quản lý và sử dụng trang thiết bị, về khai thác-sử dụng các phần mềm ứng dụng, về an toàn bảo mật hệ thống thông tin…Trước mục tiêu phấn đấu xây dựng KBNN điện tử, hướng tới mục tiêu chu
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ TRẦN THÌN
MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG HOẠT ĐỘNG
TẠI KHO BẠC NHÀ NƯỚC THÁI BÌNH
CHUYÊN NGÀNH QUẢN TRỊ KINH DOANH
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS DƯƠNG MẠNH CƯỜNG
Hà Nội – Năm 2016
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu nêu và trích dẫn trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Trần Thìn
i
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Nhân dịp hoàn thành luận văn này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến:
- Ban Giám hiệu, Viện Sau đại học, Viện Kinh tế và Quản lý - Trường Đại
học Bách khoa Hà Nội đã trang bị cho tôi những kiến thức chuyên ngành, giúp
đỡ tôi hoàn thành luận văn
- Ban lãnh đạo, tập thể cán bộ công chức Kho bạc nhà nước Thái Bình đã luôn tạo điều kiện cho tôi trong quá trình công tác, học tập và nghiên
cứu luận văn
- TS Dương Mạnh Cường –Viện Kinh tế và quản lý, Đại học Bách Khoa
Hà Nội, người thầy đã tận tình giúp đỡ, trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn thành luận
Trang 4MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu 2
3 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Các luận điểm cơ bản và đóng góp mới của luận văn 3
6 Kết cấu của luận văn 4
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG HOẠT ĐỘNG TẠI KBNN THÁI BÌNH 5
1.1 Tổng quan về công nghệ thông tin 5
1.1.1 Khái niệm công nghệ thông tin 5
1.1.2 Đặc điểm của công nghệ thông tin 6
1.1.3 Vai trò của công nghệ thông tin 7
1.1.4 Một số khái niệm liên quan đến công nghệ thông tin 13
1.2 Ứng dụng công nghệ thông tin trong các cơ quan nhà nước 15
1.2.1 Khái niệm ứng dụng công nghệ thông tin 15
1.2.2 Ứng dụng công nghệ thông tin trong các cơ quan nhà nước 16
1.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến ứng dụng công nghệ thông tin 19
1.3 Ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của hệ thống kho bạc nhà nước 26
1.3.1 Hệ thống Kho bạc nhà nước 26
1.3.2 Nội dung ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của hệ thống Kho bạc nhà nước 27
1.3.3 Mục tiêu ứng dụng công nghệ thông tin của hệ thống Kho bạc nhà nước đến 2015 29
1.3.4 Mong muốn hiệu quả ứng dụng công nghệ thông tin trong hệ thống Kho bạc nhà nước 29
1.4 Tóm tắt chương I 31
iii
Trang 5CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VIỆC ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
TRONG HOẠT ĐỘNG TẠI KHO BẠC NHÀ NƯỚC THÁI BÌNH 32
2.1 Khái quát chung về hệ thống tổ chức và hoạt động của Kho bạc nhà nước Thái Bình 32
2.1.1 Quá trình hình thành của Kho bạc nhà nước Thái Bình 32
2.1.2 Nhiệm vụ, quyền hạn của Kho bạc nhà nước Thái Bình 34
2.1.3 Hệ thống tổ chức của Kho bạc nhà nước Thái Bình 36
2.1.4 Kết quả hoạt động của Kho bạc nhà nước Thái Bình 42
2.2 Thực trạng việc ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động tại Kho bạc nhà nước Thái Bình 43
2.2.1 Hiện trạng ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động tại Kho bạc nhà nước Thái Bình 43
2.2.2 Đánh giá hiện trạng ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động tại Kho bạc nhà nước Thái Bình 70
2.3 Tóm tắt chương II 91
CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH VIỆC ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG HOẠT ĐỘNG TẠI KHO BẠC NHÀ NƯỚC THÁI BÌNH 92
3.1 Phương hướng hoạt động của Kho bạc nhà nước Thái Bình giai đoạn 2016-2020 92
3.1.1 Mục tiêu phát triển Kho bạc nhà nước đến 2020 92
3.1.2 Mục tiêu và định hướng ứng dụng công nghệ thông tin đến 2020 của hệ thống Kho bạc nhà nước 92
3.1.3 Phương hướng hoạt động của Kho bạc nhà nước Thái Bình giai đoạn 2016-2020 94
3.2 Một số giải pháp đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động tại Kho bạc nhà nước Thái Bình 95
3.2.1 Xây dựng và hoàn thiện các hướng dẫn, quy định về ứng dụng công nghệ thông tin 96
iv
Trang 63.2.2 Phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin 99
3.2.3 Hoàn thiện các phần mềm ứng dụng, tăng cường khai thác sử dụng và công tác hỗ trợ 105
3.2.4 Tăng cường hạ tầng kỹ thuật công nghệ thông tin 108
3.3 Lộ trình thực hiện các giải pháp 112
3.3.1 Năm 2016 112
3.3.2 Giai đoạn 2017-2018 112
3.3.3 Giai đoạn 2019-2020 113
3.4 Tóm tắt chương III 113
KẾT LUẬN 115
TÀI LIỆU THAM KHẢO 116
v
Trang 7DANH MỤC VIẾT TẮT
5 CNH-HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Trang 8DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1- Phân loại cán bộ công chức KBNN Thái Bình 37
Bảng 2.2- Doanh số hoạt động KBNN Thái Bình 42
Bảng 2.3 - Danh sách các phần mềm ứng dụng tại KBNN Thái Bình đến 2015 49
Bảng 2.4- Tổng hợp số lượng thiết bị tin học tại KBNN Thái Bình đến quý IV/2015 60
Bảng 2.5- Thiết bị tin học được cấp từ năm 2010 đến quý 4/2015 61
Bảng 2.6- Phân bổ thiết bị KBNN Thái Bình đến tháng 12/2015 62
Bảng 2.7- Phân loại nhân lực CNTT năm 2015 64
Bảng 2.8- Thống kê đào tạo CNTT từ 2010 đến tháng 12 năm 2015 66
Bảng2.9 – Thống kê điều động luân chuyển cán bộ Tin học 68
vii
Trang 9DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ, HÌNH VẼ
Biểu đồ 2.1- Trình độ cán bộ công chức KBNN Thái Bình năm 2015 38
Sơ đồ 2.1- Sơ đồ cơ cấu tổ chức của KBNN Thái Bình 39
Sơ đồ 2.2- Mô hình quan hệ của KBNN Thái Bình 39
Sơ đồ 2.3- Mô hình kiến trúc nghiệp vụ KBNN Thái Bình 41
Sơ đồ 2.4- Mô hình tích hợp ứng dụng 48
Biểu đồ 2.2- Ứng dụng triển khai qua các năm từ 2010-2015 51
Biểu đồ 2.3 - Cơ cấu phần mềm ứng dụng 52
Biều đồ 2.4 - Phân bổ người sử dụng 52
Biểu đồ 2.5- Thiết bị tin học được trang cấp theo các nguồn, đến quý IV/ 2015 59
Biểu đồ 2.6 - So sánh số lượng thiết bị được cấp với tổng số thiết bị 61
Biểu đồ 2.7 - Phân loại nguồn nhân lực CNTT 64
Biểu đồ 2.8- Các lớp đào tạo CNTT KBNN Thái Bình tham gia và tổ chức từ 2010-2015 65
Biểu đồ 2.9- Số lượng CBCC KBNN Thái Bình được tham gia đào tạo CNTT từ 2010-2015 67
viii
Trang 10PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Trong những năm gần đây, sự phát triển mạnh mẽ của Công nghệ thông tin, cùng với nhiều ngành công nghệ cao khác, đã và đang làm biến đổi sâu sắc đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của thế giới Công nghệ thông tin với
sự phát triển của Internet đã làm cho thế giới trở nên “phẳng” hơn và bình đẳng hơn, tăng cường sự đoàn kết, gắn bó, hợp tác của các dân tộc trên toàn thế giới Việc ứng dụng và phát triển CNTT đã góp phần giải phóng sức mạnh vật chất, trí tuệ và tinh thần, thúc đẩy phát triển kinh tế đồng thời nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân
KBNN có một vị trí đặc biệt trong các cấu thành của hệ thống Tài chính quốc gia, tham gia vào tất cả các giao dịch tài chính và đóng vai trò người kiểm soát quan trọng và cuối cùng về quản lý quỹ của NSNN Việc kiện toàn và đưa
hệ thống KBNN đi vào hoạt động theo Quyết định số 26/2015/QĐ-TTg ngày 08/7/2015 của Thủ tướng Chính phủ đã tiếp tục khẳng định được vị trí, vai trò quan trọng của KBNN trong hệ thống Tài chính, đóng góp tích cực vào sự nghiệp đổi mới và lành mạnh hóa nền Tài chính quốc gia Trong chiến lược phát triển của ngành, CNTT luôn được coi là công cụ đắc lực Đề án hiện đại hóa hệ thống thông tin KBNN đến năm 2020 và kế hoạch 5 năm ứng dụng công nghệ thông tin của KBNN giai đoạn 2011-2015 đã được Bộ Tài chính phê duyệt tại quyết định
số 1152/QĐ-BTC ngày 09/5/2012 khẳng định quy mô, vai trò và nhiệm vụ của
công nghệ thông tin trong các đơn vị KBNN ngày càng trở nên quan trọng Công
