1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển cộng đồng đối với người dân tộc ba na từ thực tiển tỉnh kon tum

91 820 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 505,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CAM ĐOANTôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn Thạc sĩ Công tác xã hội về “Phát triển cộng đồng đối với người dân tộc Ba na từ thực tiển tỉnh Kon Tum” là

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn

Thạc sĩ Công tác xã hội về “Phát triển cộng đồng đối với người dân tộc Ba

na từ thực tiển tỉnh Kon Tum” là hoàn toàn trung thực, là kết quả nghiên

cứu nghiêm túc của cá nhân, không trùng lặp với các đề tài khác trong cùnglĩnh vực

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Hải Âu

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Luận văn được nghiên cứu tại địa bàn tỉnh Kon Tum và được hoànthành tại Học viện Khoa học xã Hội Việt Nam Trong quá trình làm luậnvăn, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới GS.TS Võ Khánh Vinh là người đãtrực tiếp định hướng Đề tài, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện

đề tài này

Tôi chân thành cảm ơn Lãnh đạo Ban Giám đốc, Ban Chủ nhiệm và tất

cả các thầy, cô trong Khoa Công tác xã hội - Học viện Khoa học xã hội ViệtNam đã tận tình trang bị kiến thức và tạo điều kiện thuận lợi cho các học viên

ở các tỉnh xa như tôi hoàn thành được nhiệm vụ trong thời gian học tập vàthực hiện luận văn tại Học viện Khoa học – xã hội

Tôi trân trọng cảm ơn lãnh đạo UBND tỉnh, Ban Tuyên giáo tỉnh Ủy,Ban Dân tộc tỉnh, Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Kon Tum, Sở VHTT& DLtỉnh, UBND thành phố Kon Tum, UBND Huyện Kon Rẫy tỉnh Kon Tum; các

xã, phường nơi tôi khảo sát điều tra thực địa và đặt biệt là 100 hộ dân ngườidân tộc Ba na đã tham gia nhiệt tình các hoạt động nghiên cứu có liên quan,

đã tạo điều kiện, hỗ trợ để tôi hoàn thành quá trình nghiên cứu một cách thuậnlợi nhất

Đồng thời, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới những người thân tronggia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã luôn bên cạnh quan tâm, động viên, giúp

đỡ tôi trong suốt quá trình làm luận văn

Kon Tum, Ngày 30 tháng 7 năm 2016

Tác giảNguyễn Thị Hải Âu

Trang 4

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG ĐỐI VỚI NGƯỜI DÂN TỘC BA NA……… 101.1 Lý luận về người dân tộc Ba na……… 101.2 Lý luận về phát triển cộng đồng đối với người dân tộc thiểu số……… 131.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển cộng đồng đối với người dân tộc thiểu số……… 20 1.4 Cơ sở chính trị, pháp lý của phát triển cộng đồng đối với người dân tộc thiểu số………24Chương 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG ĐỐI VỚI NGƯỜI DÂN TỘC BA NA TẠI TỈNH KON TUM……… 292.1 Khái quát về địa bàn nghiên cứu……… 292.2 Thực trạng hoạt động phát triển cộng đồng đối vơi người dân tộc Ba na từthực tiển tỉnh Kon Tum……… 312.3 Thực trạng yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động cộng đồng đối vơi người Ba

na từ thực tiển tỉnh Kon Tum……… 42Chương 3: CÁC GIẢI PHÁP HỔ TRỢ PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG ĐỐI VỚI NGƯỜI DÂN TỘC BA NA TẠI TỈNH KON TUM……… 573.1 Một số giải pháp chung……… 573.2.Một số giải pháp tiếp cận dưới góc độ công tác xã hội nhằm phát triển cộng đồng đối với người dân tộc Ba na tại tỉnh Kon Tum……… 61KẾT LUẬN……… 76

Trang 5

DANH MỤC BẢNG VÀ BIỂU ĐỒ

1 Biểu đồ 2.1 Ông/ bà có đi cúng khi gia đình có người

ốm đau

Trang 35

2 Biểu đồ 2.2 Cây trồng chính của gia đình Ông/ Bà Trang 36

3 Biểu đồ 2.3 Sở thích mặc trang phục truyền thống của

người thanh niên Ba na

Trang 38

4 Biểu đồ Hiểu biết của Ông/ Bà về nghề truyền

thống

Trang 45

5 Sơ đồ 1.1 Sơ đồ phát triển cộng đồng Trang 17

6 Sơ đồ 2.1 Thiết chế tự quản truyền thống của người

Ba na

Trang 43

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết đề tài

Đảng cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi công tácdân tộc là nhiệm vụ chiến lược của Đảng Văn kiện Đại hội XII của Đảng đãxác định, đoàn kết các dân tộc có vị trí chiến lược trong sự nghiệp cách mạngcủa đất nước

Nước ta có 54 dân tộc anh em cùng chung sống từ ngàn đời nay Đoànkết, giúp đỡ nhau cùng tồn tại và phát triển là truyền thống quí báu của đồngbào ta Với những điều kiện, trình độ, phong tục tập quán khác nhau, cộngđồng các dân tộc Việt Nam luôn đoàn kết một lòng phấn đấu vì mục tiêu dângiàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, nếu không có sự cảm thôngchia sẻ, đồng thuận, giúp đỡ nhau, bình đẳng, tôn trọng nhau thì khó có thểbền vững Để đảm bảo công bằng, bình đẳng xã hội, Đảng và Nhà nước ta đã

có nhiều chính sách, cơ chế để hổ trợ, giúp đỡ đồng bào dân tộc thiểu số vùngkhó khăn phát triển kinh tế, cơ sở hạ tầng, xóa đói giảm nghèo, giáo dục đàotạo, mở mang văn hóa…

Các hổ trợ xã hội đã tác động, cải thiện đáng kể trong việc nâng caochất lượng sống, môi trường sống cho các cộng đồng người dân tộc thiểu số,tại các tỉnh miền núi khó khăn trong cả nước Song điều quan trọng và mangtính quyết định đó là bản thân người dân tộc thiểu số phải chủ động vươn lên,phát huy nội lực cộng đồng, tranh thủ sự hổ trợ của Nhà nước, sự giúp đỡ củacác dân tộc anh em để phát triển

Vấn đề dân tộc, chính sách dân tộc là những vấn đề lớn, phức tạp vànhạy cảm, nhiều nội dung của vấn đề này đang cần được nghiên cứu giảiquyết cả về lý luận và thực tiễn Những vấn đề thời sự liên quan đến dân tộc,quan hệ dân tộc trên thế giới cũng như trong nước đang làm cho việc tìmhiểu, nghiên cứu vấn đề phát triển cộng đồng đối với các dân tộc thiểu số một

Trang 7

cách bền vững, phù hợp với tiến trình phát triển kinh tế, xã hội của đất nướccàng trở nên quan trọng và cấp thiết.

Từ trước đến nay, phát triển cộng đồng (PTCĐ) dựa theo phương pháptiếp cận truyền thống đã giải quyết những vấn đề xã hội của cộng đồng nhưđói nghèo, bảo tồn văn hóa truyền thống, hổ trợ các nhóm yếu thế… chủ yếuvào sự giúp đỡ của các cơ quan nhà nước, các doanh nghiệp, các dịch vụ hỗtrợ từ nguồn lực bên ngoài cộng đồng, đã khiến bản thân các cộng đồng dântộc thiểu số và người dân tộc thiểu số trở nên phụ thuộc, tạo tâm lý trông chờ,

ỷ lại vào nhà nước mà không phát huy được nguồn nội lực của cộng đồng mộtcách tốt nhất Thực tiển đã chứng minh khi và chỉ khi chính người dân trongcộng đồng có nhận thức đầy đủ, sâu sắc về vấn đề của cộng đồng từ đó cùngtham gia với lãnh đạo địa phương đề ra giải pháp giải thực hiện, thì lúc ấy vấn

đề mới được thực hiện một cách triệt để và duy trì hiệu quả, bền vững trongcộng đồng

Kon Tum là một trong các tỉnh miền núi nghèo của Việt Nam, hộ dântộc thiểu số chiếm 52% so với dân số toàn tỉnh (62.680/120.608 hộ) Đời sốngcủa cộng đồng các dân tộc thiểu số thuộc vùng sâu, vùng xa gặp rất nhiều khókhăn, tỉ lệ hộ nghèo người DTTS là 29.187 hộ chiếm 46,56% hộ DTTS vàchiếm 92,6% hộ nghèo toàn tỉnh Đẩy mạnh các hoạt động PTCĐ sẽ là giảipháp hữu hiệu để cộng đồng người dân tộc Bana nơi đây phát triển bền vững

về cả 3 yếu tố: kinh tế, môi trường xã hội và con người

Thực tế, Kon Tum đã có nhiều công trình nghiên cứu về đồng bào dântộc thiểu số ở các khía cạnh khác nhau: Nghiên cứu về văn hóa, về hổ trợchính sách đối DTTS nhưng nghiên cứu về PTCĐ dưới góc độ công tác xãhội đối với người dân tộc thiểu số còn ít và chưa đồng bộ

Xuất phát từ thực tế, từ nhu cầu phát triển cộng đồng người dân tộc Ba

na trên địa bàn, tác giả chọn đề tài “Phát triển cộng đồng đối với người dân

Trang 8

tộc Bana từ thực tiển tỉnh Kon Tum” để nghiên cứu và làm Luận văn Thạc

sỹ chuyên ngành công tác xã hội

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

2.1 Tình hình nghiên cứu nước ngoài

Tác giả Griul Guillminet đã viết tác phẩm “Bộ lạc Ba na ở Kon Tum”

gồm 2 tập được xuất bản tại pháp năm 1939 Đây có thể được nhìn nhận là tácgiả đầu tiên là người nước ngoài nghiên cứu cơ bản và có hệ thống về mộtdân tộc ở Kon Tum Tác phẩm đề cập đến rất nhiều lĩnh vực thuộc đời sốngvật chất, tinh thần, xã hội, văn hóa… của người Ba na Đây là tư liệu quantrọng có thể kế thừa trong quá trình nghiên cứu hoạt động phát triển cộngđồng người dân tộc Ba na của đề tài

Cuốn sách “ Miền đất huyền ảo” của tác giả Dambo (Jacque Dournes), xuất bản tại Pháp năm 1950 có tựa đề “Các dân tộc miền núi Nam Đông Dương”, được nhà văn Nguyên Ngọc dịch từ nguyên bản tiếng Pháp năm

2003 Trong công trình nghiên cứu của mình, tác giả Jacque Dournes đã đềcập đến hầu hết các dân tộc Tây nguyên trên nhiều phương diện khác nhau.Ngoài việc ông đi vào phân tích sâu các yếu tố đặc trưng của từng tộc ngườinhư: diện mạo, điều kiện sống, phong tục tập quán, tổ chức đời sống - xãhội…thì điều ông đặt biệt quan tâm đó chính là làng, tổ chức xã hội cơ bản,duy nhất ở vùng các dân tộc thiểu số Tây nguyên Qua cách đề cập của tácgiả, đã cung cấp một cái nhìn tổng quan về tổ chức xã hội truyền thống củacác tộc người bản địa Kon Tum Ông nghiên cứu trong mối quan hệ tươngquan, không tách rời từ gia đình - dòng họ - cộng đồng làng Đây cũng chính

là tiền đề để tác giả nhìn nhận rõ nét khi nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đếnphát triển cộng đồng người dân tộc Ba na trong truyền thống và những vấn đềmới nảy sinh trong cộng đồng hiện tại, để có những đánh giá một cách đầy đủ

Trang 9

nhất, đưa ra những giải pháp phát triển cộng đồng phù hợp trong tiến trìnhphát triển xã hội.

