điểm: 21
3.2.2 Hạn chế: 22
KẾT LUẬN 23
TÀI LIỆU THAM KHẢO 24
Trang 2ĐẶT VẤN ĐỀ
Hy Lạp là một trong những cái nôi của nền văn minh nhân loại, đã trải quanhững thời kỳ phát triển rực rỡ của xã hội loài người Nơi đây hội tụ những điều kiệnhết sức thuận lợi cho nền văn hóa tinh thần, trong đó triết học là một lĩnh vực pháttriển mạnh mẽ, trở thành đỉnh cao của nền văn minh Hy Lạp, là môn khoa học củamọi khoa học
Triết học Hy Lạp cổ đại ra đời vào khoảng cuối thế kỷ VII – đầu thế kỷ VITCN và tồn tại đến thế kỷ II – III sau CN, trong bối cảnh diễn ra sự chuyển biến lâudài và sâu sắc các quan hệ xã hội Là quê hương thứ hai của nền triết học PhươngTây, được hình thành trên cơ sở của nền kinh tế công thương nghiệp phát triển, xãhội chiếm nô đạt tới mức cao và trên nền tảng của những thành tựu khoa học tựnhiên, ít bị chi phối bởi tôn giáo Ngay từ xa xưa, người Hy Lạp đã sản sinh ra những
tư tưởng triết học với các hình thái, xu hướng khác nhau, phản ánh những quan điểmcủa các giai cấp và các khuynh hướng kinh tế, chính trị khác nhau, có thể kể đếnnhững nhà triết học tiêu biểu như: Héraclite, Đêmôcrít, Xôcrát, Platông, Aristote… Trong những điều kiện lịch sử hết sức đặc biệt đó, triết học Hy Lạp cổ đại rađời với những đặc điểm mang tính thời đại nhưng cũng thể hiện được bước đột phátrong nhận thức và suy luận Có thể nói, triết học Hy Lạp cổ đại là thành tựu rực rỡcủa nền văn minh phương Tây, tạo nên cơ sở xuất phát của văn hoá châu Âu và làmột quả núi đồ sộ trong thế giới triết học của loài người
Trang 31 Điều kiện ra đời và phát triển triết học Hy Lạp cổ đại
1.1 Điều kiện ra đời của triết học Hy Lạp cổ đại
1.1.1 Điều kiện tự nhiên
Hy Lạp cổ đại là quốc gia rộng lớn có khí hậu ôn hòa, bao gồm miền Nam bánđảo Ban Căng, miền ven biển phía Tây Tiểu Á và nhiều hòn đảo ở miền Egee HyLạp giống như một bàn tay chìa các ngón ra biển Địa Trung Hải trong bản đồ Châu
Âu Hy Lạp có vị trí tự nhiên rất thuận lợi để trồng trọt, chăn nuôi và các hoạt độnggiao thương, mua bán
Phía Đông là lãnh thổ thuộc về châu Á, đây là một nền thương mại kỹ nghệ cựcthịnh và một nền văn hóa phong phú Trung Bộ có nhiều dãy núi ngang dọc vànhững đồng bằng trù phú, có thành phố lớn như Athen Nam Bộ là bán đảoPelopongnedơ với nhiều đồng bằng rộng lớn phì nhiêu thuận lợi cho việc trồng trọt,phát triển nông nghiệp
Với điều kiện tự nhiên thuận lợi như vậy nên Hy Lạp cổ đại sớm trở thành mộtquốc gia chiếm hữu nô lệ có một nền công, thương nghiệp phát triển, một nền vănhoá tinh thần phong phú đa dạng Đồng thời, Hy Lạp là nơi sinh ra những nhà triếtgia nổi tiếng với những triết lý trở nên bất hủ
1.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
Quá trình hình thành xã hội có giai cấp ở Hy Lạp cổ đại kéo dài từ thế kỷ XI VIII TCN Kết quả của quá trình này là làm cho vai trò sở hữu tư nhân của giai cấpquý tộc ở Hy Lạp lớn hơn các nước Cận Đông, làm cho công xã tan rã nhanh, tạotiền đề để hình thành các nhà nước – thị thành, làm xuất hiện sự đối lập giữa thànhthị với nông thôn tạo nên hoạt động buôn bán, trao đổi sản phẩm sôi động trong lòngnhà nước- thị thành, giữa các công xã, trên quy mô cả nước Kết quả ấy cho thấyquan hệ vật chất giữa các cá nhân mà địa vị xã hội được xác định bởi giá trị tài sảncủa họ đã thay thế quan hệ mang tính chất tự nhiên cùng huyết thống, gia tộc giữangười với người trước đây Trong cơ cấu kinh tế- xã hội của nhà nước thị thành, laođộng cưỡng bức nô lệ giữ vai trò chủ đạo, nên ta gọi hình thái xã hội Hy Lạp cổ đại