nghệ thông tin đã góp phần hiện đại hoá công nghệ Kho bạc trên cả ba mặt: các quy trình nghiệp vụ được cải tiến và tổ chức một cách hoàn thiện hợp lý hơn, phương thức tiến hành các nghiệp vụ hiện đại hơn và phong cách làm việc của cán bộ trở nên khoa học hơn
Bên cạnh những mặt đạt được, ngành Kho Bạc nói chung và Kho bạc nhà nước Thái Bình luôn gặp nhiều khó khăn trong quá trình triển khai hoạt động ứng dụng CNTT như các vấn đề về cơ chế, chính sách, về nhân lực CNTT, về đầu tư,
1
Trang 11quản lý và sử dụng trang thiết bị, về khai thác-sử dụng các phần mềm ứng dụng,
về an toàn bảo mật hệ thống thông tin…Trước mục tiêu phấn đấu xây dựng KBNN điện tử, hướng tới mục tiêu chung cải cách hành chính và xây dựng chính phủ điện tử; ngành Kho Bạc cũng như Kho bạc nhà nước Thái Bình càng phải chú trọng ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của ngành Chính vì lý
do đó mà tôi chọn đề tài: " Một số giải pháp đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động tại Kho bạc nhà nước Thái Bình " làm luận văn thạc
sĩ Quản trị kinh doanh
2 Lịch sử nghiên cứu
Thời gian qua đã có một số đề tài luận văn nghiên cứu các vấn đề có liên quan đến việc ứng dụng CNTT trong các cơ quan Đảng và Nhà nước từ trung ương đến địa phương Dưới đây là một số công trình:
-"Ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước", của tác giả Đặng Hữu, NXB Chính trị Quốc gia, năm
2001
- “Ứng dụng công nghệ tin học trong quản lý của hệ thống kho bạc nhà nước
Việt Nam – Thực trạng và giải pháp”, của tác giả Lê Thị Mỹ Hạnh, Đại học Kinh
tế Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2007
- Luận văn tiến sĩ: "Giải pháp đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong ngành Thuế ở Việt Nam", của tác giả Nguyễn Minh Ngọc, Đại học Kinh tế quốc dân, năm 2011
- Luận văn cử nhân: “Đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong hệ thống Kho bạc”, của Đặng Đức Mai, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Nhưng phần lớn các đề tài, các nghiên cứu trên mang tính chất khái quát chung, chưa đề cập đến việc giải quyết các bài toán cụ thể của việc ứng dụng CNTT trong các cơ quan thuộc bộ máy nhà nước Cho đến nay, vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu về ứng dụng CNTT trong hoạt động của hệ thống KBNN ở các tỉnh, đặc biệt là trên địa bàn tỉnh Thái Bình
2
Trang 123 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở nhận thức lý thuyết về công nghệ
thông tin và ứng dụng công nghệ thông tin; nghiên cứu, đánh giá thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động tại Kho bạc nhà nước Thái Bình, chỉ ra thành công và hạn chế cần khắc phục trên cơ sở xác định đúng đắn nguyên nhân của thực trạng, từ đó tìm giải pháp đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của hệ thống Kho bạc nhà nước trên địa bàn tỉnh Thái Bình
Đối tượng nghiên cứu: là các nội dung ứng dụng công nghệ thông tin
trong hoạt động tại KBNN Thái Bình Luận văn và tiếp cận nghiên cứu về ứng dụng CNTT trong các hoạt động tác nghiệp
Phạm vi nghiên cứu: Luận văn chủ yếu đánh giá thực trạng ứng dụng CNTT trong hoạt động tại KBNN Thái Bình trong giai đoạn 2010 - 2015 và đưa
ra giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả ứng dụng CNTT trong quản lý hoạt động tại KBNN Thái Bình giai đoạn 2016 - 2020
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu chủ yếu của luận văn là phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp các số liệu tại KBNN Thái Bình trong quá trình thực hiện ứng dụng CNTT, quan sát các hoạt động thực tiễn tại đơn vị từ đó phân tích đánh giá những mặt tích cực và những mặt còn hạn chế
5 Các luận điểm cơ bản và đóng góp mới của luận văn
Luận văn đã thực hiện một số nội dung và có những đóng góp mới sau:
- Hệ thống các tri thức lí luận về CNTT, ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước, làm rõ nội dung ứng dụng CNTT trong hoạt động tại KBNN Thái Bình; làm rõ các yếu tố ảnh hưởng tới quá trình ứng dụng công nghệ thông tin
- Luận văn đi sâu nghiên cứu thực trạng ứng dụng CNTT trong hoạt động tại KBNN tỉnh Thái Bình Từ các phân tích, đánh giá thực trạng ứng dụng CNTT tại đơn vị, luận văn xác định nguyên nhân bao gồm cả các yếu tố ảnh hưởng, đưa
ra các đề xuất giải pháp phù hợp thực tế của đơn vị để đẩy mạnh ứng dụng CNTT
3
Trang 13trong hoạt động tại KBNN Thái Bình giai đoạn 2016-2020, nhằm hướng tới mục tiêu hiện đại hóa ngành Kho bạc, xây dựng Kho bạc điện tử
Các nghiên cứu của luận văn xuất phát từ lý luận và thực tiễn ứng dụng CNTT trong hoạt động do đó có thể làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan trong
hệ thống KBNN
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài các trang bìa, mục lục, danh mục bảng biểu, danh mục các sơ đồ- biểu đồ-hình vẽ, danh mục các từ viết tắt, các phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn chia làm 3 chương như sau:
- Chương 1: Cơ sở lý luận của việc ứng dụng CNTT trong hoạt động tại Kho bạc nhà nước Thái Bình
- Chương 2: Thực trạng việc ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động tại KBNN Thái Bình
- Chương 3: Một số giải pháp đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động tại Kho bạc nhà nước Thái Bình
4
Trang 14CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG HOẠT ĐỘNG TẠI KBNN THÁI BÌNH
1.1 Tổng quan về công nghệ thông tin
1.1.1.Khái niệm công nghệ thông tin
Công nghệ thông tin được hình thành từ khoa học máy tính, đây là một khái niệm khá rộng, nó bao hàm nhiều khái niệm khác nhau ở bên trong (phần mềm máy tính, hệ thống thông tin, phần cứng máy tính, ngôn ngữ lập trình…) CNTT ra đời với tư cách là một ngành khoa học ứng dụng hiện đại, phát triển qua nhiều thời kỳ với các quá trình từ khoa học máy tính đến Tin học và CNTT Theo nghĩa rộng và tổng quát nhất CNTT là việc sử dụng công nghệ hiện đại vào việc tạo ra, lưu trữ, truyền dẫn thông tin, xử lý, khai thác thông tin
CNTT gồm tất cả các nhóm ngành công nghệ (sử dụng hệ thống máy tính, phần mềm, và mạng lưới Internet) được sử dụng cho việc xử lý và phân phối dữ liệu, lưu trữ, thu thập, trao đổi và sử dụng thông tin dưới tất cả các hình thức dữ liệu
Ở Việt Nam, CNTT được thể chế hóa từ Nghị quyết số 49/CP ngày 04
tháng 8 năm 1993 về "Phát triển CNTT ở Việt Nam trong những năm 90", và luật
hóa thành văn bản Luật vào năm 2006
Chỉ thị 58-CT/TW ngày 17/10/2000 của Bộ chính trị về “Đẩy mạnh ứng dụng và phát triển CNTT phục vụ sự nghiệp CNH-HĐH”, là cơ sở cho sự ra đời của Luật Công nghệ thông tin, được Quốc Hội thông qua ngày 29/6/2006 theo Nghị quyết số 67/2006/QH11- cơ sở pháp lý cho mọi hoạt động ứng dụng và phát triển CNTT của đất nước
Theo Luật Công nghệ thông tin thì “ Công nghệ thông tin là tập hợp các
phương pháp khoa học, công nghệ và công cụ kỹ thuật hiện đại để sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin số ”
Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, CNTT được hiểu theo khái niệm CNTT của Luật Công nghệ thông tin năm 2006
5
Trang 151.1.2.Đặc điểm của công nghệ thông tin
1.1.2.1 Ngành công nghệ mũi nhọn
CNTT là ngành được xây dựng dựa trên thành quả của nhiều ngành công nghệ khác và những lý thuyết khoa học hiện đại Có hàm lượng tri thức cao là một trong những đặc điểm của ngành công nghệ mũi nhọn Do đó CNTT đòi hỏi nguồn nhân lực có trình độ cao, ứng dụng cần phải thực hiện từng bước phù hợp với lợi thế riêng Phát triển CNTT không chỉ là động lực cho riêng các doanh nghiệp trong ngành, mà còn là lực đẩy cho toàn nền kinh tế, giúp các lĩnh vực, ngành nghề khác trong xã hội hiện đại hóa, phát triển mạnh Chính vì vậy mà CNTT và truyền thông đã trở thành một công cụ, một nền tảng cho phương thức lao động mới của toàn bộ xã hội, thâm nhập sâu vào mọi lĩnh vực, khía cạnh của đời sống
