MỤC LỤC LỜI CAM KẾT i LỜI CẢM ƠN ii DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT iii DANH MỤC BIỂU ĐỒ VÀ BẢNG iv MỤC LỤC vii PHẦN MỞ ĐẦU 1 1. Tính cấp thiết của đề tài. 1 2. Mục tiêu nghiên cứu. 4 3. Câu hỏi nghiên cứu. 4 4. Giả thuyết nghiên cứu. 5 5. Đối tượng và khách thể nghiên cứu. 5 6. Phạm vi nghiên cứu. 5 7. Phương pháp nghiên cứu. 6 8. Mẫu nghiên cứu và cách thức triển khai nghiên cứu. 7 9. Lý thuyết áp dụng. 7 10. Kết cấu. 10 NỘI DUNG 11 CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 11 1. Cơ sở lý luận. 11 1.1. Khái niệm đồng tính. 11 1.2. Quan niệm về đồng tính giả. 11 1.3. Đồng tính nam. 12 1.4. Ảnh hưởng của các nhân tố tâm lý – xã hội đến sự hòa nhập cộng đồng của người đồng tính nam. 13 1.5. Công khai. 13 2. Cơ sở thực tiễn. 14 CHƯƠNG II: ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC NHÂN TỐ TÂM LÝ – XÃ HỘI ĐẾN SỰ HÒA NHẬP CỘNG ĐỒNG CỦA NGƯỜI ĐỒNG TÍNH NAM 23 2.1. Ảnh hưởng của bản thân đến sự hòa nhập cộng đồng của người đồng tính nam. 23 2.2. Ảnh hưởng của gia đình đến sự hòa nhập cộng đồng của người đồng tính nam. 48 2.3. Ảnh hưởng của bạn bè đến sự hòa nhập cộng đồng của người đồng tính nam. 64 2.4. Tác động của các chính sách pháp luật đến sự hòa nhập cộng đồng của người đồng tính nam. 78 CHƯƠNG III: KẾT LUẬN, KHUYẾN NGHỊ 91 3.1. Kết luận. 92 3.2. Khuyến nghị. 93 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 95 PHỤ LỤC 95
Trang 1LỜI CAM KẾT
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi, các số liệu, kếtquả nêu trong khóa luận là trung thực và xuất phát từ tình hình thực tế của địabàn tôi nghiên cứu
Ngoài ra, những tài liệu, sách, báo tham khảo tôi có trích dẫn nguồn vàtác giả cụ thể, rõ ràng
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước nhà trường về sự cam đoan này
Tác giả khóa luậnPhạm Thị Dung
Trang 2LỜI CẢM ƠN
“Trên thực tế không có sự thành công nào mà không gắn liền với những sự hỗ trợ, giúp đỡ dù ít hay nhiều, dù trực tiếp hay gián tiếp của người khác”.
Để hoàn thành khóa luận này, em xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Thầy ThS Nguyễn Trung Hải, đã tận tình hướng dẫn trong suốt quá trình viết Khóa luận tốt nghiệp Sự chỉ bảo sát sao, tận tình, tâm huyết của thầy là động lực giúp em hoàn thành khóa luận này.
Em chân thành cảm ơn quý Thầy, Cô trong khoa Công tác xã hội, Trường Đại Học Lao Động – Xã Hội đã tận tình truyền đạt kiến thức trong những năm em học tập tại trường Với vốn kiến thức được tiếp thu trong quá trình học không chỉ là nền tảng cho quá trình nghiên cứu khóa luận mà còn là hành trang quí báu để em bước vào đời một cách vững chắc và tự tin.
Em chân thành cảm ơn các anh/chị cán bộ của Viện nghiên cứu xã hội – kinh tế và môi trường (iSEE) đã tận tình giúp đỡ em về tài liệu, về kết nối với nhóm LGBT tại địa bàn nghiên cứu trong quá trình làm khóa luận.
Cuối cùng em kính chúc quý Thầy, Cô dồi dào sức khỏe và thành công trong sự nghiệp cao quý Đồng kính chúc các anh/chị cán bộ của Viện nghiên cứu xã hội – kinh tế và môi trường (iSEE) luôn dồi dào sức khỏe, đạt được nhiều thành công tốt đẹp trong công việc.
Bài khóa luận này tuy đã hoàn thành nhưng còn rất nhiều hạn chế về thời gian, về năng lực chuyên môn của người nghiên cứu nên khó tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong nhận được ý kiến đóng góp của quý thầy cô để bài khóa luận hoàn thiện hơn.
Trang 3Em xin trân trọng cảm ơn!
Trang 4DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
1 iSEE Viện nghiên cứu xã hội – kinh tế và môi trường
2 LGBT Les: đồng tính nữ; Gay: đồng tính nam; Bisexual:
song tính; Transgender: người chuyển giới
3 PFLAG Hội cha mẹ và bạn bè của người đồng tính
4 SPSS Phần mềm chuyên xử lý số liệu và điều tra xã hội
học
5 WPA Hiệp Hội Tâm Thần Học Thế Giới
6 WHO Tổ chức Y tế thế giới
Trang 5DANH MỤC BIỂU ĐỒ VÀ BẢNG
DANH MỤC BIỂU ĐỒBiểu đồ 2.1.1 Nghề nghiệp của người đồng tính nam tham gia khảo sát 24Biểu đồ 2.1.2 Nhóm tuổi của người đồng tính nam tham gia khảo sát 25Biểu đồ 2.1.3 Số anh/chị/em trong gia đình người đồng tính nam tham giakhảo sát 26Biểu đồ 2.1.4 Thứ tự của người đồng tính nam trong số các con của gia đìnhtham gia khảo sát 27Biểu đồ 2.1.5 Tuổi nhận ra giới tính thật của người đồng tính nam tham giakhảo sát 28Biểu đồ 2.1.6 Nhận thức của người đồng tính nam về việc sống với giới tínhthật của họ 29
DANH MỤC BẢNGBảng 2.1.1 Mối quan hệ giữa cảm xúc khi nhận ra giới tính thật với sống vớigiới tính thật của người đồng tính nam 34Bảng 2.1.2 Mối quan hệ giữa ý muốn thay đổi giới tính thật - quyết địnhsống với giới tính thật của người đồng tính nam 36Bảng 2.1.3 Mối quan hệ giữa ý định tự tử - quyết định sống với giới tính thậtcủa người đồng tính nam 38Bảng 2.1.4 Mối quan hệ giữa cảm xúc trước cách ứng xử của mọi người xungquanh – quyết định sống với giới tính thật của người đồng tính nam 40Bảng 2.1.5 Mối quan hệ giữa người đầu tiên chia sẻ giới tính thật – quyếtđịnh sống với giới tính thật của người đồng tính nam 41Bảng 2.1.6 Mối quan hệ giữa công khai giới tính thật– quyết định sống vớigiới tính thật của người đồng tính nam 44
Trang 6Bảng 2.1.7 Mối quan hệ giữa thể hiện tình cảm với người yêu/bạn đời – quyếtđịnh sống với giới tính thật của người đồng tính nam 48Bảng 2.2.1 Mối quan hệ giữa cách ứng xử của gia đình khi chưa biết giới tínhthật – quyết định sống với giới tính thật của người đồng tính nam 50Bảng 2.2.2 Mối quan hệ giữa cách ứng xử của gia đình được sử dụng thườngxuyên/ không thường xuyên với người đồng tính nam – quyết định sống vớigiới tính thật 51Bảng 2.2.3 Mối quan hệ giữa cách ứng xử của gia đình đến cảm xúc củangười đồng tính nam – quyết định sống với giới tính thật 53Bảng 2.2.4 Mối quan hệ giữa cách ứng xử của gia đình đến dự định công khai giớitính – quyết định sống với giới tính thật của người đồng tính nam 55Bảng 2.2.5 Mối quan hệ giữa cách ứng xử của gia đình khi biết giới tính thậtcủa người đồng tính nam – quyết định sống với giới tính thật 57Bảng 2.2.6 Mối quan hệ giữa ý định của người đồng tính nam trước cách ứng
xử của gia đình – quyết định sống với giới tính thật 60Bảng 2.2.7 Mối quan hệ giữa số lượng thành viên gia đình ủng hộ - quyếtđịnh sống với giới tính thật của người đồng tính nam 62Bảng 2.3.1 Mối quan hệ giữa cách ứng xử của bạn bè khi chưa biết giới tínhthật – quyết định sống với giới tính thật của người đồng tính nam 64Bảng 2.3.2 Mối quan hệ giữa cách ứng xử của bạn bè được áp dụng thườngxuyên/không thường xuyên đối với người đồng tính nam – quyết định sốngvới giới tính thật 65Bảng 2.3.3 Mối quan hệ giữa cách ứng xử của bạn bè đến cảm xúc của ngườiđồng tính nam – quyết định sống với giới tính thật 67Bảng 2.3.4 Mối quan hệ giữa cách ứng xử của bạn bè đến dự định công khai giớitính – quyết định sống với giới tính thật của người đồng tính nam 69
