1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận quản lý nhà nước đối với các khoản thu từ đất ở việt nam

155 936 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 155
Dung lượng 1,15 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

* Các nghiên cứu về chính sách thuế, phí liên quan đến sử dụng và chuyển nhƣợng quyền sử dụng đất Về chính sách thu thuế và phí liên quan đến sử dụng và chuyển nhượng quyền sử dụng đất

Trang 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

1.1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.1.1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước

Trong thời gian qua có rất nhiều các công trình nghiên cứu về đất đai và chính sách về các khoản thu từ đất Các công trình nghiên cứu chủ yếu tập trung đối với việc huy động nguồn lực tài chính từ đất, các giải pháp về giá đất, các chính sách về thuế đối với đối với thị trường bất động sản

* Các nghiên cứu về quản lý và khai thác các nguồn lực tài chính từ đất

Các nghiên cứu điển hình về vấn đề này gồm: Nguyễn Đình Bồng (tháng 12/2011) kỷ yếu Hội thảo khoa học động viên tài chính từ đất đai để đầu tư phát triển

hạ tầng cơ sở “Chính sách bồi thường khi thu hồi đất, những bất cập, vướng mắc và kiến nghị”[11]; Lê Cao Đoàn (tháng 12/2011) kỷ yếu Hội thảo khoa học động viên tài chính từ đất đai để đầu tư phát triển hạ tầng cơ sở “Đất đai trong nền kinh tế thị trường[16]; Trần Đức Thắng (Luận án tiến sĩ năm 2012) “Khai thác nguồn lực tài chính từ đất đai tại Việt Nam”[42]

Tác giả Nguyễn Đình Bồng đã khái quát về chính sách bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất giai đoạn từ năm 1954 đến nay đặc biệt là giai đoạn từ năm 2003 đến nay, tức là từ sau khi luật đất đai năm 2003 thì chính sách đền bù, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất đi vào bước hoàn thiện, có tác dụng trong việc đảm bảo cân đối và ổn định cho phát triển, khuyến khích được nhà đầu tư và tương đối giữ được nguyên tắc công bằng, người bị thu hồi đất được đặt vào vị trí trung tâm để giải quyết mọi xung đột, các lợi ích phi vật thể bắt đầu được quan tâm, các hiệu quả xã hội …

Trong bài viết tác giả đưa ra tình hình thực hiện chính sách bồi thường khi nhà nước thu hồi đất; những bất cập của chính sách, pháp luật hiện hành về bồi thường khi nhà nước thu hồi đất; các giải pháp hoàn thiện chính sách bồi thường khi nhà nước thu hồi đất và cuối cùng tác giả đưa ra kinh nghiệm quốc tế về chính sách bồi thường khi thu hồi đất Tuy nhiên, tác giả chỉ đề cập đến công tác bồi thường hỗ trợ, tái định cư chưa đề cập đến Quản lý nhà nước từ các khoản thu từ đất ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

Theo tác giả Lê Cao Đoàn để sử dụng một cách có hiệu quả và quản lý đất đai với tính cách là một yếu tố, một nguồn lực đặc thù của sự phát triển kinh tế, cần phải

Trang 2

hiểu đất đai như thế nào trong một nền kinh tế thị trường Khi nền kinh tế thị trường được xác lập, của cải mang hình thái hàng hoá và trao đổi, mua bán trở thành một quan hệ, một quá trình quyết định thì cũng như tất cả của nền kinh tế thị trường, thì đất đai tất yếu phải mang quan hệ giá trị, quan hệ hàng hoá Là sản phẩm tự nhiên có nhiều chức năng gắn với đất đai nên nó là một hàng hoá đặc biệt là một hàng hoá duy nhất không sản xuất ra được, do nó là hàng hoá đặc biệt nên thị trường đất đai cũng là thị trường đặc biệt

Theo tác giả thì đất đai còn là một nguồn lực, một tư bản vốn, cụ thể:

Đất đai là một nguồn lực, là một yếu tố hợp thành của quá trình sản xuất, quá trình làm tăng thêm giá trị, vì vậy, bản thân đất đai trong nền kinh tế thị trường cũng như tất cả các nguồn lực khác, cũng mang hình thái tư bản, hình thái vốn tài chính

Từ hai yêu tố chính trên tác giả đưa ra những vấn đề cốt yếu về đất đai trong phát triển kinh tế xã hội ở Việt Nam như sau:

Cần phát triển một nền kinh tế thị trường phù hợp với sự phát triển hiện đại làm cơ sở trong đó đất đai hoá và vận động với tính các là một nguồn lực, một động lực cho sự phát triển kinh tế xã hội;

Có một thể chế và bộ luật phản ánh làm cơ sở pháp lý cho quá trình đất đai chuyển hoá thành một hàng hoá, thành các nguồn vốn, thành một lĩnh vực đầu tư kinh doanh và thực hiện tốt chức năng thế chấp trong hệ thống thị trường vốn;

Thay đổi tư duy về sử dụng đất và quản lý đất;

Xác định rõ chủ thể sở hữu đất đai;

Đất đai là đối tượng vật chất và là hàng hoá đặc biệt

Như vậy, trong bài viết tác giả chỉ đưa ra lý luận về đất đai trong nền kinh tế thị trường hiện nay và đưa ra những kiến nghị để đất đai trở thành một hàng hoá, một nguồn lực để thúc đẩy phát triển kinh tế Tuy nhiên, bài viết chưa đề cập đến vấn đề quản lý nhà nước về các khoản thu từ đất ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

Trong luận án tiến sĩ của Trần Đức Thắng tác giả đã đưa ra một số quan điểm, định hướng và đề xuất một hệ thống các giải pháp nhằm tăng cường khai thác nguồn lực tài chính từ đất đai trong thời gian tới với 03 nhóm giải pháp từ quy hoạch hoàn thiện cơ chế chính sách cho đến các giải pháp hỗ trợ, trong đó tác giả đặc biệt quan tâm đến giải pháp về giá đất, tài chính đất đai, khai thác quỹ đầu tư phát triển cơ sở

hạ tầng Trên cơ sở đó, tác giả đã mạnh dạn có các kiến nghị cụ thể đối với nhà nước liên quan đến sửa đổi, bổ sung Luật đất đai năm 2003; Quy định sắp xếp, xử lý nhà đất thuộc sở hữu, nhà nước; quy định quản lý khai thác, sử dụng đất đai đối với các tổng công ty, tập đoàn kinh tế nhà nước

Về cơ sở lý luận và thực tiễn của các vấn đề liên quan đến tài chính đất đai tác

Trang 3

giả đã sử dụng phương pháp hệ thống, tổng hợp, phân tích, thống kê và các số liệu giai đoạn từ 2000-2010 để nghiên cứu cho đề tài Tuy nhiên, Luận án mới chỉ đề cập đến việc khai thác nguồn lực tài chính từ đất đai chưa đề cập đến quản lý nhà nước đối với các khoản thu từ đất trong đó cụ thể chưa đề cập đến các chính sách về thu khi chuyển nhượng bất động sản của các tổ chức và cá nhân và các khoản lệ phí phải đóng góp khi đăng ký quyền sở hữu, sử dụng tài sản là nhà, đất

* Các nghiên cứu về chính sách thuế, phí liên quan đến sử dụng và chuyển nhƣợng quyền sử dụng đất

Về chính sách thu thuế và phí liên quan đến sử dụng và chuyển nhượng quyền

sử dụng đất có các công trình nghiên cứu sau: Chu Thị Thuỷ Chung (Luận án tiến sĩ năm 2009) “Hoàn thiện chính sách thu đối với đất đai ở Việt Nam”[14]; Nguyễn Văn Phụng (tháng 9/2011) kỷ yếu Hội thảo khoa học kiểm toán thu sử dụng đất với việc tăng cường quản lý thu ngân sách Nhà nước và nâng cao hiệu lực quản lý đất đai tại các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương “ Hệ thống chính sách thu tài chính liên quan đến đất đai và thị trường bất động sản”[34]; Trịnh Hải Hà (tháng 9/2011) kỷ yếu Hội thảo khoa học kiểm toán thu sử dụng đất với việc tăng cường quản lý thu ngân sách Nhà nước và nâng cao hiệu lực quản lý đất đai tại các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương “ Các giải pháp hoàn thiện quy định về thu ngân sách nhà nước từ đất đai tại Việt Nam”[19]; Đinh Văn Hải (Tạp chí tài chính số 10/2012) “Chính sách tài chính đất đai: Kết quả đạt được và một số kiến nghị”[20]; Vương Đình Huệ (Tạp chí tài chính số 10/2012) “Đổi mới chính sách pháp luật tài chính đất đai phục vụ phát triển kinh tế” theo tác giả thì cùng với quá trình thực hiện “đổi mới”[24]; Ngô Xuân Thanh (Tạp chí tài chính số 10/2012) “Hoàn thiện chính sách giá tính các khoản thu

từ bất động sản tại Việt Nam” [41]; Đặng Hùng Võ (Tạp chí tài chính số 10/2012)

“Đổi mới pháp luật về tài chính đất đai” [52]; Vũ Sỹ Cường (tháng 12/2011) kỷ yếu Hội thảo khoa học động viên tài chính từ đất đai để đầu tư phát triển hạ tầng cơ sở “ Nguồn thu từ đất đai với ngân sách địa phương ”[15];

Trong Luận án tiến sĩ của tác giả Chu Thị Thuỷ Chung tác giả đưa ra cơ sở lý luận về đất đai, nguồn tài chính từ đất đai, bản chất nguồn thu NSNN từ đất đai và các chính sách thu đối với đất đai Phần thực trạng tác giả hệ thống các chính sách thu

từ đất của Việt Nam trong giai đoạn 2001-2008 nêu lên thực trạng các chính sách thu

từ đất, thực trạng quỹ đất, những tồn tại của các chính sách Từ đó tác giả đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách thu đối với đất cho giai đoạn 2010-2015

Trong công trình nghiên cứu tác giả đã hệ thống hoá các vấn đề nghiên cứu trong giai đoạn 2001-2008 cả về mặt lý luận và thực tiễn để phục vụ công tác nghiên cứu Tuy nhiên, Luận án mới chỉ dừng lại ở việc hệ thống các chính sách và nêu lên những tồn tại của chính sách và đề xuất phương án hoàn thiện các chính sách thu mà

Trang 4

chưa đề cập đến công tác quản lý nhà nước về các khoản thu Mặt khác, với đề xuất giải pháp tác giả đưa ra giải pháp cho giai đoạn 2010-2015

Theo tác giả Nguyễn Văn Phụng thì quy định hiện hành của pháp luật về đất đai thì đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước thống nhất quản lý bằng pháp luật Nhà nước ban hành các chính sách và pháp luật về tài chính nhằm động viên các nguồn thu từ đất đai vào ngân sách nhà nước Các tổ chức, cá nhân được Nhà nước giao đất để sử dụng vào các mục đích khác nhau hoặc khi tham gia vào thị trường bất động sản thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với từng hành vi cụ thể về sử dụng đất, từng giao dịch về quyền sử dụng đất

Theo quy định hiện hành thì hệ thống chính sách liên quan đến đất đai gồm có các khoản thuế, lệ phí theo quy định của pháp luật và các khoản thu được ban hành dưới hình thức Nghị định của Chính phủ trong khuôn khổ quy định của Luật đát đai, Luật ngân sách nhà nước Tác giả xét trên quá trình vận động của đất đai thị trường bất động sản bao gồm các khoản thu:

Khi xác lập quyền sở hữu, quyền sử dụng và thu khi đăng ký quyền sở hữu, sử dụng nhà, đất có các khoản thu: Tiền sử dụng đất; tiền thuê đất; tiền bán nhà thuộc sở hữu nhà nước; lệ phí trước bạ

Trong quá trình sử dụng đất có Thuế sử dụng đất nông nghiệp; Thuế nhà đất (từ năm 2012 là Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp)

Khi chuyển nhượng quyền sở hữu, sử dụng có Thuế thu nhập cá nhân và thuế thu nhập doanh nghiệp (đối với tổ chức)

Tác giả đã hệ thống lại toàn bộ hệ thống các chính sách này Tuy nhiên, tác giả chưa đề cập đến vấn đề quản lý nhà nước về các khoản thu từ đất ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

Theo tác giả Trịnh Hải Hà với quan điểm đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước thống nhất quản lý thì các chính sách thu ở giai đoạn này chỉ mang tính chất tượng trưng để thể hiện vai trò quản lý của nhà nước chứ chưa thực sự phản ánh đúng về giá trị đem lại nguồn thu cho NSNN cũng như thể hiện hiệu quả trong việc

sử dụng đất Mặt khác, xét về góc độ kinh tế xã hội thì ở thời kỳ này, nền kinh tế vẫn lấy nông nghiệp làm gốc nên khi xác định các tiêu chí để làm căn cứ xây dựng các chính sách thu từ đất, thì các chính sách cơ bản, đem lại nguồn thu chính là thuế SDĐNN, thuế nhà đất cũng vẫn sử dụng tiêu chí thuế SDĐNN, tức là tiêu chí để xác định hiệu quả sử dụng đất vẫn phải xuất phát từ chất đất, hạng đất, độ phì, độ màu của đất… là những yếu tố căn bản quyết định mức thuế SDĐNN Các chính sách khác như thu tiền SDĐ, tiền TĐ, lệ phí trước bạ đất cũng đã tính đến các yếu tố về lợi thế thương mại của vị trí đất, tuy nhiên, thời kỳ này nền kinh tế vẫn còn vận hành theo cơ chế bao cấp, sự quản lý của nhà nước về đất đai không tập trung, không rõ

Trang 5

ràng nên các khoản thu này cũng chưa được chú trọng, số thu từ đất đai hàng năm chỉ chiếm khoảng 3% - 5% trong tổng thu ngân sách

Từ đó tác giả đưa ra một số giải pháp để hoàn thiện một số chính sách về là thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, thuế nhà đất, thu tiền thuê đất, thu tiền sử dụng đất Tuy nhiên, tác giả không đề cập đến vấn đề quản lý nhà nước về các khoản thu từ đất

ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

Theo tác giả Đinh Văn Hải với sự ra đời của Luật đất đai năm 2003 đã đánh dấu bước phát triển quan trọng trong chính sách tài chính đất đai bằng hàng loạt các quy định đổi mới mang tính tiến bộ, phù hợp với cơ chế thị trường Bên cạnh chính sách thu ngân sách nhà nước đối với đất đai, Nhà nước đã ban hành chính sách khai thác nguồn tài chính từ đất đai cho phát triển kinh tế - xã hội và phát triển các công cụ kinh tế để thực hiện chính sách này

Tác giả mới chỉ tiếp cận vấn đề ở một số chính sách nhằm phát huy khả năng thu ngân sách nhà nước đối với các khoản thù từ đất đồng thời kiến nghị một số giải pháp liên quan đến giá đất, cơ chế bồi thường hỗ trợ, tái định cư Tác giả không đề cập đến quản lý nhà nước đối với các khoản thu từ đất ở Việt Nam