1.1.2.2 Ngành có tốc độ phát triển cao
CNTT bắt đầu xuất hiện từ thập niên 1970, tuy nhiên đến thập niên 1990 ngành CNTT mới thật sự phát triển và phát triển tốc độ rất cao Những tiến bộ về công nghệ trong lĩnh vực công nghệ thông tin diễn tiến liên tục, có thể tính từng giây Thế giới ghi nhận từ thập niên 1990 đến nay, tốc độ phát triển trung bình hàng năm của ngành duy trì từ 8%-10% và cao gấp 1,5 lần
sự phát triển kinh tế của thế giới (Research Report of Shanghai Research Center, 2004)
Tại Diễn đàn Cấp cao Công nghệ thông tin và Truyền thông Việt Nam
2013, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã khẳng định: “Hơn 10 năm
qua, CNTT đã trở thành ngành kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao, đóng góp trực tiếp gần 7% GDP, và là một lợi thế phát triển đặc biệt của Việt Nam”
1.1.2.3.Vòng đời sản phẩm ngắn
Bắt nguồn từ sự phát triển với tốc độ cao, sản phẩm CNTT thường có vòng đời rất ngắn Theo Hiệp hội Nghiên cứu Máy tính của Mỹ (Computing Research Association – CRA, 1999), vòng đời của sản phẩm CNTT thường chỉ
có 2 năm và tối đa là 4 năm thì các sản phẩm CNTT đã bị xem là lạc hậu Vì vậy
6
Trang 16đối với các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam, khi đầu tư hay định hướng các giải pháp công nghệ cần lưu ý đến đặc điểm này của CNTT để tránh lãng phí, làm ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư
1.1.2.4.Tính tích hợp cao
Ngày nay CNTT đã thâm nhập và tích hợp vào sâu trong các ngành khác như cơ khí, sản xuất ô tô, năng lượng, giao thông, dệt, luyện kim, điện tử… làm cho các ngành này nhanh chóng phát triển Mạng viễn thông, mạng truyền hình và mạng máy tính đã dần tích hợp vào nhau, chia sẽ thông tin, tài nguyên của nhau và giúp cho các nước trên thế giới xích lại gần nhau hơn
Với khả năng số hóa thông tin, xử lý và tái tạo thông tin, CNTT trở thành một công cụ, một nền tảng cho phương tiện lao động mới được sử dụng cho các ngành công nghệ khác CNTT có thể tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất của các lĩnh vực: công nghiệp, nông nghiệp, thương mại, dịch vụ …, cũng có thể tham gia vào quá trình quản lý, điều hành Bên cạnh đó CNTT cũng tạo ra nhiều ngành kinh tế mới, làm thay đổi sâu sắc các ngành công nghiệp hiện tại và tăng khả năng cạnh tranh của các ngành
1.1.2.5.Chi phí nghiên cứu và phát triển ngành cao
CNTT là ngành công nghệ cao, có hàm lượng cao về nghiên cứu khoa học
và phát triển công nghệ; được tích hợp từ thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại; tạo ra sản phẩm có chất lượng, tính năng vượt trội, giá trị gia tăng cao; có vai trò quan trọng đối với việc hình thành và hiện đại hóa nhiều ngành sản xuất, dịch vụ; cấu trúc của ngành có nhiều tầng lớp, lớp trên được xây dựng dựa trên các lớp dưới… nên mỗi thay đổi, cải tiến công nghệ đều kéo theo nhiều sự thay đổi trên các lĩnh vực
Mặc dù là ngành thường xuyên phát minh và cải tiến nhưng chi phí cho việc nghiên cứu và phát triển của ngành lại rất cao
1.1.3.Vai trò của công nghệ thông tin
CNTT và truyền thông đã và đang làm thay đổi thế giới Những rào cản được gỡ bỏ cùng với những tiến bộ vượt bậc của cách mạng số đang làm cho thế
7
Trang 17giới "phẳng ra" và không còn nhiều trở ngại về địa lý như trước Trong một thời gian tương đối ngắn CNTT và truyền thông đã tạo ra những biến đổi về văn hóa -
xã hội sâu sắc ở mọi ngõ ngách của trái đất nơi chúng ta đang sống, đem lại cho con người những cơ hội để có một cuộc sống thuận tiện hơn và thách thức cũng lớn hơn Điều này mở ra cho các quốc gia những phương thức sản xuất kinh doanh, những vị thế chính trị và kinh tế hoàn toàn mới
CNTT và truyền thông ảnh hưởng tới hầu hết mọi ngành còn lại, không chỉ giúp giải quyết lượng thông tin khổng lồ một cách nhanh chóng, tạo ra nhiều loại hình công việc mới mà còn tạo một bước ngoặt mới cho sự phát triển của xã hội, kéo theo sự phát triển của nền văn minh nhân loại
Vai trò của CNTT trên thế giới ngày càng có ảnh hưởng sâu rộng, nó tác động đến tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội; trong những thập niên gần đây với sự phát triển của CNTT đã làm cho thế giới thay đổi từng ngày Trong phần này luận văn chỉ đề cập đến vai trò của CNTT với một số vấn đề có liên quan
Sự kết hợp giữa CNTT, công nghệ viễn thông và công nghệ Internet đã trở thành công cụ đắc dụng phục vụ phát triển kinh tế, xã hội Môi trường trao đổi thông tin đa truyền thông đa phương tiện do sự kết hợp đó đã xóa bỏ các rào cản về mặt vật lý, địa lý; biến đổi cách thức giao tiếp đến cách sử dụng thông tin, biến đổi
8
Trang 18bản chất thương mại, bản chất của công việc và thay đổi cách thức chăm sóc y tế
và giáo dục
CNTT là động lực quan trọng nhất để phát triển kinh tế đất nước, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia Không phải ngẫu nhiên ngày nay không nước phát triển giàu có nào lại nghèo về thông tin và cũng không có nước nào giàu về thông tin mà nghèo và kém phát triển cả
CNTT nhanh chóng thay đổi thế giới một cách mạnh mẽ, sự chuyển đổi này có vị thế trong lịch sử như một cuộc cách mạng kinh tế - xã hội và có ảnh hưởng to lớn đến đời sống con người
Con người đã biến Internet thành một công cụ hữu dụng Hàng tỉ người trên thế giới có thể truy cập Internet cùng một lúc, thực hiện giao dịch mua bán, gặp gỡ, trao đổi với bạn bè khắp thế giới và cập nhật thông tin bất kì thời gian nào Mạng xã hội trở nên phổ biến hơn và ngày càng được giới trẻ quan tâm
Đối với y tế, việc ứng dụng những tiến bộ của khoa học kỹ thuật và CNTT
đã trở thành một hình thức phổ biến có tác dụng hỗ trợ kịp thời và thiết thực trong việc chữa bệnh cho nhân dân
Ví dụ, hiện nay đã dùng công nghệ siêu âm 3D (ba chiều), hoặc các bác sĩ
có thể hội chẩn từ xa (thậm chí từ nhiều nước khác nhau trên thế giới) Sử dụng
CNTT để hỗ trợ về mặt kỹ thuật và phương pháp điều trị cho những vùng xa trung tâm y tế đã mang lại giá trị to lớn về mặt tinh thần cũng như vật chất cho nhân dân
Trong lĩnh vực Giáo dục-đào tạo, việc ứng dụng CNTT đã góp phần nâng cao chất lượng dạy và học ở các cấp, các bậc học, mở rộng thêm nhiều loại hình đào tạo như đào tạo từ xa, phối hợp liên kết giữa các trường, các Quốc gia với nhau đang nhằm đưa chất lượng giáo dục của nước ta ngang bằng với các nước trong khu vực và trên thế giới
Thương mại điện tử xuất hiện, khách hàng có thể tiếp xúc và tìm hiểu mọi thông tin về công ty dễ dàng ở bất cứ nơi nào, lúc nào Công ty sẽ nhận được phản hồi của khách hàng nhanh chóng về chiến lược tiếp thị hoặc danh mục hàng
9
Trang 19hoá của các doanh nghiệp để từ đó có những thay đổi về chiến lược kinh doanh cho phù hợp với thị hiếu của thị trường
An ninh quốc phòng cũng có những thay đổi cơ bản, công nghệ thông tin
đã tạo ra những thế hệ vũ khí, phương tiện chiến tranh "thông minh", từ đó xuất hiện hình thái chiến tranh, phương thức tác chiến mới, làm thay đổi sâu sắc học thuyết quân sự của nhiều quốc gia [28]
CNTT còn là cơ sở cho quá trình hội nhập và toàn cầu hóa kinh tế Với mạng Internet và các dịch vụ do CNTT tạo ra, các công ty có thể hợp tác sản xuất, trao đổi mua bán, quảng bá và mở rộng thị trường ra khắp thế giới, con
người có thể tìm kiếm việc làm bên ngoài lãnh thổ một cách dễ dàng
Sáng tạo ra những giá trị mới và các việc làm mới, cuộc cách mạng CNTT
sẽ mang lại những thị trường mới và những nghề nghiệp mới với những đột phá công nghệ có tính thách thức đối với toàn thế giới
Với sự phát triển như vũ bão của công nghệ thông tin hiện nay, CNTT đang trở thành ngành kinh tế mũi nhọn đối với nhiều quốc gia trên thế giới Quốc
