MỘT SỐ GIẢI PHÁP, KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ THẾ CHẤP QUYỀN ĐÒI NỢ TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM .... Một trong những quyền tài sản đang được khá nhiều các
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
PHẠM THỊ HỒNG
PHÁP LUẬT VỀ THẾ CHẤP QUYỀN ĐÒI NỢ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
Hà Nội - 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
PHẠM THỊ HỒNG
Chuyên ngành: Luâ ̣t Kinh tế
Mã số: 60 38 01 07
PHÁP LUẬT VỀ THẾ CHẤP QUYỀN ĐÒI NỢ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS Hoàng Thị Quỳnh Chi
Hà Nội - 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Phạm Thị Hồng
Trang 4MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 2
3 Phương pháp nghiên cứu 2
4 Mục đích và nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài 2
5 Kết cấu của luận văn 3
CHƯƠNG 1: 4
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THẾ CHẤP QUYỀN ĐÒI NỢ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 4
1.1 Ngân hàng thương mại và hoạt động của ngân hàng thương mại 4
1.1.1 Khái niệm ngân hàng thương mại 4
1.1.2 Hoạt động của Ngân hàng thương mại 5
1.2 Khái quát về quyền đòi nợ và pháp luật về thế chấp quyền đòi nợ tại Ngân hàng thương mại Error! Bookmark not defined. 1.2.1 Khái quát về quyền đòi nợ Error! Bookmark not defined 1.2.2 Khái quát pháp luật thế chấp quyền đòi nợ Error! Bookmark not defined. 1.2.3 Khái quát chung về hoạt động thế chấp quyền đòi nợ tại Ngân hàng thương mại……… 28
CHƯƠNG 2 Error! Bookmark not defined PHÁP LUẬT VỀ THẾ CHẤP QUYỀN ĐÒI NỢ VÀ THỰC TIỄN THẾ CHẤP QUYỀN ĐÒI NỢ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM Error!
Bookmark not defined
2.1 Quy định của pháp luật về thế chấp quyền đòi nợError! Bookmark not defined.
Trang 52.1.1 Quy định chung vể thế chấp quyền đòi nợ Error! Bookmark not defined 2.1.2 Quy định của pháp luật về Hợp đồng thế chấp quyền đòi nợ Error!
Bookmark not defined.
2.1.3 Quy định của pháp luật về việc xử lý quyền đòi nợ khi bên vay vi phạm
nghĩa vụ thanh toán Error! Bookmark not defined.
2.2 Thực tiễn về thế chấp quyền đòi nợ để đảm bảo tiền vay tại các Ngân hàng
thương mại ở Việt Nam hiện nay Error! Bookmark not defined.
2.2.1 Quy định về thế chấp quyền đòi nợ để bảo đảm tiền vay của một số Ngân
hàng thương mại tại Việt Nam Error! Bookmark not defined.
2.2.2 Thực tiễn về thế chấp quyền đòi nợ tại các Ngân hàng thương mại ở Việt
Nam hiện nay Error! Bookmark not defined.
CHƯƠNG 3 Error! Bookmark not defined MỘT SỐ GIẢI PHÁP, KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ THẾ CHẤP QUYỀN ĐÒI NỢ TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM Error! Bookmark not defined 3.1 Nhu cầu hoàn thiện pháp luật về thế chấp quyền đòi nợError! Bookmark not defined.
3.1.1 Hoàn thiện pháp luật về thế chấp quyền đòi nợ để khắc phục hạn chế,
vướng mắc của pháp luật hiện hành Error! Bookmark not defined.
3.1.2 Hoàn thiện pháp luật về thế chấp quyền đòi nợ để đáp ứng yêu cầu từ
thực tiễn hoạt động của các Ngân hàng thương mạiError! Bookmark not defined.
3.1.3 Hoàn thiện pháp luật về thế chấp quyền đòi nợ để đáp ứng yêu cầu hội
nhập quốc tế Error! Bookmark not defined.
3.2 Giải pháp, kiến nghị về hoàn thiện pháp luật Error! Bookmark not defined.
3.2.1 Sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật hiện hànhError! Bookmark
not defined.
3.2.2 Tăng cường năng lực của tổ chức tín dụng và nâng cao nhận thức của
khách hàng Error! Bookmark not defined.
