1. Lý do chọn đề tài Nước Mỹ từ lâu đã hình thành cái gọi là chế độ đa đảng: Đảng Dân chủ và Đảng Cộng hòa, đại biểu cho quyền lợi cuả những tư bản lũng đoạn lớn, thay phiên nhau nắm chính quyền và là hai đảng đối lập hợp pháp. Đảng Dân chủ là một trong hai đảng chính trị có ảnh hưởng nhất ở Mỹ, ra đời năm 1791. Mặc dù trong thực tế, việc nghiên cứu về Đảng Dân chủ của Mỹ không phải là một vấn đề mới, thậm chí là đã có rất nhiều người đã chọn đảng này để làm tiều luận hay các công trình nghiên cứu. Tuy nhiên việc em chọn Đảng Dân chủ để làm bài tiểu luận tìm hiểu về một đảng chính trị lớn và lâu đời trên thế giới trong khuôn khổ môn Quyền lực chính trị và cầm quyền bởi vì: Thứ nhất, hiện nay đảng này đang là đảng cầm quyền; Thứ hai, là đảng chính thức trong hệ thống chính trị của một nước lớn trên thế giới; Thứ ba, Đảng Dân chủ là đảng được người dân Mỹ và nhân dân thế giới ủng hộ nhiều hơn, biểu hiện rõ nhất qua các cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ. 2. Tình hình nghiên cứu Có một số nghiên cứu như : Vài nét về Đảng Dân Chủ Ở Mỹ của GS, TS. Nguyễn Hoàng Giáp Viện trưởng Viện Quan hệ quốc tế, Học viện CTHCQG HCM Các Đảng chính trị ở Hoa Kỳ Hay các nghiên cứu có liên quan như tìm hiểu “Chế độ Tổng thống Mỹ”, luận văn với đề tài “Vài nét về chế độ và quá trình bầu cử của Hoa Kỳ”... Trong khuôn khổ tìm hiểu các công trình nghiên cứu đi trước và tham khảo 2 một số tài liệu có liên quan đến Đảng Dân chủ Mỹ, em đã hoàn thành bài tiể luạn với chủ đề: “Tìm hiểu Đảng Dân chủ Mỹ một đảng lớn và lâu đời trên thế giới”.
Trang 1MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ NƯỚC MỸ
1 Điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội
2 Đặc điểm hệ thống chính trị
CHƯƠNG 2: VÀI NÉT VỀ ĐẢNG DÂN CHỦ MỸ
1 Khái quát về đảng dân chủ Mỹ
2 Quá trình hình thành và phát triển của Đảng Dân chủ Mỹ
3 Cơ cấu tổ chức và hoạt động của Đảng Dân chủ Mỹ
4 Nền tảng ý thức hệ và ý thức hệ của Đảng Dân chủ Mỹ
5 Biểu tượng của Đảng Dân chủ Mỹ
6 Danh sách các Tổng thống đắc cử của Đảng Dân chủ MỹCHƯƠNG 3: VAI TRÒ CỦA ĐẢNG DÂN CHỦ MỸ
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nước Mỹ từ lâu đã hình thành cái gọi là chế độ đa đảng: Đảng Dân chủ vàĐảng Cộng hòa, đại biểu cho quyền lợi cuả những tư bản lũng đoạn lớn, thayphiên nhau nắm chính quyền và là hai đảng đối lập hợp pháp Đảng Dân chủ làmột trong hai đảng chính trị có ảnh hưởng nhất ở Mỹ, ra đời năm 1791 Mặc dùtrong thực tế, việc nghiên cứu về Đảng Dân chủ của Mỹ không phải là một vấnđề mới, thậm chí là đã có rất nhiều người đã chọn đảng này để làm tiều luận haycác công trình nghiên cứu Tuy nhiên việc em chọn Đảng Dân chủ để làm bàitiểu luận tìm hiểu về một đảng chính trị lớn và lâu đời trên thế giới trong khuônkhổ môn Quyền lực chính trị và cầm quyền bởi vì:
Thứ nhất, hiện nay đảng này đang là đảng cầm quyền;
Thứ hai, là đảng chính thức trong hệ thống chính trị của một nước lớn trênthế giới;
Thứ ba, Đảng Dân chủ là đảng được người dân Mỹ và nhân dân thế giới ủnghộ nhiều hơn, biểu hiện rõ nhất qua các cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ
2 Tình hình nghiên cứu
Có một số nghiên cứu như :
- Vài nét về Đảng Dân Chủ Ở Mỹ của GS, TS Nguyễn Hoàng Giáp - Việntrưởng Viện Quan hệ quốc tế, Học viện CT-HCQG HCM
- Các Đảng chính trị ở Hoa Kỳ
- Hay các nghiên cứu có liên quan như tìm hiểu “Chế độ Tổng thống Mỹ”,luận văn với đề tài “Vài nét về chế độ và quá trình bầu cử của Hoa Kỳ” Trong khuôn khổ tìm hiểu các công trình nghiên cứu đi trước và tham khảo
Trang 3một số tài liệu có liên quan đến Đảng Dân chủ Mỹ, em đã hoàn thành bài tiểluạn với chủ đề: “Tìm hiểu Đảng Dân chủ Mỹ - một đảng lớn và lâu đời trên thếgiới”.
