1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tiểu luận cao học môn chính trị học phát triển TRÍ THỨC VIỆT NAM với sự PHÁT TRIỂN đất nước

36 525 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 36
Dung lượng 472,9 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1. Tính cấp thiết của đề tài. Trong mọi thời đại, trí thức luôn là nền tảng xã hội. Đội ngũ trí thức luôn là nòng cốt sáng tạo và truyền bá tri thức. Trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc, xây dựng và phát triển đất nước, trí thức luôn được coi là “rường cột của đất nước”, là “nguyên khí của quốc gia”… và thực tế đã có những đóng góp vô cùng to lớn, góp phần không nhỏ làm rạng danh non song, đất nước. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam, do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, trí trức Việt Nam luôn sát cánh cùng giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và nhân dân lao động cả nước đoàn kết, phấn đấu, cống hiến tài năng và trí tuệ, góp phần rất quan trọng vào thắng lợi chung của dân tộc. Ngày nay, cùng với sự phát triển như vũ bão của cách mạng khoa học, công nghệ hiện đại, các quốc gia ở những cấp độ khác nhau đang bước vào thời kỳ xây dựng, phát triển kinh tế trí thức và xã hội thông tin. Càng ngày giá trị của trí thức và vai trò của đội ngũ trí thức càng được đề cao như là nguồn lực quan trọng đặc biệt phát triển kinh tế xã hội, phản ánh sức mạnh của mỗi quốc gia trong cuộc chạy đua, cạnh tranh toàn cầu. Đại hội VII của Đảng ta cũng đã chỉ rõ “…Trong cách mạng dân tộc dân chủ, vai trò giới trí thức đã quan trọng trong xây dựng chủ nghĩa xã hội, vai trò giới trí thức càng quan trọng.Giai cấp công nhân nếu không có đội ngũ trí thức của mình nếu bản thân côngnông không được nâng cao kíến thức, không dần dần được trí thức hóa, thì không thể xây dựng được chủ nghĩa xã hội”. Xuất phát từ vị trí, vai trò quan trọng của đội ngũ trí thức đối với sự phát triển đất nước. Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi để đội ngũ trí thức không ngừng phát triển, cống hiến ngày càng nhiều cho công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Nhiều chủ chương, chính sách đã được Đảng và Nhà nước ban hành nhằm vận động, định hướng đội ngũ trí thức , phát huy tốt nhất tiềm năng, trí tuệ và năng lực sáng tạo của mình cùng toàn Đảng ,toàn dân thực hiên thắng lợi mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh”. Nghị quyết hội nghị trung ương 2 khóa VIII của Đảng đánh giá “Đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ có bước trưởng thành, được tập hợp, có thêm điều kiện để phát huy khả năng và cống hiến cho sự nghiệp chung.Đây là một yếu tố quan trọng cho sự phát triển của đất nước. Nhiều nhà trí thức được Đảng bồi dưỡng, rèn luyện trở thành những chuyên gia đứng đầu trong các lĩnh vực kinh tế xã hội và nhiều trí thức đã góp phần lớn vào sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước”. Tuy nhiên, sự phát triển về kinh tế xã hội của đất nước còn chậm, hạn chế và gặp nhiều khó khăn. Ngày nay, trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, trước xu thế hội nhập khu vực, hội nhập quốc tế đang diễn ra mạnh mẽ và sôi động, sự phát triển nhảy vọt của cách mạng khoa học và công nghệ trên thế giới, nhiều vấn đề mới, quan trọng đặt ra đòi hỏi trí thức Việt Nam phải nỗ lực phấn đấu vươn lên để có thể tiếp thu những thành tựu khoa học, công nghệ tiên tiến của thời đại, đưa đất nước từng bước tiến kịp các nước trong khu vực và trên thế giớ. Trước thực trạng của đội ngũ trí thức,thực trạng sự phát triển của đất nước và những yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa,hiên đại hóa đất nước, thì Trí thức với sự phát triển bền vững của đất nước là vấn đề cấp thiết cần tìm hiểu.

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài.

Trong mọi thời đại, trí thức luôn là nền tảng xã hội Đội ngũ trí thứcluôn là nòng cốt sáng tạo và truyền bá tri thức Trong sự nghiệp đấu tranhgiành độc lập dân tộc, xây dựng và phát triển đất nước, trí thức luôn được coi

là “rường cột của đất nước”, là “nguyên khí của quốc gia”… và thực tế đã cónhững đóng góp vô cùng to lớn, góp phần không nhỏ làm rạng danh non song,đất nước Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam, do Chủ tịch HồChí Minh sáng lập và rèn luyện, trí trức Việt Nam luôn sát cánh cùng giai cấpcông nhân, giai cấp nông dân và nhân dân lao động cả nước đoàn kết, phấnđấu, cống hiến tài năng và trí tuệ, góp phần rất quan trọng vào thắng lợi chungcủa dân tộc Ngày nay, cùng với sự phát triển như vũ bão của cách mạng khoahọc, công nghệ hiện đại, các quốc gia ở những cấp độ khác nhau đang bướcvào thời kỳ xây dựng, phát triển kinh tế trí thức và xã hội thông tin Càngngày giá trị của trí thức và vai trò của đội ngũ trí thức càng được đề cao như

là nguồn lực quan trọng đặc biệt phát triển kinh tế xã hội, phản ánh sức mạnhcủa mỗi quốc gia trong cuộc chạy đua, cạnh tranh toàn cầu Đại hội VII của

Đảng ta cũng đã chỉ rõ “…Trong cách mạng dân tộc dân chủ, vai trò giới trí

thức đã quan trọng trong xây dựng chủ nghĩa xã hội, vai trò giới trí thức càng quan trọng.Giai cấp công nhân nếu không có đội ngũ trí thức của mình nếu bản thân công-nông không được nâng cao kíến thức, không dần dần được trí thức hóa, thì không thể xây dựng được chủ nghĩa xã hội”.