2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

Phát triển cộng đồng tại Việt Nam được biết đến lần đầu tiên vào giữanăm 1950 thông qua một số các hoạt động phát triển cộng đồng tại các tỉnhphía nam, chủ yếu là lĩnh vực giáo dục, thông qua các chương trình phát triểnnông thôn của sinh viên thời bấy giờ Từ năm 1980 cho đến nay, phát triểncộng đồng được biết đến rộng rãi hơn qua các chương trình viện trợ phát triểncủa nước ngoài tại Việt Nam, các chương trình phát triển có ứng dụngphương pháp phát triển cộng đồng như: Chương trình xóa đói giảm nghèo,tiêm chủng mở rộng, phổ cập giáo dục, bảo hiểm y tế, dân số kế hoạch hóagia đình, tín dụng cho hộ nghèo… mà ở đó cần có sự tham dự của người dântại cộng đồng như một trong những nhân tố quyết định, để chương trình đạtđược tính hiệu quả bền vững

Đã có nhiều nghiên cứu về phát triển cộng đồng trong nước, tác giảHoàng Anh Dũng (2013), phát triển cộng đồng dựa vào nguồn lực và tài sảncộng đồng, đã nhấn mạnh về phương pháp tiếp cận dựa vào nhu cầu và sự kếtnối cộng đồng (Kết nối mạng lưới, tổ chức, cá nhân, ) để phát triển Ôngxem yếu tố phát huy nội lực cộng đồng là yếu tố quyết định sự thay đổi, pháttriển của cộng đồng chứ không phải các yếu tố hổ trợ từ bên ngoài

Đối với vấn đề nghiên cứu về hoạt động của cộng đồng người Ba na

cuốn “ Dân tộc Ba na ở Việt Nam” của tác giả Bùi Minh Đạo xuất bản năm

2006 Đây là chương trình chuyên khảo về dân tộc Ba na ở Tây nguyên, sáchnghiên cứu chuyên sâu và toàn diện nhất về dân tộc Ba na từ trước đến nay.Hầu như những vấn đề cơ bản về dân tộc Ba na đã được nghiên cứu: môitrường cư trú, dân cư, văn hóa xã hội, văn hóa đảm bảo đời sống, truyềnthống yêu nước, tuy nhiên, về các hoạt động có ý nghĩa đến PTCĐ như: Phát

Trang 10

huy nội lực của cộng đồng trong phát triển kinh tế xã hội, hoạt động tuyêntruyền nâng cao nhận thức,… chưa được đề cập.

Một trong những tài liệu nghiên cứu sớm nhất trong nước về dân tộc Ba

na đó là cuốn “ Mọi Kon Tum” của 02 tác giả Nguyễn Kinh Chi - NguyễnĐổng Chi xuất bản năm 1937 Nội dung đề cập chủ yếu về đời sống xã hộicủa người Ba na, trong đó vấn đề về tổ chức làng và các thiết chế xã hội củalàng được quan tâm song chỉ dừng lại ở mức độ quan sát, ghi chép thực tế màchưa nghiên cứu sâu Đây cũng là nguồn tư liệu quí để tác giả tiếp tục nghiêncứu về sự ảnh hưởng của thiết chế xã hội của làng đến quá trình phát triển củacộng đồng So sánh những yếu tố đã có sự thay đổi, phát triển theo thời giancùng với sự phát triển chung của xã hội Nhìn nhận được các giá trị bền vững

đã được cộng đồng lưu giữ suốt gần 8 thập kỷ qua

Phát triển cộng đồng và nghiên cứu về người dân tộc Ba na trong nước

đã được nghiên cứu khá nhiều so với các dân tộc bản địa khác của Kon Tum.Song sự nghiên cứu chuyên sâu về phát triển cộng đồng đối với người dân tộc

Ba na tại tỉnh Kon Tum thì chưa có đề tài nào đề cập Hiện tại cộng đồngngười Ba na Kon Tum vẫn đang đoàn kết một lòng, cùng các dân tộc anh emtích cực xây dựng và phát triển Kon Tum Nhiều chế độ chính sách về hổ trợ

xã hội đối với người dân tộc thiểu số đã được áp dụng, nhiều dự án phát triểncộng đồng đã được triển khai thực hiện, song thực tế đời sống của người dântộc Ba na vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn Ngay tại địa bàn thành phố KonTum, tỉnh Kon Tum nơi có đa số người Ba na sinh sống thì tỉ lệ hộ nghèoDTTS chiếm 73,72% tổng số hộ nghèo toàn thành phố, tỉ lệ hộ cận nghèochiếm tỉ lệ 71,43%

Để nâng cao chất lượng cuộc sống cho các cộng đồng người dân tộcthiểu số Kon Tum nói chung và người dân tộc Ba na tỉnh Kon Tum nói riêng,

Trang 11

phương pháp phát triển cộng đồng chính là công cụ hữu hiệu để xây dựng vàthúc đẩy cộng đồng người Ba na thoát nghèo và phát triển bền vững.

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu:

Nghiên cứu thực trạng hoạt động phát triển cộng đồng đối với ngườidân tộc Bana từ thực tiễn tỉnh Kon Tum và các yếu tố ảnh hưởng đến hoạtđộng này Từ đó đưa ra một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả hoạtđộng phát triển cộng đồng đối với người dân tộc Bana tỉnh Kon Tum

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:

Nghiên cứu về lý luận phát triển cộng đồng đối với người dân tộc thiểu

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu:

Phát triển cộng đồng đối với người dân tộc Bana từ thực tiễn tỉnh Kon Tum

- Đối tượng nghiên cứu:

+ Các hộ dân người Bana (100 hộ), đã bao gồm già làng, trưởng thôn,

các nhóm trưởng

+Lãnh đạo Đảng ủy, UBND xã (4 người Các tổ chức chính trị - xã hội

có liên quan (Hội Liên hiệp Phụ nữ, Hội nông dân, UBMTTQVN, Đoàn thànhniên.) (10 người)

4.2 Phạm vi nghiên cứu đề tài

Trang 12

4.2.1 Phạm vi về đối tượng nghiên cứu:

- Nghiên cứu về thực trạng phát triển cộng đồng đối với người dân tộc

Bana từ thực tiển tỉnh Kon Tum

4.2.2 Phạm vi về không gian, thời gian:

- Về không gian: Nghiên cứu cồng đồng người Bana của phường

Thắng Lợi, xã ĐăkRơwa, Thành phố Kon Tum, xã ĐăkTơRe, huyện KonRẫy, tỉnh Kon Tum

- Về thời gian: Đề tài được thực hiện từ tháng 03/2016 đến tháng

7/2016

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp lý luận:

Sử dụng phương pháp luận nghiên cứu khoa học, vận dụng quan

điểm, đường lối chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, về quyền công dân, về quyềncon người, về chính sách phát triển kinh tế, xã hội để phân tích chính sáchnhằm phát triển cộng đồng đối với người dân tộc thiểu số nói chung, khu vựctây nguyên nói riêng trong đó có người dân tộc Bana tỉnh Kon Tum

5.2 Phương pháp nghiên cứu:

- Phương pháp nghiên cứu và phân tích tài liệu:

Phương pháp phân tích tài liệu là phương pháp sử dụng các kỹ thuậtchuyên môn nhằm thu thập thông tin, số liệu, nội dung từ các nguồn tài liệu

đã được công bố hoặc kết luận rút ra từ các nguồn tài liệu những thông tin cầnthiết trong quá trình nghiên cứu của bản thân

- Phương pháp phỏng vấn sâu:

Tiến hành phỏng vấn sâu đại diện cán bộ lãnh đạo địa phương, già làng,các hộ dân tộc Ba na tại địa bàn nghiên cứu nhằm tìm hiểu, đánh giá về nộilực cộng đồng, các chính sách hổ trợ để phát triển cộng đồng

- Phương pháp điều tra bảng hỏi:

Trang 13

Xây dựng bảng hỏi để đo lường mức độ nhận thức của người dân vềcác hoạt động PTCĐ, thực tế việc áp dụng các phương pháp, cách tiếp cậncủa cộng đồng đối với hoạt động PTCĐ, vai trò của tác nhân cộng đồng

- Phương pháp quan sát:

Phương pháp này được thực hiện thường xuyên trong quá trình nghiêncứu và thực hiện đề tài để có cái nhìn thật sự khách quan và chân thực, cụ thểnhất về vấn đề cần nghiên cứu

- Phương pháp tham gia:

Những thông tin thu được từ quá trình trực tiếp tham gia hoạt động pháttriển cộng đồng với người dân tại địa bàn, cùng với thông tin thu thập đượcqua xử lý tài liệu, phỏng vấn sâu, sẽ cho tác giả cái nhìn sâu sắc, đầy đủ vàbao quát, khách quan, độ chính xác cao về vấn đề nghiên cứu

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận văn

6.1 Ý nghĩa lý luận:

Đề tài sử dụng hệ thống khái niệm, phạm trù, lý thuyết, phương phápcông tác xã hội, PTCĐ vào phân tích thực trạng và đưa ra các đề xuất nhằmphát triển cộng đồng đối với người dân tộc Bana tại tỉnh Kon Tum

Kết quả của đề tài sẽ làm phong phú thêm, bổ sung thêm những thông tin

về phát triển cộng đồng đối với người dân tộc Bana tại tỉnh Kon Tum nóiriêng và đồng bào dân tộc thiểu số nơi đây nói chung, góp phần vào việc tăngcường tình đoàn kết dân tộc, phát huy đồng thuận xã hội, dân chủ, tạo sự bìnhđẳng, tích cực xây dựng quê hương Kon Tum ổn định và phát triển

6.2 Ý nghĩa thực tiễn:

Kết quả nghiên cứu giúp cho các nhà hoạch định chính sách nhìn nhận rõhơn những mặt được và hạn chế của chính sách hổ trợ, chế độ ưu đãi củaĐảng và nhà nước ta trong việc góp phần phát triển cộng đồng các dân tộcthiểu số, trong đó có người dân tộc Bana tỉnh Kon Tum

Trang 14

Kết quả nghiên cứu sẽ giúp cho chính người dân tộc Bana tỉnh Kon Tumnhìn nhận được một cách đầy đủ về các nguồn lực của cộng đồng, tài sản, thếmạnh của cộng đồng, từ đó nâng cao nhận thức về việc bảo tồn, phát huy cácgiá trị truyền thống, phát huy sức mạnh nội lực để PTCĐ bền vững, khôngtrông chờ, ỉ lại, thụ động vào sự hổ trợ, giúp đỡ từ bên ngoài cộng đồng Giúp cho các tác viên cộng đồng nói riêng và các ngành khoa học khácnói chung có những hiểu biết thêm về sự cần thiết phải đẩy mạnh các hoạtđộng của công tác xã hội trong PTCĐ đối với người dân tộc Bana