gia nào, dân tộc nào nhanh chóng nắm bắt và làm chủ được công nghệ thông tin
thì sẽ khai thác được nhiều hơn, nhanh hơn lợi thế của mình.Và cũng chính từ
đây nảy sinh một thách thức rất lớn đối với các nước đang phát triển như nước ta,
đó là làm thế nào để phát huy được thế mạnh của CNTT, thúc đẩy sự phát triển của xã hội mà không mất đi văn hoá truyền thống quý báu của dân tộc
Sự nghiệp CNH-HĐH ở nước ta hiện nay tất yếu phải khai thác được những tiềm năng thế mạnh của CNTT, thúc đẩy những ứng dụng và phát triển CNTT, coi đó là một điều kiện cần thiết để đạt được những mục tiêu của giai đoạn đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước [28]
1.1.3.2.Vai trò của công nghệ thông tin đối với hoạt động của cơ quan nhà nước
CNTT với bốn thành phần: ứng dụng CNTT, cơ sở hạ tầng CNTT, nguồn nhân lực và công nghiệp CNTT sẽ giúp cho Chính phủ cải tiến mối tác động qua lại giữa ba chủ thể: chính phủ, người dân và doanh nghiệp
10
Trang 20Đối với cơ quan nhà nước, CNTT giúp cho việc tự động hóa hoặc Tin học hóa các quy trình, thủ tục, giấy tờ hiện hành, từ đó sẽ đơn giản hóa các thủ tục hành chính, làm tăng tính hiệu quả của các dịch vụ công Việc phổ biến thông tin
rộng rãi qua Internet và các phương tiện truyền thông mở ra cơ hội cho người dân chủ động tham gia góp ý vào các vấn đề điều hành và hoạch định chính sách, cũng như quá trình ra quyết định của cơ quan nhà nước
Tính minh bạch của thông tin cũng góp phần chống quan liêu, tham nhũng trong bộ máy cơ quan nhà nước và là tiêu chí cần thiết trong việc gây dựng sự tin cậy từ phía người dân với cơ quan nhà nước, nâng cao sự tin cậy của thông tin trong quản lý điều hành
CNTT là công cụ, phương tiện để cơ quan nhà nước nâng cao vai trò, hiệu quả và chất lượng quản lý của mình bằng cách cải tiến việc tiếp cận và cung cấp các dịch vụ công nhằm đem lại lợi ích tốt nhất cho người dân, tăng cường năng lực quản lý, điều hành có hiệu quả và nâng cao tính minh bạch trong các cơ
quan nhà nước nhằm quản lý tốt hơn các nguồn lực kinh tế, xã hội
1.1.3.3 Vai trò của công nghệ thông tin trong quản lý hành chính nhà nước
CNTT với công nghệ tìm kiếm và cách thức trao đổi dữ liệu trên Internet theo mô hình dòng công việc cùng với các dịch vụ hành chính công thiết thực được ứng dụng rộng rãi vào quy trình hành chính đã mang lại một vận hội to lớn, nâng cao hiệu quả nền hành chính nhà nước
CNTT là thách thức lớn đối với cơ quan hành chính do cơ quan hành chính là tổ chức có nhiều thay đổi về chính sách, quy định, nhiều ràng buộc về ngân sách và yêu cầu về dân chủ trong quá trình ra quyết định Kỹ năng sử dụng máy tính và mạng của đội ngũ công chức còn yếu kém, hạ tầng cơ sở kỹ thuật còn nhiều hạn chế, việc đổi mới hệ thống thông tin hành chính luôn chậm chạp,
sự thiếu hụt ngân sách đầu tư cho ứng dụng CNTT không theo kịp sự phát triển như vũ bão và tốc độ thay đổi hàng ngày, hàng giờ của CNTT
11
Trang 21CNTT tuy không phải là tay lái nhưng lại có vai trò to lớn làm thay đổi lề
lối, phương thức hoạt động của chính quyền Một số dịch vụ hành chính công trên mạng bước đầu có hiệu quả, nhanh chóng và tiết kiệm tiền bạc Chia sẻ thông tin trên mạng cho phép tất cả các tổ chức nhà nước, doanh nghiệp và tư nhân giảm đáng kể sức lực, thời gian, đem lại nhiều lợi ích cho những người cùng tham gia
Các nhiệm vụ hành chính công đòi hỏi ngày càng tăng năng lực đáp ứng của chính quyền trước các nhu cầu của công chúng Do đó môi trường CNTT hành chính nhà nước vừa là vận hội cũng vừa là thách thức, đòi hỏi phải có sự ưu
tiên, quan tâm hỗ trợ và khuyến khích phát triển
1.1.3.4.Vai trò của CNTT trong hoạt động tác nghiệp, chuyên môn
Các hoạt động tác nghiệp, chuyên môn ngày nay thường liên kết nhiều đơn vị; mối quan hệ đa dạng, phức tạp, khoảng cách giữa các đơn vị, đối tác không chỉ bó hẹp trong mỗi quốc gia mà còn vươn ra toàn thế giới Thông tin tác nghiệp cần được lưu trữ ngày càng lớn, thời gian lâu hơn; dữ liệu cần phải đảm bảo an toàn, đáp ứng yêu cầu truy xuất nhanh chóng, chính xác vì vậy chỉ có thể ứng dụng CNTT mới đáp ứng được các yêu cầu trên
1.1.3.5 Vai trò của công nghệ thông tin trong quản lý điều hành
CNTT có thể hỗ trợ công tác quản lý điều hành, nâng cao hiệu quả hoạt động của nó, đồng thời hoạt động quản lý điều hành cũng tác động lớn đến sự phát triển và ứng dụng CNTT Việc nhận thức của người lãnh đạo về vai trò của CNTT trong quản lý điều hành sẽ quyết định mức độ áp dụng CNTT trong hoạt động của tổ chức, và từ đó tác động đến sự phát triển và ứng dụng CNTT
Ngày nay với xu thế biến động nhanh chóng, khó lường của kinh tế thế giới, đòi hỏi cán bộ lãnh đạo các cấp phải nhanh chóng nắm bắt các thông tin chính xác, tính tổng hợp cao để điều hành hoạt động của mỗi đơn vị, tổ chức hay quốc gia một cách linh hoạt Lượng thông tin cần phải thu thập và xử lý là rất lớn, đa dạng và phức tạp; thời gian xử lý đòi hỏi phải nhanh chóng, chính xác do
đó để quản lý điều hành tốt không thể không có sự trợ giúp của phần mềm, các
12
Trang 22thiết bị điện tử và các phương tiện truyền thông Trong giai đoạn cạnh tranh hiện nay, việc nắm bắt được nhiều thông tin, xử lý kịp thời và chính xác sẽ là chìa khoá cho sự thành công của mỗi cá nhân, tổ chức hay mỗi một quốc gia
Xu thế hội nhập, mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế cũng đòi hỏi mỗi quốc gia phải đáp ứng được các yêu cầu hiện đại hóa để phù hợp với thế giới hiện đại
1.1.4.Một số khái niệm liên quan đến công nghệ thông tin
1.1.4.1 Các khái niệm liên quan đến cấu thành công nghệ thông tin
Cơ sở hạ tầng thông tin là hệ thống trang thiết bị phục vụ cho việc sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin số, bao gồm mạng viễn thông, mạng Internet, mạng máy tính và cơ sở dữ liệu
- Môi trường mạng là môi trường trong đó thông tin được cung cấp, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông qua cơ sở hạ tầng thông tin
- Thiết bị số là thiết bị điện tử, máy tính, viễn thông, truyền dẫn, thu phát sóng vô tuyến điện và thiết bị tích hợp khác được sử dụng để sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin số
- Phần cứng là sản phẩm thiết bị số hoàn chỉnh; cụm linh kiện; linh kiện;
bộ phận của thiết bị số, cụm linh kiện, linh kiện
- Phần mềm là chương trình máy tính được mô tả bằng hệ thống ký hiệu,
mã hoặc ngôn ngữ để điều khiển thiết bị số thực hiện chức năng nhất định
Có thể chia thành phần mềm hệ thống, phần mềm ứng dụng
+Phần mềm hệ thống: là những phần mềm điều khiển thiết bị số, liên kết chúng thành một hệ thống tạo thành môi trường hoạt động cho các phần mềm ứng dụng; đó là các Hệ điều hành, các phần mềm quản lý và điều khiển thiết
bị(Driver)…
+Phần mềm ứng dụng: là những phần mềm được tạo ra nhằm giải quyết những bài toán, những yêu cầu, đòi hỏi của con người và hoạt động trong tất cả các lĩnh vực
- Dữ liệu nói chung là hình thức lưu giữ các sự kiện, ý tưởng, tin tức và các thực thể cần quản lý, dữ liệu tồn tại ở nhiều dạng khác nhau: con số, kí tự,
13
Trang 23văn bản, hình ảnh, âm thanh Dữ liệu của hệ thống thông tin là dự liệu được số hoá và tổ chức thành các cơ sở dữ liệu và các cơ sở tri thức
- Nhân lực CNTT được hiểu là nhân lực làm công tác đào tạo về CNTT, điện tử, viễn thông; nhân lực chuyên nghiệp về CNTT, điện tử, viễn thông làm trong các doanh nghiệp viễn thông, doanh nghiệp công nghiệp CNTT; nhân lực cho ứng dụng CNTT của các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp; cán bộ, viên chức
và mọi người dân sử dụng, ứng dụng CNTT
Nguồn nhân lực này là yếu tố then chốt có ý nghĩa quyết định đối với việc ứng dụng và phát triển CNTT tại Việt Nam
1.1.4.2 Một số khái niệm liên quan khác