Xuất phát từ vị trí, vai trò quan trọng của đội ngũ trí thức đối với sựphát triển đất nước Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm, tạo điều kiện thuậnlợi để đội ngũ trí thức không ngừng phát triển, cống hiến ngày càng nhiều chocông cuộc xây dựng và phát triển đất nước Nhiều chủ chương, chính sách đã

Trang 2

được Đảng và Nhà nước ban hành nhằm vận động, định hướng đội ngũ tríthức , phát huy tốt nhất tiềm năng, trí tuệ và năng lực sáng tạo của mình cùng

toàn Đảng ,toàn dân thực hiên thắng lợi mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã

hội công bằng, dân chủ văn minh” Nghị quyết hội nghị trung ương 2 khóa

VIII của Đảng đánh giá “Đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ có bước

trưởng thành, được tập hợp, có thêm điều kiện để phát huy khả năng và cống hiến cho sự nghiệp chung.Đây là một yếu tố quan trọng cho sự phát triển của đất nước Nhiều nhà trí thức được Đảng bồi dưỡng, rèn luyện trở thành những chuyên gia đứng đầu trong các lĩnh vực kinh tế- xã hội và nhiều trí thức đã góp phần lớn vào sự phát triển kinh tế- xã hội của đất nước”.

Tuy nhiên, sự phát triển về kinh tế- xã hội của đất nước còn chậm, hạnchế và gặp nhiều khó khăn Ngày nay, trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổquốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, trước xu thế hội nhập khu vực, hội nhậpquốc tế đang diễn ra mạnh mẽ và sôi động, sự phát triển nhảy vọt của cáchmạng khoa học và công nghệ trên thế giới, nhiều vấn đề mới, quan trọng đặt

ra đòi hỏi trí thức Việt Nam phải nỗ lực phấn đấu vươn lên để có thể tiếp thunhững thành tựu khoa học, công nghệ tiên tiến của thời đại, đưa đất nước từngbước tiến kịp các nước trong khu vực và trên thế giớ Trước thực trạng củađội ngũ trí thức,thực trạng sự phát triển của đất nước và những yêu cầu của sự

nghiệp công nghiệp hóa,hiên đại hóa đất nước, thì Trí thức với sự phát triển bền vững của đất nước là vấn đề cấp thiết cần tìm hiểu.

2 Tình hình ngiên cứu.

Phát triển đất nước hay để đất nước phát triển hơn là một vấn đề rấtlớn, vì đất nước có phát triển được hay không đều ảnh hưởng trực tiếp đến đờisống của toàn thể nhân dân trong quốc gia đó Và vai trò của đội ngũ trí thứccũng có giá trị rất lớn trên nhiều lingx vực, nên thu hút được sự quan tâm chú

ý của nhiều nhà nghiên cứu Trên cơ sở đó đã xuất hiện nhiều công trình bàiviết, sách báo bình luận và đánh giá về trí thức, vai trò của đội ngũ trí thức và

Trang 3

sự phát triển của đất nước Sau đây là một số công trình, bài viết, cuốn sách

đề cập xung quanh vấn đề này

- Đội ngũ trí thức có vai trò quan trọng trong quá trình hội nhập quốctế-PGS.TS.NGND Huỳnh Văn Hoàng, tháng 10-2009

- Trí thức có vị trí không thể thay thế trong sự nghiệp công nghiệp hóa,hiện đại hóa đất nước Cao Huy Thuần- 2006

- Cần có chính sách thu hút đội ngũ trí thức trẻ-Hiếu Nguyễn, tháng 2010

7 Đề án “Xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đổi mới công nghiệp

hóa, hiện đại hóa đất nước” của ban chấp hành trung ương Đảng.

Mặc dù các ví dụ trên có khác nhau về tên gọi và được các tác giảnghiên cứu với những cách tiếp cận khác nhau, nhiều mảng chủ đề khác nhaunhưng nhìn chung vẫn đề cập đến những nét cơ bản của trí thức và vai trò củatrí thức với sự phát triển đất nước nói chung

3.Giới hạn và phạm vi nghiên cứu

Trong hệ thống các tác phẩm viết về vấn đề phát triển bền vững thìcúng đã có nhiề tác phẩm, bài viết đề cập tới nguồn nhân lực trí thức cùng sựphát triển của đất nước Đây là một vấn đề tương đối lớn, với điều kiện, thờigian và tài liệu hạn hẹp nên trong phạm vi nghiên cứu của một tiểu luận, tácgiả chỉ đi sâu nghiên cứu về đặc điểm, vai trò của đội ngũ trí thức với sự pháttriển của đất nước, cùng với thực trạng phát triển của Việt Nam

4 Mục tiêu và nhiệm vụ.

Mục đích nghiên cứu của tác giả là tìm hiểu và làm rõ thực trạng pháttriển của đất nước cùng với vai trò của đội ngũ trí thức

Để đạt được mục đích trên, tiểu luận cần làm tốt những nhiệm vụ sau:

- Tình hình đội ngũ trí thức Việt Nam

Trang 4

- Vai trò của đội ngũ trí thức Việt Nam.

- Thực trạng sự phát triển của đất nước

5 Kết cấu tiểu luận.

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, tiểu luận

có kết cấu gồm 3 chương và 6 tiết:

Chương 1: Lý luận chung về vai trò của trí thức đối với sự phát triểnđất nước hiện nay

Chương 2: Đội ngũ trí thức Việt Nam và thực trạng sự phát triển nướcta

Chương 3: Những phương hướng và giải pháp nâng cao vai trò của độingũ trí thức đối với sự phát triển đất nước hiện nay

Trang 5

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ VAI TRÒ CỦA TRÍ THỨC ĐỐI

VỚI SỰ PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC.

1.1 MỘT SỐ NÉT CƠ BẢN VỀ ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC VIỆT NAM.

a Quan niệm về trí thức và đội ngũ trí thức.