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Tìm hiểu khái quát về nước Mỹ:
- Điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội
- Đặc điểm hệ thống chính trị
Nghiên cứu tổng thể và chi tiết về Đảng Dân chủ Mỹ :
- Khái quát chung về Đảng Dân chủ Mỹ
- Quá trình hình thành và phát triển của Đảng Dân chủ Mỹ
- Cơ cấu tổ chức và hoạt động của Đảng Dân chủ mỹ
Trong phạm vi kiến thức còn hạn hẹp, bài tiểu luận “Tìm hiểu về Đảng Dân chủ Hoa Kỳ của em không thể tránh khỏi những thiếu xót, em mong cô sửa
chữa và bổ sung để bài tiểu luận của em được đầy đủ, chi tiết hơn
Trang 4CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ NƯỚC MỸ
1 Điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội
Hợp Chúng quốc Hoa Kỳ (hay thường bị gọi với tên không chính xác là Hợpchủng quốc Hoa kỳ) là tên đầy đủ của Hoa Kỳ hay còn gọi là nước Mỹ, đượcthành lập khi 13 thuộc địa cũ của Anh tại Bắc Mỹ tuyên bố vào năm 1776 rằng
họ là những bang tự do và độc lập Hoa Kỳ có 50 bang gồm 3 bộ phận lãnh thổcách biệt nhau Bộ phận thứ nhất gồm 48 bang, nằm giữa lục địa Bắc Mỹ, giápCanađa, Mêhicô, Thái Bình Dương và Đại Tây Dương Bộ phận thứ hai là bangAlaxka nằm ở Tây Bắc lục địa Bắc Mỹ, giáp Canađa, biển Bôxpho và biểnBêrinh Bộ phận thứ ba là đảo Hawai nằm giữa Thái Bình Dương, cách thànhphố Sanphranxico khoảng 3.900 km đường biển
Thủ đô Hoa Kỳ hiện nay là Washington D.C có diện tích 176 km² vàkhoảng gần 600 nghìn dân Hoa Kỳ là một nước Cộng hòa Liên bang với diệntích 9.373.000 km², dân số 313.847.465 người (năm 2012)
Các nhóm dân tộc : người da trắng 80%, da đen 11%, người Hispaníc 6%,người Châu Á 2%, người da đỏ và các nhóm người khác 1%
Ngôn ngữ chính : tiếng Anh, một bộ phận nói tiếng Tây Ban Nha
Tôn giáo : Đạo Tin lành 49%, Đạo Thiên chúa 30%, Đạo Cơ đốc 4%, Đạo
Do thái 3%, Anh quốc giáo 2%, Đạo Hồi 2%
Kinh tế -xã hội : Mỹ là một trong những nước có nền kinh tế phát triển nhấtthế giới GDP năm 2012 là 15.643 tỷ USD, đạt 2,2%, cao hơn mức tăngtrưởng 1,8% trong năm 2011
Văn hóa-giáo dục: số học sinh trên giáo viên : bậc tiểu học 20, trung học 15,bậc trên trung học 10 Tỷ lệ GNP giành cho giáo dục 6,7% Tỷ lệ người biếtchữ 97% Số dân trên bác sĩ 413 Tuổi thọ trung bình : nam 72, nữ 79 tuổi
Trang 52 Đặc điểm hệ thống chính trị
Chính thể Mỹ là Cộng hòa Tổng thống Hệ thống chính trị Mỹ được hìnhthành trên nguyên tắc của Hiến pháp Mỹ Hiến pháp Mỹ quy định nhữngnguyên tắc và giới hạn quyền lực cho hoạt động chính trị của toàn hệ thốngchính trị: Phân chia quyền lực, kiềm chế và đối trọng, chế độ liên bang, chínhphủ hạn chế và xét duyệt tư pháp
Phân chia quyền lực và kiềm chế – đối trọng là hai nguyên tắc quan trọngnhất của Hiến pháp Mỹ, theo đó bộ máy nhà nước được chia làm 3 nhánh: lậppháp có nhiệm vụ thông qua các đạo luật, được trao cho Quốc hội; hành pháp
có nhiệm vụ thi hành luật, được trao cho Tổng thống; tư pháp – giải thích luật,được trao cho Tòa án tối cao