-là hình thái chiếm hữu nô lệ
Trang 4Đặc điểm của chế độ kinh tế, xã hội ở Hy Lạp cổ đại đã đem lại tính chất độcđáo cho một nền văn hoá hết sức phong phú Nguyên nhân quyết định của sự hưngthịnh nền văn hoá này là phân công giữa lao động trí óc và chân tay Tầng lớp tríthức ở Hy Lạp cổ đại không còn bị ràng buộc với sự hoạt động phụng sự tôn giáo.
Họ xuất thân từ tầng lớp thị dân khá giả, thương gia, chính khách
1.1.3 Sự phân rã của thần thoại và sự xuất hiện triết học
Thần thoại (tiếng Hy Lạp là Mythologia) là sự phản ánh thực tại một cách
hoang đường trong ý thức nguyên thuỷ Người Hy Lạp cổ đã dùng thần thoại để giảithích những hiện tượng trong tự nhiên và đời sống xã hội
Những hiện tượng ấy phản ảnh vào ý thức tạo thành hình thức lịch sử đầu tiêncủa thế giới quan, trong đó, tư tưởng và tình cảm, tri thức và nghệ thuật, tinh thần vàvật chất, khách quan và chủ quan, hiện thực và suy tưởng, tự nhiên và siêu nhiênchưa được phân đôi Cùng với sự phát triển của xã hội, thần thoại cũng trải quanhững bước phát triển nhất định biểu hiện mức độ trưởng thành của ý thức Đỉnh caocủa sự phát triển ấy chính là sự thay thế hình thức thế giới quan thần thoại bằng thế
giới quan mới, bắt đầu từ thời đại Hôme với hai tác phẩm nổi tiếng là Iliat và Ôđixê
Trong các tác phẩm ấy, trước hết ta thấy tính cách các vị thần Ở đây thần vàngười không khác nhau về tính cách Sau số phận của các vị thần là những thôngđiệp của cuộc sống, những bài ca về lòng yêu nước, tình cảm vợ chồng, cha mẹ, anh
em Các vị thần cũng mắc phải những thói hư tật xấu như con người: ghen tuông,hiềm khích, đố kỵ, lừa dối,…Thứ hai, sự chắp nối các câu chuyện về sinh hoạt giữangười với người, có thể thấy được sự phác thảo sơ lược của Hôme và Hêxiốt vềnguồn gốc thế giới Nếu ở Hôme, các lực lượng lịch sử- tự nhiên còn ẩn trong vỏ bọcthiên nhiên, thì đến Hêxiốt bức tranh sinh thành và biến hoá của vũ trụ đã mang dáng
vẻ của một vũ trụ quan sơ khai, Hêxiốt coi vũ trụ được sinh ra từ trạng thái hỗnmang, sau đó hình thành trái đất, trái đất vận động sinh thành các sự vật, hiện tượng
tự nhiên Điều quan trọng của sự xuất hiện sau này của triết học chính là cái trạngthái hỗn mang ấy đã được mô tả như là sơ sở mang tính thực thể
Sự xuất hiện triết học không phải là một quá trình nảy sinh từ thần thoại màchỉ xuất hiện khi hoạt động của con người có thể dựa vào các khái niệm được hình
Trang 5thành trên cơ sở tích luỹ kinh nghiệm từ sản xuất, xã hội, đạo đức phong phú củangười Hy Lạp cổ đại Triết học tách khỏi thần thoại với quá trình hình thành kháiniệm lâu dài từ thế kỷ VII TCN Từ các hình tượng thần thoại, nhờ đặc trưng vốn cócủa triết học là duy lý hoá đã biến đổi thành các khái niệm Quá trình duy lý hoá thếgiới quan thần thoại là quá trình dựa vào tri thức khoa học mà Talet và sau đó là cácnhà khoa học tự nhiên khác xây dựng nên
