các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự nói chung nhằm đáp ứng yêu cầu của việc xây dựng Nhà nước pháp quyền và cải cách tư pháp mà chủ yếu là đề cao bảo vệ quyền và lợi ích chính
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐỖ QUÝ CƯỜNG
C¸C BIÖN PH¸P NG¡N CHÆN CÊM §I KHáI N¥I C¦ TRó, B¶O LÜNH, §ÆT TIÒN HOÆC TµI S¶N Cã GI¸ TRÞ §Ó B¶O §¶M
THEO LUËT Tè TôNG H×NH Sù VIÖT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2016
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐỖ QUÝ CƯỜNG
C¸C BIÖN PH¸P NG¡N CHÆN CÊM §I KHáI N¥I C¦ TRó, B¶O LÜNH, §ÆT TIÒN HOÆC TµI S¶N Cã GI¸ TRÞ §Ó B¶O §¶M
THEO LUËT Tè TôNG H×NH Sù VIÖT NAM
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 60 38 01 04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: GS.TSKH LÊ VĂN CẢM
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nền tư pháp bất kỳ quốc gia nào cũng là bộ phận quan trọng cấu thành một chế độ nhà nước nhất định Cũng như Nhà nước, nền tư pháp cũng phải vận động, biến đổi cùng với sự biến đổi của xã hội và muốn xây dựng Nhà nước pháp quyền có nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, quyền con người thì trước tiên phải hoàn thiện hệ thống pháp luật phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm theo hướng xây dựng các
cơ quan bảo vệ pháp luật làm nòng cốt, phát huy sức mạnh của toàn xã hội có
ý nghĩa quan trọng, định hướng cho việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật
Ngay từ lời nói đầu, Hiến pháp năm 2013 đã thể hiện rõ mục tiêu dân chủ và khẳng định quyền làm chủ của Nhân dân Việt Nam trong việc xây
dựng, thi hành và bảo vệ Hiến pháp vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh và đã được làm rõ hơn các quyền, nghĩa vụ cơ bản
của công dân, trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo đảm thực hiện quyền con người, quyền công dân; thể hiện rõ bản chất dân chủ của Nhà nước ta Tuy nhiên, thực tiễn trong những năm qua nền tư pháp chưa chuyển biến kịp trước sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế thị trường, trước những tác động tiêu cực nhiều mặt của nó Vì lẽ đó, ngày 02/01/2002 Bộ chính trị (khóa IX) đã ra
Nghị quyết số 08 “Về một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp”, thực
chất là mở ra một cuộc cải cách sâu rộng được triển khai tất cả các bộ phận cấu thành nền tư pháp Tiếp đến Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 về
“chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020”, các cơ quan có thẩm quyền đã
tập trung xây dựng, hoàn thiện các chế định pháp lý liên quan đến hoạt động
tố tụng hình sự, trong đó chế định về các biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi
Trang 4cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam (các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự nói chung) nhằm đáp ứng yêu cầu của việc xây dựng Nhà nước pháp quyền và cải cách tư pháp mà chủ yếu là đề cao bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của người dân; Nghị quyết 49-NQ/TW của Bộ chính trị đã nêu rõ:
Tăng cường và nâng cao hiệu lực giám sát việc chấp hành pháp luật của các cơ quan tư pháp; tăng cường công tác kiểm sát việc bắt, tạm giữ, tạm giam đảm bảo đúng pháp luật; … hạn chế việc áp dụng biện pháp tạm giam đối với một số loại tội phạm; thu hẹp đối tượng người có thẩm quyền quyết định việc áp dụng các biện pháp tạm giam; xây dựng và hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền con người, quyền tự do, dân chủ của công dân; hoàn thiện
các thủ tục tố tụng tư pháp, bảo đảm tính đồng bộ, dân chủ, công
khai, minh bạch, tôn trọng và bảo vệ quyền con người …[7]