Đảm bảo thực hiện tốt quan điểm đoàn kết các dân tộc, tạo cơ hội bìnhđẳng, hổ trợ nhau cùng nhau phát triển của Đảng và Nhà nước ta

Làm tài liệu nghiên cứu các đề tài tiếp theo của chính bản thân và cácbạn đồng nghiệp

7 Cơ cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục thìnội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Những vẫn đề lý luận về phát triển cộng đồng đối với người

dân tộc Ba na

Chương 2: Thực trạng hoạt động phát triển cộng đồng đối với người dân

tộc Banna tại tỉnh Kon Tum

Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động phát

triển cộng đồng đối với người dân tộc Bana tại tỉnh Kon Tum

Trang 15

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG

ĐỐI VỚI NGƯỜI DÂN TỘC BANA

1.1 Lý luận về người dân tộc Bana

1.1.1 Khái niệm Tộc người, dân tộc, dân tộc thiểu số

- Tộc người (Ethnoc, Ethnie): là hình thái đặc thù của một tập đoàn

người, một tập đoàn xã hội, xuất hiện trọng quá trình phát triển tự nhiên và xãhội được phân biệt bởi ba tiêu chí cơ bản, mang tính ổn định và tương đối bềnvững qua hàng nghìn năm lịch sử là : ngôn ngữ, văn hóa và ý thức tự giác vềcộng đồng

- Dân tộc (Nation) được hiểu theo hai nghĩa:

+ Một hình thái phát triển cao của một tộc người

+ Một cộng đồng chính trị của nhiều tộc người có nguồn gốc lịch sử khácnhau, có trình độ phát triển kinh tế - xã hội khác nhau, cùng sống trong một quốcgia, được quản lý bởi một Nhà nước chung ( Như dân tộc Việt Nam)

Theo từ điển Bách khoa Việt Nam định nghĩa: “ Dân tộc hay quốc gia dân tộc là một cộng đồng chính trị - xã hội được chỉ đạo bởi một nhà nước, thiết lập trên một lãnh thổ nhất định, ban đầu được hình thành do sự tập hợp của nhiều bộ lạc và liên minh bộ lạc, sau này của nhiều cộng đồng mang tính tộc người của bộ phận tộc người Tính chất dân tộc phụ thuộc vào những phương thức sản xuất khác nhau…”

Tuy nhiên, đã từ lâu, ở Việt Nam có sự lẫn lộn khi sử dụng các kháiniệm “Tộc người” và “Dân tộc” Ngoài dùng để chỉ toàn bộ cộng đồng 54 tộcngười hay quốc gia dân tộc (Dân tộc Việt Nam), khái niệm “ Dân tộc” cònđược dùng trong các trường hợp sau: Chỉ một tộc người cụ thể (như dân tộcThái, dân tộc Mường, dân tộc Khơ - me, dân tộc Ba - na…) Hoặc dùng như

Trang 16

vùng dân tộc…(nếu chính xác phải gọi là người dân tộc thiểu số, học sinh dântộc thiểu số, vùng dân tộc thiểu số…).

Một tộc người đạt tới trình độ “Dân tộc” phải hội tụ đủ các tiêu chí hay các yếu tố sau: Đầu tiên là lãnh thổ (đối tượng của lao động, nơi cư trú lâu

dài của tộc người) được mở rộng và ổn định, xác định rõ ràng đường biên giớiquốc gia; giải quyết các tranh chấp đường biên dựa trên công ước quốc tế

Thứ hai là thị trường quốc gia thống nhất, xóa bỏ ngăn cách thị trường, khác

biệt quá lớn về giá cả, mối liên kết kinh tế giữa các nhóm, các địa phương bền

chặt nhờ hệ thống giao thông và thông tin liên lạc rất phát triển Ba là ngôn ngữ, thổ âm (tiếng địa phương) bị thu hẹp, tiếng thủ đô là chuẩn cả về âm và giọng và ngày càng lan rộng ảnh hưởng các nơi Bốn là văn hóa thống nhất,

các phong tục tập quán riêng rẽ từng bước bị suy giảm Cuối cùng là ý thức về

cộng đồng quốc gia – dân tộc phát triển và luôn thắng thế, xóa bỏ những tư

tưởng cục bộ địa phương, tộc người

* Tộc người (Dân tộc) đa số: tộc người chiếm số đông nhất, có ảnhhưởng lớn nhất đến sự phát triển của các tộc người khác và của quốc gia dân

tộc (còn gọi là tộc người chủ thể)

* Tộc người (Dân tộc) thiểu số: các tộc người ngoài tộc đa số;

Khái quát những nội dung trên có thể nói, dân tộc là một khái niệm đanghĩa, nhưng có hai nghĩa chính: Hoặc để chỉ cộng đồng dân cư của một quốcgia, hoặc để chỉ cộng đồng dân cư của một tộc người Sự liên kết cộng đồngdân tộc được tạo lên từ yếu tố có chung ngôn ngữ, văn hóa, lãnh thổ và biểuhiện thành ý thức tự giác tộc người [5, 11-14]

1.1.2.Vài nét về dân tộc Ba na trong thành phần dân tộc Việt Nam

Dãi đất Việt Nam từ bao đời là nơi cộng cư của nhiều tộc người Trên

cơ sở các kết quả nghiên cứu, xác minh qua hai đợt của Viện Dân tộc học.Đợt 1 vào năm 1968 và đợt 2 năm 1978; Ngày 02 tháng 3 năm 1979, thừa ủy

Trang 17

nhiệm của Thủ tướng Chính phủ, Tổng cục Thống kê ra quyết định số

121/TCTK công bố “Bảng danh mục các thành phần dân tộc Việt Nam”.

Theo đó, Việt Nam có 54 dân tộc (tộc người), với tính cách là cộng đồng, cóchung các đặc điểm về ngôn ngữ, sinh hoạt văn hóa và ý thức tự giác về cộngđồng mình, thuộc 3 ngữ hệ: Nam Á (5 nhóm ngôn ngữ, 40 tộc); Ngữ hệ Namđảo (hay Đa Đảo, hoặc Ma lai ô – Pô li nê xi a, 5 tộc); Ngữ hệ Hán Tạng (2nhóm ngôn ngữ, 9 tộc) [5, 42]

Xếp theo ngôn ngữ và thứ tự theo số dân cư, tại kết quả cuộc tổng điềutra dân số năm 2009 của Tổng cục thống kê, dân tộc Ba na đứng vị trí số 12với tổng dân số là 227.716 người, thuộc nhóm ngôn ngữ Môn Khơ - me nơi

cư trú chính tại các tỉnh Gia Lai, Kon Tum, Bình Định, Quãng Ngãi, Phú Yên

Ba na là dân tộc lớn nhất nói tiếng Môn Khơ - me ở vùng Nam trung bộ

và Tây Nguyên Người Ba na cư trú trên vùng lãnh thổ tương đối khác biệt,địa bàn sinh sống của người Ba na là vùng cao nguyên và núi rừng rộng lớn,bao gồm phần lớn khu vực phía đông của 2 tỉnh Gia Lai, Kon Tum và mộtphần vùng núi phía tây các tỉnh Bình Định, Phú Yên Ranh giới tộc người củangười Ba na liền kề với người Xơđăng ở phía Bắc, người Việt ở phía Đông,người Gia rai ở phía Tây và phía Nam Theo số liệu thống kê năm 2009, dântộc Ba na có 227.716 người, riêng tại tỉnh Kon Tum có 53.997 người chiếm12,55% dân số toàn tỉnh và chiếm 25,5% so với 6 dân tộc bản địa tại KonTum

Người Ba na tự gọi mình là Bahnar Tộc danh này được một số nhà

nghiên cứu trước đây đã gọi, như sách “Bộ lạc Bahnar ở Kon Tum” của P.Guilleminet, xuất bản năm 1952, cuốn “Mọi Kon Tum” của Nguyễn Kinh

Chi và Nguyễn Đổng Chi, xuất bản năm 1937, gần đây được tái bản với tên

sách “Người Ba na ở Kon Tum” năm 2011 Ngoài tên tự gọi Ba na, người Ba

na còn tự gọi mình là Kon Kông (người ở núi) để phân biệt với Kon Doan

Trang 18

(người kinh – người đồng bằng lên) Là dân tộc có dân số đông, lại cư trú trênđịa bàn rộng lớn, người Ba na bao gồm nhiều nhóm địa phương khác nhau, có

ít nhất 8 nhóm địa phương chính sau:

Nhóm Tơ Lô, nhóm Krum, nhóm Vân Canh, nhóm Thồ Lô, 4 nhómnày sinh sống ở các tỉnh từ Phú Yên đến Bình Định và Gia Lai Trên đất KonTum gồm 3 nhóm chủ yếu:

* Nhóm Kon Tum: phân bố tập trung tại thành phố Kon Tum

* Nhóm Jơlơng: Phân bố quanh thành phố Kon Tum và huyện Kon Rẫy

* Nhóm Rơngao: Do cư trú ở những vùng khác nhau, dù là một dân tộcnhưng có sự khác biệt nhất định về ngôn ngữ và văn hóa giữa các nhóm địaphương, như 3 nhóm địa phương của dân tộc Ba na ở Kon Tum là: Rơngao,Kon Tum, Jơlơng do sống gần với người Xơđăng và Giarai nên chịu ảnhhưởng nhất định về văn hóa, ngôn ngữ của hai dân tộc trên Như nhómRơngao do dân số không nhiều, địa bàn cư trú lại nằm giữa hai dân tộc lớn là

Ba na và Xơđăng nên người Rơngao bộ phận phía bắc chịu ảnh hưởng vănhóa và ngôn ngữ của người Xơđăng nhiều hơn

Cho đến nay, vấn đề chuyển cư ban đầu của dân tộc Ba na từ đâu đếncũng còn là vấn đề chưa rõ ràng và chưa có một tư liệu chính xác nào đề cập.Các nhà khoa học đưa ra giả định rằng, khi bốn dân tộc nói ngôn ngữ NamĐảo là Giarai, Ê đê, Raglay, Churu cùng với người Chăm di cư vào đồngbằng ven biển Nam trung bộ Việt Nam Tại đây, họ cộng cư với số ít dân cưnói tiếng Môn Khơ - me là chủ nhân của văn hóa Sa Huỳnh Vào thời điểmtrước công nguyên, người Chăm ở lại sau này lập nên Vương quốc Chăm Pa,còn các tộc nói ngôn ngữ Nam Đảo khác, đầu tiên là Giarai, Êđê, men theonúi đi về phía tây tiến dần lên chiếm cứ miền cao nguyên màu mỡ ở TrungTây Nguyên đẩy dạt các tộc người Ba na, Xơđăng lên phía bắc và tộc ngườiMnông xuống phía nam [4, 44]

Trang 19

Việc ban hành Bảng danh mục các thành phần dân tộc Việt Nam, lầnđầu tiên, các tộc người trên đất nước ta có một tên gọi (tộc danh) chính thức,dựa trên cơ sở khoa học, xóa bỏ những tên gọi mang tính miệt thị trước đây,như Mán, Mọi…giúp cho các tộc người hiểu biết hơn về bản thân mình và cáccộng đồng khác, góp phần củng cố khối đại đoàn kết giữa các dân tộc.

