Theo Nghị định ban hành ngày 28 tháng 09 năm 2010 của Chính phủ nước Cộng hòa XHCN Việt Nam Về Công báo, tại điều 2, Công báo được định nghĩa: “Công báo là ấn phẩm thông tin pháp lý chín
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
BÀNG DIỆU KIỆT (PANG MIAO JIE)
ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ CỦA CÔNG BÁO
CHÍNH PHỦ 2004 ĐẾN 2014
(CÓ SO SÁNH VỚI CÔNG BÁO CHÍNH PHỦ TRUNG QUỐC)
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Hà Nội - 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
BÀNG DIỆU KIỆT (PANG MIAO JIE)
ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ CỦA CÔNG BÁO
CHÍNH PHỦ 2004 ĐẾN 2014
(CÓ SO SÁNH VỚI CÔNG BÁO CHÍNH PHỦ TRUNG QUỐC)
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã số: 60.22.02.40 Người hướng dẫn khoa học: TS.Nguyễn Thị Phương Thùy
Hà Nội - 2015
Trang 3MỤC LỤC Trang
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Mục đích, ý nghĩa của đề tài
1.1 Mục đích
1.2 Ý nghĩa
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng
3.2 Pham vi nghiên cứu
3.2.1 Phạm vi thời gian
3.2.2 Phạm vi tư liệu
4 Phương pháp nghiên cứu
5 Cấu trúc của luận văn
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ CƠ SỞ LÝ LUẬN LIÊN QUAN
1.1 Công báo
1.1.1 Tổng quan Lịch sử hình thành và phát triển Công báo
1.1.2 Đặc điểm cấu tạo của Công báo chính phủ
1.2 Văn bản
1.2.1 Văn bản Quản lý nhà nước
1.2.2 Văn bản quản lý hành chính Nhà nước
1.2.3 Văn bản quy phạm pháp luật
1.2.4 Phong cách Ngôn ngữ văn bản
1.2.5 Thể thức văn bản
1.3 Tiểu kết Chương 1
CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ CỦA CÁC VĂN BẢN TRONG CÔNG BÁO CHÍNH PHỦ VIỆT NAM 2004 ĐẾN 2014
2.1 Mô tả cấu trúc tổng thể của CBCP Việt Nam
2.1.1 Mô tả hình thức trang đầu tiên của CBCP Việt Nam
2.1.2 Mô tả kết cấu
2.2 Mô tả đặc điểm chung của các văn bản trong CBCP
1
3
4
5
5
5
7
8
11
11
11
12
12
12
13
14
14
22
27
27
27
28
29
30
31
33
33
33
38
40
Trang 42.2.1 Tính cố định, khuôn mẫu
2.2.2 Tính phổ thông, đại chúng
2.2.3 Tính khách quan, chân thực
2.2.4 Biểu mẫu Thông tư, Nghị định, Quyết định của CBCP Việt Nam
2.3 Đặc điểm ngôn ngữ của CBCP
2.3.1 Về phương diện từ ngữ
2.3.2 Về phương diện câu
2.3.3 Liên kết trong CBCP
2.4 Tiểu kết chương 2
CHƯƠNG 3: SO SÁNH ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ CỦA CÔNG BÁO CHÍNH PHỦ VIỆT NAM VỚI CÔNG BÁO CHÍNH PHỦ TRUNG QUỐC
3.1 Vài nét về Công báo Trung Quốc
3.1.1 Khái niệm, đặc điểm của Công báo Trung Quốc
3.1.2 Phân loại Công báo Trung Quốc
3.2 So sánh đặc điểm ngôn ngữ của CBCP Việt Nam với CBCP Trung Quốc
3.2.1 So sánh về phương diện cấu trúc Công báo
3.2.2 So sánh về phương diện từ vựng
3.2.3 So sánh đặc điểm về câu
3.2.4 So sánh đặc điểm về các phương tiện liên kết
3.3 Tiểu kết Chương 3
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
40
40
41
42
46
46
49
56
60
62
62
62
62
63
63
69
76
79
81
83
85
89