Theo tác giả Vương Đình Huệ thì cùng với quá trình thực hiện “đổi mới” và sự hình thành, phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thì chính sách, pháp luật về đất đai cũng đã từng bước được thay đổi cho phù hợp Từ Luật Đất đai năm 2003, lần đầu tiên, vấn đề tài chính đất đai được đề cập đầy đủ, toàn diện với tư cách vừa là một công cụ quản lý nhà nước về đất đai, vừa là đối tượng, nguồn lực cần phải được quản lý, khai thác sử dụng một cách chặt chẽ, tiết kiệm, hiệu quả

Tuy nhiên, với sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế và yêu cầu không ngừng hoàn thiện thể chế thị trường có sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước, Luật Đất đai năm 2003 nói chung và chính sách, pháp luật về tài chính đất đai nói riêng đã bộc lộ một số hạn chế như: chưa xác định rõ và vận dụng có hiệu quả phương thức quản lý,

sử dụng đất đai cũng như các công cụ điều tiết trong kinh tế thị trường; sự thiếu hụt các chế định rõ ràng về xác định giá đất theo thị trường, đặc biệt về điều tiết giá trị tăng thêm không do người sử dụng tạo ra; vì vậy, nguồn thu từ đất chưa được tập trung đầy đủ vào ngân sách nhà nước để đầu tư phát triển kinh tế - xã hội Nhà nước cũng chưa dẫn dắt, kiểm soát được thị trường bất động sản theo hướng có lợi cho Nhà nước và đông đảo nhân dân, khuyến khích sử dụng đất tiết kiệm, có hiệu quả Trong phạm vi bài viết tác giả trao đổi về 02 vấn đề lớn có liên quan đến tài chính, đó là: giá đất và tài chính đối với đất đai

Tác giả đưa ra trao đổi về 02 vấn đề lớn có liên quan đến tài chính, đó là: giá đất và tài chính đối với đất đai Tuy nhiên, tác giả không đề cập đến vấn đề quản lý

Trang 6

nhà nước đối với các khoản thu từ đất ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

Theo tác giả Ngô Xuân Thanh hiện nay, hệ thống chính sách thu từ bất động sản (BĐS) ở Việt Nam với 7 khoản thu có thể được phân chia thành 3 nhóm: (i) Các khoản thu khi xác lập quyền sở hữu; (ii) Các khoản thu khi sử dụng BĐS; (iii) Các khoản thu phát sinh trong quá trình chuyển nhượng BĐS

Trong mỗi chính sách thu trên, có 3 yếu tố cấu thành chủ yếu là thuế suất, diện tích và giá tính thu Trong đó, thuế suất và diện tích BĐS tính thu về cơ bản là rõ ràng, dễ xác định, duy chỉ có giá tính các khoản thu liên quan đến nhà đất hiện nay là chưa thống nhất về phương pháp xác định Mỗi địa phương có cách xác định giá khác nhau, tạo nên nhiều loại giá khác nhau và gây khó khăn không ít cho việc triển khai các chính sách thu liên quan đến BĐS ở Việt Nam

Thực tế cho thấy, toàn bộ các chính sách thu từ bất động sản (nhà, đất) và chính sách giá để tính các khoản thu bất động sản tại Việt Nam bên cạnh những thành công, còn có không ít hạn chế Các chính sách thu và chính sách giá tính các khoản thu từ bất động sản cần được hoàn thiện, nhằm thúc đẩy thị trường bất động sản phát triển ổn định, góp phần tăng thu cho ngân sách nhà nước Tác giả đã đưa ra những kết quả đạt được và những mặt hạn chế và đưa ra giải pháp thực hiện về chính sách giá tính các khoản thu Tác giả chưa đề cập đến quản lý nhà nước đối với các khoản thu

từ đất ở Việt Nam trong điều kiện hiện nay

Theo tác giả Đặng Hùng Võ việc tiếp tục đổi mới hệ thống tài chính đất đai trong Luật Đất đai có tầm quan trọng đặc biệt, giúp khơi thông nguồn lực tài chính từ đất đai, phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội đất nước Bài viết đặt ra vấn đề nghiên cứu đổi mới hệ thống quản lý giá đất trong dự án Luật Đất đai sửa đổi nhằm phát huy

hiệu quả nguồn lực từ đất đai Tác giả đưa ra những bất cập chủ yếu hiện nay mặc dù

Luật Đất đai đã quy định giá đất của Nhà nước phải phù hợp giá thị trường nhưng cả khung giá đất của Chính phủ và bảng giá đất của UBND cấp tỉnh đều thấp hơn giá thị trường khá nhiều Nhiều UBND thành phố lớn đều cho rằng không thể đưa bảng giá đất lên cao hơn vì khung giá của Chính phủ rất thấp Luật Đất đai có quy định giá đất của Nhà nước được sử dụng vào tất cả mọi mục đích nhưng vì bảng giá đất quá thấp nên Chính phủ đã quy định UBND cấp tỉnh phải quyết định giá cho phù hợp với thị trường trong 4 trường hợp gồm: Nhà nước giao đất, Nhà nước cho thuê đất, bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất và cổ phần hóa DNNN có giá trị quyền sử dụng đất Đây là một khoảng không hợp lý của Luật Đất đai năm 2003 mà Chính phủ đã điều chỉnh cho hợp lý, cần xem như một thực tiễn đã được kiểm định để điều chỉnh lại nội dung của Luật Đất đai Tác giả chưa đề cập đến quản lý nhà nước về các khoản thu từ đất ở Việt Nam nói chung

Theo tác giả Vũ Sỹ Cương nguồn thu từ đất đai với ngân sách địa phương ”

Trang 7

trong bài viết tác giả đã đề cập đến vai trò của thu từ đất đai trong ngân sách địa phương cụ thể là:

Chính quyền địa phương là người trực tiếp cung cấp các dịch vụ công cộng như giáo dục, y tế, môi trường nên họ phải được bù đắp chi tiêu từ nguồn thu đất đai đánh trên các đối tượng hưởng lợi trực tiếp là người sử dụng đất đai, bất động sản Địa phương cũng là cấp chính quyền hiểu rõ nhất chất lượng dịch vụ và điều kiện sinh sống mà họ cung cấp cho dân cư nên họ sẽ sử dụng nguồn tài chính từ đất đai có hiệu quả hơn Trung ương

Thu ngân sách từ đất đai phải có tương quan chặt chẽ với các điều kiện về cơ

sở hạ tầng và các dịch vụ công cộng tại địa phương

Trong nguồn thu từ đất đai thì thuế với đất đai, bất động sản giữ vai trò quan trọng nhất vì là những loại thuế có thể đã ứng được nguyên tắc lợi ích

Tác giả đề cập đến các nguồn thu từ đất đai trong ngân sách nhà nước và ngân sách địa phương bao gồm:

Thuế sử dụng đất nông nghiệp;

Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp;

Thu từ cho thuê đất;

Thu từ thuế thu nhập cá nhân hoặc thuế thu nhập doanh nghiệp;

Như vậy tác giả chỉ đề cập chủ yếu vai trò của một số nguồn thu từ đất đai đối với ngân sách địa phương, chưa đề cập đến quản lý nhà nước đối với các khoản thu từ đất ở Việt Nam

* Các nghiên cứu về quản lý và kiểm toán thu sử dụng đất

Về quản lý nhà nước về đất và các khoản thu liên quan đến sử dụng, chuyển nhượng quyền sử dụng đất có các công trình nghiên cứu sau:

Vũ Công Nhĩ, Nguyễn Viết Uống, Phạm Văn Trung, Đỗ Thị Thùy Châu, Phan Thị Biên, Hoa Hải Nam (đề tài nghiên cứu khoa học cấp ngành thuế năm 2013) “Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý thuế đối với hoạt động kinh doanh, chuyển nhượng bất động sản”[32] Lê Huy Trọng (tháng 9/2011) kỷ yếu Hội thảo khoa học kiểm toán thu sử dụng đất với việc tăng cường quản lý thu ngân sách Nhà nước và nâng cao hiệu lực quản lý đất đai tại các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương “Mục tiêu, nội dung và phương pháp kiểm toán thu tiền sử dụng đất do Kiểm toán Nhà nước”[50]; Nguyễn Văn Hào (tháng 9/2011) kỷ yếu Hội thảo khoa học kiểm toán thu

sử dụng đất với việc tăng cường quản lý thu ngân sách Nhà nước và nâng cao hiệu lực quản lý đất đai tại các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương “Kiểm toán nguồn thu ngân sách Nhà nước từ nhà, đất gắn với việc tăng cường quản lý thu ngân sách nhà nước và nâng cao hiệu lực quản lý đất đai tại các tỉnh, thành phố trực thuộc tung

Trang 8

ương” [22];

Đề tài “Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý thuế đối với hoạt động kinh doanh, chuyển nhượng bất động sản” Trong đề tài nhóm tác giả chủ yếu đề cập đến các loại thuế và phí như thuế giá trị gia tăng (GTGT), thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN), thuế thu nhập cá nhân (TNCN) và lệ phí trước bạ (LPTB) từ hoạt động kinh doanh, chuyển nhượng bất động sản giớn hạn khảo sát trên địa bàn thành phố Hải Phòng và một số tỉnh lân cận như Thái Bình, Nam Định và Bắc Ninh

Đề tài là hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về kinh doanh, chuyển nhượng bất động sản; chính sách thuế đối với hoạt động kinh doanh, chuyển nhượng bất động sản và thực tiễn hoạt động kinh doanh, chuyển nhượng bất động sản có phát sinh nghĩa vụ thuế theo quy định của pháp luật bao gồm: Những lý luận cơ bản về kinh doanh, chuyển nhượng bất động sản; Thực tiễn công tác quản

lý thu thuế đối với hoạt động kinh doanh, chuyển nhượng bất động sản tại thành phố Hải Phòng và một số tỉnh lân cận; Kết quả quản lý thuế; những vướng mắc, bất cập trong quá trình thực hiện chức năng quản lý thuế đối với hoạt động kinh doanh, chuyển nhượng bất động sản Một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý thuế đối với hoạt động kinh doanh, chuyển nhượng bất động sản Những ý kiến đề xuất, kiến nghị về cơ chế, chính sách liên quan trực triếp đến các loại thuế phát sinh từ hoạt động kinh doanh, chuyển nhượng bất động sản

Trong đề tài nhóm tác giả đã sử dụng các phương pháp thống kê, tổng hợp, phân tích để tổng hợp những sự việc phát sinh tại nơi làm việc và một số tỉnh lân cận trên cơ sở đó nêu lên những điểm còn tồn tại mà chính sách chưa bao trùm hết đưa ra các giải pháp nhằm quản lý đối với các đối tượng lợi dụng sơ hở trong chính sách để trục lợi

Tuy nhiên, trong đề tài nhóm tác giả mới chỉ tiếp cận dưới góc độ tổng hợp các

sự vụ cụ thể xảy ra tại thành phố Hải Phòng và một số tỉnh lân cận đối với các hồ sơ liên quan đến hoạt động kinh doanh bất động sản Đề tài chưa đề cấp đến vấn đề quản

lý nhà nước về đất đai hay quản lý các khoản thu từ đất

Theo tác giả Lê Huy Trọng trong những năm gần đây, thu tiền sử đất là nguồn thu quan trọng của ngân sách các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; nguồn thu này liên tục tăng và trở thành một trong những nguồn lực quan trọng cho phát triển kỉnh tế- xã hội của đất nước nói chung các địa phương nói riêng Tuy nhiên, nguồn thu sử dụng đất vẫn chưa tương xứng với tiềm năng quỹ đất; chính sách thuế và phí trong lĩnh vực quản lý đất đai chưa điều tiết hợp lý nguồn thu từ đất vào ngân sách Nhà nước; chưa trở thành công cụ quản lý thị trường, chống đầu cơ về đất đai, khuyến khích sử dụng đất tiết kiệm và có hiệu quả

Mục tiêu kiểm toán sử dụng đất nhằm:

Trang 9

Xác định việc thu tiền sử dụng đất đảm bảo đúng, đủ, kịp thời vào Ngân sách Nhà nước;

Đánh giá việc tuân thủ pháp luật trong tổ chức, quản lý thu tiền sử dụng đất ở địa phương;

Phát hiện kịp thời hành vi tham nhũng, lãng phí, sai phạm trong quản lý đất đai; xác định rõ trách nhiệm của tổ chức, cá nhân và kiến nghị xử lý vi phạm;

Kiến nghị với đơn vị được kiểm toán về các sai phạm và biện pháp khắc phục trong quản lý đất đai cũng như thu tiền sử dụng đất; đề xuất với Chính phủ và UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương những kiến nghị sửa đổi, cải tiến cơ chế quản lý, sử dụng đất nhằm tăng cường quản lý thu NSNN và nâng cao hiệu quả quản

lý đất của các địa phương

Như vậy, trong khuôn khổ của bài viết tác giả chỉ đề cập đến cơ sở, nội dung kiểm toán đối với tiền sử dụng đất tại một số tỉnh ở Việt Nam, tác giả chưa đề cập đến vấn đề quản lý nhà nước đối với các khoản thu từ đất ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

Theo tác giả Nguyễn Văn Hào đất đai là một tài sản đặc biệt bởi nó có cả giá trị và giá trị sử dụng Chính vì tính hữu hạn về diện tích và giá trị đặc biệt của đất, nên việc sử dụng đất tiết kiệm và có hiệu quả là một yêu cầu quan trọng đối với yêu cầu quản lý của Nhà nước ta hiện nay Vì vậy, kiểm toán nguồn thu NSNN từ nhà, đất gắn với việc tăng cường quản lý thu NSNN và nâng cao hiệu lực quản lý đất đai tại các tỉnh, thành phố thuộc trung ương, sẽ góp phần nhìn nhận, đánh giá lại việc quản lý đất đai của nước ta trong thời gian qua, đặc biệt là vai trò của KTNN trong việc góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý đất, từ đó có những kiến nghị để công tác này ngày được tốt hơn

Kiểm toán Nhà nước là cơ quan chuyên môn về lĩnh vực kiểm tra tài chính nhà nước, hoạt động độc lập tuân thủ theo pháp luật; thực hiện kiểm tra, đánh giá và xác nhận tính đúng đắn, trung thực của báo cáo tài chính, báo cáo quyết toán ngân sách nhà nước; kiểm tra, đánh giá và xác nhận việc tuân thủ pháp luật, mà đơn vị được kiểm toán phải tuân thủ; kiểm tra, đánh giá tính kinh tế, hiệu lực và hiệu quả trong quản lý và sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nước Những thông tin của Kiểm toán Nhà nước thể hiện sự đánh giá khách quan của cơ quan chuyên nghiệp, độc lập nên vô cùng quan trọng đối với các cơ quan, đơn vị trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình về ngân sách nhà nước và quản lý tài sản công

Trong khuôn khổ bài viết tác giả đã nêu lên vai trò của cơ quan kiểm toán nhà nước trong việc quản lý nhà nước đối với nguồn thu NSNN nói chung và các khoản thu từ đất nói riêng Tuy nhiên, về công tác quản lý nhà nước về các khoản thu từ đất