Tri thức toán học, thiên văn có vai trò to lớn trong quá trình duy lý hoá thếgiới quan Người đầu tiên nêu lên thuật ngữ triết học- thuật ngữ mà sau đó đượcnhiều nhà hiền triết Hy Lạp sử dụng chính là Pitago (khoảng 580-500TCN) Sự xuấthiện thuật ngữ triết học “yêu mến sự thông thái” đã đánh dấu một dạng tri thức thuầntuý lý luận Đối với các nhà triết học, thì công việc suy xét, suy tư trở thành côngviệc chủ yếu trong cuộc sống của họ Các nhà tư tưởng Hy Lạp đã phát triển tư tưởngtriết học hết sức phong phú Chính từ các hình thức có mầm mống mà nảy nở hầu hếtcác loại thế giới quan sau này
1.1.4 Sự kế thừa và phát triển văn hoá Cận Đông
Lịch sử và lịch sử văn hoá của Hy Lạp cổ đại là một bộ phận không tách rờitrong lịch sử các nước phương Đông, trước hết và các nước Cận Đông Vì vậy, muốnnhận thức đúng về nguồn gốc, quá trình phát triển văn hoá vật chất, tinh thần của HyLạp thì phải tính đến những ảnh hưởng to lớn và sự giao lưu văn hoá Hy Lạp với cácnước phương Đông
Vùng Cận Đông có nhiều nước Các nước thuộc Lưỡng Hà và Ai Cập là phát
triển hơn cả Lưỡng Hà có ba quốc gia lớn là Sumer, Atxiria, Babylon Nhà sử học
Hy Lạp Hêrôđốt đã mô tả Babylon như một thành phố vượt xa các thành phố kháctrên thế giới về sự giàu có và tráng lệ Người Babylon sống bằng buôn bán Họ đãvượt qua vịnh Ba Tư chuyên chở hàng hoá từ Ấn Độ về buôn bán với Tiểu Á, Ba Tư,Xiri Các nhà thông thái và thầy tế ở Babylon hiểu biết nhiều về thiên văn, lập đượcbản đồ sao, biết dự đoán nguyệt thực và nhật thực Như vậy, nền văn minh Lưỡng Hà
đã tạo nên những giá trị văn hoá như làm xuất hiện trường học đầu tiên trong lịch sử,
ra đời cuốn lịch sử và xuất hiện chữ viết đầu tiên của nhân loại Nhiều môn khoa học
cụ thể ra đời như thiên văn học, đại số, y học Các truyền thuyết về sự hồi sinh từ cõi
Trang 6chết, các bản tình ca, các câu chuyện ngụ ngôn đầu tiên đều xuất hiện ở đây Hệthống pháp chế đầu tiên cũng được soạn thảo từ Lưỡng Hà Tóm lại, nơi đây bắt đầucuộc sống tinh thần đầu tiên của nhân loại nói chung, phương Tây nói riêng
Ai Cập cổ đại, Vương quốc của các Pharaôn thần thánh, với ba thiên niên kỷ
tồn tại đã hình thành một nền văn hoá đặc sắc và hoành tráng: phát minh chữ tượnghình, lập niên lịch, khởi đầu việc xác định niên đại đều đặn, những thành tựu to lớn,trong toán học và y học, những Kim Tự Tháp hùng vĩ, nền điêu khắc cách điệu hoá
và hoa văn Ai Cập thú trên các tường thành, vật dụng, đồ gỗ và dụng cụ gia đình Đó
là đóng góp của người cổ đại vào nền văn hoá thế giới nói chung, văn hoá phươngTây nói riêng
Vào các thế kỷ VIII-VII TCN, thông qua hoạt động buôn bán, trao đổi hànghoá với các nước Cận Đông nhất là với Babylon, Ai Cập, người Hy Lạp đã có dịptiếp xúc, học hỏi và hoà hợp với nền văn minh Lưỡng Hà, Ai Cập Nội dung tiến bộcủa nền văn hóa cổ đại các nước Cận Đông không mất khỏi kho báu tinh thần củanhân loại mà được nền văn hoá Hy Lạp kế thừa phát triển