Trong cuộc sống hàng ngày, ta thường gặp một cách hiểu đơn giản vàsai lệch trước khái niệm trí thức: cứ ai có tấm bằng cao đẳng hay đại học thìđều được coi là trí thức Nhưng cách hiểu đó đã tầm thường hóa khái niệm tríthức Chính vì thế cần phải hiểu đúng hơn khái niệm về trí thức Có hàng trămnhà khoa học đã nghiên cứu về trí thức Họ đi đến một cách hiểu như sau:

“trí” thuộc về hiểu biết,” “thức” thuộc về lương tri Trí thức là những ngườibiết mình, biết người, hiểu biết xã hội và phụng sự xã hội, gắn sự nghiệp củamình với sự phát triển xã hội, và do đó trí thức phải là người có đức độ Theocách hiểu như vậy thì một người thiếu đức độ, thiếu lương tri thì dù có bằngcấp cao tột bực và dù thông minh đến đâu chăng nữa cũng chỉ xứng đáng gọi

là “người đỗ đạt”, “người được học nhiều” chứ không phải là trí thức

Thuật ngữ trí thức có nguồn gốc từ tiếng Latinh: Intelligentia có nghĩa

là thông minh, có trí tuệ, hiểu biết Từ những năm nửa sau của thế kỷ XIX,khái niệm này trở nên thông dụng, người ta thường dùng chỉ những người cóhọc vấn cao, chuyên lao động phức tạp Ở các nước trên thế giới, thuật ngữ tríthức được dùng với hai hàm nghĩa: Tri thức (kiến thức) và đội ngũ trí thức.Tri thức gồm tri thức kinh nghiệm và tri thức khoa học; đội ngũ trí thứcthường được dùng để chỉ tầng lớp những người có tri thức, học vấn cao.Tuynhiên cho đến nay còn có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm tríthức.Điều này phụ thuộc vào lập trường, quan điểm, góc độ tiếp cận trong cácgiai đoạn lịch sử cụ thể

Trang 6

Từ điển bách khoa triết học tiếng nga (1983) định nghĩa: “Trí thức là

tầng lớp những người làm nghề lao động phức tạp và thường có học vấn cao tương ứng, có chức năng sáng tạo, phát triển và phố biến văn hóa”

Trong từ điển tiếng Nga (1991) lại ghi rằng: “Trí thức-đó là những người có học vấn và có kiến thức chuyên môn trong lĩnh vực khoa học, kỹ thuật, văn hóa và đang làm nghề lao động phức tạp”

Ở Việt Nam cho đến nay, một số từ điển cũng cung cấp những khái

niệm trí thức.Từ điển chủ nghĩa xã hội khao học xác định: Trí thức là “một

nhóm xã hội bao gồm những người chuyên làm những nghề lao động phức tạp và có học vấn chuyên môn cần thiết cho ngành lao động đó”.Từ điển triết

học định nghĩa trí thức là “tập đoàn xã hội gồm những người làm nghề lao

động phức tạp Giới trí thức bao gồm: kỹ sư, kỹ thuật viên, thầy thuốc, luật

sư, nghệ sĩ, thầy giáo, người làm công tác khoa học và một bộ phận lớn viên chức”.

Trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể, với cách tiếp cận khác nhau, mỗiquốc gia có khái niệm khác nhau về “trí thức”.Tuy nhiên dù tiếp cận ở góc độnào, các định nghĩa về trí thức cũng đề cập đến các dấu hiệu cơ bản là: laođộng trí tuệ, có chuyên môn sâu và có học vấn cao Trong đề án “Xây dựngđội ngũ trí thức trong thời kỳ đổi mới công nghiệp hóa, hiên đại hóa đấtnước” của ban chấp hành trung ương Đảng đã đưa ra ba dấu hiệu cơ bản về tríthức như sau:

+ Thứ nhất: Trí thức là người lao động trí óc, có hiểu biết sâu và rộng,

thông thường có trình độ đại học và tương đương trở lên, có năng lực sángtạo, có trình độ phát triển về trí tuệ, nhạy bén với cái mới và quan tâm đến đổimới để phát triển

+ Thứ hai: Trí thức có trình độ chuyên môn sâu, rộng trong lĩnh vực

nhất định, được hình thành qua đào tạo, bồi dưỡng và phát triển không ngừngbằng con đường tự đào tạo, lao động và hoạt động sáng tạo của mỗi cá nhân

Trang 7

+ Thứ ba: Trí thức có nhu cầu cao về đời sống tinh thần và hướng tới

các giá trị chân- thiện- mỹ, có lòng tự trọng, khát vọng tự do, dân chủ côngbằng

Trên cơ sở những quân điểm trên, có thể khái quát về khái niệm trí thứcnhư sau: Trí thức là một tầng lớp xã hội đặc biệt, có trình độ học vấn cao,trình độ chuyên môn sâu, có đạo đức, lao động trí tuệ- sáng tạo khoa học, phổbiến và nghiên cứu ứng dụng tri thức khao học trong hoạt động thực tiễn, gópphần quan trọng trong quá trình thúc đẩy phát triển mọi mặt của đời sống xãhội

Từ khái niệm trên, có thể quan niệm đội ngũ trí thức như sau: Đội ngũtrí thức là đội ngũ những người làm các nghề lao động phức tạp, đòi hỏi cóhọc vấn và chuyên môn sâu cho ngành lao động đó, giữ vai trò chủ đạo trongviệc sáng tạo tri thức, phổ biến giáo dục tri thức và ứng dụng tri thức khoahọc vào phát triển sản xuất và tiến bộ xã hội Đội ngũ trí thức là một tầng lớp

xã hội có quan hệ mật thiết đối với các giai cấp và tầng lớp xã hội khác

b Đặc điểm của đội ngũ trí thức Việt Nam.