Chế độ liên bang quy định việc phân bố quyền lực giữa chính quyền trungương và chính quyền các bang, chính quyền trung ương và chính quyền bangđều có ảnh hưởng trực tiếp đối với công dân và mỗi chính quyền lại có nhữngquyền lực riêng
Chính phủ hạn chế: nền tảng cơ bản của chính phủ hạn chế là quyền lựcchính phủ bị hạn chế bởi các quyền và tự do của người dân; người dân trao chochính phủ một số quyền và nghĩa vụ nhất định; khế ước chính trị – các hànhđộng của chính phủ phải dựa trên nguyên tắc pháp quyền đã được người dânnhất trí (dù là gián tiếp) và được thể hiện thông qua Hiến pháp
Nguyên tắc xét duyệt tư pháp: cơ quan tư pháp có quyền quyết định tínhhợp hiến của các hoạt động của nhiều chủ thể từ chính quyền liên bang, chínhquyền bang và chính quyền địa phương Xét duyệt tư pháp đặt vị trí Tòa án tốicao vào vị trí là người giám sát hoạt động của chính phủ trung ương và do đó,trở thành người bảo vệ cho chế độ liên bang
Trang 6Hệ thống chính trị Mỹ là hệ thống đa nguyên đa đảng nhưng lịch sử chínhtrị Mỹ lại luôn luôn chứng kiến sự thay nhau cầm quyền của hai đảng lớn đó làĐảng Dân chủ và Đảng Cộng hòa Có bốn lý do của sựu tồn tại chế độ 2 đảngnổi trội ở Mỹ:
Thuyết nhị nguyên mang tính lịch sử về xung đột chính trị ở Mỹ Sự chia rẽchính trị lớn đầu tiên diễn ra là sự chia rẽ giữa những người theo chủ nghĩa liênbang và những người chống chủ nghĩa liên bang Cuộc đấu tranh này tạo nêntruyền thống chi phối nền chính trị 2 đảng ở quốc gia này
Những quan điểm trung hòa của cử tri Mỹ Khác với các nền dân chủ châu
Âu, ở Mỹ không tồn tại chế độ phong kiến hay quý tộc, nên không có tầng lớpnào để hình thành một đảng chính trị lớn theo khuynh hướng cực hữu; dânnghèo thì không thể hình thành một đảng chính trị lớn cực tả; nền dân chủ Mỹthiên về trung dung Cử tri Mỹ không muốn lựa chọn chính trị cực đoan Cácđảng phái theo hướng cực tả hoặc cực hữu đều không có chỗ đứng trong nềnchính trị Mỹ
Cấu trúc của hệ thống bầu cử khuyến khích sự chi phối của hệ thống haiđảng Chế độ bầu cử theo phương thức đa số tương đối Ứng cử viên thắng cửlà người giành nhiều phiếu bầu nhất trong số những người cạnh tranh Trongbầu cử Tổng thống, đảng nào giành nhiều phiếu nhất tại một bang thì đảng đógiành được tất cả các phiếu đại cử tri của bang đó
Các Đảng Dân chủ và Cộng hòa đủ sức chi phối nền chính trị Mỹ bởi nóthích nghi được với những biến cố xã hội; linh hoạt chấp nhận các quan điểmkhác để mở rộng liên minh (thu hút bất cứ đảng thứ ba nào nổi lên) Cươnglĩnh của hai đảng này cũng đã bao quát hầu như tất cả các vấn đề của đời sốngkinh tế – chính trị – xã hội Mỹ, học đã đóng được vai trò đại diện các tầng lớp dân cư
Trang 7Nhà nước là trung tâm của hệ thống chính trị Mỹ Việc phân quyền cònđược tổ chức theo chiều dọc: phân quyền giữa chính quyền liên bang – chínhquyền bang – chính quyền địa phương Bầu cử giữ vai trò đặc biệt quan trọngtrong hoạt động chính trị Mỹ – lựa chọn những người vào cương vị lãnh đạocao nhất của bộ máy các cấp từ trung ương đến đại phương.