ở Việt Nam tác giả chưa đề cập đến trong bài viết này

Trang 10

1.1.1.2 Tổng quan tính hình nghiên cứu nước ngoài

Các nghiên cứu ngoài nước liên quan đến quản lý nhà nước về các khoản thu

từ đất không nhiều Mặt khác các nghiên cứu ở nước ngoài đều xuất phát từ thực tiễn của nước đó và hệ thống cơ sở dữ liệu liên quan tương đối đầy đủ và có độ tin cậy cao, trong khi ở Việt Nam hiện nay cơ sở dữ liệu không đầy đủ độ tin cậy của dữ liệu thấp Do đó, trong Luận án tác giả chỉ đưa ra một vài nghiên cứu ở các nước mang tính đặc trưng có thể nghiên cứu và vận dụng được trong điều kiện Việt Nam Cụ thể

có một số tác giả nghiên cứu như sau:

Dr William J MCCluskey (năm 2013) “Kinh nghiệm của các nước trên thế giới bao gồm cả các nước phát triển và đang phát triển có điều kiện tương đồng với Việt Nam liên quan đến chính sách thuế bất động sản”[55]; Jay K Rosengard (năm 2011) “Cải cách thuế bất động sản tại các nước đang phát triển”[28]

Trong nghiên cứu của Dr William J MCCluskey tác giả đã giới thiệu một cách

có hệ thống chính sách thuế bất động sản ở một số nước trên thế giới đang áp dụng hiện nay Tác giả đưa ra cơ sở tính thuế, ai phải trả thuế, cơ quan nào quản lý thuế bất động sản; tùy theo tính chất của từng loại thuế và pháp luật về xây dựng cơ chế quản

lý thuế để các nhà quản lý thuế có thể hoạt động ở cấp quốc gia (trên phạm vi cả nước ) hay cấp địa phương (từng địa phương) Tuy nhiên, tác giả mới chỉ đề cập đến hệ thống chính sách thuế về bất động sản mà chủ yếu là nhà chưa nói đến vấn đề quản lý nhà nước đối với các khoản thu từ đất

Theo tác giả Jay K Rosengard đưa ra các nguyên tắc cải tổ trong cải cách thuế bất động sản tại các nước đang phát triển đó là hiệu quả phân bổ và quản lý công bằng theo chiều dọc hoặc chiều ngang và tính bền vững của hệ thống Điều này tạo ra được nguồn thu một cách bền vững về mặt tài chính, thúc đấy sự minh bạch trong chính sách và rõ ràng về hành chính; sử dụng các biện pháp khuyến khích dành cho

cá nhân và tổ chức, tuyên truyền thông tin cho công chúng; tạo thuận lợi cho thay đổi

về chính sách thuế, cơ chế hành chính và hành vi còn người; cải thiện dịch vụ, liên kết giữa chính sách với thực tiễn cũng như cơ chế quản lý của nhà nước, thực hiện theo từng giai đoạn Tác giả đưa ra kinh nghiệm cải cách về chính sách thuế bất động sản của Indonesia, Philipines, Jamaica …

Tác giả mới chỉ đề cập đến việc cải cách chính sách thuế về bất động sản, các biện pháp cải cách về chính sách thuế bất động sản để nhằm khuyến khích các tổ chức, cá nhân, liên kết giữa chính sách với thực tế chưa tiếp cận đến vấn dề quản lý nhà nước về các khoản thu từ đất nói chung

Nghiên cứu về cải cách hệ thống thuế BĐS, nổi trội trong khu vực là các nghiên cứu về cải cách thuế BĐS của Indonesia Jay K Rosengard (1998) [99] đã hệ thống các thành công của ngành thuế Indonesia sau 6 năm nghiên cứu hoàn thiện

Trang 11

chính sách và cơ chế thuế BĐS trên cơ sở hợp nhất từ 7 luật thuế khác nhau liên quan đến BĐS Thành công trong cải cách thuế của Indonesia không những là có một hệ thống thuế rõ ràng, thống nhất, đơn giản và phổ biến mà điểm nổi bật nhất của cải cách này là hệ thống điểm nộp thuế (Sistem Tempat Pembaya - SISTEP), sau một năm thực hiện, hiệu quả thu thuế tăng từ 65% đến 79%

1.1.2 Giới hạn và khoảng trống nghiên cứu

1.1.2.1 Những giới hạn của các nghiên cứu trước đây

Qua việc tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan cho thấy: Hầu hết các công trình đều sử dụng phương pháp định tính kết hợp với phương pháp phân tích, thống kê, tổng hợp để giải quyết vấn đề Với các Luận án tiến sĩ, đề tài cấp ngành triển khai theo logic hệ thống từ cơ sở lý luận, đến phân tích thực trạng, trên cơ sở đó

đề xuất các giải pháp khắc phục Với các bài báo khoa học thì chủ yếu dừng lại ở việc phân tích thực trạng của vấn đề để đưa ra định hướng giải pháp hoàn thiện Tuy nhiên, nghiên cứu của các tác giả trong nước cũng như nước ngoài còn có những giới hạn sau:

Một là, hầu hết các nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở phạm vi hẹp là một tỉnh

chưa nghiên cứu ra phạm vi cả nước

Hai là, các nghiên cứu này chỉ nghiên cứu đơn lẻ theo một vài chính sách như

chính sách về quản lý tài nguyên đất đai, tiền thuê đất, tiền sử dụng đất hoặc chính sách đền bù, giải phóng mặt bằng hoặc chỉ đề cập đến vấn đề liên quan đến thị trường bất động sản

Ba là, thời gian của các dữ liệu nghiên cứu phổ biến trong giai đoạn từ năm

2001-2011 trong khi nhiều chính sách đối với các khoản thu từ đất trong thời gian qua đến nay có nhiều thay đổi đặc biệt là Quốc hội đã thông qua Luật đất đai năm

2013 thay thế Luật đất đai năm 2003

Bốn là, các tác giả chủ yếu đưa ra các giải pháp về khai thác nguồn thu mà

chưa làm rõ nội dung, quy trình quản lý nhà nước đối với các khoản thu

1.1.2.2 Khoảng trống nghiên cứu

Qua tổng quan các công trình nghiên cứu có thể khẳng định rằng, cho đến thời điểm hiện tại chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện về quản lý nhà nước đối với các khoản thu từ đất Hiện đang có một “khoảng trống” cả về lý luận cũng như đánh giá thực tiễn quản lý nhà nước về các khoản thu từ đất giai đoạn 2007 đến 2015, cụ thể bao gồm các vấn đề chính sau:

- Cơ sở lý luận về nội dung, quy trình quản lý nhà nước nói chung, của ngành thuế nói riêng đối với các khoản thu từ đất;

- Nội dung công tác quản lý nhà nước đối với các khoản thu từ đất ở Việt

Trang 12

Nam; Các yếu tố ảnh hưởng đến nội dung quản lý và tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện của hoạt động quản lý nhà nước về các khoản thù từ đất;

- Các khảo sát, đánh giá toàn diện về thực trạng công tác quản lý nhà nước về các khoản thu từ đất; ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân trong công tác quản lý đối với các khoản thu từ đất ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay;

- Các đề xuất có cơ sở khoa học và thực tiễn về định hướng và giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về các khoản thu từ đất ở Việt Nam giai đoạn từ nay đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2025 nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả của công tác quản lý nhà nước đối với các khoản thu từ đất

Từ đó, cho phép NCS triển khai thực hiện đề tài luận án để làm rõ các khoảng trống nêu trên Trong quá trình nghiên cứu và viết luận án, NCS có tham khảo, kế thừa một số lý luận cơ bản về các khoản thuế, phí liên quan đến quản lý, sử dụng, chuyển nhượng đất; các kết luận rút ra từ thực tiễn thực thi chính sách thu trong giai đoạn trước đây; các phương pháp nghiên cứu mà tác giả của các công trình đã công

bố sử dụng nhằm hoàn thiện, phát triển và bổ sung cho các khoảng trống nghiên cứu

đã xác định

1.2 Phương pháp nghiên cứu luận án

* Phương pháp luận: Luận án sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng

và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư duy quan điểm đường lối của Đảng CSVN để tiếp cận có tính hệ thống, biện chứng, logic và lịch sử về các vấn đề nghiên cứu

* Các phương pháp nghiên cứu cụ thể:

1.2.1 Phương pháp thu thập thông tin, dữ liệu

Để thực thiện đề tài luận án, NCS thu thập các thông tin, dữ liệu về các khoản thu từ đất, về số thu, về công tác thực hiện chính sách, về công tác quản lý nhà nước đối với các nguồn thu giai đoạn 2007 - 2015 Ngoài ra một số nguồn dữ liệu từ các cấp các ngành có liên quan cũng được khai thác để có dữ liệu phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài luận án

Nguồn cơ sở dữ liệu:

+ Dữ liệu sơ cấp

Dữ liệu sơ cấp là các ý kiến đánh giá của các doanh nghiệp, các hộ gia đình, cá nhân; các cán bộ làm việc tại: Bộ Tài chính, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Tổng cục Thuế, các UBND như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh Các dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phương pháp điều tra phỏng vấn bằng bảng hỏi Ngoài ra, tác giả cũng thực hiện phỏng vấn chuyên gia để thu thập những ý kiến đánh giá và định hướng quản lý nhà nước về các khoản thu từ đất ở Việt Nam

Trang 13

* Phương pháp điều tra, khảo sát qua bảng hỏi:

Nghiên cứu sinh đã tiến hành lập bảng hỏi điều tra đối với đối tượng là người nộp thuế (doanh nghiệp, hộ gia đình và cá nhân), cơ quan quản lý thuế, cơ quan quản

lý nhà nước về đất đai (như UBND tỉnh, cơ quan tài nguyên và môi trường)

Đối tượng điều tra, bao gồm các doanh nghiệp, các hộ gia đình, cá nhân; các cán bộ làm việc tại: Bộ Tài chính, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Tổng cục Thuế, các UBND như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh Danh sách các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân được lấy từ các Cục Thuế Hà Nội, Cục Thuế thành phố Hồ Chí Minh Phương pháp lựa chọn mẫu là phương pháp ngẫu nhiên theo địa bàn

Mẫu phiếu khảo sát: xem phụ lục số 01

Cách thức điều tra: Phát và thu hồi phiếu trực tiếp hoặc qua email

Về loại hình và lĩnh vực hoạt động của các đơn vị thuộc mẫu điều tra

Tổng số mẫu điều tra là 500 trong đó (i) Nhóm chủ thể quản lý là các cán bộ làm việc trong các cơ quan 380 phiếu gồm: Bộ Tài chính 30 phiếu, Bộ Tài nguyên và Môi trường 20 phiếu, Tổng cục Thuế 100 phiếu, UBDN thành phố Hồ Chí Minh 20 phiếu, UBND thành phố Hà Nội 20 phiếu, UBND thành phố Đà Nẵng 20 phiếu, UBND quận 1 thành phố Hồ Chí Minh 20 phiếu, UBND huyện Thành Trì thành phố

Hà Nội 20 phiếu, Cục Thuế thành phố Hà Nội 30 phiếu, Cục Thuế thành phố Hồ Chí Minh 30 phiếu, Cục Thuế thành phố Đà Nẵng 20 phiếu, Sở Tài nguyên và môi trường thành phố Hồ Chí Minh 20 phiếu, Sở Tài Nguyên và Môi trường thành phố Hà Nội

20 phiếu, Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Đà Nẵng 10 phiếu; (ii) Nhóm khách thể quản lý 100 phiếu gồm các tổ chức (Doanh nghiệp, công ty ) sử dụng đất

50 phiếu, hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất 50 phiếu; (iii) Nhóm các nhà nghiên cứu

- Báo cáo Tổng kết tình hình thi hành Luật Đất đai 2003 và định hướng sửa đổi Luật đất đai

- Đề án phát triển Thị trường Bất động sản năm 2013-2014 của Bộ Xây dựng

- Chiến lược phát triển nhà ở Quốc gia đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm

Trang 14

- Báo cáo công tác thuế từ năm 2011-2015 của Tổng cục Thuế

- Tờ trình số 222/TTr-CP ngày 6/9/2012 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về

dự án Luật đất đai sửa đổi

- Tờ trình số 302/TTr-CP ngày 24/10/2012 của Bộ Tài nguyên và Môi trường

về dự án Luật đất đai sửa đổi

- Đề án cải cách hiện đại hóa ngành thuế giai đoạn 2011-2020 của Tổng cục Thuế

Ngoài ra một số thông tin thứ cấp được NCS thu thập từ các trang website của Chính phủ, Bộ Tài chính, Bộ TNMT, Tổng cục Thuế, Tổng cục Thống kê, Tổng cục quản lý đất đai, Cục Thuế các tỉnh, thành phố…

1.2.2 Phương pháp xử lý thông tin, dữ liệu

Phương pháp phân tích, tổng hợp: Được sử dụng để hệ thống hóa những vấn

đề về quản lý nhà nước đối với các khoản thu từ đất ở Việt Nam trong giai đoạn hiện này bao gồm việc xây dựng chính sách, thực thi chính sách và quản lý nhà nước

Phương pháp thống kê mô tả: Được sử dụng để sắp xếp, phân loại và xử lý tổng hợp số liệu thu thập, từ đó xây dựng các bảng biểu để phân tích dữ liệu đánh giá hiện trạng và xác định các tiêu chí liên quan đến quản lý nhà nước về các khoản thu

từ đất ở Việt Nam

Trên cơ sở các phương pháp nghiên cứu thống kê mô tả, phân tích, tổng hợp NCS sử dụng các biểu đồ, đồ thị đồng thời tham chiếu với kết quả định lượng bằng phần mềm Excel để đưa ra các kết luận về thực trạng quản lý nhà nước về các khoản thu từ đất theo các tiêu chí đánh giá

Với tổng số phiếu phát ra để điều tra là 500 phiếu, NCS thu về được số phiếu hợp lệ là 480 phiếu

Trên cơ sở các mức điểm từ 1 đến 4 (trong đó 1 là mức kém nhất, 2 là mức kém, 3 là mức tốt và 4 là mức tốt nhất) thông qua phần mềm Excel tính ra mức điểm trung bình của các câu hỏi Dựa vào kết quả định lượng, kết hợp với các phương pháp nghiên cứu định tính là cơ sở để NCS đánh giá thực trạng quản lý nhà nước đối với các khoản thu từ đất ở Việt Nam theo các tiêu chí ở chương 2, chỉ ra nguyên nhân của

Trang 15

những hạn chế trong quản lý nhà nước về các khoản thu từ đất và đưa ra định hướng, giải pháp quản lý nhà nước về các khoản thu từ đất ở Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2025

TÓM TẮT CHƯƠNG 1

Trong chương 1 của luận án NCS đã trình bày tổng quan tình hình nghiên cứu

đề tài trong nước và nước ngoài; các phương pháp nghiên cứu sử dụng trong luận án,

cụ thể như sau:

Từ việc tổng quan các công trình nghiên cứu của các tác giả trong nước và nước ngoài cho phép rút ra: chủ đề quản lý nhà nước về các khoản thu từ đất được đề cập rất nhiều ở các công trình nghiên cứu Tuy nhiên, mới chỉ ở góc độ một vấn đề hoặc địa bàn một tỉnh Cho đến nay chủ đề quản lý nhà nước về các khoản thu từ đất chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện cả về lý luận cũng như thực tiễn Vì vậy, hiện nay đang có một khoảng trống cả về lý luận cũng như thực tiễn

về quản lý nhà nước về các khoản thu từ đất cần được tiếp tục làm rõ

Trong chương 1 luận án đưa ra các phương pháp nghiên cứu, các phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu, trên cơ sở dữ liệu sơ cấp thu thập được NCS sẽ sử dụng phần mềm Excel để phân tích và đưa ra các giải pháp hoàn thiện