Trang 7Bảng 2.3.5 Mối quan hệ giữa cách ứng xử của bạn bè khi biết giới tính thậtcủa người đồng tính nam – quyết định sống với giới tính thật 71Bảng 2.3.6 Mối quan hệ giữa ý định của người đồng tính nam trước cách ứng
xử của bạn bè – quyết định sống với giới tính thật 75Bảng 2.3.7 Mối quan hệ giữa số lượng thành viên bạn bè ủng hộ - quyết địnhsống với giới tính thật của người đồng tính nam 76Bảng 2.4.1 Mối quan hệ giữa mức độ quan tâm đến các quy định của phápluật – quyết định sống với giới tính thật của người đồng tính nam 80Bảng 2.4.2 Mối quan hệ giữa tác động của các quy định pháp luật về ngườiđồng tính đến suy nghĩ của người đồng tính nam – quyết định sống với giớitính thật 82Bảng 2.4.3 Mối quan hệ giữa cảm xúc của người đồng tính nam khi pháp luậtchưa thừa nhận giới tính thứ ba – quyết định sống với giới tính thật 84Bảng 2.4.4 Mối quan hệ giữa ảnh hưởng của các quy định pháp luật tới dựđịnh hôn nhân của người đồng tính nam – quyết định sống với giới tính thật 86Bảng 2.4.5 Mối quan hệ giữa ảnh hưởng của các quy định pháp luật tới dựđịnh công khai giới tính thật của người đồng tính nam – quyết định sống vớigiới tính thật 88Bảng 2.4.6 Mối quan hệ giữa ảnh hưởng của các chính sách pháp luật tới ýđịnh của người đồng tính nam – quyết định sống với giới tính thật 90
Trang 8MỤC LỤC
LỜI CAM KẾT i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT iii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ VÀ BẢNG iv
MỤC LỤC vii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 4
3 Câu hỏi nghiên cứu 4
4 Giả thuyết nghiên cứu 5
5 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 5
6 Phạm vi nghiên cứu 5
7 Phương pháp nghiên cứu 6
8 Mẫu nghiên cứu và cách thức triển khai nghiên cứu 7
9 Lý thuyết áp dụng 7
10 Kết cấu 10
NỘI DUNG 11
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 11
1 Cơ sở lý luận 11
1.1 Khái niệm đồng tính 11
1.2 Quan niệm về đồng tính giả 11
Trang 91.3 Đồng tính nam 12
1.4 Ảnh hưởng của các nhân tố tâm lý – xã hội đến sự hòa nhập cộng đồng của người đồng tính nam 13
1.5 Công khai 13
2 Cơ sở thực tiễn 14
CHƯƠNG II: ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC NHÂN TỐ TÂM LÝ – XÃ HỘI ĐẾN SỰ HÒA NHẬP CỘNG ĐỒNG CỦA NGƯỜI ĐỒNG TÍNH NAM.23 2.1 Ảnh hưởng của bản thân đến sự hòa nhập cộng đồng của người đồng tính nam 23
2.2 Ảnh hưởng của gia đình đến sự hòa nhập cộng đồng của người đồng tính nam 48
2.3 Ảnh hưởng của bạn bè đến sự hòa nhập cộng đồng của người đồng tính nam 64
2.4 Tác động của các chính sách pháp luật đến sự hòa nhập cộng đồng của người đồng tính nam 78
CHƯƠNG III: KẾT LUẬN, KHUYẾN NGHỊ 91
3.1 Kết luận 92
3.2 Khuyến nghị 93
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 95
PHỤ LỤC 95
Trang 10PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài.
Đồng tính là vấn đề rất mới, nó có thể tồn tại từ xa xưa và nó bị áp đảonhưng hiện nay yếu tố này có cơ hội được bộc lộ như quyền sống của conngười mà đặt ra những vấn đề xã hội mà chúng ta phải xử lý Tuy nhiên thực
tế cho thấy, xã hội còn đang gay gắt với hiện tượng này Nhiều ý kiến chorằng đồng tính là trái với tự nhiên, trái với thuần phong mỹ tục, trái với luânthường đạo lý, với lẽ đời, nó là điều bất thường cần phải loại bỏ
Là một xu hướng tình dục bình thường, nhưng chỉ mấy năm trở lại đây,tình dục đồng giới mới được nhắc đến nhiều ở Việt Nam Nhưng thật đángbuồn là nhiều người đã chỉ nhìn thấy sự khác thường, dị biệt trong đó màkhông biết rằng xu hướng tình dục khác thường mà họ đang miệt thị ấy lạichẳng khác gì xu hướng tình dục của những người bình thường
Xã hội nào cũng muốn hướng tới sự bình đẳng, ca ngợi và tôn vinh sự
đa dạng, nhưng không ai muốn thừa nhận xã hội mình, hay chính mình, vẫntồn tại sự phân biệt đối xử và định kiến về một nhóm nào đó Chúng ta tìm rahàng trăm lý do để biện minh cho quan điểm của mình, với mục đích cuốicùng là để chứng minh sự phân biệt đối xử của mình ở một hoàn cảnh cụ thể,
là chính đáng và chấp nhận được (ISEE; 2/2016)
“Tôi không phản đối LGBT, nhưng…”
“Tôi có rất nhiều bạn bè là LGBT, nhưng…”
Sự phân biệt đối xử nguy hiểm ở chỗ, nó không chỉ biến một nhómthiểu số thành nạn nhân, mà nó biến cả xã hội thành thủ phạm, khi người taphân tách nhóm, tạo ra đặc quyền của đa số và đong đếm phẩm giá từng người
Trang 11dựa trên việc người đó khác biệt so với số đông như thế nào, và bình thườnghóa, biến nó thành sự hiển nhiên, tiêu chuẩn (ISEE; 2/2016).
Jim Butcher có nói: “Khi mọi thứ dường như trở nên tồi tệ, chỉ có một vài người luôn đứng bên bạn mà không hề do dự - đó chính là gia đình”.
Thế nhưng, có vẻ điều đó không hoàn toàn đúng Với nhiều nguyênnhân khác nhau, người đồng tính nam nói riêng và cộng đồng người đồng tính,song tính và chuyển giới (viết tắt là LGBT) nói chung không chỉ gặp phải rấtnhiều sự kì thị, phân biệt đối xử ngoài xã hội, mà còn gặp khó khăn trongchính nơi gọi là "tổ ấm" của mình Đặc biệt hơn, những khó khăn đó lại đến từcác bậc sinh thành, từ người làm cha, làm mẹ
Gia đình Ép buộc thay đổi ngoại hình, cử chỉ (62.9%) và la mắng, gây
áp lực (60.2%) là các hành vi phổ biến nhất mà người LGBT gặp phải tronggia đình của mình Các hành vi bạo lực như bị nhốt, cầm giữ, ép buộc hay gợi
ý rời khỏi gia đình, bị đánh đập chiếm khoảng 13-14% tổng số người tham giakhảo sát Các hành vi phân biệt đối xử chủ yếu hướng tới việc ngăn thông tin
về thành viên gia đình là LGBT bị tiết lộ ra ngoài, cố gắng thay đổi xu hướngtính dục và bản dạng giới của người LGBT bằng các biện pháp y học, tâm linhhay lối sinh hoạt, và ngăn cản các mối quan hệ tình cảm của họ Một phầnnăm người LGBT bị ép buộc đi bác sĩ, một phần tư bị ép kết hôn với người họkhông mong muốn (ISEE; 2/2016)
Bên cạnh gia đình, thì bạn bè là một trong những mối quan hệ mà phầnlớn người dưới 18 tuổi dành nhiều thời gian nhất để phát triển bản thân, hìnhthành nhân cách và thiết lập các mối quan hệ Vốn dĩ bạn bè là mối quan hệcần hơn cả sự đề cao tính đa dạng và bao dung, nhưng các phát hiện đã chỉ ramột thực tế chưa hẳn như vậy Hơn một nửa người đồng tính nam từng bị bạn
Trang 12bè bắt nạt, và gần một phần tư bị giáo viên, cán bộ nhà trường quấy rầy, bắtnạt bởi vì họ được coi là LGBT Đáng chú ý, gần một phần ba cho biết họ bịđối xử không công bằng vì có quan điểm ủng hộ LGBT (ISEE,2016).