- Thông tin là một khái niệm trừu tượng mô tả các yếu tố đem lại hiểu biết, nhận thức cho con người cũng như các sinh vật khác Thông tin tồn tại khách quan, có thể được tạo ra, truyền đi, lưu trữ, chọn lọc Thông tin cũng có thể
bị sai lạc, méo mó do nhiều nguyên nhân khác nhau: bị xuyên tạc, cắt xén… Những yếu tố gây sự sai lệch thông tin gọi là các yếu tố nhiễu
Thông tin có thể tồn tại dưới nhiều dạng khác nhau, xuất phát từ nhiều nguồn khác nhau Người ta có thể định lượng tin tức bằng cách đo độ bất định của hành vi, trạng thái Xác suất xuất hiện một tin càng thấp thì độ bất ngờ càng lớn do đó lượng tin càng cao
Chất lượng của thông tin thường được đánh giá dựa trên các phương diện chủ yếu sau: Tính cần thiết, Tính chính xác, Độ tin cậy, Tính thời sự
Khi tiếp nhận được thông tin, con người thường phải xử lý nó để tạo ra những thông tin mới, có ích hơn, từ đó có những phản ứng nhất định Trong lĩnh vực quản lý, các thông tin mới là các quyết định quản lý
Trong lĩnh vực CNTT, thông tin được hiểu là những tín hiệu, ký hiệu mang lại hiểu biết, nhận thức của con người Trong máy tính thông tin được mã hóa theo những cách thức thống nhất để máy tính có thể đọc và xử lý được Sau khi xử lý, thông tin được giải mã trở thành các tín hiệu mà con người có thể nhận thức được
14
Trang 24Thông tin số là thông tin được tạo lập bằng phương pháp dùng tín hiệu số
- Hệ thống thông tin (Information System - IS) là một tập hợp các yếu tố
có liên quan với nhau cùng làm nhiệm vụ thu thập, xử lý, lưu trữ và truyền đạt thông tin để hỗ trợ việc ra quyết định, phân tích tình hình, lập kế hoạch, điều phối
và kiểm soát các hoạt động trong một tổ chức, doanh nghiệp
- Trang thông tin điện tử (Website) là trang thông tin hoặc một tập hợp trang thông tin trên môi trường mạng phục vụ cho việc cung cấp, trao đổi thông tin
- Vi rút máy tính là chương trình máy tính có khả năng lây lan, gây ra hoạt động không bình thường cho thiết bị số hoặc sao chép, sửa đổi, xóa bỏ thông tin lưu trữ trong thiết bị số
- Phát triển công nghệ thông tin là hoạt động nghiên cứu - phát triển liên quan đến quá trình sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin số; phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin; phát triển công nghiệp
công nghệ thông tin và phát triển dịch vụ công nghệ thông tin
1.2 Ứng dụng công nghệ thông tin trong các cơ quan nhà nước
1.2.1.Khái niệm ứng dụng công nghệ thông tin
CNTT ra đời đã và đang được ứng dụng rộng rãi trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, góp phần tích cực vào sự tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu kinh
tế, làm thay đổi cơ bản cách quản lý, học tập và làm việc của con người
Ứng dụng CNTT được nhiều người biết đến là quá trình sử dụng những kết quả của CNTT, thông qua các phương tiện CNTT, để hỗ trợ cho các cá nhân,
tổ chức hoạt động xử lý thông tin, hỗ trợ các khâu công việc cần thiết và cuối cùng, ở mức cao nhất là hỗ trợ cho các tổ chức hoạt động và cá nhân tự động trao đổi, khai thác thông tin trong môi trường CNTT; cải tiến, đổi mới quy cách làm việc, đạt hiệu quả công việc cao hơn, đáp ứng những thay đổi đang diễn ra
Khái niệm ứng dụng CNTT đã trở nên rất quen thuộc trong đời sống xã
hội và được luật hóa trong Luật CNTT năm 2006 : “Ứng dụng CNTT là việc sử dụng CNTT vào các hoạt động thuộc lĩnh vực kinh tế - xã hội, đối ngoại, quốc
15
Trang 25phòng, an ninh và các hoạt động khác nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả của các hoạt động này”
Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, ứng dụng CNTT được hiểu là
việc sử dụng CNTT vào các hoạt động thuộc lĩnh vực kinh tế - xã hội, đối ngoại, quốc phòng, an ninh và các hoạt động khác nhằm hỗ trợ cho các cá nhân, tổ chức hoạt động xử lý thông tin; hỗ trợ các khâu công việc cần thiết và ở mức cao nhất
là mức hỗ trợ cho các tổ chức hoạt động và cá nhân tự động trao đổi, khai thác thông tin trong môi trường CNTT; cải tiến, đổi mới quy cách làm việc, đạt hiệu quả công việc cao hơn, đáp ứng những thay đổi đang diễn ra
1.2.2 Ứng dụng công nghệ thông tin trong các cơ quan nhà nước
Ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước là việc sử dụng CNTT vào các hoạt động của cơ quan nhà nước nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả trong hoạt động nội bộ của cơ quan nhà nước và giữa các cơ quan nhà nước, trong giao dịch của cơ quan nhà nước với tổ chức và cá nhân; hỗ trợ đẩy mạnh cải cách hành chính và bảo đảm công khai, minh bạch [12]
1.2.2.1.Chính sách của Nhà nước về ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin
Theo Điều 5 – Luật công nghệ thông tin, các chính sách của Nhà nước về phát triển CNTT được quy định cụ thể như sau :
Ưu tiên ứng dụng và phát triển CNTT trong chiến lược phát triển kinh tế
- xã hội và sự nghiệp CNH-HĐH đất nước
Tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân hoạt động ứng dụng và phát triển CNTT đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, đối ngoại, quốc phòng, an ninh; thúc đẩy công nghiệp CNTT phát triển thành ngành kinh tế trọng điểm, đáp ứng nhu cầu thị trường nội địa và xuất khẩu
Khuyến khích đầu tư cho lĩnh vực CNTT
Ưu tiên dành một khoản ngân sách nhà nước để ứng dụng CNTT trong một số lĩnh vực thiết yếu, tạo lập nền công nghiệp CNTT và phát triển nguồn nhân lực CNTT
16
Trang 26 Tạo điều kiện thuận lợi để phát triển cơ sở hạ tầng thông tin quốc gia
Có chính sách ưu đãi để tổ chức, cá nhân có hoạt động ứng dụng và phát triển CNTT đối với nông nghiệp; nông thôn, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo; người dân tộc thiểu số, người tàn tật, người có hoàn cảnh khó khăn
Bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân ứng dụng và phát triển CNTT
Tăng cường giao lưu và hợp tác quốc tế; khuyến khích hợp tác với tổ chức, cá nhân Việt Nam ở nước ngoài trong lĩnh vực CNTT
1.2.2.2.Nguyên tắc ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của
cơ quan nhà nước
“Tin học hoá hoạt động của các cơ quan nhà nước là bộ phận hữu cơ quan trọng của cải cách nền hành chính quốc gia, là nhiệm vụ thường xuyên của các
cơ quan nhằm tăng cường năng lực quản lý, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả”, đó chính là kết luận của Ban Chấp hành Trung ương tại Chỉ thị số 58-CT/TW ngày 17/10/2000 về đẩy mạnh ứng dụng và phát triển CNTT phục vụ sự nghiệp CNH-HĐH
Việc ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước phải được ưu tiên, đảm bảo tính công khai, minh bạch nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của cơ quan nhà nước; tạo điều kiện để nhân dân thực hiện tốt quyền và nghĩa vụ công dân
Việc ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước phải thúc đẩy chương trình đổi mới hoạt động của cơ quan nhà nước và chương trình cải cách hành chính
Việc cung cấp, trao đổi thông tin phải đảm bảo chính xác và phù hợp với mục đích sử dụng
Quy trình, thủ tục hoạt động phải công khai minh bạch
Sử dụng thống nhất tiêu chuẩn, bảo đảm tính tương thích về công nghệ trong toàn bộ hệ thống thông tin của các cơ quan nhà nước Bảo đảm an ninh, an toàn, tiết kiệm và có hiệu quả
17
Trang 27Người đứng đầu cơ quan nhà nước phải chịu trách nhiệm về việc ứng dụng công nghệ thông tin thuộc thẩm quyền quản lý của mình[27]
1.2.2.3.Điều kiện để triển khai ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước
Từ các nguyên tắc nêu trên, cơ quan nhà nước có trách nhiệm chuẩn bị các điều kiện để triển khai ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan mình Chính phủ quy định cụ thể các điều kiện đảm bảo ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước; xây dựng và tổ chức thực hiện chương trình quốc gia về ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước[27]