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
1 Mục đích, ý nghĩa của đề tài
1.1 Mục đích
Việt Nam - Trung Hoa là hai quốc gia có nhiều đặc điểm tương đồng và dị biệt về ngôn ngữ và văn hóa do sự giao lưu tiếp xúc từ lâu đời, đã trải dài qua nhiều nghìn năm lịch sử Nghiên cứu đặc điểm này là một yêu cầu cần thiết, có ý nghĩa quan trọng đối với vấn đề so sánh, đối chiếu ngôn ngữ hiện nay
Kể từ khi bình thường hoá quan hệ năm 1991, quan hệ hợp tác hữu nghị Việt Nam - Trung Quốc phát triển nhanh chóng và sâu rộng trên tất cả các lĩnh vực, đem lại lợi ích thiết thực cho cả hai bên Trong đó đặc biệt chú ý là giai đoạn từ năm 2004 đến nay, mối quan hệ giữa hai nước trên nhiều lĩnh vực từ kinh tế, chính trị đến giáo dục, văn hóa, thể thao, du lịch đều được xác lập và có những cột mốc lớn Chẳng hạn như về quan hệ chính trị, hai nước đã ký nhiều hiệp định và văn kiện hợp tác, đặt cơ sở pháp lý cho quan hệ hợp tác lâu dài giữa hai nước Hợp tác giữa hai Đảng và mối quan hệ giữa các ngành quan trọng như ngoại giao, an ninh, quốc phòng được đẩy mạnh với hàng loạt thỏa thuận quan trọng được ký kết và xác lập Từ năm 2004 đến nay, Trung Quốc liên tục là bạn hàng thương mại lớn nhất của Việt Nam, tạo điều kiện và cơ sở cho sự phát triển hai bên trên mọi mặt.1
Do có thể chế kinh tế, chính trị, xã hội tương đồng nên cả hai quốc gia Việt - Trung đều có cách thức xây dựng và triển khai hệ thống pháp luật khá giống nhau, không chỉ là về thể thức văn bản mà còn cả phạm vi, cách thức tổ chức, ban hành Không khó để bắt gặp những thuật ngữ thuộc phạm trù pháp lý tương đương, có chức năng, khái niệm tương đương nhau trong tiếng Việt và
1
Theo thống kê của chính phủ, năm 2013, tổng kim ngạch thương mại Việt - Trung đạt gần 50 tỷ USD, tăng 21.1% so với năm 2012 Quan hệ hợp tác đầu tư có bước phát triển mới, tính đến hết năm 2013, Trung Quốc
có 977 dự án đầu tư tại Việt Nam, tổng vốn đăng ký luỹ kế đạt gần 7 tỷ USD, đứng thứ 9/101 quốc gia và
vùng lãnh thổ có đầu tư tại Việt Nam (Nguồn: http://www.chinhphu.vn)
Trang 6tiếng Trung như “Công báo - 公报”; “Quyết định - 决定”;“Thông tư - 通知”;
“Thông cáo - 通告”; “Thông báo - 通报”;“Chỉ thị - 指示” Tất cả những văn bản này tùy theo mức độ ảnh hưởng mà sẽ được Chính phủ lựa chọn để đăng trên Công báo nhằm ban hành rộng khắp để quần chúng nhân dân nắm rõ và chấp hành những nội dung được quy định trong Công báo
Theo Nghị định ban hành ngày 28 tháng 09 năm 2010 của Chính phủ nước Cộng hòa XHCN Việt Nam Về Công báo, tại điều 2, Công báo được định
nghĩa: “Công báo là ấn phẩm thông tin pháp lý chính thức của Nhà nước, do
Chính phủ thống nhất quản lý, có chức năng đăng các VBQPPL do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành hoặc phối hợp ban hành, các điều ước quốc
tế đã có hiệu lực đối với nước Cộng hòa XHCN Việt Nam và các văn bản pháp luật khác theo quy định.”