Trang 16

Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt không gì thay thế được của nông nghiệp, lâm nghiệp, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là cơ sở kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh và quốc phòng.[39]

* Đất là một tư liệu sản xuất đặc biệt

Đất là điều kiện chung nhất của lao động, là đối tượng của lao động Tuy cũng

là một tư liệu sản xuất, nhưng đất có những tính chất đặc biệt khác hẳn so với các tư liệu sản xuất khác Sự khác biệt thể hiện những điểm sau đây:

Đặc điểm tạo thành: Đất đai xuất hiện, tồn tại ngoài ý chí và nhận thức của con người, là sản phẩm tự nhiên, có trước lao động là điều kiện tự nhiên của lao động Chỉ khi tham gia vào hoạt động sản xuất của xã hội, dưới tác động của lao động đất đai mới trở thành tư liệu sản xuất Trong khi đó, các tư liệu sản xuất khác là kết quả của lao động có trước của con người (do con người tạo ra)

Tính hạn chế về số lượng: Đất đai là tài nguyên hạn chế, diện tích đất (số lượng) bị giới hạn bởi ranh giới đất liền trên bề mặt địa cầu (lưu ý: giới hạn về không gian không có nghĩa giới hạn về tính chất sản xuất của đất) Các tư liệu sản xuất khác

có thể tăng về số lượng, chế tạo lại tuỳ theo nhu cầu của xã hội

Tính không đồng nhất: Đất đai không đồng nhất về lượng, hàm lượng chất dinh dưỡng, các tính chất lý hoá… (quyết định bởi các yếu tố hình thành đất cũng như chế độ sử dụng đất khác nhau) Các tư liệu sản xuất khác có thể đồng nhất về chất lượng quy cách, tiêu chuẩn (mang tính tương đối do quy trình công nghệ quyết định)

Tính không thể thay thế: Thay thế đất bằng tư liệu sản xuất khác là việc không thể làm được Các tư liệu sản xuất khác, tuỳ thuộc vào mức độ phát triển của lực

Trang 17

lượng sản xuất có thể thay thế bằng tư liệu sản xuất khác hoàn thiện hơn có hiệu quả kinh tế hơn

Tính cố định vị trí: Đất đai hoàn toàn cố định vị trí trong sử dụng (khi sử dụng không thể di chuyển từ nơi này sang nơi khác) Các tư liệu sản xuất khác được sử dụng ở mọi chỗ, mọi nơi, có thể di chuyển trên các khoảng cách khác nhau tuỳ theo

sự cần thiết

Tính vĩnh cửu (độ phì nhiêu): Độ phì nhiêu là đặc tính quan trọng của đất, trong sản xuất nông nghiệp, độ phì nhiêu chính là khả năng của đất có thể cung cấp thức ăn, nước và những điều kiện khác cần thiết cho sự sinh trưởng và phát triển của cây trồng Đất đai là tư liệu sản xuất vĩnh cửu (không lệ thuộc vào tác động phá hoại của thời gian) Nếu biết sử dụng hợp lý, đặc biệt là trong sản xuất nông- lâm nghiệp, đất sẽ không bị hư hỏng, ngược lại có thể tăng tính chất sản xuất (độ phì nhiêu) cũng như hiệu quả sử dụng đất Khả năng tăng tính chất sản xuất của đất tuỳ thuộc vào phương thức sử dụng là tính chất có giá trị đặc biệt, không tư liệu sản xuất nào có được Các tư liệu sản xuất khác đều bị hư hỏng dần, hiệu ích sử dụng giảm và cuối cùng bị loại khỏi quá trình sản xuất

Đất không thể là đối tượng của từng cá thể Đất mà chúng ta đang sử dụng, tự coi là của mình, không chỉ thuộc về chúng ta Đất là điều kiện vật chất cần thiết để tồn tại và tái sản xuất cho các hệ thống tiếp nhau của loài người Vì vậy, trong sử dụng cần làm cho đất tốt hơn cho các thế hệ mai sau

* Đất là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là cơ sở kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh và quốc phòng

Sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế xã hội, cùng với sự bùng nổ dân số và quá trình đô thị hoá diễn ra nhanh chóng đã đặt ra yêu cầu phải quản lý nhà nước về đất đai ngày càng hoàn thiện hơn Mặt khác do số lượng cán bộ công chức tăng lên dẫn đến quỹ đất dành cho việc xây dựng trụ sở của các cơ quan quản lý nhà nước ngày càng được mở rộng Đồng thời, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế mạnh mẽ, từ nông nghiệp chuyển sang công nghiệp, dịch vụ, thương mại từ quốc gia này sang quốc gia khác một cách nhanh chóng với kết cấu hạ tầng ngày càng mở rộng làm cho nhu cầu

về đất tăng nhanh để phục vụ việc xây dựng công sở, đường sá, cầu cống, sân bay, bến cảng, nhà máy, xí nghiệp, các khu du lịch

Ngoài ra, những sai lầm của con người trong quá trình sử dụng đất (có ý thức hoặc vô ý thức) đã làm cho nhiều vùng đất nông nghiệp màu mỡ bị suy giảm cả về số lượng và chất lượng, vấn đề sử dụng đất càng trở nên quan trọng và mang tính toàn cầu Sự phát triển không ngừng của nền kinh tế xã hội đã gây áp lực ngày càng cao cho quản lý, sử dụng đất để đảm bảo ổn định, duy trì và không ngừng nâng cao vai trò của đất, góp phần phát triển kinh tế xã hội

Trang 18

2.1.2 Khái niệm quản lý nhà nước đối với đất

Theo Tài liệu quản lý Nhà nước ngạch chuyên viên, Học viện Hành chính, Nhà

xuất bản Chính trị quốc gia năm 2010 đã định nghĩa về quản lý Nhà nước như sau:

Quản lý Nhà nước được hiểu theo nghĩa rộng là tác động của Nhà nước với các hình thức hoạt động của bộ máy Nhà nước lên các quan hệ xã hội để bảo đảm cho các quan hệ xã hội phát triển theo đúng những mục tiêu đã định, ngăn ngừa các khuynh hướng phát triển sai lệch, ngăn chặn kịp thời các biểu hiện phát triển sai trái” [27]

Để thực hiện việc quản lý của mình, Nhà nước thành lập ra các cơ quan quản

lý nhà nước từ trung ương đến địa phương để quản lý nhà nước, trong giai đoạn hiện nay cơ quan quản lý nhà nước theo ngành, theo từng lĩnh vực có các cơ quan sau:

Hình 2.1: Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý nhà nước

Nhà nước sử dụng các công cụ là luật pháp để bắt buộc mọi hoạt động của các

tổ chức, cá nhân cũng như chủ thể phải tuân thủ theo pháp luật Hệ thống pháp luật của một quốc gia bao gồm: Hiến pháp, Các Luật, Các văn bản dưới luật của các cơ quan quản lý nhà nước Các cơ quan quản lý Nhà nước quản lý mọi hoạt động của quốc gia theo pháp luật.[25]

Quản lý nhà nước về đất đai là tổng hợp các hoạt động của các cơ quan nhà nước

có thẩm quyền để thực hiện và bảo vệ quyền sở hữu của Nhà nước đối với đất đai; đó là các hoạt động nắm bắt tình hình sử dụng đất; phân phối và phân phối lại quỹ đất đai theo quy hoạch, kế hoạch; kiểm tra giám sát quá trình quản lý và sử dụng đất, điều tiết các nguồn lợi từ đất

Cơ quan Tư

pháp

Cơ quan Lập pháp (Quốc Hội)

Cơ quan Hành pháp (Chính phủ)

Bộ máy nhà nước

Toà án Viện kiểm

sát

Các Uỷ ban giám sát

Các Bộ, ngành

UBND các cấp

Trang 19

Từ khái niệm trên cho thấy: Liên quan đến hoạt động quản lý nhà nước về đất có: chủ thể, khách thể và đối tượng quản lý

Các Bộ chủ quản là cơ quan Nhà nước quản lý ngành về đất đai cấp Trung ương Bộ là cơ quan chủ trì dự thảo Nghị định về quản lý đất đai, trình Chính phủ ban hành; Ban hành Thông tư và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật, Pháp lệnh và Nghị định của Chính phủ về đất đai Chỉ đạo và phối hợp chỉ đạo với các Bộ, Ngành liên quan đến quản lý Nhà nước về đất đai trên phạm vi cả nước

Ở địa phương, các cơ quan quản lý Nhà nước về đất đai có Chính quyền các cấp Tỉnh, Huyện, Xã và cơ quan quản lý ngành cấp địa phương là Sở Tài nguyên và Môi trường, Phòng Tài nguyên và Môi trường, Địa chính xã Cơ quan quản lý Nhà nước về đất đai cấp địa phương là cơ quan thực thi pháp luật, quản lý về đất đai trên phạm vi địa phương mình

Theo chức năng quản lý, các chủ thể quản lý nhà nước về đất đai, gồm:

Các cơ quan thay mặt Nhà nước thực hiện quyền quản lý nhà nước về đất đai ở địa phương theo cấp hành chính, đó là Uỷ ban nhân dân các cấp và cơ quan chuyên môn ngành quản lý đất đai ở các cấp Các cơ quan đứng ra đăng ký quyền quản lý đối với những diện tích đất chưa sử dụng, đất công ở địa phương Thông thường, Uỷ ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm đăng ký vào hồ sơ địa chính những diện tích đất chưa

sử dụng và những diện tích đất công cộng không thuộc một chủ sử dụng cụ thể nào như đất giao thông, đất nghĩa địa Các cơ quan này đều là đối tượng quản lý trong lĩnh vực đất đai của các cơ quan cấp trên trực tiếp và chủ yếu theo nguyên tắc trực tuyến

Các chủ thể quản lý đất đai là các tổ chức như các Ban quản lý khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu kinh tế Những chủ thể này không trực tiếp sử dụng đất mà được Nhà nước cho phép thay mặt Nhà nước thực hiện quyền quản lý đất đai

Vì vậy, các tổ chức này được Nhà nước giao quyền thay mặt Nhà nước cho thuê đất gắn liền với cơ sở hạ tầng trong khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu kinh tế đó Các ban quản lý này là các tổ chức và cũng trở thành đối tượng quản lý của các cơ

Trang 20

quan nhà nước trong lĩnh vực đất đai

* Khách thể quản lý (chủ thể chịu sự quản lý nhà nước về đất đai)

Là các chủ thể sử dụng đất và thực hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất gồm: Tổ chức; Cơ sở tôn giáo; Cộng đồng dân cư; Hộ gia đình; Cá nhân; Tổ chức nước ngoài; Cá nhân nước ngoài; Người Việt Nam định cư ở nước ngoài Tất cả những chủ thể sử dụng đất đai này là đối tượng của các cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực đất đai

* Đối tượng quản lý

Tùy theo chính sách của mỗi quốc gia mà đất đai- đối tượng quản lý được chia thành các nhóm đối tượng quản lý khác nhau Hiện nay toàn bộ quỹ đất được phân thành 3 nhóm như sau:

Nhóm đất nông nghiệp gồm: Đất sản xuất nông nghiệp bao gồm đất trồng cây

hàng năm, đất trồng cây lâu năm; Đất trồng cây hàng năm bao gồm đất trồng lúa, đất đồng cỏ dùng vào chăn nuôi,đất trồng cây hàng năm khác; Đất lâm nghiệp bao gồm đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng; Đất nuôi trồng thuỷ sản; Đất làm muối; Đất nông nghiệp khác; Đất nông nghiệp khác là đất tại nông thôn sử dụng

để xây dựng nhà kính và các loại nhà khác phục vụ mục đích trồng trọt kể cả các hình thức trồng trọt không trực tiếp trên đất; xây dựng chuồng trại chăn nuôi gia súc, gia cầm và các loại động vật khác được pháp luật cho phép, xây dựng trạm, trại nghiên cứu thí nghiệm nông nghiệp, lâm nghiệp, làm muối, thủy sản, xây dựng cơ sở ươm tạo cây giống, con giống; xây dựng kho, nhà của hộ gia đình, cá nhân để chứa nông sản, thuốc bảo vệ thực vật, phân bón, máy móc, công cụ sản xuất nông nghiệp

Nhóm đất phi nông nghiệp gồm: Đất ở bao gồm đất ở tại nông thôn, đất ở tại

đô thị; Đất chuyên dùng bao gồm đất xây dựng trụ sở cơ quan, xây dựng công trình

sự nghiệp; đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh; đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp; đất sử dụng vào mục đích công cộng Đất sử dụng vào mục đích công cộng là đất sử dụng vào mục đích xây dựng công trình đường giao thông, cầu, cống, vỉa hè, cảng đường thuỷ, bến phà, bến xe ô tô bãi đỗ xe, ga đường sắt, cảng hàng không; hệ thống cấp nước, hệ thống thoát nước, hệ thống công trình thuỷ lợi, đê, đập; hệ thống đường dây tải điện, hệ thống mạng truyền thông, hệ thống dẫn xăng, dầu, khí; đất sử dụng làm nhà trẻ, trường học, bệnh viện, chợ, công viên, vườn hoa, khu vui chơi cho trẻ em, quảng trường, sân vận động, khu an dưỡng, khu nuôi dưỡng người già và trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, cơ sở tập luyện thể dục - thể thao, công trình văn hoá, điểm bưu điện - văn hoá xã, tượng đài, bia tưởng niệm, nhà tang lễ, câu lạc bộ, nhà hát, bảo tàng, triển lãm, rạp chiếu phim, rạp xiếc, cơ sở phục hồi chức năng cho người khuyết tật, cơ sở dạy nghề, cơ sở cai nghiện ma tuý, trại giáo dưỡng,

Trang 21

trại phục hồi nhân phẩm; đất có di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh đã được xếp hạng hoặc được ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quyết định bảo vệ; đất để chất thải, bãi rác, khu xử lý chất thải; Đất tôn giáo, tín ngưỡng bao gồm đất do các cơ sở tôn giáo sử dụng; đất có công trình là đình, đền, miếu, am, từ đường, nhà thờ họ; Đất làm nghĩa trang, nghĩa địa; Đất sông, ngòi, kênh, rạch, suối và mặt nước chuyên dùng; Đất phi nông nghiệp khác

Nhóm đất chưa sử dụng gồm: Đất bằng chưa sử dụng; Đất đồi núi chưa sử

dụng; Núi đá không có rừng cây [31]

2.1.3 Nội dung quản lý nhà nước đối với đất

Các nội dung quản lý nhà nước đối với đất đai bao gồm các nội dung chủ yếu như: Ban hành văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai và tổ chức thực hiện văn bản đó

Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập bản đồ hành chính

Khảo sát, đo đạc, lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất; điều tra, đánh giá tài nguyên đất; điều tra xây dựng giá đất

Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất Quản lý việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi thu hồi đất