Các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự là các biện pháp cưỡng chế nhà nước được các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng đối với bị can, bị cáo, người bị nghi thực hiện tội phạm nhằm ngăn chặn tội phạm, không cho người phạm tội tiếp tục thực hiện tội phạm, gây khó khăn cho công tác điều tra, đảm bảo cho công tác điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự đúng pháp luật Tuy nhiên việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn là vấn đề rất nhạy cảm, trực tiếp tác động đến quyền con người, quyền công dân được quy định trong Hiến pháp và luật (quyền bất khả xâm phạm thân thể, quyền tự do đi lại, quyền làm việc, sinh hoạt, học tập ) Vì thế khi áp dụng đối với từng biện pháp ngăn chặn đòi hỏi các cơ quan có thẩm quyền, phải hết sức thận trọng, phải đúng với căn cứ mà Bộ luật tố tụng hình sự quy định Việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn đặc biệt là biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt
Trang 5tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm trong những năm qua trên đại bàn cả nước nói chung và trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang nói riêng cho thấy vẫn còn
có những hạn chế, bất cập trong quy định của pháp luật cũng như nhận thức của những người tiến hành tố tụng đối với việc áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm Đó là việc tạm giam bị can một cách tràn lan, sử dụng biện pháp tạm giam như là một biện pháp nghiệp vụ, tạm giam thay điều tra, tạm giam bị can, bị cáo với thời gian quá dài sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, làm suy giảm niềm tin của người dân đối với tính tôn nghiêm của pháp luật hình sự, gây nên những dư luận xã hội không tốt Ngược lại, nếu không áp dụng kịp thời biện pháp tạm giam có thể sẽ gây khó khăn cho Cơ quan tiến hành tố tụng và có thể dẫn đến hậu quả bỏ lọt tội phạm, hoặc tạo điều kiện cho người có hành vi phạm tội có cơ hội tẩu tán những tài liệu, chứng cứ liên quan đến hành vi phạm tội của mình Nếu lạm dụng việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn có thể sẽ gây ảnh hưởng xấu về chính trị, tạo cơ hội cho các thế lực thù địch thực hiện âm mưu xuyên tạc chế
độ nhà nước ta, gây khó khăn cho tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế
Thực tiễn thi hành Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang thấy rằng còn có vướng mắc đối với việc áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm, như nhiều trường hợp bị can phạm tội ít nghiêm trọng có khung hình phạt dưới 2 năm, người chưa thành niên phạm tội ít nghiêm trọng, nghiêm trọng
do vô ý thì không được áp dụng biện pháp ngăn chặn nêu trên Hạn chế có trường hợp trên nếu bị can bỏ trốn hoặc không chấp hành giấy triệu tập của
Cơ quan Điều tra thì không thể tiến hành điều tra để làm rõ sự thật khách quan của vụ án được và cũng không thể chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát đề nghị truy tố vì không tống đạt Bản kết luận điều tra Như vậy, chúng
Trang 6ta phải sử dụng biện pháp gì cho phù hợp để khắc phục những khó khăn trên? Cả về lý luận và thực tiễn đang đặt ra những vấn đề cần phải khắc phục đối với việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn Tuy nhiên các biện pháp ngăn chặn mà đề tài nghiên cứu trước còn tương đối rộng lớn, đa dạng và phức
tạp Vì lẽ đó, học viên chọn ba trên sáu biện pháp ngăn chặn, gồm có: "Các
biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm theo Luật tố tụng hình sự Việt Nam" làm đề tài
Luận văn Thạc sĩ luật học góp phần giải quyết các yêu cầu đang đặt ra trong thực tiễn hiện nay
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Ở Việt Nam, quy định về các biện pháp ngăn chặn có nhiều nội dung phong phú và việc áp dụng chúng là vấn đề nhạy cảm Bởi lẽ, chính các biện pháp này là phương tiện ngăn chặn tội phạm có hiệu quả nhất và bảo đảm cho điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án theo đúng trình tự, thủ tục mà Bộ luật Tố tụng hình sự quy định nhưng hay bị lạm dụng quá mức cần thiết và không