Hoạt động tranh cử, nhất là cuộc chạy đua vào Nhà trắng giành chiếc ghếTổng thống là quyết liệt nhất Thực chất đây là cuộc cạnh tranh giữa Đảng Dânchủ và Đảng Cộng hòa Tổng thống Mỹ không do người dân trực tiếp bầu, mà
do cử tri đoàn bầu ra Thành viên của cử tri đoàn đưuọc gọi là đại cử tri Mỗibang có số đại cử tri bằng số thượng nghị sĩ và hạ nghị sĩ của bang đó cộng lại.Để trở thành Tổng thống, ứng cử viên phải giành được ít nhất 270 phiếu của cửtri đoàn Các đại cử tri không được là quan chức của chính phủ hoặc nghị sĩQuốc hội, nhưng mang tính đảng phái Các đại cử tri phải cam kết bỏ phiếu chođảng mà họ đứng tên đại diện
Quá trình bầu cử tổng thống trải qua ba giai đoạn: giai đoạn bầu cử sơ bộ;giai đoạn hội nghị đảng toàn quốc, chiến dịch vận động tranh cử; giai đoạn bầutổng thống và phó tổng thống
Bầu cử Quốc hội đơn giản hơn nhiều so với bầu tổng thống Nó diễn ra quahai giai đoạn: bầu cử sơ bộ để chọn ứng cử viên của mỗi đảng và bầu chínhthức quyết định người thắng cuộc Kết quả bầu cử được quyết định theophương pháp đã số tương đối – người trúng cử là người giành được số phiếucao hơn đối thủ của mình, kể cả khi số phiếu bầu không vượt quá 50%
Nhìn chung hoạt động bầu cử ở Mỹ về hình thức là lựa chọn đại diện chodân, nhưng thực chất đó là cuộc ganh đua giành quyền lực giữa các đảng phái,các lực lượng xã hội với sự tham gia, tác động của tất cả các thành tố trong hệthống chính trị
Trang 8CHƯƠNG 2: VÀI NÉT VỀ ĐẢNG DÂN CHỦ MỸ
1 Khái quát chung về Đảng Dân chủ Mỹ
Trong nửa đầu thế kỷ XIX, Đảng Dân chủ Mỹ thể hiện lợi ích của chủ đồnđiền miền nam và giai cấp tư sản ngân hàng, thương nghiệp miền bắc Đảngcòn bao gồm cả tầng lớp tiểu tư sản thành thị và các phác-mơ phản đối chínhsách của đại tư sản Đến năm 1860, Đảng Dân chủ phân hóa nặng nề: bộ phậnnhững người dân chủ miền Bắc gồm đại tư sản và chủ nô muốn củng có nềnkinh tế và địa vị của mình, phản đối việc duy trì chế độ nô lệ ở miền Bắc vàmiền Tây; bộ phận những người dân chủ miền Nam đại diện cho lực lượngchủ đồn điền bảo thủ, phản động, chủ trương duy trì chế độ nô lệ, phân biệtchủng tộc Trong hàng ngũ chủ nô, còn có một bộ phận ôn hòa, đại diện chocác chủ nô vùng biên giới và một số bang miền Nam
Trong lịch sử chính trị nước Mỹ, Đảng Dân chủ là một trong những chínhđảng lớn nhất, ra đời sớm và tồn tại lâu đời nhất Đảng Dân chủ từ khi thànhlập đến nay luôn là một nhân tố quan trọng hàng đầu cấu thành hệ thống và thểchế chính trị Mỹ Sau khi Đảng Cộng hòa ra đời năm 1854, Đảng Dân chủcùng với đảng này trở thành hai chính đảng tư sản thay nhau nắm quyền trongsuốt 155 năm qua Với thắng lợi trong cuộc bầu cử cuối năm 2008, Đảng Dânchủ với ứng cử viên tổng thống B Ôbama đã giành lại quyền kiểm soát Nhàtrắng sau 8 năm rơi vào tay Đảng Cộng hòa, đồng thời giành quyền kiểm soát