Đăng ký đất đai, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất

Thống kê, kiểm kê đất đai

Xây dựng hệ thống thông tin đất đai

Quản lý tài chính về đất đai và giá đất

Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất

Thanh tra, kiểm tra, giám sát, theo dõi, đánh giá việc chấp hành quy định của pháp luật về đất đai và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai

Phổ biến, giáo dục pháp luật về đất đai

Giải quyết tranh chấp về đất đai; giải quyết khiếu nại, tố cáo trong quản lý và

sử dụng đất đai

Quản lý hoạt động dịch vụ về đất đai [40]

Trong các nội dung quản lý nhà nước về đất đai nêu trên thì việc quản lý tài

Trang 22

chính về đất đai là một nội dung rất quan trọng và có ảnh hưởng lớn đến các tổ chức,

cá nhân, hộ gia đình (người sử dụng đất) Thông thường, thu từ đất bao gồm: thu tiền

sử dụng đất, thu tiền thuê đất, thuê mặt nước; thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, thuế thu nhập cá nhân từ chuyển nhượng bất động sản, thuế thu nhập doanh nghiệp từ chuyển nhượng bất động sản; lệ phí trước bạ và các khoản phí khác

2.2 Quản lý nhà nước đối với các khoản thu từ đất

2.2.1 Các khoản thu từ đất của Nhà nước

2.2.1.1 Khái niệm thu từ đất

Thu từ đất là khái niệm dùng để chỉ hệ thống các khoản thu Ngân sách Nhà nước, bao gồm các khoản thu về thuế, phí, lệ phí và các khoản thu khác liên quan đến

sử dụng và chuyển nhượng quyền sử dụng đất của các tổ chức và cá nhân

Tùy theo luật pháp của mỗi quốc gia thu từ đất có thể bao gồm những khoản thu khác nhau, nhưng thường bao gồm bốn loại chính sau: (i) Tiền sử dụng đất; (ii) Tiền thuế từ đất; (iii) Tiền lệ phí; và (iv) Tiền thu từ việc xử phạt vi phạm pháp luật

đối với các công việc liên quan đến đất

- Tiền sử dụng đất

Tiền sử dụng đất; tiền thuê đất, thuê mặt nước là số tiền mà người sử dụng đất phải trả trong trường hợp giao đất có thu tiền sử dụng đất, chuyển mục đích sử dụng đất từ đất được Nhà nước giao không thu tiền sử dụng đất sang đất được Nhà nước giao có thu tiền sử dụng đất, chuyển từ hình thức thuê đất sang hình thức được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất; tiền thuê đất đối với đất do Nhà nước cho thuê đối với một diện tích đất xác định Đây là khoản tiền mà Nhà nước thu của người sử dụng đất khi được Nhà nước cho phép sử dụng đất mà thuộc các trường hợp phải nộp tiền sử dụng đất, tương đương với giá trị của quyền sử dụng đất mà Nhà nước quy định Tiền sử dụng đất, tiền thuê đất có thể dưới dạng tiền sử dụng khi được Nhà nước giao đất có thu tiền hoặc cho thuê đất; có thể dưới dạng tiền chuyển mục đích sử dụng khi được Nhà nước cho phép chuyển mục đích sử dụng đất; có thể dưới dạng tiền sử dụng đất khi chuyển từ thuê đất sang giao đất có thu tiền; có thể dưới dạng hợp thức hoá để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; có thể dưới dạng tiền sử dụng đất đối với khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu kinh tế, và một dạng đặc biệt của tiền sử dụng đất là tiền thuê đất khi được Nhà nước cho thuê đất

Khi tính tiền sử dụng đất hoặc tiền thuê đất phải căn vào diện tích đất, giá đất

và thời hạn sử dụng đất Diện tích đất tính thu tiền sử dụng đất là diện tích đất được Nhà nước giao, được Nhà nước cho thuê, được Nhà nước cho phép chuyển mục đích

Trang 23

sử dụng, được chuyển từ hình thức thuê đất sang giao đất có thu tiền sử dụng đất, được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Giá đất tính thu tiền sử dụng đất là giá đất theo mục đích sử dụng đất được giao tại thời điểm giao đất do Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ban hành theo quy định của Chính phủ; trong trường hợp đấu giá đất hoặc đấu thầu dự án có sử dụng đất là giá đất trúng đấu giá Thời hạn sử dụng đất được xác định theo quyết định giao đất, quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, quyết định gia hạn sử dụng đất hoặc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

* Tiền thuế từ đất

Thuế là một khoản nộp bằng tiền mà các thể nhân và pháp nhân có nghĩa vụ bặt buộc phải thực hiện theo luật đối với Nhà nước; không mang tính chất đối khoản, không hoàn trả trực tiếp cho người nộp thuế và dùng để trang trải cho các nhu cầu chi tiêu công cộng [45]

Các khoản thuế thu từ đất thường bao gồm:

- Thuế chuyển quyền sử dụng đất: Là khoản tiền mà cơ quan thuế của Nhà nước thu của người sử dụng đất khi được phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép chuyển quyền sử dụng cho chủ khác sử dụng Loại này thu theo phần trăm của giá trị quyền sử dụng đất và chỉ thu một lần khi xảy ra hoạt động chuyển quyền

sử dụng đất

- Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp:

Theo quy định của Luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp thì “Người nộp thuế

sử dụng đất phi nông nghiệp là tổ chức, hộ gia đình, cá nhân có quyền sử dụng đất thuộc đối tượng chịu thuế như: Đất ở tại nông thôn, đất ở tại đô thị; Đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp bao gồm: đất xây dựng khu công nghiệp; đất làm mặt bằng xây dựng cơ sở sản xuất, kinh doanh; đất khai thác, chế biến khoáng sản; đất sản xuất vật liệu xây dựng, làm đồ gốm.”[64]

- Thuế thu nhập doanh nghiệp đối với chuyển nhượng bất động sản:

Theo quy định của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp và các văn bản hướng dẫn

thi hành thì “Doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, mọi ngành nghề có thu nhập từ hoạt động chuyển nhượng bất động sản; Doanh nghiệp kinh doanh bất động sản; Doanh nghiệp kinh doanh bất động sản có thu nhập từ hoạt động cho thuê lại đất thì phải nộp thuế Thu nhập doanh nghiệp đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản”.[69]

- Thuế thu nhập cá nhân từ chuyển nhượng bất động sản:

Theo quy định của Luật thuế thu nhập cá nhân thì các cá nhân có thu nhập từ

Trang 24

chuyển nhượng bất động sản gồm: “Thu nhập từ chuyển nhượng quyền sử dụng đất

và tài sản gắn liền với đất; Thu nhập từ chuyển nhượng quyền sở hữu hoặc sử dụng nhà ở; Thu nhập từ chuyển nhượng quyền thuê đất, thuê mặt nước; Các khoản thu nhập khác nhận được từ chuyển nhượng bất động sản.” thì phải nộp thuế thu nhập cá

nhân [70]

Theo quy định của pháp luật về lệ phí trước bạ thì: “Tổ chức, cá nhân có tài sản thuộc đối tượng chịu lệ phí trước bạ quy định tại Điều 2 Nghị định số 45/2011/NĐ-CP thì phải nộp lệ phí trước bạ khi đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng với cơ quan nhà nước có thẩm quyền.”[90]

* Tiền lệ phí đối với các công việc liên quan đến đất

Phí là khoản tiền mà tổ chức, cá nhân phải trả khi được một tổ chức, cá nhân khác cung cấp dịch vụ được quy định trong danh mục phí, lệ phí ban hành kèm theo Pháp lệnh phí và lệ phí Tổ chức, cá nhân nộp phí được hoàn trả trực tiếp bằng một dịch vụ tương ứng

Lệ phí là khoản tiền mà tổ chức, cá nhân phải nộp khi được cơ quan nhà nước (hoặc tổ chức được uỷ quyền) phục vụ công việc quản lý nhà nước được quy định trong danh mục lệ phí ban hành kèm theo Pháp lệnh phí và lệ phí.[45]

Phí, lệ phí đối với các công việc liên quan đến đất là khoản tiền mà cơ quan thuế thu của người được Nhà nước giao đất, nhà (gồm cả trường hợp đăng ký quyền

sử dụng đất khi được hợp thức hoá quyền sử dụng đất) hoặc khi được phép nhận chuyển quyền sử dụng đất, nhà Tất cả các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất, nhà không phân biệt đất đó có nguồn gốc từ đâu, khi được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giải quyết một trong những công việc về đăng ký quyền sở hữu, sử dụng thì đều phải nộp lệ phí trước bạ

* Tiền phạt đối với các hoạt động vi phạm pháp luật về đất đai

Tiền phạt đối với các hoạt động vi phạm pháp luật về đất đai là khoản tiền mà Nhà nước thu của người vi phạm pháp luật trong khi quản lý hoặc sử dụng đất đai Tiền phạt có thể là tiền thu từ việc xử phạt hành chính khi vi phạm pháp luật về đất đai hoặc tiền thu từ việc phải bồi thường cho Nhà nước khi gây thiệt hại trong quản lý

và sử dụng đất đai Để quản lý giá đất, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương căn cứ vào nguyên tắc định giá đất, phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất do Chính phủ quy định, xây dựng giá đất cụ thể tại địa phương trình Hội đồng nhân dân cùng cấp cho ý kiến trước khi quyết định.[21]

2.2.1.2 Đặc điểm của các khoản thu từ đất

Một là, các khoản thu từ đất gồm nhiều khoản thu trong hệ thống thuế Nhà nước

Trang 25

Điều này do tính phức tạp của các bộ phận cấu thành quỹ đất và những thay đổi trong các giao dịch về đất Các khoản thu từ đất chủ yếu hiện nay gồm: Thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, thuế thu nhập cá nhân từ chuyển nhượng bất động sản, thuế thu nhập doanh nghiệp từ chuyển nhượng bất động sản, thu tiền sử dụng

đất, thu tiền thuê đất, thuê mặt nước, lệ phí trước bạ và các khoản phí khác

Hai là, các khoản thu từ đất có phạm vi áp dụng rộng, đối tượng tác động rất

lớn, đa dạng Đối tượng tác động của thuế và thu khác đối với đất đai là toàn dân, hàng chục triệu hộ nông dân, hàng vạn hộ nộp thuế nhà đất ở đô thị, mỗi năm hàng triệu lượt người nộp lệ phí trước bạ, tiền sử dụng đất, không phân biệt giàu nghèo, thu nhập thấp hay thu nhập cao, cơ quan hay doanh nghiệp… và ở khắp các địa bàn đất nước: đô thị, nông thôn, miền núi, hải đảo, ở đâu cũng có thể phát sinh thu và quản lý thuế và thu khác đối với đất đai

Do các đặc điểm nêu trên, phương pháp quản lý các khoản thu từ đất mang

tính đặc thù cơ bản Việc thu thuế đối với đất đai được thực hiện thông qua cơ quan, doanh nghiệp, vừa trực tiếp với đối tượng nộp thuế, trong đó trực tiếp là chủ yếu (gắn với địa điểm thu, trang thiết bị làm việc, con người, thái độ tiếp xúc, đạo đức nghề nghiệp…)

Thủ tục thu, nộp không phức tạp và luôn luôn đòi hỏi phải cải cách theo hướng càng đơn giản cho người nộp càng tốt vì người nộp thuế ở đây chủ yếu là nông dân nên cũng phải thể hiện thủ tục dễ hiểu, dễ làm Trước mắt và trong nhiều năm tới vẫn phải cải cách theo hướng: Đối tượng nộp thuế thực hiện kê khai đơn giản, thậm chỉ kê khai một lần cho cả đời (đối tượng nộp thuế nhà đất chỉ kê khai một lần đầu tiên duy nhất, nếu không có thay đổi chủ và diện tích), nhưng cơ quan thuế phải ra thông báo nộp thuế hết sức chi tiết, mỗi lần nộp là mỗi lần phải ra thông báo

Đối tượng nộp thuế không ổn định, không đòi hỏi phải có sổ sách kế toán, nên khó có cơ sở để thực hiện kiểm tra, thanh tra đối tượng nộp thuế.[45]

2.2.2 Mục tiêu và vai trò của quản lý nhà nước đối với các khoản thu từ đất 2.2.2.1 Mục tiêu của quản lý nhà nước đối với các khoản thu từ đất

Yêu cầu của công tác quản lý đất đai nói chung là phải đăng ký, thống kê đất đầy đủ theo đúng quy định của pháp luật đất đai ở từng địa phương theo các cấp hành chính Thông qua các chính sách, nhà nước quản lý đất đai nhằm mục đích khai thác

có hiệu quả nguồn tài nguyên đảm bảo sự ổn định về chính trị, xã hội của đất nước

- Bảo vệ quyền sở hữu nhà nước đối với đất đai, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất;

- Đảm bảo sử dụng hợp lý quỹ đất đai của quốc gia;

Trang 26

- Tăng cường hiệu quả sử dụng đất;

- Bảo vệ đất, cải tạo đất, bảo vệ môi trường

Như đã nêu ở phần trên, nguồn thu ngân sách nhà nước từ đất đai bao gồm: Tiền sử dụng đất trong các trường hợp giao đất có thu tiền sử dụng đất, chuyển mục đích sử dụng đất từ đất được Nhà nước giao không thu tiền sử dụng đất sang đất được Nhà nước giao có thu tiền sử dụng đất, chuyển từ hình thức thuê đất sang hình thức được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất; tiền thuê đất đối với đất do Nhà nước cho thuê; thuế sử dụng đất; thuế thu nhập từ chuyển quyền sử dụng đất; Thuế thu nhập doanh nghiệp đối với chuyển nhượng bất động sản, thuế thu nhập cá nhân đối với chuyển nhượng bất động sản; tiền thu từ việc xử phạt vi phạm pháp luật về đất đai; tiền bồi thường cho Nhà nước khi gây thiệt hại trong quản lý và sử dụng đất đai; phí và lệ phí trong quản lý, sử dụng đất đai

Các khoản thu từ đất là một phần quan trọng của ngân sách nhà nước và có tác dụng chủ đạo trong toàn bộ nguồn sức mạnh của Nhà nước Về cơ bản thì ngân sách nhà nước là sự tổng hợp các loại thuế, phí, lệ phí và các khoản thu từ đất Vì vây, mục tiêu áp dụng các khoản thu từ đất bên cạnh việc động viên một phần thu nhập của người sử dụng đất nhằm tăng thu cho ngân sách còn thực hiện khuyến khích sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả quỹ đất ở, đất xây dựng công trình, hạn chế việc đầu cơ đất Như vậy, việc quản lý các khoản thu từ đất nhằm một số mục tiêu sau:

Một là, góp phần đảm bảo quản lý, sử dụng đất- tài sản quốc gia hợp lý, hợp pháp

Đất đai là một loại tài nguyên đặc biệt phục vụ phát triển kinh tế xã hội của bất

kỳ quốc gia nào trên thế giới Vì vậy, chiến lược phát triển kinh tế- xã hội phù hợp với điều kiện và thực trạng sử dụng đất, nhà nước xây dựng quy hoạch sử dụng đất, chỉ ra tổng thể đất sử dụng cho mục đích xây dựng đô thị, đất xây dựng quy hoạch sử dụng đất, chỉ ra tổng thể đất sử dụng chỉ mục đích xây dựng đô thị, kết cấu hạ tầng kỹ thuật, các công trình công cộng, lợi ích quốc gia, quốc phòng an ninh, đất xây dựng khu dân cư nông thôn, đất dùng cho phát triển các ngành kinh tế, văn hoá giáo dục, y

tế, thể thao Trên cơ sở quy hoạch sử dụng đất, Nhà nước quản lý mục đích sử dụng đất của các chủ thể trong xã hội sử dụng đất theo đúng mục đích và quy hoạch nhằm phát huy hiệu quả đảm bảo đất đai sử dụng hợp lý theo quy định của nhà nước