**Các điều kiện trên quy định nội dung, tính chất của triết học Hy Lạp cổ đại.
Nét đặc thù của triết học Hy Lạp cổ đại là có khuynh hướng nghiêng về thảo luậnbản thể, bản tính thế giới, thể hiện chủ nghĩa lý tính, hướng về khoa học ngoại tại,khách quan Vì vậy, triết học Hy Lạp cổ đại đã chứa đựng mầm mống của tất cả thếgiới quan duy vật
1.2 Lịch sử phát triển
Quá trình lịch sử lâu dài với không ít những thăng trầm của vùng đất Hy Lạp cổđại gắn liền với sự phát triển kinh tế - xã hội và tư tưởng triết học của nó trong đó sựphân chia xã hội thành giai cấp, sự phân công lao động xã hội thành lao động trí óc
và lao động chân tay đã dẫn tới sự hình thành một đội ngũ các nhà trí thức chuyênnghiệp chuyên nghiên cứu về khoa học, triết học Sự hình thành triết học Hy Lạpkhông diễn ra một cách ngẫu nhiên mà là kết quả tất yếu của việc kế thừa những disản tinh tuý của truyền thống trong sáng tác dân gian, trong thần thoại, trong cácmầm mống của tri thức khoa học (khoa học tự nhiên) Nhưng bên cạnh đó, sự xuấthiện của những trí thức khoa học và triết học trong thời kỳ này đã tạo nên một bước
Trang 7ngoặt lớn về nhận thức của con người, phá vỡ ý thức hệ thần thoại và tôn giáonguyên thuỷ.
Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của nền sản xuất, những tri thức về khoa học tựnhiên phát triển mạnh, được trình bày trong hệ thống triết học - tự nhiên của các nhàtriết học cổ đại, bên cạnh đó, khoa học thời bấy giờ chưa phân ngành nên các nhàtriết học đồng thời cũng là các nhà Toán học, nhà Vật lý học Từ các yếu tố đó cóthể khẳng định rằng, triết học Hy Lạp cổ đại ngay từ khi ra đời đã có sự gắn bó vớinhu cầu thực tiễn và gắn với khoa học
*Lịch sử Hy Lạp cổ đại trải qua 4 thời kỳ: thời kỳ Cờ rét Myxen (Crète Mycens), thời kỳ Hôme (Homère), thời kỳ thành bang, thời kỳ Maxêđôin(Macédoine)
-+ Thời kỳ Cờ rét - Myxen (đầu thiên niên kỷ III - thế kỷ XII TCN): Dựa trêncông cụ đồng thau, ở vùng Cờ rét và Myxen đã hình thành các nhà nước hùng mạnh.Năm 1194 - 1184 TCN Myxen đã tấn công và tiêu diệt thành Tơroa (Troie) ở Tiểu Á,nhưng sau đó người Dôviêng với vũ khí bằng sắt tiến xuống và tiêu diệt các quốc gia
xã hội bị phân hoá ra thành lao động chân tay và lao động trí óc Đất nước bị phânchia thành nhiều nước nhỏ: mỗi nước lấy một thành phố làm trung tâm, trong đó,Xpát (Sparte) và Aten (Athèns) là hai thành bang hùng mạnh nhất, làm nòng cốt cholịch sử Hy Lạp cổ đại
Nằm ở phía nam bán đảo Pêlôpôngnedơ, Thành bang Xpát bảo thủ về chínhtrị, lạc hậu về kinh tế - văn hoá, nhưng lại mạnh về quân sự, do đó nó đã chi phối các
Trang 8thành bang lân cận Năm 530 TCN, Xpát đã cầm đầu đồng minh Pêlôpôngnedơ tranhquyền bá chủ ở Hy Lạp.