Ngoài gia đình và bạn bè thì môi trường pháp luật cũng có những tácđộng nhất định đến sự hòa nhập cộng đồng của người LGBT
Thực hiện quyền, nghĩa vụ với nhà nước Hành vi phân biệt đối xử phổbiến nhất mà người LGBT gặp phải là bị từ chối, làm khó, cười cợt hay xúcphạm bằng lời nói, hành động khi tụ tập, tổ chức sinh hoạt hội nhóm, khi làmthủ tục yêu cầu xuất trình giấy tờ thể hiện tên, giới tính Các tình huống có thểxuất phát từ việc các quy định pháp luật thiếu nhạy cảm với LGBT, hoặc cácquy định pháp luật không có chủ đích tạo ra phân biệt đối xử, nhưng người giữchức trách lại là nguyên nhân chính dẫn tới những khó khăn, cản trở trongviệc thực thi các quyền, nghĩa vụ của người LGBT (ISEE; 2/2016)
Trong hồi ký “Đường dài đến tự do” (1970) của mình, nhà lãnh đạohuyền thoại của Nam Phi, Nelson Mandela đã viết:
“Con người ta cần phải học cách ghét Nếu họ có thể học cách ghét, họ
sẽ được dạy cách yêu, vì tình yêu đến với trái tim con người tự nhiên hơn là
sự ghét bỏ”.
Chúng ta có thể thấy, từ khi sinh ra không ai có quyền được lựa chọnhay quyết định số phận, giới tính và hoàn cảnh sống cho bản thân cũng nhưlàm con không ai có quyền lựa chọn cha mẹ Cho dù chúng ta có là ai thì cũng
là tác phẩm của tạo hóa nên tất cả mọi thứ đều là tự nhiên và những gì thuộc
về tự nhiên thì không thể thay đổi được Người đồng tính cũng như bao người,cũng mang trong mình những cấu tạo và quy trình phát triển của một cá thể
Họ cũng mong muốn được thể hiện mình, cũng như những cảm xúc riêng,những nhu cầu được yêu thương, được sống thật và đặc biệt là việc xã hội
Trang 13chấp nhận có ý nghĩa rất quan trọng đối với người đồng tính, chính sự chấpnhận đó để họ cảm nhận được tình cảm chân thành từ những người thân quen
và hơn nữa là cộng đồng Đó sẽ là động lực làm cho cuộc sống của ngườiđồng tính trở nên ý nghĩa hơn, là động lực để họ phấn đấu, cống hiến nhiềuhơn cho xã hội Tuy nhiên, sự gay gắt của xã hội đang là rào cản lớn cho việcsống thật của người đồng tính
Từ bối cảnh chung đó, sinh viên thực hiện đề tài nhằm tìm hiểu: “Ảnh hưởng của các nhân tố tâm lý - xã hội đến sự hòa nhập cộng đồng của người đồng tính nam” Qua đó, đề tài hy vọng góp một phần nhỏ trong nỗ
lực giảm thiểu sự kỳ thị của cộng đồng đối với người đồng tính nam và gópmột phần vào nghiên cứu lý luận về người đồng tính
Trong phạm vi thực hiện đề tài, tôi không có điều kiện nghiên cứu tất cảcộng đồng người đồng tính (LGBT- lesbian (người đồng tính nữ), gay (ngườiđồng tính nam), bisexual (song tính luyến ái), transgender (người chuyểngiới)) trên toàn địa bàn thành phố Hà Nội Vì vậy, tôi lựa chọn nghiên cứu vềnhóm người đồng tính nam tại khu phố Hàng Bài, Quận Hoàn Kiếm, thànhphố Hà nội để thực hiện đề tài này
2 Mục tiêu nghiên cứu.
Nhận diện và đo lường ảnh hưởng của các nhân tố tâm lý - xã hội đến
sự hòa nhập cộng đồng của người đồng tính nam
3 Câu hỏi nghiên cứu.
Thái độ của gia đình, bạn bè và các quy định của pháp luật ảnh hưởngnhư thế nào đến sự hòa nhập cộng đồng của người đồng tính na
Trang 144 Giả thuyết nghiên cứu.
Những biểu hiện, cử chỉ, hành vi tích cực/tiêu cực của người đồng tínhnam chịu tác động từ chính bản thân họ cũng như thái độ của gia đình, bạn bè
và xã hội
Người đồng tính nam sống cởi mở hơn, tự tin và thoải mái hơn phụthuộc vào các chính sách của pháp luật
5 Đối tượng và khách thể nghiên cứu.
- Đối tượng nghiên cứu: Ảnh hưởng của các nhân tố tâm lý - xã hộiđến sự hòa nhập cộng đồng của người đồng tính nam
- Khách thể nghiên cứu: người đồng tính nam, bạn bè, gia đìnhngười đồng tính nam tại khu phố Hàng Bài – quận Hoàn Kiếm –thành phố Hà Nội
Trang 15+ Thời gian khảo sát bảng hỏi: 17/4 – 20/4/2016.
+ Thời gian phỏng vấn sâu: 20/4 – 24/4/2016
- Phạm vi thời gian hòa nhập cộng đồng của người đồng tính nam:
từ 6 tháng trở lên
7 Phương pháp nghiên cứu.
- Phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp: Người nghiên cứu
chọn, nghiên cứu một số sách, báo, bài viết nói về LGBT nóichung và người đồng tính nam nói riêng, nhấn mạnh về ảnhhưởng của các nhân tố tâm lý – xã hội (bản thân người đồng tínhnam, gia đình, bạn bè và pháp luật) đến người đồng tính nam, cónguồn trích dẫn và nội dung xác thực Nghiên cứu các đề tài khoahọc, các bài khóa luận, tiểu luận của các tác giả khác có liên quan
đến đề tài đang thực hiện
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: phát phiếu hỏi cho nhóm
người đồng tính nam tại khu phố Hàng Bài, quận Hoàn Kiếm,Thành phố Hà Nội
- Xử lý số liệu: Toàn bộ dữ liệu thu được từ bảng hỏi được mã hóa
và xử lý bằng phần mềm SPSS (phần mềm chuyên xử lý số liệuđiều tra xã hội học)
- Phỏng vấn sâu: Các thông tin từ phỏng vấn sâu cũng được chọn
lựa và được đọc kỹ lưỡng để bổ sung cho các thông tin điều trađịnh lượng Tiến hành phỏng vấn sâu người đồng tính nam, bạn
bè, gia đình người đồng tính nam
Để thực hiện được phương pháp này, tôi đã tìm đến gia đình người đồngtính nam (được sự cho phép của họ); hẹn gặp tại các quán nước yên tĩnh; traođổi qua các phương tiện thông tin đại chúng (zalo, facebook, điện thoại) Dưới
sự giúp đỡ của nhóm LGBT tại địa bàn nghiên cứu, tôi nhanh chóng nhận
Trang 16được sự chấp thuận chia sẻ thông tin của người đồng tính nam, gia đình và bạn
bè của họ
- Phương pháp quan sát: Người nghiên cứu sử dụng phương
pháp này trong việc đánh giá ảnh hưởng của các nhân tố tâm lý –
xã hội (bản thân người đồng tính nam, bạn bè, gia đình, phápluật) đến người đồng tính nam
+ Ảnh hưởng tích cực/ tiêu cực đến dự định công khai gới tính
của người đồng tính nam
+ Ảnh hưởng tích cực/ tiêu cực đến dự định hôn nhân của ngườiđồng tính nam
Để thực hiện tốt phương pháp này, tại các buổi phỏng vấn sâu tôi chămchú theo dõi họ chia sẻ, từ ánh mắt, nụ cười đến thái độ của người đồng tínhnam, gia đình, bạn bè của họ Từ đó tôi tiến hành đánh giá sự ảnh hưởng củacác nhân tố trên tới sự hòa nhập cộng đồng của người đồng tính nam
8 Mẫu nghiên cứu và cách thức triển khai nghiên cứu.
- Mẫu nghiên cứu:
+ Định lượng: Toàn bộ người đồng tính nam sinh hoạt tại khuphố Hàng Bài (93 người): Dựa trên sự giúp đỡ của nhóm LGBTtrên địa bàn
+ Định tính: 10 phiếu phỏng vấn sâu: 4 người đồng tính nam, 3người thân trong gia đình, 3 bạn bè của người đồng tính nam
9 Lý thuyết áp dụng.
* Mô hình Nhận diện của Cass.