Đội ngũ trí thức Việt nam dưới sự lãnh đạo của Đảng ở mỗi giai đoạnlịch sử khác nhau, tuy có khác nhau về trình độ, số lượng và chất lượng…Nhưng dù trong hoàn cảnh nào, họ cũng đều là lực lượng đại diện cho trí tuệcủa nhân dân và dân tộc.Đặc biệt trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa,hiện đại hóa gắn đất nước với phát triển kinh tế tri thức Đội ngũ trí thức nước

ta có những đặc điểm cơ bản sau:

-Đội ngũ trí thức Việt Nam gắn bó với sự nghiệp cách mạng của nhândân, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam: Trong những năm đầukhi Đảng ra đời, nhiều trí thức được lãnh đạo dưới chế độ cũ và ở nước ngoài,nghe theo tiếng gọi của Đảng, chủ tịch HỒ CHÍ MINH đã rời bỏ vinh hoa phúquý của chế độ thực dân tư bản, gia nhập vào đoàn quân cách mạng, chấpnhận gian khổ cùng với quân và dân ta suốt chín năm kháng chiến chống

Trang 8

Pháp và những năm tiếp đó như Tạ Quang Bửu, Trần Đại Nghĩa… Và từ lựclượng trí thức ban đầu của cách mạng nước ta, đội ngũ trí thức đã nhanhchóng đào tạo, bồi dưỡng được một đội ngũ trí thức mới đông đảo và trưởngthành trong phong trào cách mạng.

- Một đặc điểm nổi bật của trí thức Việt Nam là sự gắn bó chặt chẽ vớigiai cấp công nhân, nông dân và dân tộc.Đội ngũ trí thức Việt Nam xuất thân

từ giai cấp công nhân và giai cấp nông dân, có mối quan hệ máu thịt với haigiai cấp này, đồng thời gắn bó chặt chẽ với dân tộc Đúng như Hồ Chí Minh

nói: “Trí thức đáng trọng là trí thức hết lòng phục vụ cách mạng, phục vụ

nhân dân”.

- Là những người lao động trí óc có tính sáng tạo, sản phẩm lao độngcủa họ thường mạng đậm dấu ấn cá nhân.Lao động trí óc của trí thức thườngmang tính sáng tạo.Đó có thể là các sáng kiến cải tiến kỹ thuật, giúp tăngnăng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm, hoặc nó có thể là nhữngluận điểm, luận cứ, giải pháp để giúp Đảng, Nhà nước xây dựng đướng lối,chủ trương đúng đắn

- Là lực lượng lao động có mặt trong tất cả các lĩnh vực sản xuất vậtchất và tinh thần, ở mọi ngành mọi địa bàn lãnh thổ và gắn bó khăng khít vớicác giai cấp, tầng lớp khác nhau trong xã hội

1.2 VAI TRÒ CỦA TRÍ THỨC VỚI SỰ PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC.

Đánh giá vai trò của tri thức và đội ngũ trí thức, Trung ương nhận định:

“Trong mọi thời đại, tri thức luôn là nền tảng tiến bộ xã hội, đội ngũ trí thức

là lực lượng nòng cốt sáng tạo và truyền bá tri thức Ngày nay, cùng với sựphát triển nhanh chóng của cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, độingũ trí thức trở thành nguồn lực đặc biệt quan trọng, tạo nên sức mạnh củamỗi quốc gia trong chiến lược phát triển” Đối với sự phát triển của đất nướcthì đội ngũ trí trức có vai tro rất lớn điều đó được thể hiện ở những điểm sau:

Trang 9

- Đội ngũ trí thức là lực lượng có vai trò quan trọng , quyết định trong

sự nghiệp giáo dục và đào tạo nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡngnhân tài

Đội ngũ trí thức có vai trò và trách nhiệm lớn lao trong việc đẩy mạnhđổi mới sự nghiệp giáo dục- đào tạo nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nguồnnhân lực bồi dưỡng nhân tài, đào tạo ra những con người có năng lực cao vàphẩm chất đạo đức tốt đáp ứng cho những nhu cầu lao động hiện nay Đồngthời để có được một đội ngũ trí thức và nguồn nhân lực trí tuệ cao đáp ứngnhu cầu của sự nghiệp đổi đất nước, trước hết phải xây dựng được nền giáo

dục hướng vào mục tiêu: “Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng

nhân tài”.Thời đại ngày nay nếu thiếu nguồn tài nguyên trí tuệ sẽ không có sự

phát triển bền vững

- Đội ngũ trí thức là nguồn lực lao động trí tuệ cao, đóng góp khôngnhỏ vào quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Theo định hướng của đại hội X của Đảng, để đẩy mạnh công nghiệp

hóa, hiện đại hóa đất nước, nước ta cần phải “Tranh thủ các cơ hội thuận lợi

do bối cảnh quốc tế tạo ra và tiềm năng lợi thế của nước ta để rút ngắn quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa gắn với phát triển kinh tế tri thức Phải coi trọng kinh tế tri thức là yếu

tố quan trọng của nền kinh tế và công nghiệp hóa, hiện đại hóa Phát triển mạnh các ngành kinh tế và sản phẩm kinh tế có giá trị gia tăng cao dựa nhiều vào tri thức” Trước những đòi hỏi lớn lao đó, đội ngũ các nhà khoa học, công

nghệ phải đóng vai trò động lực, đi đầu trong việc nghiên cứu ứng dụng cáctiến bộ khoa học và công nghệ, tiếp nhận và chuyển giao công nghệ ở nhiềulĩnh vực khác nhau Trong quản lý sản xuất, họ là người thực hiện đổi mới cơchế quản lý, góp phần tổ chức lại và hướng dẫn các lực lượng lao động khácđưa tiến bộ khoa học vào sản xuất để nâng cao năng suất lao động và hiệu quảkinh tế

Trang 10

- Đội ngũ trí thức là lực lượng trực tiếp góp phần duy trì và phát triển

những truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu nền văn hóa, vănminh nhân loại