Có thể xác định một số điều kiện cơ bản để ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước như sau:
- Các quy trình nghiệp vụ được xác định rõ ràng, đầy đủ và công khai minh bạch Đây là điều kiện quan trọng cần thống nhất và thực hiện ngay từ giai đoạn tham gia định hướng, xây dựng chính sách
- Nguồn nhân lực phải đảm bảo cho yêu cầu xây dựng, phát triển, quản lý
và duy trì vận hành hệ thống CNTT; đồng thời các cán bộ chuyên môn nghiệp vụ phải được đào tạo, tập huấn các kiến thức nghiệp vụ khi áp dụng quy trình ứng dụng CNTT, đào tạo khả năng sử dụng các ứng dụng CNTT tương ứng với vị trí công việc Trong bối cảnh ứng dụng CNTT hiện đại, đây là điều kiện cần thiết bởi để đảm bảo hiệu quả đầu tư lâu dài thì người sử dụng phải có trình độ hiểu biết nhất định
- Nguồn tài chính đảm bảo là điều kiện có tính chất quyết định và thuộc trách nhiệm của các cấp lãnh đạo khi xây dựng dự toán kinh phí thực hiện dự án ứng dụng CNTT Nguồn tài chính phải đáp ứng và ổn định không chỉ trong giai đoạn xây dựng, phát triển ban đầu mà phải tính toán để đảm bảo cho cả các giai đoạn nâng cấp, mở rộng, duy trì, vận hành và thay thế đối với hạ tầng CNTT, phần mềm hệ thống, phần mềm ứng dụng Phát triển ứng dụng CNTT là lĩnh vực phải chi phí khá cao cho các sản phẩm mang đặc tính chứa đựng hàm lượng chất
18
Trang 28xám cao, hao mòn vô hình lớn; phải đầu tư những khoản kinh phí lớn nên cần tính toán kỹ lưỡng, tránh lãng phí, không hiệu quả
1.2.2.4.Nội dung ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của
cơ quan nhà nước
Xây dựng và sử dụng cơ sở hạ tầng thông tin phục vụ cho hoạt động của
cơ quan nhà nước và hoạt động trao đổi, cung cấp thông tin giữa cơ quan nhà nước với tổ chức, cá nhân
Xây dựng, thu thập và duy trì cơ sở dữ liệu phục vụ cho hoạt động của cơ quan và phục vụ lợi ích công cộng
Xây dựng các biểu mẫu phục vụ cho việc trao đổi, cung cấp thông tin và lấy ý kiến góp ý của tổ chức, cá nhân trên môi trường mạng
Thiết lập trang thông tin điện tử phù hợp với quy định tại Điều 23 và Điều
28 của Luật công nghệ thông tin
Cung cấp, chia sẻ thông tin với cơ quan khác của Nhà nước
Thực hiện cung cấp dịch vụ công trên môi trường mạng
Xây dựng, thực hiện kế hoạch đào tạo, nâng cao nhận thức và trình độ ứng dụng công nghệ thông tin của cán bộ, công chức
Thực hiện hoạt động trên môi trường mạng theo quy định tại Điều 27 của Luật công nghệ thông tin
1.2.3.Các yếu tố ảnh hưởng đến ứng dụng công nghệ thông tin
Quá trình ứng dụng CNTT có hiệu quả hay không, tốc độ phát triển nhanh hay chậm phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố; chúng ta có thể nói đến một số yếu tố
cơ bản sau:
1.2.3.1 Yếu tố khách quan
Môi trường tự nhiên
Phần lớn các thiết bị trong ngành CNTT đều là các thiết bị điện tử; chúng rất dễ bị tác động của môi trường địa lý, khí hậu Các yếu tố khí hậu ảnh hưởng lớn đến hoạt động của thiết bị phải nói đến như là nhiệt độ, độ ẩm, sấm sét…các yếu tố về địa lý có ảnh hưởng nhiều như vùng bị nhiễm xạ, vùng ven biển, vùng
19
Trang 29có nhiều cát bụi, gần nơi có nhiều thiết bị, phương tiện giao thông hoạt động như gần đường quốc lộ… Nước ta là một nước ven biển, có đường bờ biển dài, khí hậu hai miền cũng khác nhau; trên thực tế nhiều nơi đã không coi trọng những yếu tố ảnh hưởng của môi trường nên đã thường xuyên gặp tình trạng thiết bị hỏng, chi phí sửa chữa cao; do đó luôn phải tính toán đến các điều kiện môi trường trong ứng dụng CNTT Vị trí địa lý, sự phân bổ địa hình đa dạng giữa các vùng miền làm ảnh hưởng đến việc quản lý, sử dụng, bố trí điều kiện triển khai ứng dụng CNTT, tạo nên những điểm khác biệt riêng cho mỗi dự án CNTT tại mỗi địa phương
Môi trường xã hội
Yếu tố văn hóa, truyền thống, mật độ phân bổ dân cư, sự chênh lệch phát triển giữa các vùng miền cũng ảnh hưởng không nhỏ tới việc ứng dụng CNTT Những yếu tố xã hội sẽ chia cộng đồng thành các nhóm khách hàng, mỗi nhóm
có những đặc điểm, tâm lý, thu nhập khác nhau Những yếu tố đó sẽ dẫn đến các nhu cầu sử dụng dịch vụ, hàng hóa khác nhau; tác động trực tiếp đến thái độ người lao động trong việc tiếp thu và phát triển các thành tựu khoa học kỹ thuật, đặc biệt là CNTT
Dễ dàng nhận thấy CNTT được phát triển và ứng dụng rộng rãi tại các thành phố lớn nơi tập trung dân số đông và điều kiện kinh tế phát triển Còn tại vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo việc ứng dụng CNTT còn nhiều hạn chế
Môi trường kinh tế
Ngày nay, không một nền kinh tế nào đứng độc lập mà có thể phát triển được Tất cả đều hoà nhập, phụ thuộc lẫn nhau Các thông tin, các giao dịch được thực hiện xuyên quốc gia Nhờ có Internet, thị trường mở rộng không biên giới
Do vậy mọi tính toán, kế hoạch phát triển không thể nào bó hẹp trong phạm vi một đơn vị, một tỉnh, một quốc gia Mặt khác, dựa vào tính mở của thị trường, các cơ quan, doanh nghiệp có thể lựa chọn được nhiều đối tác, thị trường, công nghệ, các giải pháp thuận lợi theo đặc điểm của mỗi đơn vị Do có tính cạnh tranh cao, giá cả các sản phẩm và dịch vụ sẽ được giảm có lợi cho người tiêu
20
Trang 30dùng Sự tiến bộ vượt bậc của kinh tế - xã hội dẫn đến sự phát triển như vũ bão của CNTT Xu hướng toàn cầu hóa là cơ hội đưa CNTT thành công nghệ quan trọng phổ biến nhất, lan tỏa mạnh nhất và hứa hẹn nhất, giúp các cơ quan, doanh nghiệp Việt Nam nhanh chóng hòa nhập vào nền kinh tế toàn cầu
Nền kinh tế quyết định đến các chính sách chi tiêu của chính phủ Các doanh nghiệp và cơ quan nhà nước đều chịu chung ảnh hưởng từ nền kinh tế của quốc gia Để phát triển ứng dụng CNTT, đòi hỏi chúng ta phải nhận thức đúng đắn trong vấn đề chi tiêu, vì đây là lĩnh vực phải chi phí khá cao cho các sản phẩm mang đặc tính chứa đựng hàm lượng chất xám cao, hao mòn vô hình lớn; chúng ta phải sẵn sàng đầu tư những khoản kinh phí lớn nhưng bên cạnh đó phải tính toán kỹ lưỡng, tránh lãng phí, không hiệu quả, phải coi đầu tư cho ứng dụng CNTT là đầu tư cho phát triển
Môi trường khoa học và công nghệ
Tốc độ phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ trong những năm gần đây đưa CNTT trở thành ngành tăng trưởng cao, được ứng dụng trên rất nhiều lĩnh vực Có thể nói CNTT đổi mới hàng ngày, hàng giờ, hàng giây Vòng đời của các sản phẩm CNTT càng ngày càng được rút ngắn Chính điều này là nhân
tố tác động tích cực đến sự phát triển của ứng dụng CNTT, làm ứng dụng CNTT trở nên phổ biến, thuận tiện và là công cụ để nâng cao năng suất lao động, nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp và cả các cơ quan nhà nước
Các phát minh khoa học ngày càng gia tăng, hàng loạt các công nghệ mới được ra đời và được tích hợp vào các sản phẩm, dịch vụ Khoảng cách từ phát minh đến ứng dụng rút ngắn Sự cạnh tranh về công nghệ cao diễn ra quyết liệt Nếu như cách đây 30 năm, máy vi tính chỉ là một công cụ dùng để tính toán thì ngày nay nó đã có đủ chức năng thay thế một con người làm việc hoàn toàn độc lập Truyền thông về Khoa học - Công nghệ diễn ra sôi động Đặc biệt trong lĩnh vực CNTT, công nghệ truyền thông hiện đại đã giúp nối liền các khoảng cách về địa lý, phương tiện truyền tải Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ mới cũng đặt ra nhiều thách thức đáng kể Tăng mức độ tự động hóa sẽ thay thế dần
21
Trang 31lực lượng lao động không có kỹ năng Tốc độ, chu kỳ của công nghệ, tỷ lệ công nghệ lạc hậu là các yếu tố tác động trực tiếp luôn phải cân nhắc khi ứng dụng CNTT Nếu trước đây các hãng sản xuất phải mất rất nhiều thời gian để tăng tốc