Về cấp độ Công báo, theo quy định, có hai loại phân biệt theo cấp thẩm quyền ban hành: (1) Công báo nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, đăng tải các văn bản do cơ quan Nhà nước ban hành, còn được gọi tắt là Công báo Chính phủ (CBCP) và (2) Công báo cấp tỉnh, đăng tải các văn bản quy phạm pháp luật do HĐND, UBND cấp tỉnh ban hành
Về nội dung đăng tải, các văn bản đăng Công báo phải được đăng đầy đủ, toàn văn, chính xác của các văn bản được chính thức ban hành
Tác giả chọn loại Công báo chính thức của Nhà nước, được phát hành qua dạng văn bản viết bởi Văn phòng Chính phủ được đăng tải dưới dạng bài
viết điện tử tại Cổng thông tin điện tử Chính phủ (congbao.chinhphu.vn)
Trong hoạt động giao tiếp hàng ngày, chúng ta thường gặp các Công báo của Nhà nước mang tính chất khuôn mẫu, tuyệt đại đa số nội dung Công báo xoay quanh những vấn đề về pháp luật, pháp quy, về quản lý hệ thống văn bản hành chính Điều này cũng không khó lý giải bởi chức năng của Công báo là thông tin chính thức các nội dung cấp yếu, quan trọng đã được văn bản hóa dưới
Trang 7dạng thức cho các cơ quan công quyền Chúng mang tính định hướng và bắt buộc chấp hành để duy trì các hoạt động của xã hội
Trước tình hình mới của xã hội, ngày càng có nhiều bộ luật được xây dựng và ban hành, hệ thống Công báo từ cấp Trung ương đến địa phương ngày càng được hoàn thiện cả về số lượng và chất lượng Điều này đặt ra những yêu cầu và đòi hỏi cấp bách cho những nhà xây dựng Công báo, cho những nhà nghiên cứu về Công báo, cho cả những dịch giả trong việc chuyển dịch, đối chiếu, so sánh những bộ luật, văn bản pháp luật từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài và ngược lại
Là một người Trung Quốc đã có thời gian sinh sống và học tập bộ môn tiếng Việt ở Hà Nội, Việt Nam trong suốt 6 năm, đồng thời đã từng có kinh nghiệm làm công tác hành chính, văn thư, tác giả nhận thấy rằng Công báo của Chính phủ Việt Nam và Trung Quốc có rất nhiều điểm tương đồng, không chỉ về mặt hình thức trình bày mà còn về cả cấu trúc, cách hành văn Ở Việt Nam, hệ thống các VBQPPL, VBQLNN, VBHC tùy theo phạm vi quản lý mà sẽ do các
cơ quan đầu não chịu trách nhiệm quản lý (từ việc soạn thảo đến ban hành, xuất bản Công báo in, Công báo điện tử ) như VPCP, VP Quốc hội Và ở Trung Quốc cũng vậy, hệ thống văn bản mang tính pháp luật, quản lý cấp nhà nước thông thường sẽ do Quốc vụ viện, do Chính quyền Trung ương quản lý Có thể
nói đề tài “Đặc điểm ngôn ngữ của Công báo Chính phủ 2004 đến 2014 (có so sánh với Công báo Chính phủ Trung Quốc)” vừa mang tính nghiên cứu vừa
mang tính ứng dụng cao
1.2 Ý nghĩa
Đề tài này có ý nghĩa thiết thực trước hết trong việc hỗ trợ cho các học giả, nhà nghiên cứu khi tham gia soạn thảo, tìm hiểu về Công báo Chính phủ, về hệ thống các văn bản được đăng Công báo Qua đó nhằm nâng cao hiệu quả giao tiếp, hiệu quả quản lý các văn bản mang tính luật, mang tính hành chính của Chính phủ với nhân dân