Để thực hiện nhiệm vụ trung tâm trên lĩnh vực văn hóa, người trí thứctrên mặt trận văn hóa phải thực sự là các chiến sĩ tiên phong qua các tác phẩmcủa mình, góp phần khẳng định những giá trị cao đẹp của người Việt Nam,của chế độ chủ nghĩa xã hội, của đất nước và dân tộc.Đồng thời tích cực phêphán những nhân tố văn hóa tiêu cực, cản trở con đường phát triển của đấtnước Là những người đại diện cho trí tuệ dân tộc, đội ngũ trí thức đã gópphần duy trì và phát triển những truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc

- Đội ngũ trí thức đã đóng góp tích cực vào xây dựng những luận cứkhoa học cho việc hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng vàNhà nước, góp phần làm sáng tỏ con đường phát triển của đất nước và giảiđáp những vấn đề mới phát sinh trong sự nghiệp đổi mới

- Bộ phận trí thức tham gia công tác lãnh đạo, quản lý đã phát huy tốtvai trò và khả năng, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của hệthống chính trị, nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, trình độ quản lý củaNhà nước

- Đội ngũ trí thức trong các lĩnh vực quốc phòng, an ninh là lực lượngnòng cốt xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng chính quy, tinh nhuệ, từngbước hiện đại Nhiều trí thức trẻ thể hiện tính năng động, sáng tạo, thích ứngnhanh với kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế Đa số trí thức ViệtNam ở nước ngoài luôn hướng về Tổ quốc

Thực tế sự đóng góp của đội ngũ trí thức Việt Nam được thể hiện ở một

số điểm như:

- Thế giới đang trải qua cuộc khủng hoảng lương thực với gần một tỷ

người thiếu đói Trong hoàn cảnh như thế, Việt Nam vẫn giữ vững nhịp độ

Trang 11

tăng trưởng nông nghiệp cả về năng suất, sản lượng, bảo đảm an ninh lươngthực trong nước và đẩy mạnh xuất khẩu gạo để góp phần giúp đỡ bạn bè trênthế giới Có được điều đó là nhờ chính sách đầu tư, phát triển nông nghiệpđúng đắn của Đảng và Chính phủ, đồng thời có lao động quên mình của nôngdân cả nước, có đóng góp lớn lao của các nhà khoa học trong ngành nôngnghiệp Đất nước ghi nhận công lao của nhiều nhà nông học trong đó có cácnhà khoa học nữ đã cùng tập thể khoa học lai tạo giống lúa mới có năng suấtcao, chất lượng gạo ngon, có khả năng chịu hạn, chịu rét và kháng sâu bệnh.

Đó là trách nhiệm cao của trí thức đối với đất nước Đương nhiên vẫn cònnhiều vấn đề trong nông nghiệp cần đến vai trò và trách nhiệm của các nhàkhoa học như cơ giới hoá trong nông nghiệp để người nông dân đỡ vất vả,phòng chống dịch bệnh cho gia súc, gia cầm, vấn đề lựa chọn cơ cấu câytrồng, con vật nuôi, vấn đề thất thoát sau thu hoạch

- Khủng hoảng kinh tế thế giới từ đầu năm 2008 và hiện nay cơn bão

khủng hoảng tài chính, tiền tệ đang hoành hành ở các nước kinh tế phát triển.Đảng và Chính phủ đã có những kết luận, quyết sách kịp thời với 8 nhóm giảipháp nhằm chống lạm phát, tăng giá, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh

xã hội Các nhà khoa học kinh tế, các chuyên gia kinh tế đã góp phần vàonhững quyết sách đó Tình hình kinh tế thế giới và đất nước ta hiện nay cũngđòi hỏi cao hơn nữa trách nhiệm, tài năng, trí tuệ, năng lực dự báo của các nhàkinh tế để tham mưu cho Đảng, Nhà nước có những chính sách, giải pháp cóhiệu quả

Vai trò của đội ngũ trí thức đối với việc phát triển đất nước là rất lớn

Và để đất nước ngày càng phát triển thực sự là cuộc cách mạng, là yêu cầu tấtyếu, đòi hỏi Đảng phải tập hợp và phát huy mọi nguồn lực, trong đó nguồnlực trí thức có vai trò đặc biệt quan trọng nhất là trong bối cảnh khoa học-công nghệ đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp như hiện nay

Trang 12

CHƯƠNG 2: ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC VIỆT NAM VÀ THỰC TRẠNG SỰ

PHÁT TRIỂN NƯỚC TA.

2.1 TÌNH HÌNH ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC VIỆT NAM.

Từ sau cách mạng tháng tám, ở nước ta đã hình thành một đội ngũ tríthức có đặc trưng nổi bật là xuất thân từ các giai cấp, các tầng lớp xã hội, nhất

là từ công nhân và nông dân Họ có lòng yêu nước nồng nàn, lòng tự hào dântộc, gắn bó với nhân dân lao động, gắn bó với sự nghiệp cách mạng do Đảnglãnh đạo , có ý chí vươn lên nỗ lực nâng cao trình độ chuyên môn và hoànthiện nhân cách, ngày càng đáp ứng tốt hơn những đòi hỏi mới của sự nghiệpphát triển đất nước.Họ là những người đóng vai trò then chốt, là đầu tàu củanguồn nhân lực, nguồn lực sản xuất trực tiếp, là động lực thúc đẩy sự pháttriển xã hội nhanh và bền vững Đội ngũ trí thức hiện nay ngày càng pháttriển mạnh mẽ:

Đội ngũ cán bộ khoa học này có mặt trên tất cả các lĩnh vực chính trị,kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng , an ninh…Đây là một tín hiệu đángmừng về sự trưởng thành về số lượng của đội ngũ trí thức có trình độ cao ởnước ta Tuy vậy, số cán bộ khoa học đầu ngành có trình độ cao còn rất ít.Đăc biệt, nước ta đang thiếu những cán bộ khoa học giỏi về kinh tế, quản lý,tài chính , ngân hàng… Thiếu nhiều cán bộ am hiểu công nghệ cao, nhất làtrong lĩnh vực công nghệ điện tử, tin học… Lực lượng trí thức có trình độ cao

Trang 13

trong các ngành khoa học xã hội và nhân văn, nhất là đội ngũ lý luận còn rấtmỏng Nhìn chung, so với yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội và đảm bảo quốcphòng an ninh của đất nước trước những thách thức của thế kỷ XXI đội ngũtrí thức nước ta còn nhiều bất cập.