độ bộ vi xử lý lên gấp đôi thì hiện nay tốc độ này chỉ mất khoảng 2 đến 4 năm Một bộ máy tính hay chiếc điện thoại thông minh mới tinh chỉ sau nửa năm đã trở nên lạc hậu với công nghệ và các phần mềm ứng dụng
Công nghệ phát triển sẽ đem đến cơ hội thực sự cho các cơ quan, doanh nghiệp nếu có thể nắm bắt được nó, đồng thời cũng là mối đe dọa cho những cơ quan, doanh nghiệp không có kỹ năng và không thể điều chỉnh được
Môi trường chính trị pháp luật
Các chủ trương, chính sách phát triển và ứng dụng CNTT của Đảng và nhà nước là điều kiện tiên quyết để CNTT được ứng dụng ở Việt Nam Môi trường chính trị ổn định và các chính sách này sẽ tạo môi trường để CNTT được ứng dụng và định hướng phát triển ngành CNTT của quốc gia, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân ứng dụng và phát triển CNTT, tăng cường giao lưu và hợp tác quốc tế trong lĩnh vực CNTT Trong khi nhiều quốc gia trên thế giới có các chính sách khó đoán trước và xã hội biến động thường xuyên gây ảnh hưởng đến các trung tâm CNTT thì Việt Nam cung cấp tính nhất quán và độ tin cậy Các chính sách về quy hoạch các khu công nghệ tập trung, giảm thuế, hỗ trợ cho các công ty hoạt động trong ngành công nghệ…cũng bao gồm các khoản đầu tư cơ sở hạ tầng như công viên phần mềm mới và việc thúc đẩy kết nối CNTT Tuy nhiên, Việt Nam nằm trong số các quốc gia có tỷ lệ vi phạm pháp luật về sở hữu trí tuệ cao nhất Việc này làm giảm động lực sáng tạo của các doanh nghiệp và làm cho thị trường CNTT tại Việt Nam trở nên kém hấp dẫn hơn với các nhà đầu tư nước ngoài
Trang 32là một ngành khá hấp dẫn về tốc độ tăng trưởng và tỷ suất sinh lợi, do đó áp lực
cạnh tranh từ các đối thủ tiềm ẩn tương đối cao
Sản phẩm thay thế
Cho đến thời điểm hiện tại, các sản phẩm thuộc lĩnh vực CNTT như phần
cứng, phần mềm, nội dung số là các sản phẩm thiết yếu đối với nhiều ngành kinh
tế xã hội, và chưa có các sản phẩm thay thế Do đó áp lực cạnh tranh từ các sản
phẩm thay thế là thấp Tuy nhiên, ngành công nghiệp phần mềm đang phải chịu
sự cạnh tranh không lành mạnh từ các phần mềm không có bản quyền
Nội bộ ngành
Trong nội bộ ngành đối với lĩnh vực CNTT, áp lực cạnh tranh là cao, thể hiện ở việc giá cả các sản phẩm CNTT đã liên tục giảm trong suốt thời gian qua Ở Việt Nam, mặc dù hiện tại FPT đang là công ty dẫn đầu về thị phần CNTT nhưng khả năng chi phối các công ty còn lại của FPT tương đối thấp Nhìn chung CNTT là ngành phân tán, với tốc độ tăng trưởng cao và số lượng các công ty trong ngành tương đối nhiều
đủ hơn, các kiểu lao động mới độc lập hơn cũng xuất hiện Tuy vậy, trong môi trường ngành, áp lực cạnh tranh từ các khách hàng cá nhân đối với các sản phẩm CNTT là tương đối thấp Về phía các khách hàng tổ chức, các khách hàng này
có thể đàm phán với các công ty CNTT về chất lượng sản phẩm, dịch vụ, giá
cả và các tiện ích đi kèm Tuy nhiên, chi phí cho cả một tổ chức khi chuyển đổi
hệ thống thông tin sau khi đã áp dụng lại khá cao
23
Trang 331.2.3.2.Yếu tố chủ quan
Nguồn nhân lực công nghệ thông tin
Nguồn nhân lực luôn là một nhu cầu cấp thiết của ngành CNTT và luôn
là một trong những yếu tố quan trọng nhất thúc đẩy sự tăng trưởng mạnh mẽ và
bền vững cho ngành CNTT Nhiều chương trình, dự án chưa quan tâm nhiều đến điều kiện này mà dẫn đến đổ vỡ, lãng phí hoặc hiệu quả khai thác rất thấp Ứng dụng CNTT luôn đòi hỏi nguồn nhân lực có trình độ cao, độ chính xác cao,
do đó vấn đề đào tạo, khả năng nhận thức của con người cần được coi trọng; cần nêu cao tinh thần trách nhiệm, gắn quyền lợi và trách nhiệm rõ ràng cho mỗi cá nhân Chất lượng công tác giáo dục của Việt Nam còn nhiều hạn chế Dù có nhiều trường đào tạo về CNTT nhưng tỷ lệ sinh viên ra trường đáp ứng được nhu cầu của các cơ quan, doanh nghiệp lại không cao Trên thực tế có những thiết bị tin học phải chi phí khá cao song do trình độ người sử dụng chưa đáp ứng yêu cầu nên thường là nguyên nhân làm cho thiết bị mau hỏng
Có thể thấy nguồn nhân lực CNTT là điều kiện đặc biệt cần thiết trong bối cảnh ứng dụng công nghệ hiện đại nhằm đảm bảo hiệu quả đầu tư lâu dài khi ứng dụng CNTT
Trang thiết bị công nghệ thông tin
Trang thiết bị CNTT gồm các thiết bị phần cứng (máy tính, máy in, lưu điện…), các thiết bị hạ tầng mạng, truyền thông (Hub, Switch, Router, FireWall…), các thiết bị số khác Đây là yếu tố mang đặc tính kỹ thuật, ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng của ứng dụng CNTT, do đó luôn phải quan tâm đến yếu tố chất lượng, sự đồng bộ của các thiết bị, các chính sách bảo hành, sửa chữa; lựa chọn các mô hình kỹ thuật phù hợp với các vấn đề cần giải quyết Ngày nay trình độ kỹ thuật ngày càng nâng cao, các tính năng của sản phẩm luôn mở rộng, đòi hỏi người sử dụng phải luôn cập nhật, nắm bắt kịp thời; bên cạnh đó luôn phải dự tính trước được xu thế phát triển để đầu tư tránh lạc hậu hoặc sử dụng không hết các tính năng của sản phẩm
24
Trang 34 Phần mềm ứng dụng
Phần mềm ứng dụng là trung gian, giúp chuyển hóa các quy trình để dễ dàng thực hiện trên máy tính; đồng thời cũng tạo ra môi trường giao tiếp giữa người sử dụng và hệ thống thông tin Phần mềm thân thiện, dễ sử dụng, đảm bảo tính khoa học, đáp ứng chính xác và đầy đủ các yêu cầu của ứng dụng là một trong những tiêu chí luôn được quan tâm hàng đầu Ở Việt Nam thì yếu tố thân thiện, dễ sử dụng càng phải được quan tâm hơn bao giờ hết Phần mềm có thể hay, nhưng khó sử dụng thì người sử dụng dễ bỏ cuộc và để kéo họ quay trở lại
sẽ khó hơn rất nhiều, rất dễ bị định kiến xấu
Chất lượng phần mềm quyết định không nhỏ đến hiệu quả của ứng dụng CNTT Khi xây dựng các phần mềm ứng dụng cần phải chú trọng đến sự phù hợp với trình độ người sử dụng, với hạ tầng trang thiết bị, hạ tầng truyền thông
và các bài toán nghiệp vụ Mô hình ứng dụng phải tính đến sự phát triển nhanh mạnh và thay đổi không ngừng của ngành CNTT để khi đi vào triển khai, sản phẩm ứng dụng phù hợp với bài toán và vòng đời sử dụng được kéo dài, không bị lạc hậu; bên cạnh đó còn phải tính đến yếu tố phù hợp và xu hướng phát triển của các phần mềm hệ thống, phần mềm quản trị CSDL
Chính sách liên quan đến công nghệ thông tin
Các chính sách ATTT, các quy định về khai thác sử dụng các CTUD, các quy định về chữ ký số, chứng thư số điện tử, các quy định về quy trình phát triển, triển khai, hỗ trợ, vận hành các hệ thống CNTT, các quy định về quản lý – sử dụng thiết bị CNTT… là các tác nhân hỗ trợ quá trình ứng dụng CNTT Đặc biệt các chính sách ATTT luôn phải được đặt lên hàng đầu bởi mức độ an ninh thông tin ngày càng đòi hỏi cao hơn, các thủ đoạn trộm cắp thông tin ngày càng tinh vi, biến đổi khó lường, đe dọa đến sự an toàn của hoạt động hệ thống thông tin
Ban hành các chính sách giúp cho hoạt động ứng dụng CNTT an toàn, định hướng phát triển ứng dụng CNTT và làm cho hoạt động ứng dụng CNTT trở lên chặt chẽ, quy củ Các thể chế về hoạt động, tạo cơ sở pháp lý cho việc áp dụng, quản lý và vận hành hệ thống thông tin cần được xây dựng riêng cho mỗi
25
Trang 35ngành, mỗi đơn vị để phù hợp với đặc điểm của ngành, đơn vị Các quy chế, quy định là cơ sở để đưa hoạt động ứng dụng CNTT từng bước chuẩn hóa, công tác quản lý đối với ứng dụng CNTT cũng đi vào nền nếp
1.3.Ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của hệ thống kho bạc nhà nước
1.3.1.Hệ thống Kho bạc nhà nước
KBNN là cơ quan tài chính thực hiện việc quản lý ngân quỹ nhà nước, là một công cụ quản lý tài chính nhà nước sắc bén trong các khâu huy động tập trung và phân phối tiết kiệm, có hiệu quả các nguồn lực tài chính của Nhà nước
Kho bạc Nhà nước có tư cách pháp nhân, con dấu có hình Quốc huy, được
mở tài khoản tại Ngân hàng Nhà nước và các ngân hàng thương mại theo quy định của pháp luật
Chức năng của KBNN