Trang 63.2.3 Tăng cường kiểm soát rủi ro trong hoạt động cấp tín dụng nói chung và
hoạt động nhận thế chấp quyền đòi nợ nói riêng Error! Bookmark not defined.
KẾT LUẬN Error! Bookmark not defined.
Trang 71
LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Trong thời gian gần đây, nền kinh tế thế giới nói chung và kinh tế Việt Nam nói riêng gặp rất nhiều khó khăn, khủng hoảng, một trong những lĩnh vực chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của cuộc khủng hoảng kinh tế là lĩnh vực tài chính – ngân hàng Bằng chứng là hoạt động sáp nhập và tái cấu trúc các ngân hàng thương mại diễn ra khá mạnh mẽ trong giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2015, có thể kể đến một vài điển hình như thương vụ hợp nhất giữa Tổng công ty Tài chính cổ phần Dầu khí Việt Nam (PVFC) và Ngân hàng TMCP Phương Tây (Western bank) thành Ngân hàng TMCP Đại chúng Việt Nam (PVcombank), thương vụ sáp nhập Ngân hàng cổ phần Nhà Hà Nội (Habubank) vào Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội (SHB) Trước tình hình kinh tế khó khăn, để duy trì hoạt động và phát triển, các tổ chức tín dụng nói chung và các Ngân hàng thương mại nói riêng đang nỗ lực đưa ra thị trường các sản phẩm, dịch vụ mới nhằm thu hút khách hàng và nâng cao doanh số Một trong những phương án được các ngân hàng lựa chọn đó là đa dạng hóa sản phẩm tín dụng, mở rộng đối tượng tài sản có thể nhận làm tài sản bảo đảm Nếu như trước đây đối tượng tài sản được các ngân hàng ưa chuộng và hướng tới là các bất động sản thì những năm gần đây tài sản bảo đảm lại đa đạng, phong phú hơn rất nhiều, nó không chỉ bao gồm tài sản hiện hữu mà còn bao gồm cả tài sản hình thành trong tương lai; không chỉ bao gồm tài sản hữu hình mà còn bao gồm cả tài sản vô hình; không chỉ bao gồm vật mà còn bao gồm cả quyền tài sản Một trong những quyền tài sản đang được khá nhiều các ngân hàng thương mại quan tâm và nhận làm tài sản bảo đảm là quyền đòi nợ đặc biệt là biện pháp thế chấp quyền đòi nợ để bảo đảm tiền vay của khách hàng
Mặc dù quyền đòi nợ đã và đang trở thành một loại tài sản bảo đảm được các ngân hàng thương mại ưa chuộng nhưng các quy định của pháp luật về loại tài sản còn đang khá hạn chế và nhiều vướng mắc Xuất phát từ lý do nêu trên, việc nghiên
cứu đề tài “Pháp luật về thế chấp quyền đòi nợ tại các ngân hàng thương mại ở
Việt Nam hiện nay” nhằm chỉ ra các vướng mắc mà các ngân hàng thương mại gặp
Trang 82
phải khi nhận bảo đảm bằng quyền đòi nợ, đồng thời đưa ra các biện pháp, phương
án khắc phục các bất cập của quy định pháp luật liên quan đến việc nhận bảo đảm loại tài sản này là rất cần thiết, có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn Quyền đòi nợ được dùng để thế chấp đảm bảo rất nhiều nghĩa vụ của khách hàng với Ngân hàng thương mại như: cho vay, L/C tài trợ bên bán/ bên nhập khẩu hoặc L/C giáp lưng… Trong phạm vi luận văn này, tác giả luận văn chỉ đi sâu nghiên cứu vấn đề thế chấp quyền đòi nợ để đảm bảo nghĩa vụ vay vốn của khách hàng tại Ngân hàng thương mại vì đây đây là hình thức cấp tín dụng cơ bản và chiếm tỷ trọng lớn tại các Ngân hàng thương mại ở Việt Nam hiện nay
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Như đã nêu ở trên, việc nhận bảo đảm bằng quyền đòi nợ mới diễn ra phổ biến trong một vài năm trở lại đây, do đó, đây vẫn còn là một vấn đề khá mới mẻ và phức tạp Bởi vậy, số lượng các bài viết, công trình nghiên cứu về vấn đề này còn khá hạn chế Các nội dung được tác giả đề cập đến trong luận văn này chủ yếu được xây dựng trên cơ sở đúc rút từ kinh nghiệm làm việc thực tế và tham khảo thực tế hoạt động của các ngân hàng thương mại