Do đặc điểm riêng về vị trí địa lý và địa hình, từ xưa Trường Sơn – TâyNguyên là khu vực cư trú riêng biệt của các tộc người thiểu số Mãi đến đầuthế kỷ XIX, Nhà nước Phong kiến Đại Việt mới nắm được vùng đất này, qui

tụ vào nước Việt Nam thống nhất [5, 214-216]

1.2 Lý luận về phát triển cộng đồng đối với người dân tộc thiểu số

1.2.1 Phát triển

Thuật ngữ “phát triển” được dùng tương đối phổ biến trong các lĩnh vực

của đời sống xã hội có nhiều quan điểm khác nhau:

Theo Liên Hiệp Quốc (1997): “Phát triển là tạo ra những cơ hội ngàycàng nhiều cho tất cả mọi người để có đời sống tốt hơn, điều thiết yếu là tăngcường và cải thiện các điều kiện cho giáo dục, sực khỏe, dinh dưỡng, nhà ở và

an sinh xã hội cũng như bảo vệ môi trường” [29, 45]

Dưới góc độ nhìn nhận của tác giả Phạm Đình Thái (1996): “Phát triển làmột tiến trình giúp dân chúng tháo gỡ những trở ngại ngăn cản họ thể hiệntoàn bộ tiềm năng của họ” [3, 23]

Theo từ điển tiếng việt: “Phát triển là làm cho biến đổi từ ít đến nhiều, từthấp đến cao, hẹp đến rộng, đơn giản đến phức tạp”

Qua các khái niệm trên, chúng ta có thể hiểu chung nhất về phát triển

như sau: phát triển là quá trình biến đổi từ tình trạng thấp kém, chưa hài lòng lên tình trạng tốt hơn, ổn định hơn, đáp ứng nhu cầu của con người và mang lại những thay đổi tích cực cho xã hội.

Trang 20

Dưới góc độ những nhà nghiên cứu phát triển cộng đồng: “cộng đồng là một nhóm các cư dân cùng sinh sống trong một địa vực nhất định, có cùng giá trị và tổ chức xã hội cơ bản ( cộng đồng đô thị, cộng đồng nông thôn, cộng đồng người theo đạo thiên chúa,…)” [7, 43]

Trung tâm Nghiên cứu và tập huấn các dự án phát triển cộng đồng đưa ra

cách hiểu: “cộng đồng là một tập thể có tổ chức, bao gồm các cá nhân con người sống ở một địa bàn nhất định, có chung một đặc tính xã hội hoặc sinh học nào đó và cùng chia sẻ với nhau một lợi ích vật chất hay tinh thần nào đấy” [27,14]

Như vậy, chúng ta có thể hiểu:

- Cộng đồng là một tập thể người có thể cùng nhau chung sống trên mộtđịa bàn nhất định

- Cộng đồng là một tập thể người có chung một nguồn gốc văn hóa,hoặc ngôn ngữ nhưng không nhất thiết cùng chung sống trên một địa bàn

- Cộng đồng là một tập thể người có chung sự ràng buộc về thể chế, vềqui định, về quyền lợi

- Cộng đồng là một tập thể người có chung nguyện vọng, mục đíchnhưng cũng có thể không cùng chung sống trên một địa bàn nhất định

Trang 21

1.2.3 Định nghĩa Phát triển cộng đồng

Theo quan điểm của chính phủ Anh, khái niệm phát triển cộng đồng

được sử dụng lần đầu tiên năm 1940: “PTCĐ là một chiến lược phát triển nhằm vận động sức dân trong các cộng đồng nông thôn cũng như đô thị nhằm phối hợp cùng những nỗ lực của nhà nước để cải thiện hạ tầng cơ sở

và tăng khả năng tự lực của cộng đồng” [7,35]

Theo Murray G.Ross (1955): “PTCĐ là một diễn tiến qua đó cộng đồng nhận rõ nhu cầu hoặc mục tiêu phát triển của cộng đồng; biết sắp xếp ưu tiên các nhu cầu vì mục tiêu này; phát huy sự tự tin và ý muốn thực hiện chúng; biết tìm đến tài nguyên bên trong và ngoài cộng đồng để đáp ứng chúng thông qua đó sẽ phát huy những thái độ và kỹ năng hợp tác trong cộng đồng” [7, 45]

Định nghĩa chính thức của Liên hiệp quốc từ năm 1956: “PTCĐ là một tiến trình qua đó nỗ lực của dân chúng kết hợp với nỗ lực của chính quyền để cải thiện các điều kiện kinh tế, xã hội, văn hóa của các cộng đồng và giúp cộng đồng này hội nhập và đồng thời đóng góp vào đời sống quốc gia” [6,

21]

Theo Nguyễn Thị Oanh : “PTCĐ là một tiến trình làm chuyển biến cộng đồng nghèo, thiếu tự tin thành cộng đồng tự lực thông qua việc giáo dục nhận thức về tình hình, vấn đề hiện tại của họ, phát huy các khả năng và tài nguyên sẳn có, tổ chức các hoạt động tự giúp, bồi dưỡng và củng cố tổ chức

và tiến tới tự lực, phát triển” [12, 28]

Từ những quan điểm trên, chúng ta có thể hiểu về phát triển cộng đồng

như sau: phát triển cộng đồng là một chuỗi những hoạt động tác động tích cực lên một cộng đồng dân cư, khiến cho cộng đồng đó nhận thức về vấn đề của mình, phát huy khả năng và tiến đến tự lực, tự vận động theo chiều hướng đi lên về chất lượng cuộc sống

Sau đây là mô hình về quá trình phát triển cộng đồng

Trang 22

PTCĐ là một quá trình luôn luôn tiếp diễn từ thấp đến cao

(Sơ đồ 1.1: Sơ đồ phát triển cộng đồng)

Phát triển cộng đồng được nhìn nhận, xem xét dưới các góc độ sau:

Thứ nhất, về mục tiêu của phát triển cộng đồng nhằm hướng đến:

- Đáp ứng được nhu cầu cơ bản và cung cấp cho người dân những cơ hội

để phát triển toàn diện các tiềm năng và nâng cao chất lượng cuộc sống.PTCĐ đặc biệt quan tâm đến các nhóm đối tượng yếu thế trong cộng đồng đểcải thiện các điều kiện sống của họ và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản nhưviệc làm, nhà ở, giáo dục, y tế, môi trường…

- Người dân được tham gia vào quá trình phát triển cộng đồng một cáchtích cực vào việc ra quyết định liên quan đến chính đời sống của họ, giúp họnhận thức được giá trị và tin vào khả năng của mình Thông qua đó trình độ

họ được tăng lên và cải thiện cuộc sống

còn yếu kém

CĐ Thức tỉnh

CĐ tăng năng lực

Tự lực

Phát huy tiềm năng

Huấn luyện thành các Hình

nhốm liên kết

Tăng cườngcá

c động lực

Trang 23

- Huy động được các tiềm năng và khuyến khích sự tham gia của các cơquan, tổ chức, người dân, tài nguyên cộng đồng để cải thiện đời sống mọi mặtcủa người dân trong cộng đồng.

- Tạo cơ hội phát triển cho các nhóm yếu thế trong xã hội trên cơ sở củng

cố công bằng, bình đẳng và nhân quyền; tăng cường mối quan hệ đoàn kếttrong cộng đồng với mục đích chung

- Cải thiện cơ sở vật chất của cộng đồng, góp phần điều chỉnh chính sách

xã hội phù hợp với tình hình thực tế của cộng đồng, qua đó đảm bảo trật tự antoàn xã hội

Thứ hai, nội dung của phát triển cộng đồng bao gồm:

- Giáo dục giáo cộng đồng : giúp trang bị các kiến thức, sự hiểu biết và

kỹ năng làm việc, lao động cho người dân trong cộng đồng, để cộng đồng tựnhận thức ra vấn đề và chủ động xây dựng kế hoạch, quyết định hoạt độngcủa cộng đồng

- Quản lý tài nguyên cộng đồng: quản lý môi trường cộng đồng, xử lýcác thảm họa do thiên tai, phát triển các cơ sở kinh doanh sản xuất

- Tổ chức cộng đồng: củng cố các tổ chức có sẵn như các đoàn thể, tổchức chính trị, xã hội tại cộng đồng; thành lập các nhóm nhỏ, nhóm mới hoặccâu lạc bộ, đội nhóm tình nguyện vì cộng đồng; tổ chức các ngành nghề nhưcác tổ sản xuất, tổ hợp tác trong cộng đồng; mở rộng liên kết với các nhómkhác, tiến đến lập hiệp hội, hợp tác xã,…

Ba lĩnh vực trong nội dung phát triển cộng đồng được dùng như điểmxuất phát của một dự án Các dự án phát triển cộng đồng được tiến hành tùytheo lĩnh vực chuyên môn của các tổ chức phát triển và nhu cầu của chínhcộng đồng

Trang 24

1.2.4 Phát triển cộng đồng đối với người dân tộc Ba na.

Mang những đặc điểm chung của các cộng đồng dân tộc thiểu số kháctrong cả nước, cộng đồng người dân tộc Ba na Kon Tum còn rất nhiều khókhăn, xuất phát kinh tế thấp, việc duy trì quá lâu phương thức sản xuất truyềnthống đã làm cho đời sống người Ba na chậm phát triển, tỉ lệ hộ nghèo cao.Quản lý và tổ chức cộng đồng đối với các làng dân tộc Ba na vùng sâu, vùng

xa còn ảnh hưởng nặng của hệ thống luật tục và tín ngưỡng dân gian, trongkhi một số đã không còn phù hợp Việc áp dụng khoa học kỹ thuật, những yếu

tố mới tạo điều kiện cho cộng đồng phát triển thì ngại áp dụng Do điều kiệnsống ở xa khu trung tâm, hạ tầng cơ sở còn lạc hậu, địa hình nhiều chia cắt,cùng với nhận thức thấp, nên khi cái mới chưa rõ nét, thì việc cái cũ như thóiquen thống trị vẫn là điều dễ hiểu

Từ kết quả của việc áp dụng các mô hình phát triển cộng đồng trong thực

tế đã cho thấy càng ngày người ta càng thừa nhận rằng phương pháp pháttriển cộng đồng có khả năng giải quyết vấn đề phát triển và những thách thức

mà những cộng đồng ở nông thôn, đô thị tại các nước đang phát triển (trong

đó có Việt Nam) gặp phải, cũng như những vấn đề của các nhóm bị mấtquyền lợi, bị thiệt thòi và bị gạt ra bên lề xã hội ở những nước đang phát triển.Phương pháp PTCĐ là phương pháp lấy con người làm trung tâm củaphát triển và quan tâm trước tiên đến nhân phẩm và tiềm năng của họ

Phương pháp phát triển cộng đồng tạo điều kiện cho các thành viên trongcộng đồng được tham gia vào mọi phương diện liên quan đến tiến trình pháttriển

Tuy nhiên qua kinh nghiệm làm công tác PTCĐ ở các nước đang pháttriển đã cho thấy, nếu lấy toàn bộ cộng đồng làm đối tượng thì những lợi íchphát triển ít đến tay nhóm người nghèo nhất, đa số lợi ích rơi vào nhóm khágiả, nhóm có tiềm năng kinh tế