Mô hình Nhận diện của Cass là một trong những lý thuyết nền tảng vềquá trình nhận diện bản thân của người đồng tính nam và nữ, do VivienneCass đưa ra vào năm 1979 Mô hình này mang tính tiên phong còn bởi vì nóđược xây dựng dựa trên cái nhìn bình đẳng về các xu hướng tính dục và có
Trang 17xem xét đến các yếu tố kỳ thị đồng tính (trong bối cảnh xã hội còn xem đồngtính là không bình thường và còn kỳ thị người đồng tính) Cass mô tả một quátrình gồm 6 giai đoạn khi một người đồng tính nam, nữ nhận diện mình làđồng tính và hòa nhập với xã hội xung quanh.
Mặc dù các giai đoạn được trình bày theo dạng tiếp nối nhau, trên thực
tế mỗi người không nhất thiết phải đi qua hết từng giai đoạn, cũng như cóngười bỏ qua, quay ngược hoặc ở một giai đoạn nhiều lần trong đời
GIAI ĐOẠN BỐI RỐI: Bạn tự hỏi mình có phải là người đồng tính
không, thường sẽ cảm thấy lúng túng, khó chấp nhận bản thân
• Nhận ra những suy nghĩ/hành vi của mình hướng tới ngườicùng giới
• Ngẫm nghĩ lại về những suy nghĩ/hành vi của mình
• Bắt đầu tìm kiếm thông tin, kiến thức về đồng tính
GIAI ĐOẠN SO SÁNH: Bạn chấp nhận khả năng có thể mình là người
đồng tính, quan niệm tích cực về việc mình khác biệt, hay thể hiện qua vẻ bềngoài
• Chấp nhận mình có hành vi đồng tính, nhưng không thích gọimình là đồng tính
• Chấp nhận gọi mình là đồng tính, nhưng hạn chế có hành viđồng tính (Ví dụ: vẫn quen với người khác giới, có mối quan
hệ đồng tính không chính thức.)
GIAI ĐOẠN CHẤP NHẬN: Bạn chấp nhận việc mình là người đồng
tính, nhận ra những nhu cầu tình cảm, giao tiếp xã hội
• Tìm kiếm và gặp gỡ những người đồng tính khác thông quacác nhóm bạn, hay ở nơi công cộng như quán café, bar, v.v
Trang 18• Bắt đầu có ý thức về một cộng đồng người đồng tính; có thểcảm thấy tiêu cực vì không đáp ứng được những mong đợi của
xã hội
GIAI ĐOẠN THỪA NHẬN: Bạn thừa nhận bản thân là người đồng
tính và kết nối nhiều hơn với cộng đồng đồng tính, ít tiếp xúc dần với nhữngngười dị tính
• Thấy giận dữ hơn với những thái độ chống đối đồng tính trong
xã hội
• Giải quyết được hầu hết những khúc mắc về tính dục của bảnthân
GIAI ĐOẠN TỰ HÀO: Bạn tham gia nhiều với cộng đồng đồng tính,
ít tiếp xúc với những người dị tính, nhìn thế giới chỉ có “đồng tính” với
“không đồng tính”
• Bất bình và phản kháng trước những bất công
• Công khai với gia đình, đồng nghiệp
GIAI ĐOẠN HÒA NHẬP: Bạn xem chuyện đồng tính là một khía
cạnh trong nhiều khía cạnh khác của bản thân
Nhìn nhận bản thân: Đây là khoảng thời gian khởi đầu –
khi người đồng tính nam bắt đầu đặt những câu hỏi cho mình, tiến dần
Trang 19đến bước công nhận bản thân và cân nhắc xem có nên nói cho nhữngngười quanh mình biết hay không
Công khai: Đây là khoảng thời gian người đồng tính nam
lần đầu tiên trò chuyện, chia sẻ với mọi người về xu hướng tính dục haybản dạng giới của mình Những người đó có thể là gia đình, bạn bè,đồng nghiệp, bạn học,
Sống cởi mở: Đây là khoảng thời gian từ sau những lần trò
chuyện, chia sẻ đầu tiên của người đồng tính nam với mọi người Với cảnhững người thân và người mới quen, người đồng tính nam chủ độnghơn trong việc tâm sự về cuộc sống đời thường của một người LGBT,tùy theo nơi chốn và thời điểm mà họ chọn
10 Kết cấu.
Chương I: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn
Chương II: Ảnh hưởng của các nhân tố tâm lý – xã hội đến sự hòa nhậpcộng đồng của người đồng tính nam
Chương III: Kết luận, khuyến nghị
Trang 20mô hình bền vững của sự hấp dẫn tình cảm, tình yêu hoặc hấp dẫn tình dục một cách chủ yếu/ duy nhất đối với những người cùng giới tính Người đồng tính nam thường gọi là “ gay”, và người đồng tính nữ thường được gọi là “ les/lesbian””
Theo đề tài nghiên cứu:
Đồng tính là sự hấp dẫn về mặt tâm lý, tình cảm, thể xác giữa những người có cùng giới tính với nhau trong một hoàn cảnh nào đó hoặc trong một thời gian dài Đó là việc những người có bề ngoài của giới tính này nhưng lại
có những sở thích, hành động, tâm tư tình cảm của giới tính kia Từ đó trong
họ xuất hiện sự hấp dẫn về mặt tâm lý, tình cảm, thể xác đối với những người
có cùng giới tính và đó cũng là sự hấp dẫn một cách chủ yếu và duy nhất đối với những người có cùng giới tính với họ.
1.2 Quan niệm về đồng tính giả.
Theo Bác sĩ Trần Bồng Sơn, nhà giới tính học nổi tiếng nhất tại ViệtNam, có hai loại người đồng tính: thật và giả Những người đồng tính thật là
những đồng tính bẩm sinh, và số người này rất hiếm Theo ông, “những người
Trang 21đồng tính “giả” là bị bạn bè rủ rê hoặc muốn thủ nghiệm các lối sống mới, nhưng cuối cùng sẽ trở về lối sống trước đó” (Don Colby, Cao Hữu Nghĩa và Serge Doussantousse; 45-54,2004).
Theo tiến sĩ, bác sĩ Trần Tuấn - giám đốc trung tâm Nghiên cứu Đào tạo
và phát triển cộng đồng: "Hiện tượng đồng giới giả do a dua, đua đòi, mangtính tập nhiễm hay bị ảnh hưởng… là có thực Khi trẻ không có hình ảnhngười cha, người mẹ, người thầy, người anh tốt dễ lấy thần tượng ca sĩ, diễnviên làm mẫu học theo Gia đình cần quan tâm đến đời sống tình cảm của các
em, giúp các em thoát khỏi các nguy cơ lạm dụng tình dục, bị lôi kéo vào quan
hệ đồng giới Nếu không được can thiệp kịp thời, rất có thể các em sẽ rơi vàotình trạng đồng tính hoặc lưỡng giới sau này"… (Lạc Thành - Lê Tuấn;2012)
Theo đề tài nghiên cứu:
“Đồng tính giả là một thuật ngữ chỉ lối sống của một bộ phận giới trẻ hiện nay, bị bạn bè rủ rê lôi kéo hoặc muốn thử cảm giác mới lạ nhưng cuối cùng vẫn trở về lối sống trước đó”.
1.3 Đồng tính nam.
Từ điển Bách Khoa Việt Nam, tập 1, 2005 có viết:
“Đồng tính nam là những người đàn ông có xu hướng thôi thúc về tình cảm và tình dục với những người đàn ông khác”.
Theo đề tài nghiên cứu:
“Đồng tính nam là sự hấp dẫn về mặt tâm lý, tình cảm, thể xác giữa những người có cùng giới tính nam trong một hoàn cảnh nhất định hoặc trong một thời gian dài”.
Trang 221.4 Ảnh hưởng của các nhân tố tâm lý – xã hội đến sự hòa nhập
cộng đồng của người đồng tính nam.