cơ quan lập pháp ở cả Thượng viện và Hạ viện
Các đảng phái chính trị ở Mỹ bắt đầu hình thành từ đầu thập niên 90 thế kỷXVIII Dưới thời Tổng thống đầu tiên G Oasinhtơn, chính quyền Mỹ bị chia rẽthành hai nhóm Nhóm thứ nhất theo tư tưởng liên bang đứng đầu là Bộ trưởngTài chính A Hamiltơn chủ trương hình thành một chính phủ quốc gia mạnh, tăng cường quyền lực trung ương, nâng đỡ giới công nghiệp-tài chính miền
Trang 9Đông Bắc Nhóm thứ hai đứng đầu là Bộ trưởng Ngoại giao T Jefferson chủtrương phân quyền cho các bang, nâng đỡ giới địa chủ, nông dân, tiểu thủ công
ở miền Nam Sau khi Hiến pháp liên bang được phê chuẩn (1789), nhóm thứnhất trở nên mạnh hơn và hoạt động như một đảng chính trị Thomas Jeffersonkhông được Tổng thống Oasinhtơn ủng hộ, nên từ chức và năm 1791 lập ramột đảng đối lập với tên gọi Đảng Dân chủ-Cộng hòa, được coi là tiền thân củaĐảng Dân chủ ngày nay Năm 1800 dưới danh nghĩa đảng này, Jefferson ratranh cử tổng thống và đã thắng cử, trở thành Tổng thống thứ ba của nước Mỹ,
mở ra thời kỳ 24 năm cầm quyền liên tục của Đảng Dân chủ-Cộng hoà Trongthời kỳ này, nền kinh tế Mỹ, đặc biệt là nông nghiệp phát triển mạnh, do đóĐảng Dân chủ-Cộng hoà giành được sự ủng hộ của những người nghèo, nô lệ
da đen và nông dân
Đảng này xuất phát nguồn là một đảng phản cách mạng và chống lại việcthành lập Liên bang Hoa Kỳ, sau đó Đảng dần dần trở thành đảng theo xuhướng trung tả trên bàn cờ chính trị nước Mỹ kể từ những năm 90 của thế kỷXIX và đặc biệt rõ nét hơn vào những năm 30 của thế kỷ XX, dưới nhiệm kỳcủa Tổng thống Franklin Roosevelt Những năm 60 và 70 của thế kỷ XX,nghiêng về phía cánh tả dưới sự thúc đẩy của các Thượng nghị sĩ HubertHumphrey, George McGovern hay Edward Kennedy; trong những năm 90 củathế kỷ XX, Đảng Dân chủ đã nghiêng rõ rệt về cánh hữu dưới thời Tổng thốngBill Clinton
Về mặt địa phương cục bộ, Đảng Dân chủ có nhiều người bảo thủ và gầngũi với đối thủ Đảng Cộng Hòa, đặc biệt tập trung ở các khu vực miền Tây,miền Trung và miền Nam đất nước Ngược lại, rất nhiều chi bộ của Đảng Dânchủ, chủ yếu trong các vùng San Francisco thuộc California, Seattle, quận King
ở Washington, miền trung của Oregon, các vùng thuộc phía Tây khu vực Hồ
Trang 10lớn (Minnesota và Wisconsin) lại nghiêng về cánh tả.