Trang 25

Để giải quyết vấn đề này, việc hình thành chiến lược phát triển mà đốitượng là những nhóm người yếu thế (người nghèo, người khuyết tật, ngườidân tộc thiểu số, phụ nữ, trẻ em, người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn…)được quan tâm hướng đến Mục đích là nhằm tăng cường quyền tự quyết cácvấn đề cho cá nhân, cộng đồng Đó là chiến lược “phát triển có sự tham gia”,

“ phát triển lấy người dân làm trung tâm”… để bổ sung vào các chiến lượcphát triển cộng đồng trước đây

Để đảm bảo an sinh, dân chủ, công bằng xã hội và tinh thần trách nhiệmcủa toàn xã hội đối với nhóm yếu thế, mà cụ thể được đề cập tại đề tài làngười dân tộc Ba na, một trong 53 dân tộc thiểu số của Việt Nam với đời sốngcòn nhiều khó khăn, môi trường xã hội, cơ hội phát triển không thuận lợi, cònnhiều cản trở…ảnh hưởng đến sự phát triển của cộng đồng

Từ việc nghiên cứu các khái niệm và nội dung, mục đích của phát triểncộng đồng Từ những hiểu biết về những đặc điểm, tính cách của các dân tộcthiểu số nói chung và dân tộc Ba na nói riêng Có thể đưa ra định nghĩa vềphát triển cộng đồng đối với người Ba na như sau:

Phát triển cộng đồng đối với người dân tộc Ba na, là một quá trình tác động lên nhận thức với nhiều hoạt động phù hợp, làm cho người dân tộc Ba

na nhìn nhận được giá trị của cộng đồng, nội lực của cộng đồng để kết hợp với sự hổ trợ của nhà nước và các nguồn lực bên ngoài, tổ chức lại cộng đồng một cách tốt nhất, huy động được mạnh mẽ nguồn lực trong dân tham gia góp phần xây dựng cộng đồng phát triển theo kịp sự phát triển chung của toàn xã hội.

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển cộng đồng đối với người dân tộc thiểu số

Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của cộng đồng như:nguồn tài nguyên cộng đồng có được từ lợi thế của vị trí cư trú, chất lượng

Trang 26

nguồn nhân lực tốt, việc sắp xếp tổ chức hoạt động hợp lý, tri thức bản địa vềlàm chủ qui luật tự nhiên, tính đoàn kết thống nhất cao, nền văn hóa tinh thầnphong phú kết nối sức mạnh cộng đồng…

Song có thể nói, bài học lý luận rút ra từ thực tiển hiện nay đó là có 4 yếu

tố chính, chi phối rõ nét đến vấn đề phát triển cộng đồng nói chung và cộngđồng người dân tộc thiểu số nói riêng

Thứ nhất, yếu tố văn hóa, phong tục, tập quán:

Với người DTTS việc duy trì các luật, tục, văn hóa truyền thống như mộtbản năng tự nhiên của mỗi thành viên và là sức mạnh của mỗi cộng đồng Nóđược lưu giữ từ bao thế hệ trong quá trình hình thành và phát triển của tộcngười Với sự thay đổi ngày càng phát triển của xã hội, nhiều vấn đề đã đượcnhận thức lại, nhiều luật tục đã được xóa bỏ, hoặc có điều chỉnh cho phù hợphơn với thực tế

Song sức mạnh tâm linh vẫn là yếu tố chi phối lớn đến đời sống cộngđồng, đặc điểm này thể hiện rõ nét thông qua các Lễ hội được duy trì trongcộng đồng Từ các lễ hội trong sản xuất nông nghiệp, đến lễ hội liên quan đếnvòng đời của mỗi người Nên rất nhiều lễ hội được tổ chức vừa tốn kém chiphí vật chất, vừa ảnh hưởng đến thời gian lao động, học tập, sản xuất củanhân dân

Bên cạnh những yếu tố văn hóa truyền thống tốt đẹp, thì ảnh hưởng củanhững hủ tục đã làm ảnh hưởng rất nhiều đến việc phát triển của cộng đồngngười DTTS Với những tư tưởng, thói quen, luật tục truyền thống mệnh lệnh

từ trên xuống “già làng là tối thượng”, kẻ dưới phục tụng bề trên, sáng kiếnkhông được xuất phát từ nhóm người yếu thế, thủ tiêu vai trò cá nhân chỉ điềuhành hoạt động của làng theo hệ thống luật, tục truyền thống… thì phát triểncộng đồng là cách làm đảo ngược với cách nghĩ, cách làm đã bám rễ trongcộng đồng nên gặp nhiều khó khăn trong việc thay đổi

Trang 27

Đặc biệt lợi dụng niềm tin Tôn giáo của người DTTS, các thế lực thùđịch luôn lợi dụng vấn đề tôn giáo, dân tộc để lôi kéo, xúi giục, kích độngngười dân chống đối lại những qui đinh, chính sách đổi mới của Nhà nướctrong tiến trình xây dựng các làng đồng bào DTTS vững mạnh toàn diện.

Thứ hai, yếu tố từ chính bản thân người dân trong cộng đồng:

Trong phát triển cộng đồng mỗi cá nhân đóng vai trò quan trọng trongquá trình phát triển Nếu chất lượng nguồn nhân lực tốt, thì các hoạt độngđược triển khai thực hiện một cách đúng đắn và hợp lý

Thực tiển đã chứng minh, trong cộng đồng có nhiều cá nhân có kỹ năng,tài năng, có kinh nghiệm, sự khéo léo…thì họ sẽ tổ chức tốt cuộc sống của giađình mình và làm tốt chức năng xã hội Mỗi gia đình vững mạnh sẽ góp phầncho cộng đồng vững mạnh

Theo John C Allen (2002): “Mỗi một con người ai cũng có những tài năng, tiềm năng, khả năng, kinh nghiệm và sự khéo léo riêng biệt, điều quan trọng là phải biết nhận ra những tiềm năng đó”.

Hiện nay trong các vùng DTTS trình độ dân trí thấp, tri thức bản địanhiều yếu tố lạc hậu, phản khoa học không còn phù hợp; chưa biết áp dụngkhoa học kỹ thuật vào sản xuất kinh tế Kỹ năng cá nhân trong việc duy trì cácnghề truyền thống trong làng DTTS người Ba na không còn nhiều, đang dần

bị mai một Già làng, người có uy tín trong làng không còn giữ được ưu thế,khi chỉ duy trì quản lý cộng đồng theo cái cũ, cái không tiến bộ

Thứ ba, yếu tố kinh tế:

Điều kiện, môi tường sống trong các làng người DTTS của Việt Namcòn nhiều khó khăn, hạ tầng giao thông chưa được hoàn thiện đặc biệt là cáclàng vùng sâu, vùng xa Địa bàn cách trở, giao thông không thuận lợi, diệntích rừng bị lấn chiếm, nguồn lợi từ rừng bị cạn kiệt do tình trạng khai thác

Trang 28

rừng bừa bãi, trái phép… đã làm ảnh hưởng rất lớn đến phát triển của cộngđồng người Ba na nơi đây.

Sản xuất nông nghiệp là phương thức sản xuất chính của người Ba na,hơn 80% là làm nương, rẫy Với lối canh tác truyền thống, các cây trồng chủlực vẫn là: lúa, mì…chưa áp dụng giống mới và khoa học kỹ thuật vào sảnxuất, nên giá trị kinh tế trên một diện tích đất còn thấp

Diện tích đất nông nghiệp bị thu hẹp do phát triển các công trình thủyđiện, khu công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp trong vùng Tây nguyên nóichung và tỉnh Kon Tum nói riêng đã ảnh hưởng nhiều đến đời sống ngườidân Đất đai, tư liệu sản xuất chính của người DTTS đã không đảm bảo đểngười dân phát triển kinh tế Cần có giải pháp chuyển đổi cơ cấu cây trồng,vật nuôi, tìm mô hình phù hợp để cộng đồng người DTTS duy trì và nâng caochất lượng sống

Đời sống kinh tế của người dân cũng là yếu tố quan trọng, góp phần pháttriển cộng đồng Cộng đồng nào có nhiều hộ gia đình, doanh nghiệp tư nhân

có thu nhập cao, đời sống khá giả thì các hoạt động xã hội hóa, các nguồn

“Quỹ tự nguyện”, “ Quỹ phát triển cộng đồng” vì cộng đồng lớn sẽ đảm bảo

cho các hoạt động giải quyết khó khăn từ chính nội lực cộng đồng, trước khicần đến sự hổ trợ từ bên ngoài Điều đó sẽ làm cho cộng đồng chủ động trongviệc giải quyết các vấn đề khó khăn từ cơ sở

Thứ tư, yếu tố ảnh hưởng từ việc tổ chức, lãnh đạo của hệ thống chính

trị cơ sở.

- Năng lực tổ chức, lãnh đạo, hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở có

tác động rất lớn đến việc phát triển cộng đồng tại địa phương Vì việc pháttriển cộng đồng chỉ thực sự thúc đẩy và phát triển hiệu quả khi nó được gắnvới chương trình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và đất nước

Trang 29

- Cán bộ của hệ thống chính trị có trình độ chuyên môn, có khả năng kếtnối nguồn lực, có kỹ năng, có phương pháp tiếp cận phù hợp…sẽ góp phầntích cực vào việc tuyên truyền nâng cao nhận thức cho người DTTS, xâydựng chính sách hổ trợ phù hợp và thiết thực với cộng đồng Khi ý Đảng lòngdân được thống nhất, chính quyền tổ chức thực hiện đảm bảo đúng nguyên tắctrong phát triển cộng đồng thì đời sống của người DTTS và cộng đồng DTTS

sẽ phát triển Ngược lại, nơi nào trình độ của hệ thống chính trị yếu kém, cán

bộ cơ sở tha hóa, biến chất, mất niềm tin với dân làng… thì nơi đó mọichương trình phát triển đều triển khai, tổ chức thực hiện kém hiệu quả

Hệ lụy của việc chạy theo thành tích của các cấp chính quyền cơ sở, báocáo quá mức thành công mà quên đi các bài học kinh nghiệm từ thất bại trongcác hoạt động tổ chức, vận động nhân dân, phát triển bền vững đời sống củacác cộng đồng người dân tộc thiểu số… đã làm ảnh hưởng đến thực chất củacông tác Phát triển cộng đồng

1.4 Cơ sở chính trị, pháp lý của phát triển cộng đồng đối với người dân tộc thiểu số

Ngay từ khi mới ra đời và trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng,Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn xác định vấn đề dân tộc, công tác dântộc và đoàn kết dân tộc có vị trí chiến lược quan trọng của cách mạng nước ta

Là một quốc gia đa dân tộc, Việt Nam có 54 dân tộc sinh sống, trongsuốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước, đất nước ta không xảy ra xungđột sắc tộc hoặc tôn giáo Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng quyền của cácnhóm dân tộc thiểu số, luôn củng cố và tăng cường sức mạnh đại đoàn kếttoàn dân Trong thư gửi Đại hội các DTTS Miền nam tại PleiKu ngày

19/4/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Rai hay Ê Đê, Xê Đăng hay Ba na và các DTTS khác, đều là anh em ruột thịt Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói

Trang 30

giúp hau ” Hay cụ thể tại điều 5, Hiến pháp sửa đổi được Quốc hội thông qua ngày 28/11/2013 có ghi: “ Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là quốc gia thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc Ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình Nhà nước thực hiện chính sách phát triển toàn diện và tạo điều kiện để các dân tộc thiểu số phát huy nội lực, cùng phát triển đất nước ”.