KBNN là cơ quan trực thuộc Bộ Tài chính, thực hiện chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Tài chính với 4 nội dung chính sau :
Quản lý nhà nước về quỹ NSNN, các quỹ tài chính nhà nước;
Quản lý ngân quỹ nhà nước;
Tổng kế toán nhà nước;
Thực hiện việc huy động vốn cho NSNN và cho đầu tư phát triển thông qua hình thức phát hành trái phiếu Chính phủ theo quy định của pháp luật [18]
26
Trang 36Các KBNN được đặt tên theo địa bàn hành chính mà đơn vị mở trụ sở Cơ cấu tổ chức của các đơn vị KBNN được quy định thống nhất, khác nhau giữa KBNN TW, KBNN ở địa bàn tỉnh và KBNN tại địa bàn huyện
1.3.2.Nội dung ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của hệ thống Kho bạc nhà nước
Ngay từ những ngày đầu thành lập, công tác ứng dụng CNTT đã được KBNN quan tâm Có thể nói ứng dụng CNTT trong hệ thống KBNN đã có những bước phát triển từng bước vững chắc, từ phạm vi hẹp đến diện rộng, từ đơn giản đến phức tạp, đa dạng, đã xây dựng được một hệ thống các chương trình ứng dụng chạy trên các máy tính ở tất cả các đơn vị, từ KBNN TW đến KBNN tỉnh, thành phố và KBNN quận, huyện CNTT được ứng dụng vào các hoạt động của
hệ thống KBNN đã góp phần tích cực vào việc hiện đại hóa các nghiệp vụ, nâng cao chất lượng, hiệu quả trong hoạt động nội bộ của ngành, nâng cao chất lượng phục vụ các tổ chức và cá nhân; hỗ trợ đẩy mạnh cải cách hành chính và bảo đảm công khai, minh bạch; giúp KBNN hoàn thành các hoạt động ngày càng lớn của ngành, đáp ứng được những nhu cầu về quản lý điều hành NSNN theo xu hướng phát triển mới của đất nước và thế giới Nội dung ứng dụng CNTT trong hoạt động của Kho bạc luôn bám sát các hoạt động của chương trình quốc gia về ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước Cho đến 2015, nội dung ứng dụng CNTT tại KBNN được tập trung vào một số điểm sau :
1.3.2.1 Ứng dụng CNTT phục vụ hoạt động nghiệp vụ KBNN
Tập trung xây dựng và triển khai đầy đủ, toàn diện các ứng dụng phục vụ các chức năng nhiệm vụ của Kho bạc, trên cơ sở đó hình thành kho dữ liệu phục
vụ thống kê, phân tích nghiệp vụ
Xây dựng trục tích hợp giữa các ứng dụng nhằm hình thành nền tảng cho việc trao đổi thông tin, liên kết các quy trình nghiệp vụ của KBNN và giữa KBNN với các đơn vị liên quan
Phát triển hệ thống ứng dụng hiện đại phục vụ công tác thanh toán trong
hệ thống KBNN và giữa hệ thống KBNN với các tổ chức tài chính, ngân hàng
27
Trang 371.3.2.2.Ứng dụng CNTT hỗ trợ các hoạt động quản trị nội bộ
Ứng dụng CNTT cho tất cả các mảng hoạt động quản trị nội bộ KBNN: quản lý cán bộ, quản lý tài chính nội bộ, đầu tư XDCB nội ngành, mua sắm tài sản, giám sát từ xa các hoạt động KBNN Toàn bộ công tác quản lý điều hành nội
bộ thực hiện trên môi trường mạng
1.3.2.3.Ứng dụng phục vụ đơn vị có quan hệ với ngân sách, chủ đầu
tư, người nộp thuế
Nghiên cứu và triển khai các dịch vụ công điện tử, từ đó tạo ra các kênh giao dịch và kênh thông tin trực tuyến giữa KBNN với các tổ chức, cá nhân có quan hệ ngân sách với KBNN Các dịch vụ công điện tử mà KBNN cung cấp sẽ xuất phát từ chức năng nhiệm vụ của KBNN trong quá trình thực hiện các hoạt động nghiệp vụ
Các thông tin cung cấp và dịch vụ công được cung cấp cho các đối tượng thực hiện trên trang thông tin điện tử hoặc cổng thông tin điện tử của cơ quan nhà nước Phối hợp với ngân hàng thương mại cung cấp dịch vụ cho người nộp thuế thông qua các phương tiện giao dịch hiện đại: giao dịch qua Internet, giao dịch qua ATM
1.3.2.4 Phát triển hạ tầng kỹ thuật và CNTT
Hệ thống CNTT KBNN được xây dựng, chuyển đổi theo mô hình tập trung Thiết lập mạng cục bộ LAN của KBNN tỉnh và KBNN huyện đảm bảo chất lượng hạ tầng mạng cục bộ phục vụ cho các ứng dụng nghiệp vụ của KBNN tại KBNN địa phương
Thiết lập hệ thống Intranet KBNN theo hướng tập trung hóa các dịch vụ cốt lõi, đảm bảo thực hiện trao đổi thông tin quản lý, điều hành phục vụ cải cách hành chính, thiết lập nền tảng để tích hợp với các hệ thống ứng dụng của KBNN
Đảm bảo độ sẵn sàng và an toàn bảo mật của hệ thống
Trang bị bổ sung, thay thế hàng năm các thiết bị CNTT hết khấu hao để đảm bảo chất lượng hoạt động của hệ thống
28
Trang 381.3.2.5.Nguồn nhân lực cho ứng dụng CNTT
Đội ngũ cán bộ CNTT của KBNN được chuyên môn hóa theo vị trí công việc và thực hiện xây dựng, triển khai, quản trị, vận hành hệ thống CNTT theo quy trình
Đội ngũ cán bộ nghiệp vụ và điều hành có đầy đủ năng lực để khai thác,
sử dụng hệ thống ứng dụng CNTT hiện đại
1.3.2.6 Công tác xây dựng chính sách và hướng dẫn ứng dụng CNTT
Ban hành các văn bản liên quan mọi mặt hoạt động ứng dụng CNTT KBNN: các chính sách ATTT, các quy định về khai thác sử dụng các CTUD, các quy định về chữ ký số, chứng thư số điện tử ứng dụng trong hệ thống KBNN, các quy định về quy trình phát triển, triển khai, hỗ trợ, vận hành các hệ thống CNTT
1.3.3.Mục tiêu ứng dụng công nghệ thông tin của hệ thống Kho bạc nhà nước đến 2015
Cung cấp thông tin cho các cơ quan, đơn vị là khách hàng của KBNN và các đối tượng quan tâm đến hoạt động của KBNN thông qua cổng thông tin điện
tử Cung cấp các dịch vụ công điện tử trực tuyến cho các đơn vị sử dụng ngân sách, chủ đầu tư, người nộp thuế (doanh nghiệp, người dân) theo quyết định 1605/QĐ-TTg
Ứng dụng CNTT đầy đủ, toàn diện, hiệu quả, an toàn bảo mật trong các chức năng cơ bản của KBNN, từng bước hiện đại quản lý và điều hành nội bộ hệ thống KBNN
Xây dựng hạ tầng CNTT hiện đại Tối ưu hóa hạ tầng công nghệ đáp ứng linh hoạt, hiệu quả yêu cầu phát triển mở rộng
Hoàn thiện các quy định cho triển khai ứng dụng CNTT, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực
1.3.4.Mong muốn hiệu quả ứng dụng công nghệ thông tin trong hệ thống Kho bạc nhà nước
Theo quyết định 348/QĐ-KBNN ngày 08/5/2012 thì việc ứng dụng CNTT trong hoạt động KBNN phải mang lại một số hiệu quả sau :
29
Trang 39 Nâng cao năng lực hành chính công tiến tới Chính phủ điện tử : hình thành kênh giao tiếp với các đơn vị sử dụng ngân sách, chủ đầu tư, người nộp thuế ( doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế xã hội và công dân) theo mô hình Chính phủ điện tử thực hiện thủ tục cải cách hành chính
Cung cấp thông tin chính xác kịp thời phục vụ quản lý hoạt động
Các báo cáo quản trị được kết xuất nhanh chóng, các thông tin tổng hợp đáp ứng yêu cầu thường kỳ và tra cứu đột xuất của lãnh đạo KBNN, Vụ/Cục và ngành Tài chính
Các báo cáo của các cấp được tổng hợp định kỳ hàng quý, năm, qua đó báo cáo tổng hợp toàn ngành theo quy định sẽ được thực hiện rất nhanh chóng, chính xác, khách quan Sự thống nhất có quy hoạch việc tin học hóa công tác quản lý trên phạm vi rộng toàn ngành sẽ dần loại trừ các công đoạn trùng lặp bất hợp lý thể hiện sự tác động tích cực của CNTT đối với hoạt động nghiệp vụ
CSDL được sử dụng toàn ngành và có tính tức thời, không còn sự phân tán về dữ liệu, nhờ đó tăng tính chính xác, giảm mức độ dư thừa, tập trung, kịp thời
Trao đổi thông tin về Tài chính, thu chi ngân sách, quản lý ngân quỹ KBNN thuận lợi giữa các cấp dự toán
Đáp ứng yêu cầu của chiến lược hiện đại hóa công tác quản lý KBNN Đáp ứng nhu cầu thông suốt thông tin dữ liệu dạng điện tử giữa các cấp của hệ thống KBNN và một phần trong ngành Tài chính, hoàn thiện các quy trình quản lý của KBNN, qua đó nâng cao năng lực hoạt động của hệ thống KBNN, tạo đà quan trọng cho việc thực hiện chiến lược hiện đại hóa quản lý nghiệp vụ KBNN
Đảm bảo sử dụng hiệu quả các nguồn lực
Giảm bớt thời gian cho tính toán và xử lý thủ công để tập trung vào chức năng phân tích, xử lý nghiệp vụ, tham mưu cho lãnh đạo
Có thông tin đầy đủ cho các cấp lãnh đạo KBNN về tình hình sử dụng nguồn lực, kinh phí cũng như tài sản thiết bị trong toàn hệ thống KBNN
30
Trang 4031