Ảnh hưởng là khi một người suy nghĩ hoặc hành động được thay đổi
bởi của người khác Ảnh hưởng có thể là cả tốt và xấu
Tâm lý là tất cả các hiện tượng tinh thần xảy ra trong đầu óc con người,
nó gắn liền và điều hành mọi hành vi, hoạt động của con người
Xã hội là một tập thể hay một nhóm những người được phân biệt với
các nhóm người khác bằng các lợi ích, mối quan hệ đặc trưng, chia sẻ cùngmột thể chế và có cùng văn hóa
Hòa nhập cộng đồng là cùng hòa mình vào một cộng đồng để sống
chung, để chia sẻ, học hỏi và cùng phát triển
=> Ảnh hưởng của các nhân tố tâm lý – xã hội đến sự hòa nhập cộngđồng của người đồng tính nam là sự tác động từ bản thân, gia đình, bạn bè vàpháp luật đến người đồng tính nam, những tác động đó có thể là tích cực hoặctiêu cực Tuy nhiên, dù là tác động tích cực hay tiêu cực thì nó cũng ảnhhưởng trực tiếp đến quyết định công khai giới tính thật và sống với giới tínhthật của người đồng tính nam
lộ diện, bộc lộ (ISEE)
Trang 232 Cơ sở thực tiễn.
2.1 Tổng quan về hiện tượng đồng tính nam trên thế giới và ở
Việt nam.
2.1.1 Trên thế giới.
Theo các nghiên cứu khoa học, hiện tượng đồng tính nam đã xuất hiện
từ lâu trên thế giới cùng với sự phát triển của con người
Người đồng tính nam có từ 5000 năm trước Các nhà khảo cổ học tại
Cộng hòa Czech đã phát hiện một bộ hài cốt có niên đại 5.000 năm là thi thểngười đàn ông nhưng lại được an táng theo nghi thức thường được áp dụngcho phụ nữ thời kỳ đồ đá Giáo sư Kamila Vesinova, người dẫn đầu nhómkhai quật, tin rằng người thượng cổ này là một người đồng tính (QuỳnhMy;2013)
Phát hiện bức vẽ đồng tính nam trên đá 2.500 tuổi Đây được cho là
hình ảnh khiêu dâm đồng tính nam khắc trên đá có niên đại lớn nhất tính đếnthời điểm này Ngoài ra, các nhà khảo cổ còn phát hiện bên cạnh những bức
vẽ lớn là dòng chữ ghi chú “ướt át” được tìm thấy tại đảo Aegean ( Hy Lạp) Dòng chữ được các nhà khảo cổ phát hiện có nội dung: “Nikasitimos đã làm tình ở đây với Timiona” Nó được tìm thấy bên cạnh những nét vẽ trên đá
khổng lồ miêu tả hai người đàn ông đang gắn chặt vào nhau (Daily Mail vàThe Guardian;2014)
Đám cưới đồng tính nam có từ thời Trung cổ Đó là khẳng định của
nhà sử học Allan Tulchin thuộc trường ĐH Shippensburg, bang Pennsylvania,
Mỹ Những bằng chứng lịch sử mà ông tìm thấy rất nhiều trên bia mộ và giấy
tờ pháp lý tiết lộ rằng: đám cưới của đồng tính nam vốn đã rất phổ biến tạichâu Âu từ hơn 600 năm trước (Hải Minh;2007)
Trang 24Tại Châu Á.
Nhật Bản
Đồng tính nam ở Nhật Bản, được biết đến dưới dạng chúng đạo haynam sắc (những từ bị ảnh hưởng từ văn chương Trung Hoa), được ghi nhận từhơn một ngàn năm và từng là một phần trong đời sống Phật giáo và truyềnthống samurai Tình yêu đồng giới được miêu tả qua hội họa và văn chương,thể hiện qua những tư liệu lịch sử và tranh ảnh (Anne Walthall, 2000)
Những hành vi đồng tính được miêu tả nhiều trong văn chương thờiNhật Bản cổ xưa cũng giống như Trung Hoa cổ xưa Mặc dù đến khoảng IV,
Nhật Bản mới thống nhất, những ghi chép bắt đầu từ Cổ sự ký (Kojiki, 古事
記) được biên soạn vào VII Trong khi những tài liệu Trung Hoa từ thế kỷ VIT.C.N có nội dung đồng tính, những tài liệu tương tự ở Nhật Bản bắt đầu xuấthiện vào khoảng thế kỷ X Tiểu thuyết Truyện kể Genji được viết đầu thế kỷ
XI mô tả những người đàn ông hay bị quyến rũ bởi những thanh niên đẹp (HảiHiền; 2015)
Nhiều quyển nhật ký thời đại Heian có nói về hành vi đồng tính Vàitrong số đó là mối quan hệ đồng tính của các hoàng đế và những nam thiếuniên đẹp được dùng cho mục đích “tình dục” (Gaspar Vilela, 1951)
Trong quân đội, những samurai trẻ được học hỏi từ những samurai lớntuổi và có kinh nghiệm Samurai trẻ sẽ là người yêu của ông ta trong nhiềunăm Việc này gọi là chúng đạo (Tsuneo Watanabe & Jun'ichi Iwata;2013)
Hiện nay, theo một cuộc khảo sát gần đây, 7.6% dân số của Nhật tựnhận mình là người LGBT (Đồng tính, song tính & chuyển giới), tăng 2.4% sovới năm 2012 Cuộc khảo sát được thực hiện bởi công ty quảng cáo Denstuvới sự tham gia của 69.989 người từ 20-59 tuổi Theo đó, cứ mỗi 13 người dânNhật là có một người thuộc cộng đồng LGBT, chiếm khoảng 7.6% dân số và
Trang 25tương đương với 9.76 triệu người Tỷ lệ này đã tăng mạnh kể từ năm 2012 –5.2% Đại diện của Dentsu cho biết phương thức khảo sát của họ đã thay đổicho nên khó có thể so sánh trực tiếp kết quả từ hai năm 2012 và 2015 Tuynhiên, họ thừa nhận là ngày càng có nhiều người LGBT can đảm công khaisống thật với chính mình trong bối cảnh xã hội đã dần cởi mở hơn (MinhChánh;2014).
Trung Quốc
Quan hệ đồng tính được ghi nhận từ năm 600 TCN xuất hiện ở thờiThương Chu, thời Xuân Thu Chiến Quốc cũng như đời Hán về sau; các mốiquan hệ thường diễn ra giữa những người có tuổi tác và địa vị khác nhau, đặcbiệt là mối quan hệ tình cảm của nhiều hoàng đế
Thời Xuân Thu Chiến Quốc, vua Vệ Linh Công (trị vì 534 TCN - 493TCN) đã từng say mê và sủng ái Di Tử Hà – một thanh niên thông minh, khôingô, tuấn tú Vị hoàng đế anh minh và hiếu thuận Hán Văn Đế (202 TCN –
157 TCN) người khai sáng nền chính trị Văn Cảnh, một trong những thời kỳthịnh trị của triều hán rất yêu qúy Đặng Thông – một người chèo thuyền Hán
Ai Đế (26 TCN – 1 TCN) cũng từng sủng ái và phong tước rất cao cho ĐồngHiển – một người giống phụ nữ, dịu dàng và có khuân mặt kiều diễm… (Hà
Ức Tôn Kiến Hoa;2008)
Trong quyển Hồng Lâu Mộng (Tào Tuyết Cần, sáng tác vào khoảnggiữa thế kỷ XVIII) hay Thủy Hử (Thi Nại Am, xuất bản năm 1589) nhữngviệc âu yếm và quan hệ tình dục giữa những người đồng giới không có gì xa lạđối với độc giả (Hinsch, Bret (1992)
Văn thơ khiêu dâm ở Trung Quốc thường bị đốt nhưng bản thảo còn lại
của hợp tuyển Biện nhi sai mô tả một nam môn sinh theo đuổi một nam môn
Trang 26sinh khác Trong Qing Xia Ji, người chiến binh dũng cảm Zhang đã có hai
người vợ nhưng lại bị một người nam trẻ tuổi Zhong hấp dẫn (tác phẩm xuấthiện vào khoảng năm 1630 đến 1640)
Hiện nay, cuối thập niên 1990 và đầu thập niên 2000, tình hình thay đổiđáng kể khi Luật cấm kê gian bị bãi bỏ vào năm 1997 Tổ chức phân loại vàchuẩn đoán rồi loạn tâm thần Trung Quốc đưa đồng tính ra khỏi danh sáchbệnh tâm thần vào ngày 20/1/2001 Tuy nhiên, tính đến thời điểm hiện nayTrung Quốc vẫn chưa chấp nhận hôn nhân đồng tính (Hải Anh - 2013)
Thái Lan
Thái Lan là một cường quốc về du lịch và nổi tiếng vì sự cởi mở đối vớicộng đồng LGBT (đồng tính nam – nữ; song tính và chuyển giới) Là mộttrong bảy nước châu Á đã ký kết vào tuyên bố bảo vệ quyền lợi cho cộngđồng LGBT của Liên Hợp Quốc, và các quan chức nghành du lịch của nướcnày đã tiếp thị tới những khách du lịch đồng tính bằng cách giới thiệu trên cáctrang web du lịch rằng: “Thái Lan ủng hộ mọi phong cách sống” Tuy nhiên,phần lớn sự bao dung và chấp nhận đó chỉ là vẻ bề ngoài Mãi đến năm 2002,chính phủ Thái Lan mới công nhận đồng tính không phải là bệnh Và phải hơn
4 năm sau nữa thì quân đội và một số trường đại học mới chấp nhận ngườiđồng tính nam gia nhập hàng ngũ của mình Đáng báo động hơn, thái độchống đối người đồng tính nam còn có những trường hợp dính tới bạo lực(Tiểu Ngư; 2015)
Tại Trung Đông
Nhiều nhà thơ Hồi giáo (hầu hết là Sufi) tại các nước Ả Rập và Ba
Tư trong thời trung cổ đã viết thơ ca tụng những cậu bé đem rượu cho họ
Trang 27trong các quán rượu và ngủ chung giường với họ (The Sufis by Idries Shah(1964).