Đất đai là tài nguyên thiên nhiên có giá trị sử dụng rất lớn Dưới bất kỳ chế độ

xã hội nào đất đai cũng là tài sản của một quốc gia, là tài sản bất khả xâm phạm Tính chất tư hữu về đất đai chỉ nằm trong giới hạn của một cá nhân, gia đình hay một tổ chức nhất định, trong một thời gian nhất định Giá trị sử dụng và tính chất tư hữu về đất đai, thông qua kinh tế thị trường đã tạo điều kiện cho đất đai trở thành một nguồn vốn quan trọng của một quốc gia để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng thông qua NSNN

Trang 27

Xây dựng cơ sở hạ tầng, đặc biệt là của các nước kém phát triển, đang phát triển là yêu cầu đầu tiên để làm nền móng cho phát triển kinh tế - xã hội và để thu hút đầu tư Tuy nhiên, đầu tư cơ sở hạ tầng là một lĩnh vực cần nhiều vốn Vì vậy, sử dụng quỹ đất hiện có để tạo vốn xây dựng cơ sở hạ tầng là một giải pháp hết sức hữu ích cho mọi nền kinh tế nhất là nền kinh tế đang phát triển Sử dụng quỹ đất tạo vốn xây dựng

cơ sở hạ tầng vừa khai thác được nguồn lực tài chính từ đất đai, vừa đáp ứng được số vốn rất lớn mà NSNN không có khả năng trang trải và giải quyết được những hạn chế

từ việc sử dụng nguồn vốn huy động bằng các hình thức khác nhau

Hai là, tạo nguồn thu ổn đinh lâu dài cho NSNN

Đất đai không thể thiếu được trong quá trình sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, thương mại, du lịch, cũng như trong việc góp phần ổn định cuộc sống con người, phân bố dân cư, sử dụng lao động và phòng thủ quốc gia Điều đó cho thấy đất

là nguồn lực rất quan trọng trong phát triển kinh tế nói chung, phát triển nông nghiệp nói riêng và ổn định tình hình chính trị - xã hội, an ninh - quốc phòng của đất nước Nguồn nội lực quan trọng của đất đai từ dạng tiềm năng sẽ trở thành hiện thực khi một quốc gia biết khai thác, sử dụng đất đai một cách hợp lý thông qua chính sách tài chính đối với đất đai trong đó có chính sách thu NSNN từ đất đai Thật vậy, với một chính sách thu đúng đắn, hợp lý và phù hợp với thực tế, quốc gia đó sẽ phát huy hiệu quả đất đai cho phát triển sản xuất, kinh doanh Từ đó, tạo ra nguồn thu cho NSNN qua thu vào đất đai (thuế sử dụng đất; tiền bán đất (tiền sử dụng đất), tiền thuê đất thuộc sở hữu nhà nước, thuế thu vào thu nhập có được từ hoạt động sử dụng, kinh doanh trên đất ) Ngoài ra, qua giải quyết các mối quan hệ dân sự, kinh tế về đất đai, nhiều quốc gia còn điều tiết thu nhập của các tổ chức, cá nhân qua thuế trước bạ, thuế quà biếu, thuế di sản giúp cho NSNN có nguồn thu tại chỗ để đáp ứng nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng và duy trì bộ máy quản lý nhà nước Thu NSNN từ đất là nguồn thu ổn định, lâu dài Trong nền kinh tế thị trường thì nguồn thu NSNN từ đất đai càng ngày càng tăng do đất đai được coi là “hàng hóa đặc biệt” có thể giao dịch mua bán, chuyển nhượng trên thị trường bất động sản; Và do

đó, giá đất có xu thế ngày càng tăng

2.2.2.2 Vai trò của quản lý nhà nước đối với các khoản thu từ đất

Thứ nhất, tạo khung pháp lý để quản lý thị trường bất động sản

Trên cơ sở hệ thống thuế hiện hành, các chính sách thuế tài sản và thu khác đã bảo đảm là công cụ quan trọng của Nhà nước thực hiện quản lý tài sản, tài nguyên quốc gia và tác động tích cực đến nhiều lĩnh vực quản lý nhà nước khác có liên quan, góp phần giảm chi phí đầu vào, thúc đẩy phát triển sản xuất, kinh doanh, tăng cường xuất khẩu hàng hoá và mở rộng giao lưu, hội nhập kinh tế quốc tế

Trang 28

Thông qua chính sách thuế sử dụng đất, tiền thuê đất, tiền sử dụng đất sẽ giúp cho Nhà nước nắm được qũy đất thực tế mà người sử dụng đất đã sử dụng vào mục đích sản xuất kinh doanh hay để ở để từ đó giúp cho nhà nước nắm được quy hoạch,

kế hoạch sử dụng đất và việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ký hợp đồng thuê đất có phù hợp với quy hoạch, kế hoạch và thực tế không Đồng thời thông qua chính sách thuế chuyển quyền sử dụng đất cũng giúp Nhà nước nắm được hoạt động mua bán chuyển nhượng quyền sử dụng đất và có biện pháp quản lý thị trường bất động sản để từ đó thực hiện điều tiết công bằng và quản lý của nhà nước đối với đất đai

Thứ hai, góp phần đảm bảo nguồn thu cho Ngân sách nhà nước, là nguồn thu

ổn định bền vững của ngân sách xã, phường, thị trấn

Trong nền kinh tế thị trường hiện nay thì thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước và tạo cơ sở để thực hiện chi ngân sách nhà nước Đất đai là một loại tài sản đặc biệt được các tổ chức, cá nhân trong xã hội sử dụng, khai thác do đó phải đóng thuế cho nhà nước thông qua thuế nhà, đất Thuế nhà, đất là một lại thuế cấu thành nên hệ thống thuế của nhà nước và là công cụ quan trọng để điều tiết thị trường bất động sản Bên cạnh thuế nhà đất, thì các khoản thu từ việc bán, chuyển giao đất, cho thuê đất đối với các tổ chức, cá nhân; khoản thu từ việc bán, chuyển nhượng đất đai; khoản thu thuế thu nhập từ hoạt động giao dịch đất đai được cho là bổ sung nguồn tài chính khá lớn cho ngân sách nhà nước và thực tế là chiếm tỷ trọng lớn nhất, chủ yếu nhất trong cơ cấu thu từ đất đai Số thu của nhà nước từ các hoạt động kinh doanh, chuyển nhượng đất đai, quyền sử dụng đất phụ thuộc vào trạng thái của thị trường bất động sản Khi thị trường bất động sản phát triển và hoạt động kinh doanh, chuyển nhượng đất đai, quyền sử dụng đất diễn ra thường xuyên, khối lượng giao dịch lớn thì nguồn thu từ các hoạt động này cho ngân sách nhà nước càng lớn và dần trở thành nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước

Thứ ba, tác động tới sản xuất kinh doanh, thu hút vốn đầu tư

Chính sách thu phân biệt đối với từng loại hành vi trong quá trình từ khi giao đất đến quá trình sử dụng đất và thông qua các ưu đãi về tiền sử dụng đất và tiền thuê đất đã góp phần thu hút đầu tư trong và ngoài nước phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Chính sách giao đất có thu tiền sử dụng đất đã huy động được nguồn vốn không nhỏ phục vụ cho mục đích chỉ đầu tư phát triển kinh tế xã hội của đất nước, đồng thời giải phóng sức sản xuất của đất đai, nâng cao khả năng sử dụng đất

Thứ tư, thực hiện chính sách công bằng xã hội

Chính sách thu đối với người sử dụng đất góp phần thực hiện công bằng xã

Trang 29

hội, điều tiết một phần thu nhập của người sử dụng đất, người chuyển nhượng quyền

sử dụng đất Công bằng xã hội còn thể hiện trong chính sách thu thông qua việc người sử dụng nhiều đất sẽ phải nộp nhiều thuế hơn và người sử dụng ít đất phải nộp thuế ít hơn Chuyển nhượng quyền sử dụng có phát sinh thu nhập phải nộp thuế chuyển quyền sử dụng đất; đồng thời thông qua việc miễn giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp do mất mùa, cho các hộ nghèo, vùng sâu, vùng xa đã góp phần giảm bớt một phần khó khăn và tạo cuộc sống ổn định cho người nông dân.[45]

2.2.3 Nội dung quản lý nhà nước đối với các khoản thu từ đất

Để quản lý đất đai nói chung và quản lý các khoản thu từ đất nói riêng cần thiết phải có sự can thiệp sâu sát của Nhà nước trên các phương diện như ban hành các chính sách pháp luật để quản lý, tổ chức bộ máy để thực hiện thu và thanh tra, kiểm tra đối với các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình sử dụng đất

2.2.3.1 Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật để quản lý các khoản thu từ đất

Hệ thống pháp luật của một quốc gia thường sẽ qui định các vấn đề về quyền

sở hữu; quyền sử dụng đất đai; các quyền mua, bán, cho thuê, thế chấp, góp vốn bằng đất đai… ; hướng dẫn hợp đồng giao dịch dân sự đất đai; qui định về phạm

vi áp dụng của các sắc thuế trong việc sử dụng và chuyển nhượng đất đai Như vậy, rõ ràng pháp luật là một yếu tố có tính chất quyết định đến sự hình thành và phát triển của thị trường đất đai và bất động sản Thực tế cho thấy, yếu tố pháp luật

có thể thúc đẩy hoặc hạn chế công tác quản lý nhà nước về đất đai

Quốc hội là cơ quan ban hành các Luật, Chính phủ ban hành các Nghị định hướng dẫn các Luật quy định về đất đai cũng như là các luật thuế nên việc Quốc hội

và Chính phủ có tác động đến quản lý thuế nói chung và quản lý các khoản thu từ đất nói riêng thông qua các văn bản quy phạm pháp luật, thông qua việc định hướng chính sách, thể chế chính trị và mô hình của Nhà nước…

Luật của Quốc Hội, Nghị định của Chính phủ và các văn bản quy phạm pháp luật khác là cơ sở, căn cứ pháp lý để hướng dẫn các tổ chức, cá nhân thực hiện nghĩa

vụ thuế và là căn cứ để kiểm tra, thanh tra xử phạt vi phạm Nếu hệ thống chính sách tài chính, các Luật thuế và Luật quản lý thuế rõ ràng, minh bạch, không chồng chéo, đơn giản, dễ hiểu, có tính ổn định tương đối sẽ tạo điều kiện cho người nộp thuế dễ dàng và tự giác tuân thủ pháp luật thuế Có thể nói Quốc hội, Chính phủ tác động đến quản lý thuế ở tầm vĩ mô, thiết lập nền tảng cho quản lý thuế

Nhà nước ban hành các văn bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh hành vi, nguyên tắc kế hoạch sử dụng đất đai và các giao dịch, các dịch vụ liên quan đến đất đai Như vậy, việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, thu nộp các

Trang 30

khoản thu từ đất và tổ chức thực hiện các văn bản đó được quy định theo từng chính sách cụ thể đã được Nhà nước quy định cụ thể theo đúng chức năng, nhiệm vụ của từng Bộ, ngành, Uỷ ban nhân dân các cấp

Khi ban hành văn bản quy phạm pháp luật về quản lý và sử dụng đất đai nói chung và quản lý các khoản thu từ đất nói riêng thì các cơ quan quản lý hành chính nhà nước về đất đai phải căn cứ theo thẩm quyền của mình và tuân theo quy định của Luật ban hành văn bản pháp luật để thực hiện

Thông thường Chính phủ giao Bộ Tài chính là cơ quan được ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến cơ chế, chính sách về tài chính đất, các khoản thu từ đất, nhà ở Trên cơ sở các chính sách tài chính quy định về quản lý và tổ chức thực hiện thu các khoản thu từ đất được ban hành cơ quan cấp trên hướng dẫn các cơ quan chức năng trực thuộc và các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật đất đai hiểu và thực hiện các văn bản đó đạt hiệu quả cao

Uỷ ban nhân dân các cấp căn cứ vào thẩm quyền của mình cụ thể hoá các quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý thu các khoản thu từ đất, chỉ đạo các cơ quan chức năng ở địa phương phối hợp với cơ quan thuế tại địa phương mình để thực hiện

Như vậy, việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý thu và thực hiện thu các khoản thu từ đất là một nội dung quản lý nhà nước về các khoản thu

từ đất hết sức quan trọng Để làm tốt nội dung này đòi hỏi các cơ quan chức năng, người cán bộ làm công tác quản lý nhà nước về các khoản thu từ đất nói chung (cán

bộ thuế nói riêng) ngoài việc thực hiện theo đúng chức năng, nhiệm vụ còn phải chú trọng đến công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật để tất các tổ chức, cá nhân nắm được họ có quyền lợi, nghĩa vụ gì theo quy định của pháp luật khi đó mới có thể tránh được các vi phạm pháp luật về đất đai do người sử dụng đất không hiểu chính sách mắc phải

2.2.3.2 Tổ chức bộ máy và phân cấp quản lý các khoản thu từ đất

* Tổ chức bộ máy quản lý các khoản thu từ đất

Các cơ quan hành thu được tổ chức như thế nào? vận hành ra sao? từ trung ương đến địa phương có ý nghĩa rất quan trọng trong việc tổ chức tiến hành thu và quản lý nguồn thu về các khoản thu từ đất Hiện nay trên thế giới có 3 loại mô hình

để thực hiện tổ chức hành thu các khoản thu từ đất đó là: mô hình tổ chức quản lý thu theo chức năng; mô hình quản lý tổ chức thu theo từng khoản thu và mô hình quản lý hỗn hợp cả chức năng lẫn các khoản thu Mỗi mô hình có một số ưu điểm và nhược điểm khác nhau nên việc lựa chọn mô hình nào là tuỳ thuộc vào đặc điểm kinh tế, xã hội của từng quốc gia

Trang 31

Quản lý các khoản thu từ đất thông thường nằm trong hệ thống quản lý thuế Các công việc này không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của người quản lý thuế, quản lý các khoản thu từ đất ở bất cứ chế độ quản lý thuế nào Hoạt động quản lý nhà nước đối với các khỏan thu từ đất, thường bao gồm: (i) Tuyên truyền chính sách thuế; (ii) Quản lý đăng kí và cấp mã số thuế; (iii) Quản lý kê khai thuế, tính thuế, thu thuế,

và (iv) Kiểm tra, thanh tra việc thực hiện nghĩa vụ thuế Mỗi chức năng, nhiệm vụ này được giao cho bộ phận nào thực hiện sẽ thể hiện vai trò, tác dụng của bộ phận đó đối với công tác quản lý thuế, quản lý các khoản thu từ đất