"tiết kiệm” Đi đôi với việc áp dụng các biện pháp đó, thì một số tự do và quyền của công dân được ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013 là đi vào cuộc sống, bảo đảm tính thượng tôn của Hiến pháp, đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả cải cách tư pháp, một nhiệm vụ lớn và trọng tâm lúc này là căn chỉnh, hoàn thiện hệ thống pháp luật về tư pháp cho phù hợp với tinh thần và nội dung của Hiến pháp mới và các định hướng của Chiến lược cải cách tư pháp đến năm
2020 Bởi vậy, chúng trở thành trọng tâm nghiên cứu của nhiều nhà lý luận, cán bộ làm công tác thực tiễn trong các ngành bảo vệ pháp luật
Cho đến nay đã có nhiều công trình chuyên khảo nghiên cứu các biện pháp ngăn chặn đáng chú ý của các tác giả mà ở các mức độ nhất định đã phân tích và xây dựng khái niệm biện pháp ngăn chặn theo một số nội dung, như: Đối tượng bị áp dụng, căn cứ chủ thể và mục đích áp dụng các biện pháp
Trang 7ngăn chặn theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự 2003, đồng thời phân tích, đánh giá thực tiễn áp dụng chúng, đưa ra mô hình lý luận về các quy phạm pháp luật, cụ thể là:
3) Nguyễn Thị Nhung "Biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn xét xử sơ thẩm theo luật tố tụng hình sự Việt Nam (trên cơ sở số liệu địa bàn tỉnh Đắk Lắk)", Luận văn Thạc sĩ Khoa luật Đại học Quốc gia Hà Nội 2013;
4) Lê Hữu Soái "Các biện pháp ngăn chặn đối với bị can, bị cáo là
người chưa thành niên phạm tội trong bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam (trên
cơ sở số liệu địa bàn tỉnh Đắk Lắk)", Luận văn Thạc sĩ Khoa luật Đại học
Quốc gia Hà Nội 2013
5) Lê Cảm, Nguyễn Ngọc Chí, Trịnh Quốc Toản (đồng chủ trì), “Bảo
vệ các quyền con người bằng pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền” Đề tài khoa học cấp Đại học
Quốc gia Hà Nội 2004
Qua các công trình nghiên cứu trên, cho thấy: Về hình thức đều lấy
những quy phạm các biện pháp ngăn chặn trong Bộ luật tố tụng 2003 làm đối tượng nghiên cứu, nhưng tuyệt nhiên chưa đề cập đến các quy phạm về bắt tạm giữ để dẫn độ được đề cập trong các HĐTTTP&PL mà Việt Nam đã ký kết với nước ngoài, cũng như, bồi thường thiệt hại, phục hồi danh dự, quyền lợi cho người bị oan do người có thẩm quyền tố tụng áp dụng các biện pháp ngăn chặn
gây ra tại Nghị quyết 388 và thực tiễn áp dụng, về nội dung, các tác giả đã đề
cập đến khái niệm biện pháp ngăn chặn với các nội dung riêng lẻ, như: căn cứ, người có thẩm quyền, mục đích áp dụng, đối tượng bị áp dụng và đưa ra nhiều quan niệm khác nhau; đề xuất những kiến nghị để hoàn thiện các biện pháp ngăn chặn trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam Các nghiên cứu đó với những mục tiêu, quan điểm, định hướng của Đảng ta được khẳng định tại Nghị
quyết 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 về "Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ
Trang 8thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020", Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về "Chiến lược Cải cách tư pháp đến năm 2020" (gọi tắt là Nghị quyết 48 và Nghị quyết 49)
(Nêu rõ sao cho logic) Nội dung các bài viết đã phân tích các biện pháp ngăn chặn cụ thể, thực tiễn áp dụng các biện pháp ngăn chặn, điều kiện để áp dụng các biện pháp ngăn chặn, thực trạng áp dụng các biện pháp ngăn chặn và đề xuất khắc phục những hạn chế trong việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn
Tuy nhiên, do tính chất rộng lớn, đa dạng và phức tạp của chế định các biện pháp ngăn chặn trong Bộ luật tố tụng hình sự Do sự hạn chế của số trang dành cho luận văn thạc sĩ, hơn nữa tác giả còn có sự hạn chế về nhận thức khoa học hình sự, tố tụng hình sự vì tác giả hiện đang công tác và làm việc trong Cơ quan Thi hành án dân sự nên trong phạm vi luận văn của mình tác giả chỉ đề cấp đến ba biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm theo Luật tố tụng hình sự Việt Nam Hơn nữa, tỉnh Tuyên Quang là tỉnh miền núi phía bắc có địa hình phức tạp, điều kiện kinh tế, văn hoá xã hội còn nhiều khó khăn về tình hình tội phạm vẫn diễn ra rất phức tạp, càng đòi hỏi phải nâng cao chất lượng việc áp dụng pháp luật về các biện pháp ngăn chặn của Cơ quan tiến hành tố tụng trong