Châu Âu
Những tài liệu Tây phương lâu đời nhất (trong hình thức mỹ thuật, vănhọc, và truyền thuyết) về mối quan hệ đồng tính được tìm thấy từ thời cổ HyLạp, nơi các mối quan hệ đồng tính được xã hội tạo nên, được thành lập quathời gian từ thành phố này đến thành phố khác Lệ này, một hệ thống củanhững quan hệ giữa một người đàn ông lớn tuổi và một thanh niên đangtrưởng thành, được xem là có giá trị dạy dỗ, đồng thời để kiềm chế mức độ giatăng dân số, đôi khi bị xem là làm mất trật tự (Plato, Phaedrus inthe Symposium)
Châu Mỹ
Trong xã hội thổ dân Bắc Mỹ, hình thức đồng tính luyến ái phổ biếnnhất là những người được xem là có hai linh hồn Những người này được hầuhết các bộ lạc công nhận và đặt tên cho vai trò này Thường những người cóhai linh hồn được công nhận lúc còn nhỏ, được cha mẹ cho lựa chọn để theocon đường này Nếu đứa bé nhận vai trò, nó sẽ được dạy dỗ về các nhiệm vụcủa mình, theo các phong tục của giới tính mà nó đã chọn Những người nàythường làm thầy pháp nhưng được xem là có nhiều quyền phép hơn các thầypháp thường Trong lĩnh vực tình dục, họ sẽ có quan hệ với những người khácphái (Gilley, Brian Joseph (2006)
Hiện nay
Ngày 17/5/1990, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã "giải mã" thiênhướng tình dục và công bố loại bỏ đồng tính luyến ái ra khỏi danh sách bệnhtâm thần Năm 2011, Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc đã thông qua
Trang 28nghị quyết đầu tiên công nhận quyền LGBT, được theo dõi và báo cáo bởi Ủyban Nhân quyền Liên Hiệp Quốc về tình trạng vi phạm nhân quyền đối vớicộng đồng người LGBT, bao gồm tội ác kỳ thị, hình sự hóa đồng tính luyến ái
và phân biệt đối xử Dựa trên các báo cáo được theo dõi, Ủy ban Nhân quyềnLiên Hiệp Quốc kêu gọi tất cả các quốc gia không được có những hành độngnhư vậy và kêu gọi ban hành luật bảo vệ các quyền cơ bản của cộng đồngLGBT
Luật pháp về quan hệ đồng tính có sự khác nhau giữa các nước Kể từngày 26 tháng 06 năm 2014, Liên Hợp Quốc đã chính thức công nhận hônnhân đồng giới Tính đến thời điểm cuối năm 2014, trên thế giới đã có nhiềunước hợp pháp hóa hôn nhân đồng giới (cho phép người đồng tính kết hôn) vàluật hóa các quyền liên quan đối với người đồng tính: Hà Lan, Đan Mạch, Na
Uy, Thụy Điển, Tây Ban Nha… 34/50 bang ở Hoa Kỳ, nhiều bang ở Mexico.Nhiều nước tuy chưa hợp pháp hóa hôn nhân đồng tính nhưng đã thông qualuật về quyền của người đồng tính như: Đức (2001), Phần Lan (2002), Thụy Sĩ(2007), vương quốc Anh (2014)… Có trên 44 nước chấp nhận cho hai ngườiđồng giới đăng ký sống hợp pháp cùng nhau dưới những hình thức hôn nhândân sự, quan hệ có đăng ký, quan hệ gia đình… nghĩa là có đủ quyền lợi như
vợ chồng dị tính khác, trong đó nhiều cặp đồng tính nhận con nuôi hoặc sinhcon bằng phương pháp thụ tinh nhân tạo từ tinh trùng/trứng của một trong haingười Mới đây nhất, vào ngày 26/6/2015 nước Mỹ đã chính thức hợp pháphóa hôn nhân đồng giới trên toàn lãnh thổ
Ngày 26 tháng 09 năm 2015, 25 quốc gia trong Hội đồng Nhân quyềnLiên Hiệp Quốc gồm: Việt Nam cùng Mỹ, Argentina, Áo, Chile, Costa Rica,Cuba, CH Séc, Estonia, Pháp, Đức, Ireland, Italy, Nhật Bản, Mexico,Montenegro, Peru, Philippines, Hàn Quốc, Nam Phi, Macedonia, Vương quốc
Trang 29Anh và Venezuela đã bỏ phiếu thông qua nghị quyết chống lại việc phân biệtđối xử và bạo lực nhằm bảo vệ người đồng tính, song tính và chuyển giới.(Tuấn Anh; Việt Nam cùng Hội đồng Nhân quyền ra nghị quyết bảo vệ ngườiđồng tính).
Tổng Thư ký Liên Hiệp Quốc Ban Ki-moon đã phát biểu: "Văn hóa
truyền thống không nên là một trở lực đối với việc thực hiện nhân quyền cho mọi người trên cơ sở xu hướng tình dục Vì vậy người đồng tính, song tính và chuyển giới cũng nên có quyền được kết hôn như người dị tính và không thể
sử dụng văn hóa, truyền thống làm lý do từ chối quyền cơ bản này đối với những người thiểu số tính dục”
Ông cũng nói lên thông điệp: "Với những bạn là người đồng tính nữ,
đồng tính nam, song tính hay chuyển giới, cho tôi nói rằng: Các bạn không đơn độc! Cuộc đấu tranh của các bạn nhằm chấm dứt bạo lực và phân biệt đối xử là một cuộc đấu tranh chung Bất kỳ cuộc tấn công nào nhắm vào các bạn cũng là cuộc tấn công vào các giá trị cốt lõi của Liên hiệp quốc Tôi thề
sẽ đứng lên bảo vệ và giúp đỡ các bạn Ngày hôm nay tôi đứng với các bạn,
và kêu gọi tất cả các quốc gia, tất cả mọi người cùng đứng về phía các bạn".
Hiệp Hội Tâm Thần Học Thế Giới (WPA), đại diện cho hơn 200.000chuyên gia tâm thần học đến từ 118 quốc gia, đã chính thức lên tiếng phản đối
những biện pháp "chữa đồng tính" Việc thay đổi khuynh hướng tính dục, vốn
là bẩm sinh của mỗi người, là hoàn toàn không có cơ sở khoa học Hơn nữa,những biện pháp "chữa đồng tính" tạo nền tảng cho những định kiến và sự kỳthị đối với cộng đồng LGBT và có thể gây hại Đồng tính vốn không phải làbệnh, vì vậy việc can thiệp "chữa trị" những người đồng tính là hoàn toàn vôđạo đức" (BuzzFeed ; 2016)
Trang 302.1.2 Tại Việt nam.