Sự nhất quán trong hệ thống quan điểm, đường lối, chủ trương, chínhsách của Đảng, Nhà nước về phát triển kinh tế, xã hội vùng dân tộc thiểu số,miền núi thể hiện xuyên suốt, ngay từ những ngày đầu lãnh đạo cách mạng.Đại hội lần thứ I Đảng cộng sản Việt Nam (tháng 3/1935) đã thông qua Nghị

quyết về công tác dân tộc thiểu số, trong đó xác định rõ: “ Đại hội Đảng xét rằng lực lượng tranh đấu của các dân tộc thiểu số là một lực lượng rất lớn Công cuộc giải phóng dân tộc của họ là một bộ phận quan trọng trong công cuộc cách mạng phản đế và điền địa ở Đông Dương , bộ phận của cách mạng thế giới ” và đến những năm đầu của thế kỷ 21, tại Nghị quyết số 24-NQ/TƯ

ngày 12/3/2003 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về công tác

dân tộc cũng đã xác định: “Vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược cơ bản, lâu dài, đồng thời cũng là vấn đề cấp bách hiện nay của cách mạng Việt Nam Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp nhau cùng phát triển, cùng nhau phấn đấu thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng

và bảo về vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Kiên quyết đấu tranh chống mọi âm mưu chia rẽ dân tộc Phát triển toàn diện chính trị, kinh

tế, văn hóa, xã hội và an ninh - quốc phòng trên địa bàn vùng dân tộc và

Trang 31

miền núi; gắn tăng trưởng kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội, thực hiện tốt chính sách dân tộc; quan tâm phát triển, bồi dưỡng nguồn nhân lực; chăm

lo xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số; giữ gìn và phát huy những giá trị, bản sắc văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số trong sự nghiệp phát triển chung của cộng đồng dân tộc Việt Nam thống nhất…”

Để thực hiện có hiệu quả các chủ trương Đảng đối với các dân tộc, thờigian qua Chính phủ và các Bộ ngành Trung ương đã ban hành nhiều chươngtrình, chính sách đối với đồng bào dân tộc thiểu số Hiện nay có trên 40chương trình, chính sách đã được các cấp địa phương, các ngành tổ chức thựchiện mang lại nhiều hiệu quả thiết thực, góp phần nâng cao đời sống vật chất,tinh thần cho đồng bào dân tộc thiểu số, phát triển các cộng đồng người dântộc thiểu số (Trong đó có cộng đồng người dân tộc Ba na Kon Tum) ngày mộtphát triển Các chương trình như: Chương trình về hổ trợ đầu tư kết cấu hạ tầng,

hổ trợ phát triển sản xuất cho các xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới, các thônbản đặc biệt khó khăn theo Quyết định số 551/2013/QĐ-TTg ngày 04/4/2013của Thủ tướng Chính phủ; Chính sách hổ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nướcsinh hoạt đến năm 2010 cho hộ đồng bào DTTS nghèo, đời sống khó khăn đểphát triển sản xuất, ổn định và cải thiện cuộc sống theo Quyết định1592/2009/QĐ-TTg ngày 12/10/2009 của Thủ tướng Chính phủ; …

Thực hiện đường lối của Đảng, chính sách Pháp luật của Nhà nước,nhiều chương trình mục tiêu quốc gia lớn dành ưu tiên cho vùng đồng bàodân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa được triển khai và đã đem lại nhiều thànhtựu to lớn Ngày 14/01/2011, Chính Phủ đã ký ban hành Nghị định số05/2011/NĐ-CP của Chính phủ về công tác dân tộc Nghị định này qui định cáchoạt động về công tác dân tộc nhằm đảm bảo và thúc đẩy sự bình đẳng, đoàn kết

và tương trợ giúp nhau cùng phát triển, tôn trọng và giữ gìn bản sắc văn hóacùng chung sống trên lãnh thổ nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Trang 32

Riêng đối với địa bàn tỉnh Kon Tum, là tỉnh miền núi, biên giới có hơn53% số dân trong tỉnh là người dân tộc thiểu số, với 28 dân tộc sinh sống,trong đó có 6 dân tộc bản địa là: Xê Đăng, Ba na, Gia Rai, Giẻ - Triêng, Brâu,

Rơ Măm đời sống vật chất và tinh thần của người dân gặp rất nhiều khó khăn

Vì vậy ngoài vấn đề tập trung chỉ đạo, thực hiện tốt các chủ trương, chínhsách của Trung ương, của Chính phủ, Tỉnh Ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh KonTum chỉ đạo các cấp, các ngành của tỉnh tập trung ưu tiên nguồn lực và huyđộng tối đa sự đóng góp của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài tỉnh để đầu

tư hoàn thiện kết cấu hạ tầng trên địa bàn các xã đặc biệt khó khăn, xã cóđông đồng bào dân tộc thiểu số Cụ thể đã ban hành 23 chương trình, dự ánđối với đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2009 - 2014 như:

Đề án nâng cao chất lượng và đẩy nhanh công tác giảm nghèo tỉnh Kon Tumđến năm 2015, chính sách hổ trợ phát triển cao su tiểu điền cho đồng bàoDTTS nghèo trên địa bàn toàn tỉnh,

Với chủ trương tập trung nguồn lực xây dựng các xã vùng đồng bào dântộc thiểu số, vùng kinh tế mới khó khăn theo Nghị quyết 01-NQ/TU của Tỉnh

ủy Kon Tum khóa XI và Nghị quyết số 04-NQ/TU của Tỉnh ủy Kon Tumkhóa XIII, mỗi sở, ban, ngành cấp tỉnh đều được giao nhiệm vụ đỡ đầu, kếtnghĩa xây dựng một xã để giúp cơ sở tập trung tháo gỡ giải quyết những vấn

đề cơ bản, có ý nghĩa chiến lược đối với đồng bào dân tộc thiểu số trong tỉnh,thu hẹp dần sự chênh lệch trên tất cả các mặt giữa vùng sâu, vùng xa với thịtrấn, thị tứ Quan điểm, chủ trương, đường lối, chính sách dân tộc của Đảng

và Nhà nước ta đã thực sự đi vào cuộc sống đồng bào các dân tộc thiểu số tỉnhKon Tum nói chung và người dân tộc Ba na Kon Tum nói riêng

Trang 33

Kết luận chương 1

Phát triển cộng đồng là một tiến trình mà ở đó sự nổ lực của người dânkết hợp với những hổ trợ căn bản của Nhà nước để làm thay đổi một cộngđồng nghèo, thiếu tự tin thành một cộng đồng tự lực thông qua việc giáo dụctruyền thông nâng cao nhận thức của cộng đồng về nguồn lực, về những yếu

tố tác động đến việc phát triển cộng đồng,…nhằm giúp cho cộng đồng tựđánh giá đúng đắn được sức mạnh nội tại của chính cộng đồng đang sở hữu,những khó khăn, thách thức cộng đồng phải vượt qua, để xây dựng và pháttriển cộng đồng bền vững trước xu thế hội nhập và phát triển của xã hội Việt Nam là quốc gia đa dân tộc, trong tiến trình xây dựng và phát triểnđất nước, Đảng ta luôn phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, đây chính là

cơ sở nền tảng quan trọng để lãnh đạo thực hiện thắng lợi sự nghiệp giảiphóng dân tộc và xây dựng đất nước theo con đường Chủ nghĩa xã hội Thựctrạng đời sống của đa số người DTTS Việt Nam còn gặp nhiều khó khăn, tỉ lệ

hộ nghèo trong DTTS cao, chất lượng cuộc sống thấp, các cộng đồng ngườidân tộc thiểu số còn chậm phát triển, thụ động trông chờ vào sự hổ trợ củaNhà nước là chủ yếu

Từ việc làm rõ các lý luận về phát triển cộng đồng, về dân tộc thiểu số,

về những quan điểm của Đảng ta đối với vấn đề phát triển cộng đồng ngườiDTTS nói chung và người dân tộc Ba na nói riêng… sẽ là tiền đề khoa họccho việc nhìn nhận và đánh giá thực trạng phát triển cộng đồng, những yếu tốảnh hưởng đến phát triển cộng đồng của người Ba na tại Kon Tum, từ đó cónhững giải pháp đề xuất phù hợp với Chính quyền địa phương, các ngànhchức năng, các nhà hoạch định chính sách về những chính sách hổ trợ, chế độ

hổ trợ xã hội của Đảng và nhà nước ta trong việc góp phần phát triển cộngđồng các dân tộc thiểu số, trong đó có người dân tộc Bana tỉnh Kon Tum

Trang 34

Chương 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG ĐỐI VỚI NGƯỜI DÂN TỘC BANA TẠI TỈNH KON TUM

2.1 Khái quát về địa bàn nghiên cứu

2.1.1 Một số đặc điểm về điều kiện tự nhiên

Kon Tum là một tỉnh miền núi, biên giới nằm ở cực Bắc Tây Nguyên.Toàn tỉnh có 28 dân tộc anh em cùng sinh sống Tính đến thời điểm 30/6/2014toàn tỉnh có 115.449 hộ/486.660 khẩu; trong đó dân tộc thiểu số là 59.120hộ/268.548 khẩu, chiếm 55,18% dân số toàn tỉnh Trong 6 dân tộc tại chỗ: XơĐăng, Ba Na, Gia Rai, Giẻ - Triêng, Brâu, Rơ Măm Dân tộc Gia rai có 5.546hộ/23.413 khẩu chiếm 4,84%; dân tộc Ba na có 11.995 hộ/63.097 khẩu chiếm12,96%; dân tộc Xơ Đăng 26.570 hộ/122.045 khẩu chiếm 25,08%; dân tộcGiẻ - triêng 8.693 hộ/35.396 khẩu chiếm 7,26%; dân tộc Rơ Măm 122 hộ/424khẩu, chiếm 0,08% và dân tộc Brâu có 139 hộ/477 khẩu chiếm 0,09%

Vị trí địa lý: Kon Tum là tỉnh miền núi, biên giới nằm ở Bắc Tây Nguyên, phía Bắc giáp tỉnh Quảng Nam (chiều dài ranh giới 142 km); phía Nam giáp tỉnh Gia Lai (chiều dài ranh giới 203 km), phía Đông giáp Quảng Ngãi (chiều dài ranh giới 74 km), phía Tây giáp hai nước Lào và Campuchia (có chung đường biên giới dài 280,7 km).

Địa hình: Đồi, núi chiếm khoảng 2/5 diện tích toàn tỉnh, bao gồm những đồi núi liền dải có độ dốc cao như núi Ngọc Linh (cao 2.598 m), ngọn Bon San (cao 1.939 m), ngọn Ngọc Kring (cao 2.066 m) Mặt địa hình bị

phân cắt hiểm trở, tạo thành các thung lũng hẹp, khe, suối; xen giữa vùng đồi

là dãy núi Chưmomray

Khí hậu: Kon Tum thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa cao nguyên.