Trang 8Bên cạnh đó, đề tài này cũng ý nghĩa trong việc hỗ trợ cho những người làm công tác dịch thuật, đội ngũ các phóng viên, biên tập viên bởi thông qua những nhận xét và kết luận được đưa ra, người học ngôn ngữ sẽ hiểu được một cách cơ bản nhất các vấn đề liên quan đến Công báo Chính phủ như: Thể thức trình bày văn bản; nội dung đăng tải; phân loại văn bản đăng Công báo
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trước hết, cần phải khẳng định rằng, về những công trình nghiên cứu ở Việt Nam, cho tới nay, chưa có một đề tài nào lấy Công báo, đặc biệt là CBCP làm đối tượng nghiên cứu, tuy nhiên nội dung của Công báo là các văn bản chính thức của nhà nước, bao gồm các Nghị định; Quyết định; Thông tư đều thuộc nhóm văn bản hành chính (VBHC) Những loại VBHC này đã từng là đối tượng nghiên cứu của rất nhiều công trình từ bậc Cử nhân đến bậc Tiến sĩ, trong các
hội thảo, chuyên đề khoa học như TS.Nguyễn Thế Quyền với “Văn bản Quản
lý Hành chính - Nhà nước”2; Ths Hồ Châu Phương Thảo 3 với đề tài “Đặc
điểm ngôn ngữ trong văn bản hành chính công vụ của Đảng”; Nguyễn Thị Hiền
4
với đề tài “Đặc điểm ngôn ngữ văn bản hành chính sử dụng trong ngành giao
thông (theo quan điểm của diễn ngôn)”
Hoặc như tác giả Bùi Khắc Việt trong cuốn “Kỹ thuật và ngôn ngữ soạn
thảo văn bản quản lý nhà nước” 5 cũng đã đề cập một cách khái quát các đặc
điểm ngôn ngữ của phong cách hành chính để giúp ích cho việc thực hành soạn thảo, đây cũng là một tài liệu cung cấp cho tác giả nhiều kiến thức trong quá trình tìm hiểu về thể thức của các VBHC của Việt Nam
Về những nghiên cứu liên quan đến so sánh, phân tích đối chiếu các đặc điểm ngôn ngữ của tiếng Việt với tiếng nước ngoài, đặc biệt là với tiếng Trung
2 Giảng viên Khoa hành chính, nhà nước, trường Đại học Luật Hà Nội
Bài đăng trên Tạp chí luật học số 2/2005
3 Bộ Giáo dục và Đào tạo, Đại học Huế, trường Đại học Khoa học, 2011
4 Luận văn Thạc sỹ, Đại học Quốc gia Hà Nội, Trường Đại học KHXH&NV, Khoa Ngôn ngữ học, 2009
5
Nxb Khoa học Xã hội, 1997
Trang 9thì cũng không có nhiều, phần lớn chỉ dừng lại ở những bài tham luận, tiểu luận, luận văn hoặc đa phần là những nghiên cứu mang tính tổng quan, khái quát nhất
Hay như đề tài, “Phân tích diễn ngôn văn bản luật pháp tiếng Việt - So
sánh với tiếng Anh và ứng dụng trong dịch văn bản luật pháp” của TS.Lê Hùng
Tiến 6 cũng là một đề tài có giá trị tham khảo với tác giả bởi trước đó, hầu như chưa có công trình nghiên cứu riêng nào về diễn ngôn, đặc điểm ngôn ngữ của thể loại văn bản luật pháp trong sự so sánh với thể loại văn bản luật pháp của các ngôn ngữ nước ngoài như tiếng Anh, tiếng Trung, tiếng Pháp Đề tài với 163 trang lấy tư liệu từ Bộ luật Dân sự, luật Hình sự, Luật Lao động, Luật Kinh tế, Tài chính là những bộ luật chính yếu mang nhiều nét đặc trưng nhất của hệ thống luật pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, từ đó tiến hành so sánh đối chiếu với các bộ luật tương đương của các nước Anh, Mỹ, Úc và các nước nói tiếng Anh khác để đưa ra những kết quả có giá trị về những đặc trưng ngôn ngữ được sử dụng trong các văn bản luật pháp