- Về cơ cấu đội ngũ trí thức.

+ Về trình độ và độ tuổi

Theo điều tra dân số, năm 2006 dân số Việt Nam là 84, 2 triệu ngườitrong đó có 2, 443 triệu người có trình độ từ cao đẳng trở lên, trong số này có

1217 giáo sư, số lượng phó giáo sư hiện có là 5975 người Năm 2007, số giáo

sư và phó giáo sư đều tăng, cả nước có 1271 giáo sư và 6240 phó giáo sư Sốgiáo sư trong độ tuổi lao động đang làm việc trong các cơ quan, doanhnghiệp, trường học, viện nghiên cứu chiếm 42, 4% so với tổng số giáo suđược công nhận Số phó giáo sư trong độ tuổi lao động đang làm việc trongcác cơ quan nói trên chiếm 45, 82% tổng số phó giáo sư được công nhận.Điều này phản ánh tình trạng cán bộ khoa học có trình độ cao ở Việt Nam vẫntrong tình trạng bị lão hóa Tỉ lệ giáo sư, phó giáo sư đang làm việc trongtrường học là 68, 9%; ở các viện nghiên cứu khoa học là 25, 9%, còn lại 5,2% ở các cơ quan khác Độ tuổi bình quân của cán bộ có trình độ đại học là40,9 tuổi , thạc sĩ là 42,6 tuổi và tiến sĩ là 52,5 tuổi Số cán bộ khoa học dưới

25 tuổi chiếm 9,06 % trong khi cán bộ khoa học trên 55 tuổi là 13,55 % Đếnnăm 2006, độ tuổi trung bình của tiến sĩ là 52,9 tuổi, tiến sĩ khoa học là 57,15tuổi Điều này phản ánh tình trạng lão hóa ở đội ngũ trí thức có trình độ caođòi hỏi phải có chính sách quy hoạch, đào tạo thích hợp để khai thác, phát huyđược năng lực của đội ngũ trí thức ở độ tuổi có hiệu quả cao nhất

+ Về giới tính:

Đội ngũ trí thức nam giới thường chiếm tỷ lệ cao hơn nữ giới trongnhiều ngành khoa học, đặc biệt là khoa học công nghệ Ở trình độ tiến sĩ namgiới chiếm tỷ lệ 85, 03%, tiến sĩ khoa học chiếm tỷ lệ 95,42% - chiếm tỷ lệ rất

Trang 14

cao so với nữ giới Tuy nhiên, tỷ lệ nữ đạt mức độ cao ở trình độ cao đẳnggần 58%, tỉ lệ nữ giới ở trình độ đại học chiếm 33,23%, thạc sĩ 29,28% Sựchênh lệch tỷ lệ trí thức về giới tính như trên phản ánh tàn dư của tư tưởngphong kiến, Nho giáo đã hạn chế cơ hội học tập, vươn lên của phụ nữ nước tatrong những năm trước đây.Bên cạnh đó còn có nguyên nhân về thiên chứclàm vợ, làm mẹ của trí thức nữ ở nước ta cũng ảnh hưởng không nhỏ đến quátrình học tập ở những bậc sau đại học của phụ nữ.

+ Về thành phần dân tộc.

Đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu số còn chiếm tỉ lệ quá nhỏ trongtổng số người có trình độ cao đẳng, đại học chung trong cả nước Theo số liệuđiều tra năm 1999 cho thấy có khoảng 41000 cán bộ khoa học công nghệ làngười thuộc các dân tộc thiểu số, đội ngũ cán bộ khoa học này chủ yếu tậptrung ở một số dân tộc có trình độ dân trí tương đối cao như Tày, Nùng…Hiện nay vẫn còn khoảng chín dân tộc chưa có người đạt trình độ cao đẳnghoặc đại học, bốn mươi dân tộc chưa có cán bộ sau đại học

- Mặt mạnh, mặt yếu của đội ngũ trí thức.

Qua khảo sát của tổng cục thống kê năm 2002, đánh giá thực tế tìnhhình đội ngũ trí thức nước ta có trình độ từ tiến sĩ trở lên vẫn còn nhiều vấn đềphải bàn cả số lượng, chất lượng và cơ cấu, giới tính, tuổi đời, trình độ ngoạingữ…Đến việc phân bổ và sử dụng đội ngũ trí thức, chức vụ đảm nhiệm, theovùng địa lý, thành phần kinh tế xã hội, tính chất phù hợp của công việc, sự bấthợp lý về đào tạo nguồn nhân lực khoa học và công nghệ có trình độ cao, điều

đó phản ánh những mặt mạnh và yếu của đội ngũ trí thức nước ta

+ Mặt mạnh của đội ngũ trí thức nước ta được thể hiện chủ yếu ở các điểm sau:

Đội ngũ trí thức nước ta đều xuất thân từ nhân dân lao động, có lòngyêu nước nồng nàn, có phẩm chất chính trị vững vàng và năng lực chuyên

Trang 15

môn khá tốt, tiềm ẩn nhiều khả năng sáng tạo, có thể thích ứng nhanh với sựphát triển của khoa học công nghệ và cả sự biến động của hoàn cảnh kinh tế-

xã hội Thực tế cho thấy rằng, trong bất kỳ hoàn cảnh nào, nếu có sự lãnh đạo,chỉ đạo sát sao và quan tâm của Đảng, Chính phủ cùng với sự quyết tâm vàsáng tạo của đội ngũ trí thức vươn lên làm chủ tri thức, thì bất kỳ nhiêm vụkhó khăn, phức tạp đến đâu đội ngũ này cũng có thế thực hiện được Điều đó