2 Quá trình hình thành và phát triển của Đảng Dân chủ Mỹ
Đảng Dân chủ cùng với Đảng Cộng hòa là hai chính đảng lớn nhất tại Hoa
Kỳ Đảng Dân chủ Mỹ ra đời năm 1791
Sau khi Đảng Liên bang biến mất, Đảng Dân chủ - Cộng hòa (rất nổi tiếng ởthời kỳ đó dưới tên gọi duy nhất là Đảng Cộng hòa) đã trở thành đảng chính trịduy nhất quan trọng ở Hoa Kỳ
Từ năm 1824 do những mâu thuẫn nội bộ nên Đảng Dân chủ-Cộng hoà bịphân liệt thành nhiều phe phái khác nhau Kết quả là, vào năm 1828 Đảng nàybị chia rẽ thành hai đảng mới: Đảng Dân chủ và Đảng Whig Thời kỳ từ năm
1828 đến trước cuộc nội chiến ở Mỹ (1861-1865), Đảng Dân chủ và ĐảngWhig thay nhau cầm quyền
Trong nhiệm kỳ của Tổng thống Andrew Jackson (3/1829-3/1837) sự chiarẽ đã xuất hiện trong nội bộ Đảng Những người ủng hộ Jackson thành lậpĐảng Cộng hòa – Dân chủ, những người chống đối Tổng thống thì tập hợp lạidưới cái tên Đảng Quốc gia Cộng hòa, dưới sự lãnh đạo của John QuincyAdams Đảng Cộng hòa – Dân chủ đã nhanh chóng đổi tên thành Đảng Dânchủ
Từ năm 1833-1856, Đảng dân chủ đối lập với Đảng Whig, là một đảng có
xu hướng tự do và liên bang, gần gũi với giới doanh nhân và đặc biệt đây làmột đảng của phía Bắc
Năm 1854, một liên minh của Đảng Whig với những người thuộc Đảng Dânchủ có xu hướng chống chế độ nô lệ đã thành lập Đảng Cộng hoà, đại diện choquyền lợi của tư bản công-thương nghiệp miền Bắc và miền Tây, Đảng Dânchủ đại diện cho chế độ nô lệ ở miền Nam Đây là nguyên nhân dẫn đến cuộc
Trang 11nội chiến kéo dài từ 1861 đến 1865 với thắng lợi của tư bản miền Bắc.
Từ năm 1856, đối thủ chính của Đảng Dân chủ là Đảng Cộng hòa, Đảng đãthay thế Đảng Whig vốn đã trở nên yếu kém bởi vấn đề nô lệ
Đảng Dân chủ trước hết là một đảng ủng hộ quyền lợi của các bang chốnglại sự lấn quyền của Nhà nước Liên bang Một cách gián tiếp, Đảng này ủng hộviệc duy trì chế độ nô lệ, chính điều này đã khiến cho Đảng Dân chủ được lòngdân trong các cuộc bầu cử ở miền Nam
Trong cuộc bầu cử Tổng thống năm 1860, Đảng Dân chủ bị phân chia nộibộ giữa những người dân chủ phía Bắc (ôn hòa) và những người dân chủ phíaNam (ủng hộ chế độ nô lệ) Mỗi phe đều đưa ra một ứng cử viên tổng thống đểtranh cử với ứng cử viên của Đảng Cộng hòa là Abraham Lincoln, người đãchiến thắng sau cùng trong bầu cử này
Thất bại của Đảng Dân chủ đã kéo theo sự ly khai của các bang và các cử trimiền nam đã bầu người của Đảng Dân chủ là Jefferson Davis là Tổng thốngmới của họ
Chiến tranh ly khai kéo dài đến năm 1865,năm thắng lợi của miền bắc Thấtbại của miền nam đã khiến Đảng Dân chủ mất đi bệ đỡ trong các cuộc bầu cử,hơn thế nữa, các bang nổi dậy miền nam còn bị tước quyền bỏ phiếu bầu cửtrong những năm đầu tiên của thời kỳ tái thiết đất nước
Trước nội chiến 1861-1865, Đảng Dân chủ gần như liên tục nắm chínhquyền Năm 1877, sau khi tất cả các hợp bang cũ được khôi phục lại các quyềnlợi và quân miền bắc chấm dứt việc chiếm đóng miền nam, Đảng Dân chủ lạitrở thành nơi ẩn náu của tất cả những người trước đây chủ trương ủng hộ chếđộ nô lệ và chủ trương ly khai
Trong những năm 1880-1890, Đảng Dân chủ do William Jennings Bryan
Trang 12nắm quyền đã thông qua Cương lĩnh Phong trào bình dân và hướng quan điểmkinh tế theo cánh tả, mặc dù về mặt xã hội còn rất bảo thủ Tuy nhiên dưới sựthôi thúc của những người theo khuynh hướng tiến bộ, những người hành độngtheo hai trường phái chính trị khác nhau, một số người trong Đảng Dâm chủ đãtham gia đấu tranh chống tham nhũng và hành động theo ý chí của nhân dân.Franklin Roosevelt và chính sách New Deal của ông đã đưa những ngườidân chủ trở lại cơ quan quyền lực một cách bền vững nhờ vào chương trình cấptiến tự nguyện và chương trình kinh tế của Keynes Sau chiến tranh lại nắmchính quyền từ 1885-1889, từ 1893-1897, từ 1913-1919 và 1933-1935.