Hình 2.2: Sơ đồ hệ thống quản lý thu từ đất

Để thực hiện tốt chức năng về quản lý thuế nói chung và quản lý các nguồn thu từ đất nói riêng nhà nước sử dụng một hệ thống quản lý thuế gồm các phương pháp, hình thức quản lý thu thuế, các công cụ quản lý (các quy định, quy trình, biện pháp nghiệp vụ, phương tiện quản lý), cơ cấu tổ chức bộ máy (các bộ phận, các đơn

vị thuộc cơ quan thuế các cấp trực tiếp hay gián tiếp thực hiện chức năng quản lý thuế

và mối quan hệ giữa chúng), đội ngũ cán bộ, công chức thuế Trong đó, cơ cấu tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ thuế (gọi chung là bộ máy quản lý thuế) là một bộ phận quan trọng trong hệ thống quản lý thuế

Tổ chức bộ máy quản lý các khoản thu từ đất là một khâu quan trọng trong công tác quản lý thuế, bao gồm việc xác định cơ cấu tổ chức bộ máy và phân bổ nguồn nhân lực một cách hợp lý, nhằm xây dựng hệ thống quản lý thuế khoa học, phù hợp, đảm bảo tính thống nhất, thực hiện đầy đủ, có hiệu quả các chức năng quản lý thuế nhằm thực thi chính sách, pháp luật thuế một cách nghiêm minh, bảo đảm thu đúng, đủ, kịp thời tiền thuế vào NSNN.[45]

- Tổ chức bộ máy quản lý thuế (Cơ cấu tổ chức; CBCC thuế)

- Các quy trình, biện pháp quản lý các khoản thu từ đất

- Các định chế khác liên quan

HỆ THỐNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC KHOẢN THU TỪ ĐẤT

Trang 32

Cơ chế quản lý thuế quyết định sự vận hành của bộ máy ngành thuế Hiện nay trên thế giới có hai cơ chế quản lý thuế:

+ Cơ chế quản lý cơ quan thuế tính thuế và thông báo thuế: Là cơ chế quản lý trong đó cơ quan thuế đảm nhiệm toàn bộ trách nhiệm tính thuế và yêu cầu người nộp thuế thực hiện nộp thuế theo thông báo của cơ quan thuế Phương thức này có ưu điểm là cơ quan thuế chủ động, trách nhiệm của người nộp thuế không được đề cao, lãng phí nguồn nhân lực của cơ quan thuế, sự lệ thuộc vào cơ quan thuế dẫn đến những hiện tượng tiêu cực Vì vậy, cơ chế này chỉ phù hợp ở những nước có nền kinh tế kém phát triển, đối tượng nộp thuế ít, trình độ của đối tượng nộp thuế hạn chế nên khó có khả năng tự tính thuế

+ Cơ chế quản lý tự khai tự nộp thuế: Đây là cơ chế mà người nộp thuế phải

tự tính, tự khai và tự nộp thuế Cơ quan thuế không can thiệp vào việc thực hiện nghĩa vụ của người nộp thuế Tuy nhiên, cơ quan thuế có trách nhiệm tuyên truyền

hỗ trợ, hướng dẫn người nộp thuế hiểu và thực hiện nghĩa vụ thuế Đồng thời cơ quan thuế cũng tăng cường giám sát việc chấp hành nghĩa vụ của người nộp thuế thông qua công tác thanh tra, kiểm tra Phương thức này có ưu điểm tăng tính tự giác tuân thủ pháp luật của người nộp thuế Người nộp thuế được chủ động xác định số thuế phải nộp và thực hiện nộp, chủ động yêu cầu cơ quan thuế hướng dẫn thực hiện pháp luật thuế và cung cấp thông tin tài liệu liên quan đến việc thực hiện nghĩa vụ thuế hoặc giải thích việc tính thuế, ấn định thuế Cơ quan thuế cũng không tốn kém nhiều về nguồn lực Hiện tượng tham nhũng hối lộ cũng giảm xuống đáng kể Tuy nhiên phương pháp này chỉ phù hợp với các nước đã tiếp cận đến quản lý thuế hiện đại

Bộ máy quản lý thuế có vai trò quyết định đến sự vận hành toàn bộ hệ thống thuế Bộ máy quản lý thuế được tổ chức hợp lý, thực hiện đầy đủ các chức năng quản

lý thuế thì sẽ phát huy được tối đa hiệu lực của toàn bộ hệ thống thuế và hiệu quả quản lý sẽ cao Ngược lại, một cơ cấu tổ chức quản lý không phù hợp sẽ kìm hãm, làm suy yếu tổ chức và hạn chế tác dụng của bộ máy

Mục tiêu của việc tổ chức bộ máy quản lý thuế là nhằm xác định và phân chia các chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn quản lý thuế một cách hợp lý, trên cơ sở đó hình thành các bộ phận, các đơn vị thuộc cơ quan thuế các cấp để thực hiện đầy đủ,

có hiệu quả các chức năng, nhiệm vụ quản lý thuế, bảo đảm pháp luật thuế được thực thi một cách nghiêm minh, cơ quan Thuế hoàn thành nhiệm vụ động viên ngân sách nhà nước Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý thuế các cấp: Trung ương, Tỉnh, Huyện phải được xác định phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và yêu cầu công tác quản lý thuế ở từng cấp, bảo đảm sự chỉ đạo thông suốt, thống nhất trong cả nước

Tổ chức bộ máy quản lý thuế không chỉ nhằm thực thi tốt pháp luật và các

Trang 33

chính sách thuế hiện hành, đồng thời có xem xét đến xu hướng phát triển và hoàn thiện hệ thống chính sách thuế cũng như hệ thống quản lý thuế trong tương lai Khi chính sách thuế thay đổi, nhiệm vụ quản lý thuế ngày càng tăng, dẫn đến sự thay đổi quy trình và nghiệp vụ quản lý cũng như thay đổi nhiệm vụ quản lý của bộ phận, mỗi đơn vị trong cơ cấu tổ chức Sự thay đổi đến một mức độ nhất định, đòi hỏi bộ máy quản lý của cơ quan thuế cũng phải được thay đổi, kiện toàn cho phù hợp, đáp ứng các yêu cầu của công tác quản lý trong điều kiện mới, đồng thời đáp ứng yêu cầu phải thay đổi chính sách thuế và quản lý thuế trong tương lai

Hình 2.3 Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về các khoản thu từ đất

Việc tổ chức bộ máy quản lý thuế phải thể hiện: (i) Bảo đảm hệ thống pháp luật thuế được thực thi đầy đủ, nghiêm túc; (ii) Bảo đảm mục tiêu thu NSNN; và (iii) Nâng cao hiệu quả quản lý thuế, bảo đảm thuận lợi cho người nộp thuế, giảm chi phí quản lý của cơ quan thuế và chi phí tuân thủ pháp luật thuế của người nộp thuế

Quy trình quản lý thuế là căn cứ quan trọng để tổ chức bộ máy quản lý thuế Các bộ phận trong cơ cấu bộ máy quản lý thuế (số lượng các bộ phận, cơ cấu, năng

Tổng cục Thuế

UBND cấp tỉnh

Chi Cục Thuế các tỉnh

VP đăng ký nhà, đất

UBND cấp huyện

TC quản lý đất đai

Sở TN&MT các tỉnh

Trang 34

lực từng bộ phận phải được xác định phù hợp với phương pháp quản lý thuế, bảo đảm thực hiện đầy đủ quy trình nghiệp vụ, từng khâu quản lý thuế và bảo đảm hiệu quả kinh tế cao

Ở bất cứ nước nào hệ thống pháp luật về thuế là một bộ phận trong hệ thống pháp luật Nhà nước Cơ quan Thuế là cơ quan quản lý Nhà nước, thay mặt Nhà nước quản lý và tổ chức thực thi pháp luật trong lĩnh vực thuế Vì vậy, Nhà nước giao cho ngành Thuế thẩm quyền nhất định và độc lập trong việc tổ chức và điều hành toàn diện các hoạt động quản lý thu thuế, quyết định các biện pháp quản lý thuế phù hợp với thực tế, phục vụ tốt nhất yêu cầu của người nộp thuế, bảo đảm quản lý thu thuế đúng pháp luật và đạt hiệu quả cao

Việc tổ chức bộ máy quản lý thuế nói chung và quản lý các khoản thu từ đất nói riêng dựa trên nguyên tắc quản lý hành chính nhà nước quy định việc phân chia địa giới hành chính quốc gia (tỉnh, thành phố, huyện, xã ), tổ chức bộ máy nhà nước

và cơ chế quản lý nhà nước trên từng địa phận hành chính đã phân chia

Một số nước trên thế giới có cơ chế quản lý hành chính nhà nước tại địa phương độc lập với quản lý chuyên môn của từng ngành kinh tế Như vậy, quản lý thuế cũng hoàn toàn độc lập với hoạt động của chính quyền địa phương và tổ chức bộ máy quản lý thuế không nhất thiết phải theo địa giới hành chính, mà có thể tổ chức theo vùng (Cục Thuế vùng quản lý thuế đối với các NNT đóng trên một số tỉnh), hoặc trong một tỉnh, thành phố có thể tổ chức nhiều Cục Thuế để quản lý đối với từng loại ĐTNT khác nhau nhằm bảo đảm hiệu lực và hiệu quả của bộ máy, bảo đảm phục vụ ĐTNT và quản lý thu thuế nhanh, kịp thời

Ngược lại, một số nước thực hiện cơ chế quản lý nhà nước theo địa giới hành chính, công tác quản lý của các ngành kinh tế phải phụ thuộc và phục vụ hoạt động của bộ máy nhà nước tại địa phương thì công tác thuế cũng phải gắn với chính quyền địa phương Lúc đó, bộ máy quản lý thuế phải tổ chức theo từng cấp phù hợp với các cấp hành chính nhà nước Thông thường, mỗi tỉnh sẽ tổ chức một Cục Thuế, mỗi huyện sẽ tổ chức một Chi cục Thuế Đặc trưng nhất theo cơ chế quản lý này là Trung Quốc

Đối với các nước có mô hình Nhà nước liên bang thì bộ máy tổ chức của cơ quan thuế sẽ có sự khác biệt với mô hình nhà nước thống nhất Ở các quốc gia có tình hình chính trị ổn định, bộ máy hành chính ít tham nhũng quan liêu thì quản lý thuế dễ dàng đạt mục tiêu đề ra

Hiện nay ở hầu hết các nước trên thế giới mô hình quản lý thuế đều thực hiện theo chức năng Theo đó, mô hình cơ cấu tổ chức bao gồm các bộ phận thực hiện một hoặc một số chức năng nhất định trong quy trình quản lý thuế như: Tuyên truyền và

hỗ trợ người nộp thuế, Xử lý tờ khai và dữ liệu về thuế, Cưỡng chế và quản lý thu nợ,

Trang 35

Thanh tra thuế

Hệ thống thu thuế Nhà nước thực hiện chức năng quản lý thống nhất trong cả nước về công tác thu thuế và các khoản thu khác của ngân sách Nhà nước đối với tất

cả các thành phần kinh tế; không một tổ chức hay cá nhân nào được đứng ra tổ chức thu thuế nếu không được sự ủy quyền của cơ quan thuế

Mô hình tổ chức quản lý này có một số ưu điểm và nhược điểm sau:

Ưu điểm

- Thích ứng với mọi sự thay đổi về chính sách thuế và người nộp thuế

- Hiệu quả quản lý cao do công tác quản lý được chuyên môn hoá, chuyên sâu, chuyên nghiệp theo từng chức năng Đặc biệt nếu kết hợp với quản lý thuế theo quy

mô đối tượng nộp thuế thì hiệu quả sẽ càng cao hơn

- Tạo điều kiện cho người nộp thuế tăng cường tính tự giác và giảm chi phí tuân thủ luật thuế của người nộp thuế, giảm chi phí quản lý của cơ quan Thuế

- Giảm thiểu hiện tượng tiêu cực, tham nhũng trong quản lý thuế do sự kiểm tra, giám sát giữa các bộ phận cùng thực hiện quy trình quản lý thuế

* Nhược điểm

Chưa hoàn toàn thích ứng trong điều kiện trình độ hiểu biết pháp luật thuế và trình độ tự giác thực hiện nghĩa vụ thuế của người dân nói chung và của người nộp thuế nói riêng còn thấp và trong cơ chế giao chỉ tiêu pháp lệnh thu ngân sách Bởi, đặc tính phân đoạn trong công tác quản lý dễ dẫn tới việc mỗi bộ phận chức năng chỉ tập trung vào một khía cạnh hẹp của người nộp thuế và tách biệt với công việc của các bộ phận khác, thiếu bộ phận để tập hợp, điều phối hoạt động của các bộ phận chức năng quản lý với nhau Do đó, nếu người đứng đầu cơ quan thuế không quản lý chặt chẽ, cán bộ thuế trách nhiệm không cao, để xảy ra thất thu thuế hoặc không hoàn thành dự toán Nhà nước giao thì khó quy trách nhiệm cho tổ chức và cá nhân nào vì

cả 4 khâu quản lý thuế đều liên quan đến việc hoàn thành nhiệm vụ thu ngân sách

* Phân cấp quản lý thu từ đất:

- Bộ Tài nguyên và Môi trường

Việc quản lý đất đai và các khoản thu từ đất, thông thường được Chính phủ các nước giao cho hai bộ, đó là: Bộ Tài chính và Bộ Tài nguyên và môi trường Bộ Tài chính quản lý về tài chính đối với đất đai còn Bộ Tài nguyên và môi trường quản lý nhà nước đối với đất đai

Bộ Tài nguyên và môi trường là cơ quan của Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tài nguyên đất đai trong phạm vi cả nước Trong cơ cấu tổ chức của Bộ Tài nguyên và môi trường có Tổng cục quản lý đất đai là đơn vị chuyên trách quản lý về đất đai: (i) Hướng dẫn, kiểm tra việc tổ chức thực hiện các chiến lược, quy

Trang 36

hoạch, kế hoạch, chương trình, đề án, dự án về quản lý, sử dụng đất đai; (ii) Lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

- Uỷ ban nhân dân các cấp

Uỷ ban nhân dân thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương, góp phần bảo đảm sự chỉ đạo, quản lý thống nhất trong bộ máy hành chính nhà nước từ trung ương tới cơ sở Để quản lý các khoản thu từ đất ở địa phương UBND cấp tỉnh chỉ đạo các cơ quan chuyên môn thuộc tỉnh quản lý các khoản thu từ đất

Các cơ quan chuyên môn thuộc tỉnh là cơ quan giúp UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tài nguyên đất, đo đạc

và bản đồ trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và tiến hành xác định nghĩa vụ tài chính về đất đai của các tổ chức, cá nhân để tính và thu vào NSNN

Dưới UBND cấp tỉnh là UBND cấp huyện và UBND cấp xã, trong UBND cấp huyện thì có phòng tài nguyên và môi trường là cơ quan chuyên mốn giúp UBND cấp huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tài nguyên đất, đồng thời có chức năng phối hợp với Phòng Tài chính và Chi cục Thuế để thực hiện việc đôn đốc và thu nộp nghĩa vụ tài chính của các tổ chức, cá nhân sử dụng đất