Trong lịch sử, rất hiếm có trường hợp được ghi nhận, mặc dù trong thế
kỷ thứ 16 và 17 có một vài vua chúa có thê thiếp là đàn ông Ngoài ra, sách sử
có chép rằng: vua Khải Định (8/10/1885 – 6/11/1925) tuy có tất cả 12 bà vợnhưng bất lực hoặc không thích gần đàn bà, chỉ thích đàn ông (JakobPastoetter (1997-2001))
Trong thời Chiến tranh Việt Nam, tại Sài Gòn có 18 quán bar dành chođồng tính nam Nhiều khách hàng tại các quán bar đồng tính nam là thươnggia ở tuổi trung niên và sinh viên dưới 20 tuổi, và rất ít người ẻo lả như phụ
nữ Có nhiều hộp đêm, quán cà phê và dịch vụ xông hơi dành cho khách hàngđồng tính (Jakob Pastoetter (1997-2001))
Về số lượng người đồng tính ở Việt Nam, hiện nay chưa có con số thực
sự chính xác vì chưa có một cuộc thống kê chính thức mang tính quy mô vàtoàn diện được tổ chức, các ước tính khác nhau có chênh lệch rất lớn Theoước tính của bác sĩ Trần Bồng Sơn (nhà nghiên cứu về giới tính học nổi tiếngnhất tại Việt Nam), số đồng tính nam ước tính là khoảng 70.000 người (chiếm0,09% dân số) Một nghiên cứu khác do tổ chức phi chính phủ CARE thựchiện ước tính Việt Nam có khoảng 50-125 ngàn người đồng tính, chiếmkhoảng 0,06 - 0,15% dân số (Don Colby, Cao Hữu Nghĩa và SergeDoussantousse; 2015)
Theo nghiên cứu của Viện Nghiên cứu xã hội, kinh tế và môi trường(iSEE), Việt Nam hiện đang có khoảng 1,6 triệu người đồng tính, song tính vàchuyển giới ở độ tuổi 15-59 Theo báo cáo từ tổ chức WHO của Liên hợpquốc thì khoảng 3% dân số có thiên hướng tình dục đồng tính, nếu lấy tỷ lệnày áp dụng cho Việt Nam thì hiện nay cả nước có khoảng gần 3 triệu ngườiđồng tính (Don Colby, Cao Hữu Nghĩa và Serge Doussantousse; 2015 )
Trang 31Pháp luật Việt nam không có luật cấm quan hệ tình dục đồng tínhnhưng Luật hôn nhân và gia đình cấm hôn nhân đồng giới Tuy nhiên, đámcưới đồng tính từng được tổ chức tại Việt nam Ngày 7 tháng 4 năm 1997,hãng thông tấn Reuters đưa tin về đám cưới đầu tiên ở thành phố Hồ Chí Minhgiữa hai người nam Ngày 26 tháng 4 năm 2014, thêm một đám cưới đồng tínhnam được tổ chức tại Đồng Xoài (Bình Phước)… (Helmut Graupner; 2005).
Trang 32CHƯƠNG II: ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC NHÂN TỐ TÂM LÝ –
XÃ HỘI ĐẾN SỰ HÒA NHẬP CỘNG ĐỒNG CỦA NGƯỜI
“Người đồng tính sinh ra và thuộc về mọi xã hội nào trên thế giới Họ ở mọi lứa tuổi, chủng tộc, tôn giáo Họ là bác sĩ, giáo viên, nông dân hay nhân viên ngân hàng, binh lính và vận động viên Cho dù chúng ta biết hay thừa nhận điều đó hay không, họ vẫn là gia đình, bạn bè,láng giềng Đồng tính không phải là một phát minh của phương Tây Đó là bản chất của con người”
Câu nói của ngoại trưởng Mỹ cho chúng ta thấy, người đồng tính cũngnhư bao người, cũng mang trong mình những cấu tạo và quy trình phát triểncủa một cá thể Họ thuộc về mọi xã hội, mọi chủng tộc, tôn giáo, mọi lứa tuổi
Họ hoạt động và cống hiến trong mọi lĩnh vực nghề nghiệp của xã hội Họcũng mong muốn được thể hiện mình, cũng như những cảm xúc riêng, nhữngnhu cầu được yêu thương, được sống thật và đặc biệt là việc được “chấp nhận”
có ý nghĩa quan trọng với người đồng tính Sự chấp nhận đó từ chính nhữngngười thân quen và hơn nữa là cộng đồng sẽ là động lực giúp người đồng tínhsống tự tin, cởi mở, hòa nhập cộng đồng và cống hiến nhiều hơn nữa cho xãhội Và dù chúng ta biết hay thừa nhận điều đó hay không, họ vẫn là gia đình,bạn bè, láng giềng của chúng ta Tuy nhiên, ảnh hưởng của các nhân tố tâm lý– xã hội đang là rào cản lớn cho việc sống thật của người đồng tính Để minh
Trang 33chứng cho quan điểm trên, tôi xin trình bày kết quả khảo sát thu thập thông tindưới đây:
Người đồng tính nam tham gia khảo sát gồm những ai?
Biểu đồ 2.1.1 Nghề nghiệp của người đồng tính nam tham gia khảo sát.
Nhìn vào kết quả khảo sát trên có thể thấy, trong 93 người tham gia trảlời phiếu hỏi có: 10 người tự nhận mình là học sinh chiếm 10,8%; 22 ngưởi trảlời họ là sinh viên chiếm 23,6%; số người đồng tính nam là công chức côngtác trong các cơ quan của nhà nước là 13 người chiếm 14%; 1 người cho biết
họ là công nhân chiếm 1,1%; số lượng người đồng tính nam tham gia khảo sát
là nhân viên có 47 người, chiếm tỷ lệ cao nhất 50,5%
Từ kết quả khảo sát trên chúng ta có thể thấy người đồng tính nam hoạtđộng và cống hiến cho xã hội không chỉ ở một lĩnh vực cụ thể Họ sống, họctập và làm việc trong nhiều môi trường, nghành nghề khác nhau
Theo một tài liệu nghiên cứu của chuyên gia tâm lý Minh Niệm, người
Việt ở nước ngoài có nói rằng: “Bạn đừng hiểu lầm rằng Đồng tính là một đứa con thừa thãi của tạo hóa” Thực tế, trên thế giới có một số người tài giỏi
Trang 34thuộc các lĩnh vực khác nhau công khai mình là người đồng tính như: namdiễn viên Wenworth Miller; Sam Adams - thị trưởng thành phố lớn top 30 ở
Mỹ là người đầu tiên công khai mình là người đồng tính; doanh nhân, triệuphú, chính trị gia Hồi giáo, đại biểu Quốc hội của Anh- Waheed Alli, BaronAlli đầu tiên công khai mình là người đồng tính… ở Việt nam có nhà thơXuân Diệu công khai mình là người đồng tính Do vậy, người đồng tính khôngphải là những người bệnh hoạn, đồi trụy mà họ cũng là những người tài giỏi,
có những cống hiến nhất định cho xã hội
Độ tuổi của người đồng tính nam tham gia khảo sát?
Biểu đồ 2.1.2 Nhóm tuổi của người đồng tính nam tham gia khảo sát.
Người đồng tính nam ở độ tuổi 17 – 22 tuổi chiếm tỷ lệ khá cao40,9%; 11,8% là tỷ lệ đồng tính nam ở độ tuổi 29 - 34 tuổi
Trang 35Số liệu trên cho thấy, người đồng tính nam hiện nay, đặc biệt là ngườiđồng tính nam thuộc giới trẻ được tiếp xúc nhiều với công nghệ thông tin đạichúng nên họ biết nhiều thông tin về người đồng tính hơn Từ đó, họ có cáinhìn khách quan hơn, tự tin, mạnh dạn công khai và sống đúng với giới tínhthật của mình.
Số anh/chị/em trong gia đình người đồng tính nam?
Biểu đồ 2.1.3 Số anh/chị/em trong gia đình người đồng tính nam tham gia
khảo sát.
Nhìn vào biểu đồ có thể thấy, đa số người đồng tính nam sinh sốngtrong gia đình có 2 anh/chị/em chiếm 54,8%; 24,7% là tỷ lệ người đồng tínhnam sống trong gia đình có 3 anh/chị/em; số người đồng tính nam sinh sốngtrong gia đình có 1 con là 9,7%; 7,5% số người đồng tính nam sống trong giađình có 4 anh/chị/em; còn lại 3,2% người đồng tính nam cho biết gia đình họ
có 5 anh/chị/em
Trang 36Người đồng tính nam là con thứ mấy trong gia đình?