đã được kiểm chứng qua hai cuộc kháng chiến cứu nước, trong suốt thời gianthực hiện công cuộc đổi mới đội ngũ trí thức đã làm được nhiều việc thần kỳkhiến cho kẻ địch bất ngờ trước sự sáng tạo của đội ngũ trí thức Việt Nam

Đội ngũ trí thức khoa học tự nhiên có những thành tựu trong nghiêncứu, điều tra tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và môi trường và góp phần tạoluận cứ cho việc xây dựng chiến lược và quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội,tạo cơ sở cho quá trình tiếp thu và làm chủ công nghệ hiện đại trên thế giới.Đội ngũ trí thức trong lĩnh vực khao học xã hội đã góp phần bổ sung, lý giải

và làm rõ thêm những quan điểm của Đảng về con đương đi lên chủ nghĩa xãhội ở Việt Nam Nhiều kết luận khoa học đã được làm cơ sở xây dựng cácnghị quyết, hoạch định các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước,góp phần vào các thành công của công cuộc đổi mới

Những trí thức Việt Nam luôn tin tưởng vào sự nghiệp đổi mới củaĐảng Trong đó, trước hết là các chuyên gia và các cán bộ quản lý khao học

đã thể hiện khả năng sáng tạo và có những đóng góp to lớn của mình cho sựthắng lợi nhiều mặt của công cụôc đổi mới Hơn nữa đội ngũ trí thức nước tacòn có tiềm năng trí tuệ to lớn, thông minh và ham hiểu biết, rất nhạy bén vớicái mới, có khả năng nhanh chóng tiếp cận trình độ tiên tiến của khao học,công nghệ và văn hóa thế giới

Thực tiễn cho thấy rằng nhiều thành tựu khao học và công nghệ mới đãđược ứng dụng, góp phần rất quan trọng vào công cuộc nâng cao năng suất,chất lượng và hiệu quả trong các ngành sản xuất nông nghiệp, y tế giao thông

Trang 16

vận tải, hàng tiêu dùng… Xây dựng và củng cố quốc phòng an ninh Nhữngđóng góp trên của trí thức thông qua lao động sáng tạo khoa học chính là biểuhiện rõ nhất trong thực tế liên minh của trí thức với nhân dân lao động, màtrước hết là với giai cấp công nhân và nông dân Đồng thời lao động sáng tạokhoa học của trí thức ngày càng được phát huy, được đánh giá cao có tácdụng cổ vũ, động viên đội ngũ trí thức tiếp tục tìm tòi, sáng tác đóng góp chocông cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Bên cạnh những thành tựu, những điểm thể hiện sự lớn mạnh của độingũ trí thức Việt Nam, thì đội ngũ trí thức nước ta vẫn còn một số yếu kém,điều này được thể hiện ở một số điểm sau

+ Mặt yếu của đội ngũ trí thức nước ta hiện nay.

Đứng trước xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế, yêu cầu đẩy nhanh sựphát triển để rút ngắn khoảng cách tụt hậu giữa nước ta so với các nước tiêntiến từng bước xây dựng nền kinh tế tri thức ở nước ta, thì nguồn nhân lựchiện có của nước ta còn nhiều bất cập, cũng bộc lộ một số mặt yếu kém cầnkhắc phục Trong đội ngũ trí thức, ở chỗ này hay chỗ khác, có những biểuhiện khó đoàn kết, khó hợp tác với đồng nghiệp Đội ngũ trí thức nước tachưa có nhiều cơ hội và điều kiện tiếp cận với những thành tựu mới của cácnước phát triển nên thiếu kiến thức sâu ở nhiều lĩnh vực khoa học và côngnghệ hiện đại Một số trí thức còn thiếu hiểu biết thực tiễn, do đó cách nhìnnhận còn phiến diện.Bên cạnh đó còn có những trí thức chưa thực sự năngđộng trong cơ chế kinh tế mới, vẫn ỷ lại vào nhà nước và tập thể.Trong lĩnhvực văn hóa, văn nghệ có một số người, tuy không nhiều đã có khuynh hướng

“thương mại hóa”, truyền bá lối sống thực dụng xa đọa Trước những biến

động của tình hình phức tạp, những khó khăn gay gắt về kinh tế-xã hội, cónhững trí thức đã tỏ ra hoang mang dao động, giảm sút niềm tin vào Đảng,vào chủ nghĩa xã hội.Một số khác lại mơ hồ về chính trị, phủ nhận thành tựucách mạng, bác bỏ chủ nghĩa Mac- Lênin, có những biểu hiên tự do vô chính

Trang 17

phủ, dân chủ cực đoan Khi chuyển sang cơ chế kinh tế mới hiện nay, ở một

số trí thức có sự rỗng hụt về kiến thức và năng lực thực hành Trình độ ngoạingữ còn yếu, khó đáp ứng yêu cầu mở rộng giao lưu và hợp tác quốc tế

Số lượng và chất lượng chưa đáp ứng được yêu cầu của sự phát triểnđất nước Cơ cấu đội ngũ trí thức có những mặt bất hợp lý về ngành nghề, độtuổi, giới tính Trí thức tinh hoa và hiền tài còn ít, chuyên gia đầu ngành cònthiếu nghiêm trọng, đội ngũ kế cận hẫng hụt; chưa có nhiều tập thể khoa họcmạnh, có uy tín ở khu vực và quốc tế Nhìn chung, hoạt động nghiên cứukhoa học chưa xuất phát và gắn bó mật thiết với thực tiễn sản xuất, kinhdoanh và đời sống