3 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp với các phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể khác như: phân tích, tổng hợp, so sánh, diễn giải …
4 Mục đích và nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
4.1 Mục đích của việc nghiên cứu đề tài
Việc nghiên cứu đề tài nhằm làm rõ một số vấn đề lý luận về quyền đòi nợ, nội dung các quy định của pháp luật hiện hành về quyền đòi nợ và nhận thế chấp quyền đòi nợ Trên cơ sở đó thấy được các vướng mắc, bất cập của pháp luật hiện hành và
đề xuất một số giải pháp nhằm tạo điều kiện thuận lợi và bảo vệ tối đa quyền lợi của các chủ thể tham gia vào giao dịch thế chấp quyền đòi nợ
4.2 Nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
Với mục đích nêu trên, nhiệm vụ nghiên cứu được đặt ra như sau:
Trang 93
- Làm rõ một số vấn đề lý luận về quyền đòi nợ, thế chấp quyền đòi nợ như: khái niệm, đặc điểm của quyền đòi nợ, thế chấp quyền đòi nợ; sự phát triển của các quy định pháp luật về quyền đòi nợ, thế chấp quyền đòi nợ; phân tích, đánh giá những quy định của pháp luật hiện hành về quyền đòi nợ, thế chấp quyền đòi nợ;
- Nêu lên thực trạng của hoạt động nhận thế chấp quyền đòi nợ tại các ngân hàng thương mại, trên cơ sở đó chỉ ra các bất cập của pháp luật hiện hành về quyền đòi nợ, thế chấp quyền đòi nợ;
- Đưa ra một số giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật về quyền đòi nợ, thế chấp quyền đòi nợ và đảm bảo tối đa quyền lợi của các chủ thể tham gia giao dịch thế chấp quyền đòi nợ
5 Kết cấu của luận văn
Luận văn được kết cấu thành 3 phần: Lời mở đầu, nội dung và kết luận
Phần nội dung gồm: 03 Chương:
- Chương 1: Một số vấn đề chung về thế chấp quyền đòi nợ tại Ngân hàng thương mại
- Chương II: Pháp luật về thế chấp quyền đòi nợ và thực tiễn thế chấp quyền đòi nợ tại Ngân hàng thương mại ở Việt Nam hiện nay
- Chương III: Một số giải pháp, kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật về thế chấp quyền đòi nợ tại các Ngân hàng thương mại ở Việt Nam
Kết luận
Danh mục tài liệu tham khảo
Trang 104
CHƯƠNG 1:
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THẾ CHẤP QUYỀN ĐÒI NỢ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Ngân hàng thương mại và hoạt động của ngân hàng thương mại
1.1.1 Khái niệm ngân hàng thương mại
Ngân hàng thương mại đã hình thành tồn tại và phát triển hàng trăm năm gắn liền với sự phát triển của kinh tế hàng hoá Sự phát triển hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) đã có tác động rất lớn và quan trọng đến quá trình phát triển của nền kinh tế hàng hoá, ngược lại kinh tế hàng hoá phát triển mạnh mẽ đến giai đoạn nền kinh tế thị trường thì NHTM cũng ngày càng được hoàn thiện và trở thành những định chế tài chính không thể thiếu được Thông qua hoạt động tín dụng, ngân hàng thương mại đã tạo lợi ích cho người gửi tiền, người vay tiền và cho cả ngân hàng thông qua chênh lệch lãi suất
Tại các nước khác nhau trên thế giới, cách hiểu thuật ngữ ngân hàng thương mại cũng có sự khác biệt, ví dụ:
Tại Mỹ, Ngân hàng thương mại là công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính
Đạo luật ngân hàng của Pháp (1941) cũng đã định nghĩa: "Ngân hàng thương
mại là những xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức ký thác, hoặc dưới các hình thức khác và sử dụng tài nguyên đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính"
Tại Việt Nam, trước khi Luật các Tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 (Sau đây viết tắt là “Luật các TCTD năm 2010”) ra đời cũng có nhiều cách hiểu khác nhau về thuật ngữ ngân hàng thương mại Trong đó, đa số các chuyên gia kinh tế, các nhà
đầu tư cho rằng “Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động
chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền kí gửi từ khách hàng với trách nhiệm hoàn trả
Trang 115
và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán”
Theo quy định tại Khoản 3 Điều 4 Luật các TCTD năm 2010 thì: “Ngân hàng
thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng
và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận”
Theo quy định tại Khoản 2 Điều 4 Luật các TCTD năm 2010 thì: “Ngân hàng là
loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã”
Như vậy, căn cứ các quy định pháp luật nêu trên, thì Ngân hàng thương mại là một loại hình tổ chức tín dụng và là loại hình ngân hàng có phạm vi hoạt động rộng nhất trong số các loại hình ngân hàng, vì nó không chỉ được thực hiện tất cả các
hoạt động ngân hàng mà còn được thực hiện “các hoạt động kinh doanh khác” theo
quy định của Luật các TCTD năm 2010
1.1.2 Hoạt động của Ngân hàng thương mại
Như đã nêu tại mục 1.1, Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng có phạm
vi hoạt động rộng nhất, theo đó, hoạt động của Ngân hàng thương mại bao gồm hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác được phép theo quy định của Luật các TCTD năm 2010
1.1.2.1 Hoạt động ngân hàng của Ngân hàng thương mại
Khoản 7 Điều 20 Luật các TCTD năm 1997 được sửa đổi bổ sung theo Luật số
20/2004/QH11 quy định: “Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và
dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này
để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán”
Theo quy định tại Khoản 12 Điều 4 Luật các TCTD năm 2010 thì: “Hoạt động
ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp
vụ sau đây:
Trang 126
a) Nhận tiền gửi;
b) Cấp tín dụng;
c) Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản”
Như vậy, so với Luật các TCTD cũ, khái niệm hoạt động ngân hàng trong Luật các TCTD năm 2010 đã có sự thay đổi lớn về mặt nội hàm, cụ thể: hoạt động ngân hàng bao gồm một trong ba hoạt động nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản thay vì phải thực hiện đồng thời cả ba hoạt động trên Sự thay đổi này là phù hợp với tình hình kinh tế của Việt Nam và phù hợp với quy định của các nước trên thế giới, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư và thể hiện sự hội nhập của pháp luật Việt Nam với pháp luật thế giới
a) Hoạt động nhận tiền gửi
Khoản 13 Điều 4 Luật các Tổ chức tín dụng 2010 quy định: “Nhận tiền gửi là
hoạt động nhận tiền của tổ chức, cá nhân dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và các hình thức nhận tiền gửi khác theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi cho người gửi tiền theo thỏa thuận”
Hoạt động nhận tiền gửi là hoạt động đặc thù của loại hình tổ chức tín dụng là ngân hàng Theo đó, ngân hàng có thể nhận tiền gửi của cả tổ chức và cá nhân, nhận tiền gửi dưới hình thức tiền gửi có kỳ hạn hoặc không kỳ hạn tùy thuộc vào thỏa thuận giữa ngân hàng và người gửi tiền Để kiểm soát hoạt động nhận tiền gửi của các ngân hàng, đảm bảo sự phát triển an toàn của hoạt động ngân hàng, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam với vai trò là Ngân hàng Trung ương đã có những biện pháp nhất định và một trong các biện pháp hữu hiệu đó là quy định trần lãi suất gửi tiền Biện pháp này của Ngân hàng Nhà nước khi mới đưa vào áp dụng đã gây ra không
ít khó khăn cho các Ngân hàng thương mại Tuy nhiên, sau một thời gian thực hiện,
rõ ràng biện pháp này đã có những tác động tích cực đến hoạt động ngân hàng nói riêng và nền kinh tế Việt Nam nói chung, bằng chứng là hoạt động ngân hàng diễn
ra một cách minh bạch hơn, lãi suất cho vay giảm mạnh tạo cơ hội cho các doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn dễ dàng hơn từ đó thúc đẩy hoạt động đầu tư