Do phát triển mạnh mẽ về công thương nghiệp và trải qua nhiều lần cải cáchdân chủ nên Thành bang Aten có chế độ dân chủ và nền kinh tế - văn hoá phát triểnrực rỡ nhất lúc bấy giờ năm 490 TCN, quân Ba Tư xâm lược Hy Lạp, nhưng sau đó,năm 479 TCN, đã bị quân đội Aten đánh bại trên cánh đồng Maratoong Vào năm
478 TCN, nhờ sức mạnh của mình mà Aten đã quy tụ 200 thành bang khác thành lậpđồng minh Đêlốt (Déles)
Do thực hành đường lối chính trị - kinh tế khác nhau mà vào năm 431 TCN,cuộc chiến tranh giữa hai đồng minh Pêlôpôngnedơ và Đêlốt đã xảy ra ởPêlêpôngnedơ Năm 404 TCN, cuộc chiến kết thúc với sự thất bại hoàn toàn củađồng minh Đêlốt Do lúc bấy giờ không có thành bang nào đủ mạnh để làm bá chủnên Hy Lạp cổ đại lại rơi vào một cuộc tranh giành quyền lực mới
+ Thời kỳ Maxêdôin: Maxêđôin một nước nhỏ nằm ở phía bắc Hy Lạp nhưngphát triển nhanh mạnh, nhờ giành được chiến thắng quyết định mà vua Philip II (382
- 336 TCN) của xứ Maxêdôin triệu tập hội nghị toàn Hy Lạp thông qua quyết địnhgiao cho Maxêdôin quyền chỉ huy quân đội toàn Hy lạp để tấn công Ba tư Năm 336TCN, Philip II mất, con là Alecxandrơ đã chinh phục cả một vùng rộng lớn Ba tư,Tây Ấn Độ, Bắc Phi và lập nên đế quốc Maxêdôin đóng đô ở Babilon Năm 323TCN, do Alecxandrơ chết đột ngột mà các tướng lĩnh đã đánh nhau để tranh giànhquyền lực Sang thế kỷ III TCN, đế quốc này bị chia thành 3 nước lớn (Maxêdôin -
Hy lạp, Ai cập và Xini và vài nước nhỏ)
Vào lúc này ở phía Tây Hy Lạp, La Mã đã trở thành một đế quốc hùng mạnh
và đang theo đuổi mưu đồ chinh phục phía đông Địa Trung Hải năm 168 TCN,Maxêdôin bị La Mã tiêu diệt Năm 146 Hy Lạp bị nhập vào La Mã và sau đó, đếquốc này chinh phục dần các quốc gia phương Đông khác
Chế độ chiếm hữu nô lệ ở Hy Lạp cổ đại kéo dài cho tới thế kỷ IV Trong thờiđại này, người Hy Lạp đã xây dựng một nền văn minh vô cùng xán lạn với nhữngthành tựu rực rỡ thuộc các lĩnh vực khác nhau Chúng là cơ sở hình thành nên nền
Trang 9văn minh phương Tây hiện đại Vì vậy Ăngghen đã nhận xét: "Không có cơ sở văn minh Hy Lạp và đế quốc La Mã thì cũng không có Châu Âu hiện đại được".