việc áp dụng theo quy định, nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp tại "Kết luận số 92-KL/TW ngày 12/3/2014 của Bộ Chính trị về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 49-NQ/TW, ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020" [2]
3 Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
3.1 Mục đích nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu một số vấn đề lý luận-thực tiễn và những biện pháp ngăn chặn theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam, trên cơ sở các số
Trang 9liệu thực tiễn của địa bàn tỉnh Tuyên Quang năm 2010 đến năm 2014, từ đó
đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hiệu quả về ba biện pháp ngăn chặn: 1) Cấm đi khỏi nơi cư trú, 2) Bảo lĩnh, 3) Đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam trong việc giải quyết các vụ án hình sự của Cơ quan tiến hành tố tụng trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang, góp phần bảo vệ tốt hơn lợi ích của Nhà nước, tính mạng, danh dư, nhân phẩm, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân; tăng cường
pháp chế xã hội chủ nghĩa
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện tốt mục đích nêu trên, Luận văn có những nhiệm vụ
sau đây:
3.2.1 Một số vấn đề lý luận về các biện pháp ngăn chặn trong Bộ luật
tố tụng hình sự Việt Nam
3.2.2 Thực tiễn áp dụng pháp luật về các biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm trên cơ
sở các số liệu của địa bàn tỉnh Tuyên Quang giai đoạn 2010 – 2014
3.2.3 Nguyên nhân và những hạn chế về áp dụng các biện pháp ngăn chặn (cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm) của cơ quan tiến hành tố tụng hình sự ở tỉnh Tuyên Quang
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn đúng như tên gọi của nó: “Các biện pháp ngăn chặn - Cấm đi khỏi nơi cư trú - Bảo lĩnh - Đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm theo Luật tố tụng hình sự Việt Nam”
4.2 Phạm vi nghiên cứu
4.2.1 Giới hạn về không gian và thời gian: Luận văn chỉ nghiên cứu
các vấn đề cụ thể của chế định ba biện pháp ngăn chặn và thực tiễn áp dụng
Trang 10về bản chất pháp lý, căn cứ áp dụng, người có thẩm quyền áp dụng, đối tượng
bị áp dụng, mục đích và phạm vi áp dụng để đưa ra khái niệm khoa học về biện pháp ngăn chặn nói chung Phân loại ba biện pháp ngăn chặn nêu trên với các biện pháp cưỡng chế tố tụng hình sự khác theo nhiều tiêu chí và căn cứ; nghiên cứu những nguyên tắc áp dụng, sửa đổi, bổ sung chúng nói riêng trong Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam trên cơ sở số liệu thực tiễn tỉnh Tuyên Quang từ giai đoạn năm 2010 đến năm 2014
4.2.2 Giới hạn về giai đoạn tố tụng: Cơ sở pháp lý quan trọng của hoạt
động áp dụng pháp luật về ba biện pháp ngăn chặn của Cơ quan tiến hành tố tụng trong Bộ luật tố tụng hình sự trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang ở giai đoạn thực hiện, áp dụng theo quy định
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1 Cơ sở lý luận
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận khoa học của chủ nghĩa Mác - Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật; các Chỉ thị, Nghị quyết, đường lối chính sách, quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về tăng cường pháp chế trong đấu tranh phòng và chống tội phạm, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân Đó là cơ sở phương pháp luận để giải quyết nội dung cần nghiên cứu của luận văn Ngoài ra, luận văn còn dựa vào những thành tựu đã đạt được từ các chuyên ngành khoa học pháp lý, như: Triết học, lịch sử nhà nước
và pháp luật, lý luận về nhà nước và pháp luật, xã hội học pháp luật, luật hình
sự, luật tố tụng hình sự, các công trình nghiên cứu, sách chuyên khảo, bài viết trong các tạp chí của nhiều nhà khoa học luật
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phép biện chứng duy vật của Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử theo quan