Nhiệt độ trung bình trong năm dao động trong khoảng 22 - 230C, biên độ

Trang 35

nhiệt độ dao động trong ngày 8 - 90C Hàng năm, lượng mưa trung bìnhkhoảng 2.121 mm, lượng mưa năm cao nhất 2.260 mm, năm thấp nhất 1.234

mm, tháng có lượng mưa cao nhất là tháng 8

Thủy văn: Nguồn nước mặt chủ yếu là sông, suối bắt nguồn từ phía

Bắc và Đông Bắc của tỉnh Kon Tum, thường có lòng dốc, thung lũng hẹp,nước chảy xiết, gồm có Sông Sê San do 2 nhánh chính là Pô Kô và ĐăkBlahợp thành Nhìn chung, chất lượng nước, thế năng của nguồn nước thuận lợicho việc xây dựng các công trình thủy điện, thủy lợi

Đất đai: Kon Tum có diện tích tự nhiên 9.689,61 km², chiếm khoảng

17,7% diện tích Tây Nguyên, 3,1 % diện tích cả nước; thuận lợi cho việc bốtrí sản xuất, quy hoạch sử dụng đất, đặc biệt là bố trí sử dụng đất nông nghiệpphù hợp với sinh lý của từng loại cây trồng nhằm mang lại hiệu quả kinh tếcao trên 1 đơn vị sử dụng đất như: cao su, cà phê, bời lời

2.1.2 Đặc điểm đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của các DTTS đang sinh

sống trên địa bàn tỉnh Kon Tum

- Về đặc điểm kinh tế: Ngoài dân tộc Kinh sinh sống với các hoạt động

kinh tế phát triển, sản xuất chính của đồng bào DTTS chủ yếu là làm nươngrẫy; cây lương thực chính là lúa, ngoài ra còn có ngô, khoai, sắn làm lươngthực phụ và chăn nuôi, nấu rượu Qua các cuộc vận động phát triển kinh tế -

xã hội, với sự quan tâm đầu tư của Đảng và Nhà nước đã tác động mạnh đếnsuy nghĩ và hành động của đồng bào các DTTS, tạo điều kiện ngày càngthuận lợi về cơ sở vật chất nhằm nâng cao sự hiểu biết, trình độ dân trí về tổchức sản xuất, biết kỹ thuật canh tác lúa nước, trồng cây công nghiệp và kỹthuật bảo vệ rừng

- Về đặc điểm đời sống: Việc chăn nuôi gia súc, gia cầm của đồng bào

dân tộc vẫn theo thói quen thả rông Ngoài sản xuất nông nghiệp là chủ yếu,đồng bào dân tộc còn có một số ngành thủ công truyền thống, tuy nhiên do

Trang 36

trình độ tay nghề còn thấp nên sản phẩm làm ra chủ yếu mang tính chất traođổi, chưa đủ phát triển mạnh thành thị trường kinh tế Hiện nay, những nghềnày đang từng bước được phục hồi để tạo việc làm, tăng thu nhập, đồng thờibảo tồn những giá trị truyền thống.

Do trình độ tiếp thu các tiến bộ khoa học kỹ thuật của đồng bào DTTScòn thấp nên phương thức sản xuất còn lạc hậu, hiệu quả lao động thấp Mặtkhác, việc sản xuất và tiêu dùng còn thiếu kế hoạch, không tính toán lâu dàinên làm cho cuộc sống của người DTTS còn gặp nhiều khó khăn

- Về văn hóa, xã hội: Văn hóa các DTTS tỉnh Kon Tum rất đa dạng và

đặc sắc là kho tàng văn hóa dân gian hết sức phong phú, độc đáo, đậm đà bảnsắc dân tộc và mang phong cách chung của văn hóa Trường Sơn - TâyNguyên Nổi bật là cồng chiêng xoang, nhà Rông, sử thi, lễ hội, nên có mộtsức hút mãnh liệt đối với các nhà nghiên cứu, các khách thăm quan, du lịch

Đời sống kinh tế, văn hóa tinh thần của nhân dân, nhất là ở các vùngsâu, vùng xa và vùng đồng bào DTTS đang ngày càng được nâng cao, gópphần quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển sản xuất ở địa phương ổn định vàbền vững

2.2 Thực trạng hoạt động phát triển cộng đồng đối với người dân tộc Bana từ thực tiễn tỉnh Kontum.

2.2.1 Hoạt động tuyên tuyền, nâng cao nhận thức:

- Công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức về đường lối, chủ trươngchính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước trong vùng đồng bào DTTSđược tỉnh chú trọng Cơ sở vật chất phục vụ công tác thông tin tuyên truyềnđưa thông tin về cơ sở được quan tâm đầu tư

Hiện nay, toàn tỉnh có 18 bưu cục; 100% xã, phường, thị trấn có điểmphục vụ bưu chính, dịch vụ phát hành báo chí tại các bưu cục; 98% khu dân

cư được trang bị cụm loa tuyên truyền không dây Toàn tỉnh có 312 hội

Trang 37

trường, nhà văn hóa cộng đồng thôn, tổ dân phố và 421 nhà rông/593 thôndân tộc thiểu số, một số trang thiết bị tại các nhà văn hóa được đầu tư trangbị.

- Đội ngũ cán bộ làm công tác tuyên truyền được kiện toàn, toàn tỉnh có

16 đội thông tin lưu động, 10 đội chiếu bóng lưu động cấp huyện, thành phố

và các sở ngành, với hơn 200 tuyên truyền viên và 03 đội TTLĐ thuộc tỉnh.Chỉ tiêu phục vụ cơ sở từ 50 buổi – 80 buổi/năm đối với Đội TTLĐ cấp huyện

và 100 – 150 buổi/năm đối với đội TTLĐ cấp tỉnh

- Công tác tuyên truyền của các tuyên truyền viên thuộc các đoàn thểcủa hệ thống chính trị thôn, làng cũng tăng cường tổ chức dưới nhiều hìnhthức phong phú như: họp dân, hội nghị, tọa đàm, sinh hoạt ngoại khóa, Hộithi về tìm hiểu kiến thức pháp luật, qua đó đã góp phần giữ gìn an ninhchính trị, trật tự an toàn xã hội, củng cố niềm tin nhân dân nhất là trong vùngđồng bào DTTS, vùng có đạo, về sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý điều hànhcủa Nhà nước và của chính quyền cơ sở

- Qua khảo sát thực tế 100 hộ người Ba na tại thành phố Kon Tum vàhuyện Kon Rẫy về mức độ tham gia hội họp của người dân Kết quả số lượngcán bộ, hội viên, nhân dân được tham gia các đợt vận động, tuyên truyền tạithôn, làng như sau: tham gia thường xuyên: 18%; có tham gia nhưng khôngđều: 38%, ít tham gia: 33%; không tham gia: 11%

Phỏng vấn sâu về nguyên nhân vì sao tỉ lệ người dân tộc thiểu số íttham gia đông đủ các cuộc họp tuyên truyền phổ biến tại các thôn, làng; Bà YKhiêm, phó Chủ tịch UBND xã Đăk Rơ Wa, thành phố Kon Tum cho biết: ”

Cán bộ thôn cũng đi vận động rất nhiều nhưng thực tế do một số hộ gia đình phải đi làm ăn xa, do đất sản xuất trên địa bàn không còn, nên phải làm rẫy ở nơi khác có khi 1 tháng mới về một lần, một số hộ gia đình thì chỉ còn người già, người lớn tuổi không rành tiếng kinh nên không thích tham dự các lớp

Trang 38

tuyên tuyền của cán bộ người kinh”

Để tìm hiểu thêm thực trạng ít tham gia hội họp của người dân, tác giả

đã đến thăm nhà ông A Wer một trong những hộ gia đình ít tham gia các hoạtđộng tuyên truyền của địa phương, ông là người theo Đạo Thiên chúa giáo

Theo ông những lần ông tham gia đều rất chính đáng “ Những ngày làng tổ chức lễ hội, hay gia đình tôi cúng lễ cầu nguyện cho con cháu trong dòng họ thì không thể vắng mặt được, như thế là không tốt Và những công việc phụng

sự Chúa, tôi đi công việc của Nhà thờ giao, tôi phải làm cho thật tốt, nếu có lỗi sẽ bị Bề trên quở trách” …

Qua các trường hợp trên, thực tế cho thấy việc tổ chức các hoạt động tuyêntruyền nâng cao nhận thức cho nhân dân trong vùng dân tộc thiểu số còn hạn chế,chất lượng công tác tuyên truyền chưa cao Cần lưu ý đến điều kiện sống, môitrường sản xuất của người dân, các phong tục tập quán trong cộng đồng, trình độtiếp thu…mà chính quyền cấp cơ sở và cán bộ tuyên truyền áp dụng những hìnhthức và nội dung tuyên truyền phù hợp, cần bồi dưỡng cán bộ tuyên truyền làngười dân tộc bản địa thì sẽ mang lại hiệu quả tốt hơn

Tốc độ GDP tăng trưởng khá hàng năm, bình quân giai đoạn 2011 –

2015 đạt 13,8% Thu nhập bình quân đầu người trên toàn tỉnh đến cuối năm

2015 đạt trên 30 triệu đồng/ người Hệ thống đường liên xã và giao thông

Trang 39

nông thôn cơ bản lưu thông thuận lợi thông suốt 2 mùa Cuối năm 2015,100% xã có đường ô tô đến trung tâm xã, 100% xã được sử dụng điện lướiquốc gia với 98,66% thôn, tổ dân phố và trên 98,68% số hộ được sử dụngđiện; trên 86% hộ được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh.