Về văn học, người Hy Lạp đã để lại một kho tàng thần thoại phong phú,những tập thơ chứa chan tình cảm, những vở kịch hấp dẫn phản ánh cuộc sống sôiđộng, lao động bền bỉ, cuộc đấu tranh kiên cường chống lại những lực lượng tự nhiên
- xã hội của người Hy Lạp cổ đại Về nghệ thuật, người Hy Lạp đã để lại nhữngcông trình kiến trúc, điêu khắc, hội họa có giá trị Về luật pháp, người Hy Lạp đãsớm xây dựng một nền pháp luật và được thực hiện khá nghiêm tại thành bang Aten
Về khoa học tự nhiên, các thành tựu toán học, thiên văn học, vật lý được các nhàkhoa học tên tuổi như Talet, Pytago, Acximet, Ơclit sớm phát hiện ra Đặc biệtngười Hy Lạp cổ đại đã để lại một di sản triết học đồ sộ và sâu sắc
Chế độ chiếm hữu nô lệ đã tạo cơ sở cho sự phân hoá lao động và đề cao laođộng trí óc, coi thường lao động chân tay Điều này thúc đẩy sự hình thành tầng lớptri thức biết xây dựng và sử dụng hiệu quả tư duy lý luận để ngiên cứu triết học vàkhoa học Triết học và khoa học đã ra đời và phát triển mạnh mẽ Nền triết học HyLạp cổ đại cùng trải qua giai đoạn hình thành, phát triển và suy tàn cùng với lịch sử
Hy Lạp cổ đại
2 Đặc điểm của Triết học Hy Lạp cổ đại
Triết học Hy Lạp cổ đại xuất hiện vào lúc xã hội đã phát triển lên chế độ chiếmhữu nô lệ với hai giai cấp chủ yếu là chủ nô và nô lệ nên nó là hệ tư tưởng, là thế giớiquan của giai cấp chủ nô thống trị, đồng thời nó còn là công cụ bảo vệ, duy trì địa vị,quyền lợi của giai cấp chủ nô, là công cụ nô dịch, đàn áp các giai cấp khác về mặt tưtưởng Bên cạnh tính giai cấp rõ rệt đó, triết học Hy Lạp cổ đại coi trọng, đề cao vaitrò của con người, coi con người là tinh hoa của tạo hoá Do là một trong những nềntriết học mở đường trong lịch sử triết học nhân loại, hơn nữa các quan niệm triết họcđược rút ra trên cơ sở suy luận, suy đoán từ sự quan sát trực tiếp các sự kiện xảy ratrong tự nhiên, trong xã hội nên triết học Hy Lạp cổ đại mang nặng tính sơ khai, chấtphác, ngây thơ Tuy nhiên, từ trong sự khởi đầu đó, các nhà triết học sau này đã nhìnthấy ở triết học Hy Lạp cổ đại mầm mống của tất cả các kiểu thế giới quan sau này
và xem nó là một đỉnh cao của triết học nhân loại Tuỳ thuộc vào từng thời kỳ lịch
Trang 10sử, tuỳ từng không gian địa lý cụ thể mà triết học Hy Lạp cổ đại chia thành cáctrường phái và các giai đoạn phát triển khác nhau.