Trong các bang miền bắc, Đảng Dân chủ tìm sự ủng hộ ở những người nhập
cư trong vùng New-England, đặc biệt là những tín đồ Công giáo gốc Ailen;trong các bang miền Tây là những người nhập cư đến từ các nước châu Âu,những người này thường phải đương đầu với chính quyền cộng hòa về các vấnđề thuế hải quan
Tóm lại, Đảng Dân chủ thường giành được lá phiếu của những người datrắng miền Nam, những người Do Thái và Công giáo, các tầng lớp bình dân vànhững người vừa mới nhập cư ở miền Đông-Bắc
Thời kỳ từ năm 1865-1932, sự thống trị của Đảng Cộng hòa là rõ ràng,nhưng không hoàn toàn là tất cả bởi cũng có những Tổng thống là người củaĐảng Dân chủ được bầu trong thời kỳ này như: Grover Cleveland (1884-1888;1892-1896) hay Woodrow Wilson (1912-1916)
Thời kỳ 1933-1945 là thời kỳ của Tổng thổng Franklin Delano Roosevelt.Cuộc bầu cử năm 1932 mang đến cho Đảng Dân chủ đa số ghế trong cả haiviện cũng như các ghế thống đốc tiểu bang Những chương trình ban hành năm
1933 được các sử gia gọi là “New Deal thứ nhất” Các đảng viên Đảng Dân
Trang 13chủ bảo thủ nổi giận, dưới sựu lãnh đạo của Al Smith đã thành lập Liên minhTự do Mỹ năm 1934 và tổ chức phản công, những những nỗ lực ấy không hiệuquả “New Deal thứ hai” là một chương trình về lập pháp đầy tham vọng.
Ông xây dựng một Liên minh New Deal gồm các nghiệp đoàn lao động thànhphần thiểu sô quan trọng đó là người Công giáo, người Do Thái và lần đầu tiênngười da đen tham gia Liên minh này chiến thắng hầu hết các cuộc bầu cửTổng thống và tan rã vào năm 1968
Ngay từ thời kỳ cuối những năm 40 của thế kỷ XX, những người dân chủ ởphía Bắc dưới tác động của Tổng thống Harry Truman và của Thượng nghị sĩHubert Humphrey, tuyên bố ủng hộ việc chấm dứt việc phân biệt đối xử giữangười da trắng và người da đen, trước hết là trong quân đội, sau đó là trong xãhội dân sự
Tại miền nam phân biệt chủng tộc đó là một tin tức làm rụng rời nhữngngười theo Đảng Dân chủ ở miền nam, những người đã thành lập một đảng lukhai để chuẩn bị cho cuộc bầu cử tổng thống vào năm 1948 Strom Thurmondđại diện cho Đảng Dân chủ trong cuộc bầu cử tổng thống với ứng cử viên củaĐảng Cộng hòa là Harry Truman, chỉ giành được sự ủng hộ về đa số của bốnbang miền nam , tức là đạt được 39 phiếu của đại cử tri
Năm 1964, phần lớn các bang miền nam đã bỏ phiếu lần đầu tiên cho mộtứng cử viên của Đảng Cộng hòa, một người cực kỳ bảo thủ – Barry Goldwater,trong khi đó Tổng thống Johnson được thông qua với đa số phiếu áp đảo ởphần còn lại của đất nước
Năm 1968, những người dân chủ miền nam đã thành lập Đảng (AmericanIndependent Party, viết tắt là AIP) Ứng cử viên tổng thống của Đảng AIP cho cuộc bầu cử năm 1968 là thống đốc bang Alabama, đạt được 13,5% số phổthông đầu phiếu và được đa số phiếu của các đại cử tri các bang ở miền nam
Trang 14Chính điều này đã tước đi cơ hội thắng cử cảu ứng cử viên Đảng Dân chủ làHubert Humphrey trước ứng cử viên của Đảng Cộng hòa là Richard Nixon.Trong cùng thời gian này, do sự ly khai của các đảng viên bảo thủ, ĐảngDân chủ đã cấp tiến hóa và vào năm 1972 đã giới thiệu George Mc Govern raứng cử Tổng thống , ông này bị tố cáo ủng hộ chủ nghĩa cộng sản nên đã thấtbại trước Nixon.