Một số luận văn tốt nghiệp khác cũng có những giá trị tham khảo nhất
định như Lê Tuệ Nhã với đề tài “Khảo sát đặc điểm văn bản quy phạm pháp luật
trong lĩnh vực kinh tế của Trung Quốc” 7
đã đưa ra những nghiên cứu các vấn
đề lý luận về văn bản quản lý, quy phạm pháp luật trong lĩnh vực kinh tế ở Trung Quốc; Đặc trưng VBQPPL trong lĩnh vực kinh tế ở Trung Quốc từ góc độ cấu trúc tổng thể Đặc biệt đã bước đầu giới thiệu những đặc trưng ngôn ngữ VBQPPL trong lĩnh vực kinh tế ở Trung Quốc từ góc độ cấu trúc nội tại Tuy luận văn chưa đi sâu vào phân tích các ví dụ thực tế để người đọc có thể hiểu kỹ hơn nhưng cũng giúp ích cho tác giả trong quá trình xây dựng đề cương
Về các nghiên cứu trong tiếng Trung, đã có rất nhiều học giả, các nhà ngôn ngữ học Trung Quốc nghiên cứu, so sánh, phân tích các vấn đề, lĩnh vực
liên quan đến ngôn ngữ , như Xu Yu Long - Dai Wei Dong với “Ngôn ngữ học
6 Khoa Ngôn ngữ & Văn học Anh-Mỹ, Đại học Quốc gia Hà Nội, trường Đại học Ngoại ngữ, 2002
7
Khoa Ngôn ngữ học,Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, 2012
Trang 10đối chiếu” (对比语言学 - Contrastive Linguistics) 8
; Li Yi Zhong với “Nghiên
cứu so sánh văn hóa ngôn ngữ Trung - Anh” (中英语言文化对比研究)9 hoặc
đề tài “Nghiên cứu về việc ứng dụng từ ngữ quen thuộc trong Công báo Quốc vụ
viện”( 国务院公报中熟语运用研究) của Pan Song 10 Những công trình này
đã giúp tác giả hiểu được phương pháp và cách thức thực hiện một đề tài so sánh giữa tiếng mẹ đẻ với tiếng nước ngoài
Những nghiên cứu liên quan đến hệ thống Công báo, đến các VBQPPL, VBHC công vụ cũng có rất nhiều, một số nghiên cứu tác giả luận văn đã tham khảo từ các kho luận văn trực tuyến của Trung Quốc (http://edu.wanfangdata.com.cn; http://xuewen.cnki.net) trong quá trình viết luận
văn như Sun Jiao với “Tổng quan nghiên cứu “Đại Công báo” trong 10 năm
gần đây của Trung Quốc” (近十年来国内《大公报》研究综述) 11 ; “Nghiên cứu
về quá trình phát triển và việc áp dụng thực tiễn của công tác quy phạm hóa công văn hành chính” (论行政公文规范化管理的发展历程及现实选择) của
Yu Jian Hui, Liu Mei 12 Các nghiên cứu này cơ bản đã khái quát toàn bộ lịch sử
và quá trình phát triển của các VBHC Trung Quốc, đồng thời cũng đưa ra những phân tích trong việc áp dụng các VBHC vào thực tiễn
Nhưng nhìn chung, các nghiên cứu riêng biệt về so sánh đặc điểm ngôn ngữ CBCP Việt Nam và Trung Quốc chưa thực sự có nhiều, vì vậy có thể thấy khả năng mở rộng và phát triển đề tài nghiên cứu này là rất lớn
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
8 Nxb Giáo dục Ngoại ngữ Thượng Hải, 2001
9
Nxb Đại học Ngôn ngữ và Văn hóa Bắc Kinh, 1997
10 Luận văn Thạc sỹ, Đại học An Huy, Trung Quốc, 2010
11 Học viện Lịch sử, Đại học Hà Bắc, 2010
12
Học viện hành chính tỉnh Hắc Long Giang, 2010