Trên thực tế, mặc dù triết học duy vật Hy Lạp ra đời trên nền tảng thần thoại vàtôn giáo nhưng thế giới quan lại hoàn toàn mới lạ dựa trên cơ sở trí tuệ sâu sắc đã đemlại cho con người giải quyết đúng đắn những vấn đề do cuộc sống con người đặt ra,giúp họ có cách sống hợp lý trong xã hội Có thể coi triết học Hy Lạp cổ đại là đỉnhcao của văn minh Hy Lạp, đỉnh cao của nền văn minh phương Tây cổ đại, và là mộttrong những điểm xuất phát của lịch sử triết học thế giới, với các đặc trưng cơ bản:
2.1 Tính giai cấp sâu sắc
Triết học Hy Lạp cổ đại đã thể hiện nó là thế giới quan, ý thức hệ và phươngpháp luận của giai cấp chủ nô thống trị trong xã hội bấy giờ Vì thế, dễ hiểu tại saophần lớn các nhà triết học thời kì này đều coi nô lệ không phải là con người mà chỉ làcông cụ biết nói
Như vậy ngay từ đầu nó đã mang tính giai cấp sâu sắc Bất chấp mọi bất công
và tệ nạn xã hội thời đó, triết học cổ Hy Lạp vẫn là một công cụ lý luận nhằm duy trìtrật tự xã hội theo kiểu chiếm hữu nô lệ, bảo vệ sự thống trị của giai cấp chủ nô
Chẳng hạn, Platon coi nông dân và thợ thủ công là hạng người thấp nhất trong “Nhà
nước tư tưởng” của ông
Tính giai cấp của một học thuyết triết học, theo các nhà nghiên cứu, không chỉthể hiện ở chỗ học thuyết đó biểu hiện lập trường của một giai cấp hay đảng phái nào
đó, mà còn là ở chỗ nó thể hiện tư tưởng của một khuynh hướng, trào lưu triết học nhấtđịnh Những mâu thuẫn trong xã hội cổ đại được thể hiện trong sự xung đột về tư
tưởng của các nhà triết học cổ Hy Lạp tiêu biểu nhất là sự xung đột giữa “đường lối
Đêmôcrit” và “đường lối Platon” Triết học Hy Lạp và La Mã cổ đại như Ph.Ăngghen
chỉ rõ đã chứa đựng dưới dạng mầm mống mọi dạng thế giới quan sau này
2.2 Tính bao trùm về mọi lĩnh vực trong thế giới quan của con người
2.2.1 Giá trị về thế giới quan
Ra đời trong điều kiện còn quá ít và sơ khai nên trình độ phát triển tư tưởngvăn hóa của nhân loại thời kì này nói chung còn thấp Triết học thời kì này đã đề cập
Trang 11tới những vấn đề thế giới quan cơ bản của con người Tuy nhiên do sự đối lập giữalao động trí óc với lao động chân tay quá lớn, nên nhìn chung các quan niệm triết họccòn mang nặng tính tự biện
Trước hết chúng ta phải hiểu thế giới quan là như thế nào? Triết học có vai trònhư thế nào đối với thế giới quan?
Thế giới quan là toàn bộ những quan niệm của con người về thế giới, về bảnthân con người,về cuộc sống và vị trí của con người trong thế giới đó Triết học giữvai trò định hướng cho quá trình cũng cố và phát triển thế giới quan của mỗi cá nhân,mỗi cộng đồng trong lịch sử Thế giới quan đóng vai trò đặc biệt quan trọng trongcuộc sống con người và xã hội loài người Thế giới quan đúng đắn là tiền đề để xáclập nhân sinh quan tích cực và trình độ phát triển của thế giới quan là tiêu chí quantrọng về sự trưởng thành của mỗi cá nhân cũng như của mỗi cộng đồng xã hội nhấtđịnh Sự hòa nhập giũa tri thức và niềm tin tạo thành thế giới quan
Các nhà triết học Hy Lạp cổ đại không dừng lại ở sự nhận xét muôn hình muôn
vẻ của thế giới, họ đã đi tìm cơ sở của nó với cách quy nó về một nguyên nhân phổbiến, sâu sắc hơn về một nguyên thể đầu tiên Các nhà triết học duy vật thời kỳ này
đã cố tình “xây dựng nên mặt lý luận về thế giới, thế giới gồm có cái gì, và tác độngnhư thế nào vào các khái niệm trong đời sống và lao động hằng ngày” Công lao củacác nhà duy vật Hy Lạp cổ đại là đã xây dựng được giả thiết về cơ cấu nguyên tử củavật chất Nét nổi bật của triết học duy vật là các nhà triết học đều cho rằng thế giới là