Trong UBND dân xã thì có cán bộ địa chính xã, cán bộ địa chính xã có trách nhiệm giúp UBND cấp xã thực hiện quản lý nhà nước về tài nguyên đất trong xã[21]

- Bộ Tài chính, Tổng cục thuế

Bộ Tài chính là cơ quan có chức năng quản lý, chỉ đạo, kiểm tra việc tổ chức thực hiện công tác thu thuế, phí, lệ phí và các khoản thu khác của ngân sách nhà nước theo đúng quy định của pháp luật đối với cơ quan thuế, hải quan và cơ quan khác được nhà nước giao nhiệm vụ thu phí, lệ phí hoặc thu khác của ngân sách nhà nước;

Xây dựng và hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về thuế, phí, lệ phí, thu tiền sử dụng đất, tiền cho thuê đất, mặt nước, tiền cho thuê và tiền bán nhà ở thuộc sở hữu nhà nước, lệ phí trước bạ và các khoản thu khác của ngân sách nhà nước;

Quyết định theo thẩm quyền việc miễn thuế, giảm thuế, hoàn thuế, truy thu thuế, xóa nợ thuế, tiền phạt hoặc bãi bỏ các hình thức xử phạt khác đối với các hành

vi vi phạm pháp luật về thuế theo quy định của pháp luật và các vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện các điều ước quốc tế song phương hoặc đa phương về thuế;

Ban hành quy định về thủ tục, quy trình nghiệp vụ thu, nộp thuế, phí, lệ phí và các khoản thu khác của ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật; hướng dẫn các nghiệp vụ: Khai thuế, tính thuế, nộp thuế, phát hành lệnh thu thuế và các nghiệp

vụ khác có liên quan;

Kiểm tra, kiểm soát các nguồn thu của ngân sách nhà nước, việc chấp hành các

Trang 37

quy định của pháp luật về thu, nộp ngân sách nhà nước và xử lý theo thẩm quyền các hành vi vi phạm pháp luật về thuế, phí, lệ phí và các khoản thu khác của ngân sách nhà nước;

Trong cơ cấu tổ chức của Bộ Tài chính có Tổng cục Thuế là đơn vị tham mưu cho Bộ Tài chính về các chính sách thuế nói chung và khoản thu từ đất nói riêng; Ngoài ra dưới Tổng cục Thuế còn có các Cục Thuế các tỉnh, thành phố và Chi cục Thuế các quận, huyện, thị xã trực thuộc Cục Thuế các tỉnh thành phố Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan Thuế các cấp được quy định tại các văn bản pháp quy Tuy nhiên, ở mỗi cấp khác nhau, nhiệm vụ cụ thể của cơ quan Thuế được quy định khác nhau

Cơ quan Tổng cục Thuế có chức năng quản lý Nhà nước đối với các khoản thu nội địa, bao gồm: thuế, phí, lệ phí và các khoản thu khác của NSNN Đồng thời, cũng

có nhiệm vụ chỉ đạo toàn diện việc thực hiện công tác quản lý thu thuế và thu khác thống nhất trong cả nước; đề xuất các quy trình, biện pháp nghiệp vụ quản lý thuế phù hợp và chỉ đạo thực hiện trong toàn ngành Ngoài ra, còn có nhiệm vụ tham gia với Bộ Tài chính trong công tác xây dựng chính sách thuế Hiện nay, Tổng cục Thuế không có chức năng trực tiếp thu thuế Cục Thuế tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Chi cục Thuế quận, huyện, thị xã có nhiệm vụ cơ bản là quản lý và trực tiếp thu các khoản thuế, phí và thu khác vào NSNN

Cơ cấu tổ chức bộ máy thu thuế ở cấp Trung ương và cấp địa phương về cơ bản là thống nhất, nhưng có những điểm khác nhau, phù hợp và phục vụ trực tiếp cho việc thực hiện nhiệm vụ của từng cấp Khi chức năng, nhiệm vụ của cơ quan Thuế thay đổi để đáp ứng yêu cầu của công tác quản lý thuế thì đến một mức độ nhất định

tổ chức bộ máy cũng phải thay đổi nhằm thực hiện đầy đủ các chức năng quản lý thuế

Ở mỗi quốc gia khác nhau thì việc phân cấp quản lý nhà nước đối với các khoản thu từ đất cũng khác nhau Tuy nhiên, về cơ bản vẫn các đơn vị này đều hướng đến mục tiêu nhằm quản lý các khoản thu từ đất được tốt

2.2.3.3 Tổ chức thanh tra, kiểm tra việc thực hiện chính sách thu và xử lý

vi phạm

Trong quản lý nhà nước nói chung và quản lý nhà nước về thuế, các khoản thu

từ đất nói riêng không thể thiếu nội dung thanh tra, kiểm tra Thanh tra, kiểm tra, giám sát là một khâu hoàn chỉnh trong quá trình quản lý Nhà nước Thông qua việc thanh tra, kiểm tra để phát hiện các vi phạm, các bất hợp lý trong quản lý nhà nước về thuế về các khoản thu từ đất để kịp thời xử lý và điều chỉnh Vì vậy công tác thanh tra, kiểm tra cần phải được hoàn thiện và quy định chặt chẽ

Việc thanh tra thuế cũng như thanh tra các khoản thu từ đất là công việc hết

Trang 38

sức phức tạp, yêu cầu cán bộ thanh tra, kiểm tra phải điều tra, xem xét cụ thể để làm

rõ việc vi phạm pháp luật về đất đai về thuế và kiến nghị các biện pháp xử lý

Việc thanh tra đất đai là thanh tra nhà nước theo chuyên ngành về đất đai do

Bộ Tài nguyên và Môi trường chịu trách nhiệm chỉ đạo, tổ chức thực hiện thanh tra đất đai trong cả nước Cơ quan quản lý đất đai ở địa phương chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện thanh tra đất đai tại địa phương

Thanh tra việc thực hiện nghĩa vụ tài chính nói chung (nghĩa vụ thuế nói riêng)

do Bộ Tài chính mà cụ thể là Tổng cục Thuế chịu trách nhiệm chỉ đạo, tổ chức thực hiện thanh tra việc thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất của các tổ chức, cá nhân sử dụng đất, kinh doanh đất, kinh doanh nhà Các Cục Thuế, Chi cục Thuế địa phương chịu trách nhiệm thanh tra, kiểm tra nghĩa vụ tài chính của các tổ chức, cá nhân tại địa phương mình quản lý

Như vậy, ngoài hệ thống thanh tra theo ngành dọc từ Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế, Cục Thuế các tỉnh, thành phố, Chi cục Thuế các huyện quận thuộc Cục Thuế cấp tỉnh để thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về thuế nói chung và các khoản thu từ đất nói riêng còn có hệ thống thanh tra nhà nước như thanh tra Chính phủ, Kiểm toán nhà nước

Việc thanh tra các khoản thu từ đất được thực hiện theo quy định của Luật đất đai, Luật ngân sách nhà nước, Luật quản lý thuế và các quy định của pháp luật; đảm bảo tính chính xác, khách quan, trung thực, công khai, dân chủ, kịp thời, không làm cản trở hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức, cá nhân là đối tượng thanh tra, kiểm tra

Để thực hiện được mục đích và nhiệm vụ, thanh tra, kiểm tra về các khoản thu

từ đất phải tiến hành thanh tra, kiểm tra việc quản lý nhà nước về các khoản thu từ đất tại các UBND các cấp; thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật đất đai, pháp luật thuế của tổ chức, cá nhân sử dụng đất.[45]

Về phương pháp thanh tra, kiểm tra:

Căn cứ vào mục đích, yêu cầu của từng trường hợp, từng vấn đề cụ thể để đưa

ra các phương pháp thanh tra khác nhau

Thanh tra, kiểm tra việc thực hiện các quyền của người sử dụng đất: Mục đích của việc thành tra này là xem người sử dụng đất khi thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, thế chấp, bảo lãnh, tặng, cho quyền sử dụng đất đã đúng với quy định của pháp luật chưa? Đã hoàn thành nghĩa vụ tài chính chưa? Trình tự thủ tục thực hiện và mục đích, thời hạn sử dụng đất sau khi chuyển quyền

Thanh tra, kiểm tra việc thực hiện nghĩa vụ của người sử dụng đất

Trang 39

Thanh tra, kiểm tra mục đích sử dụng đất

Kiểm tra việc thực hiện dự án đầu tư

Kiểm tra đất chưa sử dụng hoặc sử dụng không đúng mục đích, sử dụng lãng phí và nguyên nhân

Trên cơ sở thực tế của các trường hợp thanh tra, kiểm tra nêu rõ nguyên nhân đúng, sai và đưa ra các giải pháp khắc phục nếu các tổ chức, cá nhân vi phạm nặng có thể thu hồi đất

Đối tượng được nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất là các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân có nhu cầu làm nhà để ở, để đầu tư xây dựng nhà để bán hoặc cho thuê, tổ chức đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng để chuyển nhượng hoặc cho thuê, quyền

sử dụng đất gắn liền với kết cấu hạ tầng Do đó, cần phải thanh tra, kiểm tra việc nộp tiền vào ngân sách nhà nước của các tổ chức, cá nhân và hộ gia đình, trường hợp nếu người sử dụng đất không thực hiện các thủ tục kê khai, không nộp đủ tiền sử dụng đất, các loại thuế liên quan đến việc chuyển nhượng hoặc sử dụng đất thì không được giao đất, không được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và phải xử lý theo quy định của pháp luật.[3]

Về xử lý vi phạm pháp luật về đất đai:

Các hành vi vi phạm pháp luật đất đai bao gồm: Hành vi vi phạm pháp luật đất đai của người sử dụng đất đai, vi phạm về hồ sơ, trình tự thủ tục hành chính trong quản lý và sử dụng đất; vi phạm về giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất

Để quản lý chặt chẽ việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất, Nhà nước cần ban hành các quy định, các chế tài để xử lý các hành vi vi phạm của người sử dụng đất Việc xử lý vi phạm pháp luật về đất đai được thực hiện theo nguyên tắc sau:

Mọi vi phạm phải được phát hiện, đình chỉ, xử lý kịp thời Việc xử lý kỷ luật

và trách nhiệm vật chất phải được tiến hành nhanh chóng, công minh, triệt để; mọi hậu quả do vi phạm gây ra phải được khắc phục theo quy định của pháp luật

Hình thức kỷ luật được áp dụng độc lập, biên bản xử lý trách nhiệm vật chất được áp dụng kèm theo hình thức kỷ luật Hình thức, mức độ kỷ luật được xác định căn cứ vào tính chất, mức độ hậu quả của hành vi vi phạm, nhân thân của người có hành vi vi phạm

Đối với các hành vi vi phạm pháp luật về đất của cán bộ, công chức khi thực hiện công vụ có liên quan đến quản lý đất đai thì bị xử lý kỷ luật và trách nhiệm vật chất theo quy định của pháp luật có liên quan Việc xử lý kỷ luật và trách nhiệm vật chất phải do người có thẩm quyền quyết định

Trang 40

Trên cơ sở quyền hạn và nghĩa vụ của các cấp các ngành từ trung ương đến địa phương có trách nhiệm giải quyết các tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai của các

tổ chức, cá nhân và hộ gia đình sử dụng và chuyển nhượng quyền sử dụng đất

2.3 Tiêu chí đánh giá và các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động quản lý nhà nước đối với các khoản thu từ đất

2.3.1 Tiêu chí đánh giá hoạt động quản lý nhà nước đối với các khoản thu từ đất

Để quản lý nhà nước về các khoản thu từ đất đạt hiệu quả theo mục tiêu, yêu cầu của quản lý thu NSNN cần phải có các tiêu chí đánh giá bao gồm cả việc áp dụng các phương pháp khác nhau để đo lường các kết quả đã đạt được theo những tiêu chí nhất định Khi các phương thức quản lý được triển khai thực hiện tốt trong thực tế, nó

sẽ đem lại những kết quả có giá trị, đóng góp ở mức độ này hay mức độ khác vào việc thực hiện các mục tiêu của việc quản lý Việc hiểu rõ các tiêu chí quản lý về các khoản thu từ đất có ý nghĩa quan trọng để định hướng cho các hoạt động quản lý của nhà nước

2.3.1.1 Tiêu chí đánh giá chính sách quản lý nhà nước đối với các khoản thu từ đất

Thứ nhất, tính hiệu lực của chính sách

Đánh giá hiệu lực của các chính sách quản lý nhà nước về các khoản thu từ đất

là khả năng của nhà nước trong việc xây dựng chính sách hợp lý, tối ưu và đảm bảo khả năng chính sách của nhà nước đi vào cuộc sống nhằm phục vụ cho hầu hết các đối tượng có liên quan thực hiện chính sách một cách nghiêm túc, triệt để và thống nhất

Thứ hai, tính hiệu quả của chính sách

Khi các chính sách quản lý nhà nước về các khoản thu từ đất được ban hành thì phải có tính hiệu quả Việc đánh giá hiệu quả chính sách quản lý nhà nước trong quản lý các khoản thu từ đất được tính bằng hiệu số giữa tổng lợi ích và tổng chi phí:

Hiệu quả lợi ích = Tổng lợi ích- Tổng chi phí

Lợi ích của chính sách quản lý nhà nước về các khoản thu từ đất không chỉ dừng lại ở tổng thu ngân sách nhà nước từ đất mà còn thể hiện ở việc góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng đất, thu hút đầu tư nước ngoài, góp phần chỉnh trang đô thị theo quy hoạch và đảm bảo an sinh xã hội, xây dựng thành công thị trường bất động sản

… những lợi ích này không thể lượng hoá được, việc đánh giá, nhận xét mang tính định tính

Trong đó các chi phí của việc ban hành và thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về các khoản thu từ đất bao gồm chi phí xây dựng chính sách, chi phí tổ chức thực hiện, chi phí đầu tư vào đất đai, các chi phí phác … Trên thực tế thì không

Ngày đăng: 30/08/2016, 10:15

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1: Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý nhà nước - Tiểu luận quản lý nhà nước đối với các khoản thu từ đất ở việt nam
Hình 2.1 Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý nhà nước (Trang 18)
Hình 2.3. Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về các khoản thu từ đất - Tiểu luận quản lý nhà nước đối với các khoản thu từ đất ở việt nam
Hình 2.3. Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về các khoản thu từ đất (Trang 33)
Hình 3.1: Sơ đồ tổ chức thu các khoản thu từ đất - Tiểu luận quản lý nhà nước đối với các khoản thu từ đất ở việt nam
Hình 3.1 Sơ đồ tổ chức thu các khoản thu từ đất (Trang 78)
Hình 3.2. Sơ đồ mô hình tổ chức bộ  máy thu thuế của ngành thuế - Tiểu luận quản lý nhà nước đối với các khoản thu từ đất ở việt nam
Hình 3.2. Sơ đồ mô hình tổ chức bộ máy thu thuế của ngành thuế (Trang 82)
Bảng 3.1. Kết quả thực hiện thanh tra, kiểm tra thuế qua các năm 2007- 2015 - Tiểu luận quản lý nhà nước đối với các khoản thu từ đất ở việt nam
Bảng 3.1. Kết quả thực hiện thanh tra, kiểm tra thuế qua các năm 2007- 2015 (Trang 92)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w