Trong khoa học tự nhiên và công nghệ, số công trình được công bố ởcác tạp chí có uy tín trên thế giới, số sáng chế được đăng ký quốc tế còn quá

ít Trong khoa học xã hội và nhân văn, nghiên cứu lý luận còn thiếu khả năng

dự báo và định hướng, chưa giải đáp được nhiều vấn đề do thực tế đổi mới đặt

ra, chưa có những công trình sáng tạo lớn, nhiều công trình còn sơ lược, saochép Trong văn hoá, văn nghệ còn ít tác phẩm có giá trị xứng tầm với nhữngthành tựu vẻ vang của đất nước, sự sáng tạo và hy sinh lớn lao của nhân dântrong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; lý luận, phê bình văn học, nghệthuật còn nhiều hạn chế

Trình độ của trí thức ở nhiều cơ quan nghiên cứu, trường đại học tụthậu so với yêu cầu phát triển đất nước và so với một số nước tiên tiến trongkhu vực, nhất là về năng lực sáng tạo, khả năng thực hành và ứng dụng, khảnăng giao tiếp bằng ngoại ngữ và sử dụng công nghệ tin học

Một bộ phận trí thức, kể cả người có trình độ học vấn cao, còn thiếu tựtin, e ngại, sợ bị quy kết về quan điểm, né tránh những vấn đề có liên quanđến chính trị Một số giảm sút đạo đức nghề nghiệp, thiếu ý thức trách nhiệm

và lòng tự trọng, có biểu hiện chạy theo bằng cấp, thiếu trung thực và tinhthần hợp tác Một số trí thức không thường xuyên học hỏi, tìm tòi, trau dồi

Trang 18

chuyên môn nghiệp vụ, thiếu chí khí và hoài bão Nhiều trí thức trẻ có tâmtrạng thiếu phấn khởi, chạy theo lợi ích trước mắt, thiếu ý chí phấn đấu vươnlên về chuyên môn.

2.2 THỰC TRẠNG SỰ PHÁT TRIỂN Ở NƯỚC TA HIỆN NAY.

Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân đạt gần 7,3%/năm, thuộc nhómnước có tốc độ tăng trưởng cao trong khu vực GDP bình quân đầu người năm

2010 đạt khoảng 1.200 USD, vượt qua ngưỡng nước đang phát triển có thunhập thấp.Cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch tích cực theo hướng công nghiệphóa, hiện đại hóa Kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, các cân đối lớn của nền kinh

tế được giữ vững, thâm hụt ngân sách và nợ quốc gia được kiểm soát tronggiới hạn an toàn

Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện tốt hơn Thunhập thực tế bình quân đầu người 10 năm qua tăng khoảng 2,3 lần Công cuộcxóa đói giảm nghèo đạt nhiều thành tựu nổi bật, được quốc tế đánh giá cao.Chênh lệch thu nhập giữa thành thị và nông thôn giảm từ 2,3 lần năm 1999xuống còn 2 lần năm 2008 Trẻ em được quan tâm bảo vệ, chăm sóc; tỷ lệ trẻdưới 5 tuổi suy dinh dưỡng giảm từ 33,8% xuống còn dưới 18% Tuổi thọbình quân tăng từ 67 lên 72 tuổi Cả nước đã hoàn thành phổ cập giáo dụctrung học cơ sở Chỉ số phát triển con người (HDI) không ngừng tăng lên,năm 2008 là 0,733, thuộc nhóm nước trung bình cao trên thế giới Mức hưởngthụ văn hoá, điều kiện tiếp cận thông tin của người dân được nâng lên rõ rệt

Hệ thống phúc lợi và an sinh xã hội được coi trọng và từng bước mở rộng.Cùng với những kết quả to lớn trong việc xã hội hoá phát triển các lĩnh vực xãhội, ngân sách nhà nước chi cho các lĩnh vực này không ngừng tăng lên; bảohiểm y tế được mở rộng từ 13,4% dân số năm 2000 lên khoảng 62% năm

2010

Ngày đăng: 30/08/2016, 00:48

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Thẩm Vinh Hoa – Ngô Quốc Diệu: Tôn trọng trí thức, tôn trọng nhân tài, kế sách trăm năm trấn hưng đất nước, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tôn trọng trí thức, tôn trọng nhân tài, kế sách trăm năm trấn hưng đất nước
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
2. Đảng Cộng Sản Việt Nam: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
3. Đặng Hữu: Phát triển kinh tế tri thức, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển kinh tế tri thức
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
4. Thực trạng đội ngũ cán bộ có trình độ tiến sĩ và tiến sĩ khoa học ở Việt Nam, Nxb. Thống kê, Hà nội, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng đội ngũ cán bộ có trình độ tiến sĩ và tiến sĩ khoa học ở Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Thống kê
5. Đặng Hữu: Kinh tế tri thức, thời cơ và thách thức đối với sự phát triển của Việt Nam, Nxb, Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế tri thức, thời cơ và thách thức đối với sự phát triển của Việt Nam
6. Nguyễn Đắc Hưng – Phan Xuân Dũng: Nhân tài trong chiến lược phát triển quốc gia, Nxb, Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhân tài trong chiến lược phát triển quốc gia
7. Nguyễn Đắc Hưng: Tri thức Việt Nam trước yêu cầu phát triển đất nước, Nxb, Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tri thức Việt Nam trước yêu cầu phát triển đất nước
8. Bộ kế hoạch và đầu tư: Chiến lược phát triển nguồn nhân lực Việt Nam đến năm 2020, Hà Nội, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược phát triển nguồn nhân lực Việt Nam đến năm 2020
9. Nguyễn Đắ Hưng: Phát triển nhân tài chấn hưng đất nước, Nxb, Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển nhân tài chấn hưng đất nước
10. Nguyễn Đắ Hưng: Trí thức Việt Nam tiến cùng thời đại, Nxb, Chính trị quốc gia, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trí thức Việt Nam tiến cùng thời đại

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w