Nông nghiệp tăng trưởng bình quân hàng năm 7%/năm Diện tích câycao su, cây cà phê, sâm Ngọc Linh tiếp tục được mở rộng, tạo ra các vùngchuyên canh cho nguyên liệu và công nghiệp chế biến Việc đưa các giốngcây trồng, vật nuôi mới vào sản xuất và ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuậtvào sản xuất nông nghiệp được chú trọng đã góp phần tăng năng xuất, chấtlượng sản phẩm nông nghiệp Công tác quản lý bảo vệ rừng và phát triển rừngtheo hướng bền vững đạt kết quả Xây dựng nông thôn mới đã mang lại kếtquả tích cực, góp phần làm thay đổi diện mạo khu dân cư và đời sống ngườidân ở nông thôn, vùng DTTS Toàn tỉnh hiện nay có 119 tổ hợp tác với1.680 thành viên Doanh thu trung bình của mỗi tổ hợp tác là 175 triệuđồng/năm; lợi nhuận trung bình đạt 34 triệu đồng/năm Hoạt động các tổ hợptác chủ yếu trong lĩnh vực nông nghiệp và chiếm 70% tại các xã người DTTS.Các thành viên của tổ hợp tác đã giúp đỡ nhau về vốn, nhân lực, phổ biếnkinh nghiệm sản xuất, tạo việc làm cho hộ gia đình và bước đầu đã góp phầntích cực vào công tác giảm nghèo và thay đổi tập quán canh tác cũ, lạc hậuthúc đẩy chuyển dịch cơ cấu sản xuất theo hướng hàng hóa, nâng cao đờisống vật chất cho người DTTS

Các làng nghề thủ công, mỹ nghệ truyền thống đã được qui hoạch, sắpxếp lại và đầu tư xây dựng hạ tầng nhằm thuận tiện cho việc phát triển làngnghề, phục vụ, thu hút khách du lịch Qua khảo sát, toàn tỉnh hiện có 12 làngnghề truyền thống chủ yếu là dệt thổ cẩm, mây tre đan tập trung chủ yếu ởthành phố Kon Tum, huyện Kon Plong Tổng giá trị sản xuất đạt trên 120 tỷcuối năm 2015

Trang 40

Chất lượng giáo dục đào tạo được nâng lên, nhất là vùng DTTS; Côngtác đào tạo nghề cho người DTTS được triển khai tích cực góp phần nâng tỷ

lệ lao động qua đào tạo chung từ 33% đến 42% Nhà ở, đất ở, đất sản xuất chongười DTTS cơ bản được đảm bảo Tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh từ 33,36%cuối năm 2010 xuống còn 11,5% vào cuối năm 2015 trong đó tỉ lệ hộ nghèongười dân tộc thiểu số/tổng số hộ DTTS giảm từ 56,5% năm 2010 xuống còn19,87% vào cuối năm 2015

Giá trị văn hóa các dân tộc tiếp tục được quan tâm bảo tồn phát huy.Đến nay toàn tỉnh có 20,5% số xã có nhà Văn hóa; 50,5% làng đồng bàoDTTS có cồng chiêng với khoản trên 1.800 bộ, 95% làng có nhà Rông truyềnthống, 100% hộ dân được nghe Đài phát thanh, xem tuyền hình trên ti vi

Mạng lưới y tế cấp xã được củng cố, tăng cường 100% trạm y tế cơ sở

có Bác sỹ, 100% tổ thôn có nhân viên y tế thôn, làng Đa số người dân đã đếnTrạm y tế, bệnh viện để khám chữa bệnh Tình trạng cúng khi ốm đau đãgiảm hẳn

Hình 1 Ông /bà có đi cúng khi người nhà ốm đau

(Kết quả: từ nguồn khảo sát)

Bên cạnh những kết quả đạt được từ quyết tâm của lãnh đạo địaphương và nổ lực của cộng đồng người DTTS nơi đây, thì qua khảo sát vẫn

Ngày đăng: 29/08/2016, 08:37

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Văn An, Ngô Tùng Đức (2016), Sổ tay hướng dẫn phát triển cộng đồng, nhà xuất bản thanh niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lê Văn An, Ngô Tùng Đức (2016)
Tác giả: Lê Văn An, Ngô Tùng Đức
Nhà XB: nhà xuất bản thanh niên
Năm: 2016
2. Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Kon Tum, (1996), Lịch sử Đảng bộ tỉnh Kon Tum, Nhà xuất bản chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Kon Tum, (1996)
Tác giả: Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Kon Tum
Nhà XB: Nhà xuất bản chính trị quốc gia
Năm: 1996
3. Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, (2012), tài liệu đào tạo bồi dưỡng cho cán bộ tuyến cơ sở, Công tác xã hội với nhóm dân tộc thiểu số. Đề án Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, (2012), tài liệu đào tạo bồi dưỡng chocán bộ tuyến cơ sở, "Công tác xã hội với nhóm dân tộc thiểu số
Tác giả: Bộ Lao động Thương binh và Xã hội
Năm: 2012
4. Nguyễn Kim Chi, Nguyễn Đổng Chi (2011), Người Ba na ở Kon Tum, Nhà xuất bản tri thức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Kim Chi, Nguyễn Đổng Chi (2011), "Người Ba na ở Kon Tum
Tác giả: Nguyễn Kim Chi, Nguyễn Đổng Chi
Nhà XB: Nhà xuất bản tri thức
Năm: 2011
5. Chu Dũng, (2007), phương pháp tiếp cận ABCD, Nxb Trung tâm nghiên cứu – tư vấn CTXH và PTCĐ (SDRC) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chu Dũng, (2007), "phương pháp tiếp cận ABCD
Tác giả: Chu Dũng
Nhà XB: Nxb Trung tâm nghiêncứu – tư vấn CTXH và PTCĐ (SDRC)
Năm: 2007
6. Bùi Minh Đạo,(2006), Người Bana ở Việt Nam, Nhà xuất bản khoa học xã hội Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bùi Minh Đạo,(2006), "Người Bana ở Việt Nam
Tác giả: Bùi Minh Đạo
Nhà XB: Nhà xuất bản khoa học xãhội Hà nội
Năm: 2006
7. Bùi Xuân Đính,(2012), Các tộc người Việt Nam, Nxb Thời Đạ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bùi Xuân Đính,(2012), "Các tộc người Việt Nam
Tác giả: Bùi Xuân Đính
Nhà XB: Nxb Thời Đạ
Năm: 2012
9. Tô Duy Hợp, Lương Hồng Quang, (2000), Phát triển cộng đồng Lý thuyết và vận dụng, Nxb Văn hóa Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tô Duy Hợp, Lương Hồng Quang, (2000), "Phát triển cộng đồng Lý thuyếtvà vận dụng
Tác giả: Tô Duy Hợp, Lương Hồng Quang
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 2000
10.Phan Sỹ Hiếu – Đặng Kim Sơn, (2004), Phát triển cộng đồng nông thôn mới ở Hàn Quốc, Nxb Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phan Sỹ Hiếu – Đặng Kim Sơn, (2004), "Phát triển cộng đồng nông thônmới ở Hàn Quốc
Tác giả: Phan Sỹ Hiếu – Đặng Kim Sơn
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 2004
11.Dương Thị Hưởng, Đỗ Đình Hãng, Đậu Tuấn Nam, (2010), Một số vấn đề về văn hóa – xã hội các dân tộc thiểu số ở Tây nguyên hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dương Thị Hưởng, Đỗ Đình Hãng, Đậu Tuấn Nam, (2010), "Một số vấn đềvề văn hóa – xã hội các dân tộc thiểu số ở Tây nguyên hiện nay
Tác giả: Dương Thị Hưởng, Đỗ Đình Hãng, Đậu Tuấn Nam
Nhà XB: NxbChính trị quốc gia
Năm: 2010
12.Nguyễn Ngọc Lâm, (2009), xây dựng và phát triển dự án, Nxb Đại học mở bán công thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Ngọc Lâm, (2009), "xây dựng và phát triển dự án
Tác giả: Nguyễn Ngọc Lâm
Nhà XB: Nxb Đại học mởbán công thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2009
13.Nguyễn Thị Kin Liên, (2008), Giáo trình phát triển cộng đồng, Nhà xuất bản Lao động – Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Thị Kin Liên, (2008), "Giáo trình phát triển cộng đồng
Tác giả: Nguyễn Thị Kin Liên
Nhà XB: Nhà xuấtbản Lao động – Xã hội
Năm: 2008
14.Nguyễn Huyền Linh, Nguyễn Tấn Long, (2011), Giáo trình phát triển cộng đồng, nhà xuất bản Lao động – xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Huyền Linh, Nguyễn Tấn Long, (2011), "Giáo trình phát triểncộng đồng
Tác giả: Nguyễn Huyền Linh, Nguyễn Tấn Long
Nhà XB: nhà xuất bản Lao động – xã hội
Năm: 2011
15.Đặng Luận,(2007), Làng thiết chế xã hội cổ truyền của các dân tộc bản địa Kon Tum, in trong kỷ yếu hội thảo: Kon Tum 95 năm lịch sử và phát triển, Tỉnh ủy Kon Tum xuất bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặng Luận,(2007), "Làng thiết chế xã hội cổ truyền của các dân tộc bảnđịa Kon Tum
Tác giả: Đặng Luận
Năm: 2007
16.Bùi Thị Xuân Mai, (2010), Giáo trình Nhập môn công tác xã hội, Nhà xuất bản Lao động – Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bùi Thị Xuân Mai, (2010), "Giáo trình Nhập môn công tác xã hội
Tác giả: Bùi Thị Xuân Mai
Nhà XB: Nhàxuất bản Lao động – Xã hội
Năm: 2010
17.TS. Phạm hữu Nam, (2015), Tập Bài giảng môn CTXH trong phát triển cộng đồng, thực hiện tại Viện KHXHVN Sách, tạp chí
Tiêu đề: TS. Phạm hữu Nam, (2015), "Tập Bài giảng môn CTXH trong phát triểncộng đồng
Tác giả: TS. Phạm hữu Nam
Năm: 2015
18.TS. Nguyễn Thị Oanh, (1995), Phát triển cộng đồng, Nxb Đại học mở bán cồng TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: TS. Nguyễn Thị Oanh, (1995), "Phát triển cộng đồng
Tác giả: TS. Nguyễn Thị Oanh
Nhà XB: Nxb Đại học mở báncồng TP Hồ Chí Minh
Năm: 1995
19.Trần Đình Tuấn, (2010), Công tác xã hội lý thuyết và thực hành, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trần Đình Tuấn, (2010), "Công tác xã hội lý thuyết và thực hành
Tác giả: Trần Đình Tuấn
Nhà XB: Nxb Đạihọc quốc gia Hà Nội
Năm: 2010
21.Trung tâm SDRC, (2008), Phương pháp tiếp cận ABCD, Nxxb Trung tâm nghiên cứu – Tư vấn CTXH & PTCĐ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trung tâm SDRC, (2008), "Phương pháp tiếp cận ABCD
Tác giả: Trung tâm SDRC
Năm: 2008
22.Ủy ban nhân dân tỉnh Kon Tum, (2014), Báo cáo tổng kết công tác dân tộc tỉnh Kon Tum giai đoạn (2010- 2014) và phương hướng hoạt động giai đoạn (2014 – 2018) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ủy ban nhân dân tỉnh Kon Tum, (2014)
Tác giả: Ủy ban nhân dân tỉnh Kon Tum
Năm: 2014

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

(Sơ đồ 1.1: Sơ đồ phát triển cộng đồng) - Phát triển cộng đồng đối với người dân tộc ba na từ thực tiển tỉnh kon tum
Sơ đồ 1.1 Sơ đồ phát triển cộng đồng) (Trang 22)
Hình 1.  Ông /bà có đi cúng khi người nhà ốm đau - Phát triển cộng đồng đối với người dân tộc ba na từ thực tiển tỉnh kon tum
Hình 1. Ông /bà có đi cúng khi người nhà ốm đau (Trang 40)
Hình 2: Cây trồng chính của gia đình Ông/Bà                ( Nguồn từ kết quả nghiên cứu) - Phát triển cộng đồng đối với người dân tộc ba na từ thực tiển tỉnh kon tum
Hình 2 Cây trồng chính của gia đình Ông/Bà ( Nguồn từ kết quả nghiên cứu) (Trang 41)
Sơ đồ 2.1: Thiết chế tự quản truyền thống của người Ba na - Phát triển cộng đồng đối với người dân tộc ba na từ thực tiển tỉnh kon tum
Sơ đồ 2.1 Thiết chế tự quản truyền thống của người Ba na (Trang 48)
Hình 4: Hiểu biết của Ông/ Bà về nghề truyền thống - Phát triển cộng đồng đối với người dân tộc ba na từ thực tiển tỉnh kon tum
Hình 4 Hiểu biết của Ông/ Bà về nghề truyền thống (Trang 50)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w