Biểu đồ 2.1.4 Thứ tự của người đồng tính nam trong số các con của gia
đình tham gia khảo sát.
Kết quả khảo sát cho thấy, đa số người đồng tính nam là con thứ haitrong gia đình chiếm 48,4%; tỷ lệ người đồng tính nam cho biết họ là contrưởng của gia đình là 36,6%; 11,8% người đồng tính nam trả lời họ là con thứ
3 trong gia đình; chỉ có 3,2 % người đồng tính nam là con thứ 4 trong giađình
Số liệu phân tích trên cho thấy, trọng trách của những người đồng tínhnam trong gia đình khá lớn vì họ là con trưởng trong gia đình nên ngoài việckiếm tiền đảm bảo tài chính cho gia đình thì việc duy trì nòi giống cho giađình cũng là gánh nặng và áp lực đè lên vai của họ Tỷ lệ người đồng tính nam
là con trưởng trong gia đình cũng chiếm tỷ lệ khá cao 36,6% Đây rất có thể làmột rào cản trong việc người đồng tính nam đưa ra quyết định công khai vàsống với giới tính thật của mình
Trang 37Người đồng tính nam nhận ra giới tính thật năm bao nhiêu tuổi? Biểu đồ 2.1.5 Tuổi nhận ra giới tính thật của người đồng tính nam tham
gia khảo sát.
Biểu đồ cho thấy, đa số người đồng tính nam nhận ra giới tính thật củamình vào năm họ 15 tuổi chiếm tỷ lệ 17, 2% Đây là độ tuổi mới lớn, các bạntrẻ đang bước vào giai đoạn thiếu niên, luôn có những tò mò và hoài nghicũng như thích thú tìm hiểu thế giới xung quanh và khám phá những sự khác
lạ ngay trong chính bản thân mình Ở độ tuổi này, giới trẻ thường đặt ra nhữngcâu hỏi về giới tính của bản thân và sau đó họ lại đi tìm hiểu sự thật đằng saunhững câu hỏi Và người đồng tính nam qua quá trình tìm hiểu, họ nhận rarằng mình không phải giới tính nam Họ mang trong mình giới tính thứ ba và
là một thành viên của cộng đồng LGBT Số người đồng tình nam nhận ra giớitính thật của mình năm 22 tuổi chiếm 1 tỷ lệ khá cao 12,9%; 2 độ tuổi ngườiđồng tính nam nhận ra giới tính thật của bản thân cùng chiếm tỷ lệ 11,8% đó
là năm 17 tuổi và năm 20 tuổi; 8,6% là tỷ lệ người đồng tính nam nhận ra giới
Trang 38tính thật của mình năm 16 tuổi; tỷ lệ 7,5% là số người đồng tính nam nhận ragiới tính thật của mình năm 18 tuổi; năm 21 tuổi số người người đồng tínhnam nhận ra giới tính thật của bản thân chiếm 6,5%; 5,4 % là tỷ lệ người đồngtính nam nhận ra giới tính thật của mình năm 19 tuổi; năm 25 tuổi, tỷ lệ ngườiđồng tính nam nhận ra giới tính thật của mình là 4,3%; 3,2 % là tỷ lệ ngườiđồng tính nam nhận ra giới tính thật năm 14 tuổi.
Cùng chiếm tỷ lệ 2,2% người đồng tính nam nhận ra giới tính thật củabản thân ở tuổi 12, 13, 24 và 27 tuổi; cùng chiếm 1,1% là tỷ lệ người đồngtính nam nhận ra giới tính thật của mình năm 26 và 28 tuổi
Người đồng tính nam hiện nay có sống với giới tính thật của bản thân?
Biểu đồ 2.1.6 Nhận thức của người đồng tính nam về việc sống với giới
Trang 39cạnh đó 24/93 người trả lời hiện nay họ không sống với giới tính thật củamình chiếm tỷ lệ 26% Đây tuy không phải là một tỷ lệ lớn, nhưng nó cũngphản ánh được một phần bộ phận người đồng tính nam vẫn còn e ngại, chưadám đối diện sống thật với giới tính của bản thân Còn lại, 17/93 người thamgia trả lời phiếu hỏi không biết hiện nay bản thân có sống thật với giới tínhcủa mình hay không chiếm tỷ lệ 18%
Kết quả khảo sát cho chúng ta thấy, hiện nay đa số người đồng tính namsống thật với giới tính của bản thân Điều này cho thấy, người đồng tính nam
đã mạnh dạn, cởi mở hơn và thoải mái sống thật với giới tính của mình
“Khi mới công khai, gia đình, bạn bè phản đối dữ lắm Hàng ngày, đi ra ngoài đường tôi phải nhận vô số ánh mắt kỳ thị từ những người xung quanh Lúc đầu tôi cũng buồn, chán nản, thất vọng nhưng sau khi tìm hiểu thông tin
về cộng đồng LGBT Tôi nhận thấy, đồng tính là tự nhiên Mà đã là tự nhiên thì không thể thay đổi Nếu đã không thể thay đổi thì tôi lựa chọn cách sống thật với chính mình Từ đó tôi cảm thấy tự tin và thoải mái hơn”.
(N, 27 tuổi, đồng tính nam, Hà Nội)
26 % là tỷ lệ người đồng tính nam tham gia khảo sát cho biết hiện nay
họ không sống thật với giới tính của bản thân
“Tôi không sống với giới tính thật của bản thân mình, tôi sợ cha mẹ buồn, sốc và thất vọng Tôi cũng sợ mối quan hệ tình cảm của tôi bị chia rẽ,
bị ngăn cấm Tôi đã cố gắng giấu mình, tìm một bạn gái để che đi giới tính thật Cố gắng hẹn hò với bạn gái để cha mẹ yên lòng dù không có tình cảm Tôi giấu mình trong ngoại hình nam tính, ăn mặc như con trai dù không thích Thậm chí tôi giấu mình trong mọi mối quan hệ vì sợ gia đình biết”.
(H, 23 tuổi, đồng tính nam, Hà Nội)Chia sẻ trên của bạn H cho chúng ta thấy lý do người đồng tính namhiện nay vẫn còn e ngại chưa sống thật với giới tính của bản thân đó là: Họ e
Trang 40ngại cha mẹ biết được sẽ buồn, sốc và thất vọng Họ sợ quan hệ tình cảm vớingười cùng giới bị ngăn cấm Họ cố gắng che giấu, nép mình trong vỏ bọc làmột chàng trai Dù không thích nhưng họ vẫn hẹn hò với bạn gái chỉ để cha
mẹ yên tâm Họ cố gắng che giấu trong các mối quan hệ vì sợ gia đình biết, họchứng tỏ mình là “nam” thông qua ngoại hình và cách ăn mặc
Tỷ lệ người đồng tính không biết họ có sống thật với giới tính của mìnhkhông là 18%
Tác giả Minh Thạnh từng đặt ra câu hỏi về sống thật trong tác phẩmNhững trái tim đồng dạng (2010) của mình như sau:
Sống thật với chính mình là sống như thế nào?
Có phải cố gắng hưởng thụ thật nhiều rồi sau đó dù có nhắm mắt xuôitay cũng không ân hận không?
Và rồi ông đưa ra câu trả lời cho câu hỏi trên:
“Sống thật là nhìn lên bầu trời thấy không gian bao la, nhìn xuống mặt đất thấy đường đi thênh thang, nhìn vào sự sống thấy cuộc đời thật nhiệm mầu Vậy hãy sống thật để thấy đời đáng sống và bất giác mỉm cười, sự sống quý giá làm sao”.
“Sống thật không có nghĩa là bốc đồng mà biết kiềm chế những bốc đồng”.
“Sống thật đôi khi đòi hỏi hành động cứng rắn hay hành động dễ chịu Lối sống khuân phép nhưng vẫn đảm bảo tính thoải mái”.
“Sống thật không chỉ cho mình, mà còn cho gia đình, bạn bè, cộng đồng và xã hội”.
“Sống thật là sống trong tự do Cái tự do mà người đồng tính đòi hỏi như sống thật với giới tính của mình chưa phải là tự do, chưa phải là sống thật vì tự do theo quan điểm của Phật giáo là không bị ràng buộc bởi bất cứ điều gì”.