do vật chất tạo thành, có vận động và có biến đổi, tuy rằng quan niệm vật chất tạothành thế giới của mỗi nhà triết học có khác nhau:
Theo Talet thì nước là bản chất của vạn vật, nước luôn thay đổi hình thái và vì
thế chính nước đã sản sinh ra các vật thể khác nhau Talet đã mở ra một thời đại tưduy mới, sự tìm tòi cái mới của ông xoay quanh bản chất sự vật Mọi sự vật được
làm bằng gì? hay loại "chất liệu" tạo nên sự vật là gì? Điều mà Talet muốn đạt được
khi nêu những câu hỏi này là tìm một cách nào đó cắt nghĩa được sự kiện này rằng cónhiều loại sự vật như đất, mây và đại dương, và một số những sự vật này thay đổi từlúc này qua lúc khác để trở thành một cái gì khác và chúng cũng giống nhau ở một sốcách thức nào đó Đóng góp độc đáo của Talet cho tư duy chính là ông quan niệm
Trang 12rằng, mặc dù có những sự khác biệt trong các sự vật khác nhau, nhưng vẫn có một sựgiống nhau cơ bản giữa tất cả các sự vật ấy, và cái nhiều nhưng tương quan với nhaunhờ cái một Ông giả thiết rằng có một yếu tố duy nhất nào đó, một “chất liệu” nào
đó chứa đựng nguyên lý hành động hay biến đổi của chính nó và là nền tảng cho mọi
thực tại vật lý Arixtôt viết rằng Talet đã đạt tới kết luận đó nhờ quan sát các sự kiện
đơn sơ có lẽ từ việc ông thấy rằng mọi vật được nuôi từ chất ẩm, nhiệt phát sinh từchất ẩm và được duy trì từ chất ẩm…sự kiện hạt giống của mọi vật đều có bản chất
ẩm, nước là nguồn gốc của bản chất ẩm ướt của các sự vật Tính chính xác trong sự
phân tích của Talet về thành phần của sự vật không quan trọng bao nhiêu so với việc
ông nêu lên câu hỏi về bản tính của thế giới Câu hỏi của ông đã đặt ra bối cảnh chomột loại tìm tòi mới, một loại tìm tòi có thể được đem ra tranh luận về giá trị củachính nó Talet đã chuyển đổi cơ sở tư duy từ một nền móng thần thoại sang một nềnmóng có tính chất tìm tòi, khoa học hơn Hơn nữa, từ điểm khởi hành sơ khai củaông những người khác sẽ nối tiếp ông với những giải pháp khác, nhưng họ luôn luônđặt vấn đề của ông trước mắt họ
Anaximăng lại cho rằng nguồn gốc của vũ trụ là vô cực, vô cùng rối ren và
phức tạp, luôn chia thành những mặt đối lập nhau như khô và ướt, nóng và lạnh,chính các mặt đối lập này lại kết hợp với nhau và tạo ra vạn vật Ông đồng ý với thầy
của mình (Talet) rằng có một chất liệu nào đó là nền tảng cấu tạo nên mọi vật Nhưng khác với Talet, thực thể sơ đẳng mà từ đó mọi sự vật đặc thù này phát sinh là
một lĩnh vực vô định hay vô hạn Các sự vật cụ thể thì đặc thù, còn nguồn gốc củachúng thì vô định, các sự vật cụ thể thì hữu hạn, còn chất liệu nguyên thủy thì vô
biên, vô hạn Không những Anaximăng cống hiến một ý niệm mới về thực thể
nguyên thủy của sự vật ông còn đẩy xa công trình triết học bằng cách cố gắng tìm ra
một giải thích nào đó cho ý niệm mới của ông Anaximăng đã tự đặt cho mình câu
hỏi làm sao chất liệu sơ đẳng hóa thành nhiều sự vật khác nhau mà chúng ta thấy trênthế giới
Anaximăng là nhà triết học thứ ba và cuối cùng của phái Milê, ông hài lòng với
khái niệm cái vô hạn là nguồn gốc của mọi vật Ông cho rằng nguồn gốc của vạn vật
bắt đầu từ không khí, nhờ không khí và sự chuyển động của nó, vạn vật trong vũ trụđược tạo ra và sau đó lại quay về dạng không khí Anaximăng xác định khí là thực