Như vậy, cho đến những năm 70 của thế kỷ XX, những người dân chủ đã có
32 năm nắm Nhà Trắng, 44 năm giữ vai trò kiểm soát cả hai viện Nhưng 15năm sau đó, Đảng dân chủ lại lâm vào cuộc khủng hoảng sâu sắc vè tổ chức,chính trị, tư tưởng Hiệu ứng cho thấy trong năm lần vận động tranh cử Tổngthống, liên danh ứng cử của người dân chủ thất bại bốn lần
Năm 1976, Jimmy Carter đã thành công trong việc hợp nhất những người tự
do miền bắc với những người bảo thủ miền nam mà không cần chương trìnhcấp tiến của Đảng Dân chủ
Làn sóng bảo thủ của năm 1980 (đã đưa Reagan lên nắm quyền ở NhàTrắng và cho phép Đảng Cộng hòa, lần đầu tiên sau 30 năm dạt được đa số ghế
ở Thượng viện) là một lời cảnh báo nghiêm khắc đối với Đảng Dân chủ Nếunhư đầu những năm 70 của thế kỷ XX, Đảng Dân chủ chủ trương cải cáchthành đảng thiên về chủ nghĩa tự do, ví dụ như giới thiệu Walter Mondale raứng cử Tổng thống năm 1984 thì phong trào những người dân chủ mới lạihướng đảng về phía trung lập, và điều đó đã dẫn tới thắng lợi của Bill Clintontrong cuộc bầu cử tổng thống năm 1992
Trong cuộc bầu cử năm 1980 và 1984, Đảng Dân chủ chỉ có 41% cử tri ủng hộ Năm 1980, lần đầu tiên sau nhiều năm cầm quyền, Đảng Dân chủ bị mất đasố tín nhiệm, qua đấy cũng bộc lộ rõ chỗ yếu về quan điểm truyền thống trước
Trang 15đây của Đảng đối với các nhóm bầu cử là lao động chân tay, thành viên côngđoàn và một số nhóm dân tộc ít người Ảnh hưởng của Đảng yếu đi nghiêmtrọng trong thanh niên, sinh viên Mặc dù giới lãnh đạo của liên minh côngđoàn lớn nhất AFT-KPP lãnh đạo liền trong ba cuộc bầu tranh cử Tổng thốngluôn luôn ủng hộ nhất quán cho Đảng Dân chủ nhưng điều đó không có ý nghĩaquyết định tìm ra lối thoát cho việc bầu cử Tổng thống.
Sau thất bại trong cuộc bầu cử năm 1980, nội bộ Đảng Dân chủ phát sinhmâu thuẫn, chia rẽ, lại đưa Đảng Dân chủ tới thất bại liên tiếp trong cuộc bầucử Tổng thống năm 1984 và 1988 Nhưng trong quá trình nhận thức lại kết quảtranh cử Tổng thống 1984, một cuộc đấu tranh chính trị, tư tưởng xung quanhvấn đề nội bộ và chính sách đối ngoại đã được triển khai trong Đảng Kết cụclà Đảng Dân chủ đã có định hướng chiến lược cho ứng cử viên tranh chứcTổng thống năm 1992, với một chương trình cụ thể là:
- Tập trung phát triển kinh tế
- Cắt giảm ngân sách quốc phòng
- Tăng đánh thuế người giàu chuyển sang phúc lợi xã hội
- Giới hạn mậu dịch để bảo vệ hàng hóa Hoa Kỳ
- Ngăn cản nhà máy Hoa Kỳ đòi ra nước ngoài (nhằm lợi nhân công rẻ mạtnhưng tăng thất nghiệp trong nước)
Nhờ có chương trình tranh cử thực dụng lại giải đáp đúng nhiệm vụ, nhữngvấn đề cấp bách về kinh tế – xã hội đã có tác dụng thức tỉnh, lấy lại niềm tincủa bộ phận cử tri truyền thống của Đảng Dân chủ Kết quả bầu cử Tổng thốngnăm 1992 ứng cử viên Đảng Dân chủ Bill Clinton đã thắng cử
Đảng Dân chủ luôn chiếm đa số ghế trong Thượng viện (trừ thượng việncác năm từ 1980-1986) Tuy nhiên năm 1994 Đảng này đã phải nếm chịu một