MỘT MÔ HÌNH ĐA DẠNG HOÁ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC VIỆT NAM: KINH NGHIỆM LIÊN KẾT QUỐC TẾ VÀ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH CỦA KHOA QUỐC TẾ - ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI Tóm tắt: Kể từ năm 1986, cùng với công cu
Trang 1MỘT MÔ HÌNH ĐA DẠNG HOÁ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC VIỆT NAM:
KINH NGHIỆM LIÊN KẾT QUỐC TẾ VÀ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH CỦA KHOA QUỐC TẾ - ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Tóm tắt:
Kể từ năm 1986, cùng với công cuộc Đổi Mới của cả nước, ngành giáo dục đại học Việt Nam cũng buộc phải đổi mới nhằm đáp ứng được đòi hỏi của xã hội về số lượng, chất lượng và tính chất quốc tế của nguồn nhân lực Quá trình đổi mới này vấp phải nhiều khó khăn, thách thức, trong đó gay gắt nhất là vấn đề đảm bảo tài chính trong bối cảnh nền kinh tế có trình độ phát triển thấp đồng thời đang trong quá trình chuyển đổi Dựa trên việc khảo sát các nền giáo dục đại học chuyển đổi trên thế giới và kinh nghiệm thực tiễn của Khoa Quốc tế, bài nghiên cứu này nhằm chứng minh rằng đa dạng hóa các nguồn lực tài chính thông qua xã hội hóa và quốc tế hóa là biện pháp khả thi và tối ưu trong việc đào tạo nguồn nhân lực theo chuẩn quốc tế ngay tại Việt Nam
I Đặt vấn đề
Chủ đề của cuộc hội thảo này, “Đóng góp của khoa học xã hội và nhân văn đối với sự phát triển kinh tế xã hội”, tuy không liên hệ trực tiếp, nhưng có phần giao thoa rất lớn với sứ mệnh của trường đại học hiện đại, một tổ chức đặc biệt, một không gian đặc biệt, một sản phẩm đặc thù của thời hiện đại, trong đó tri thức đóng vai trò trung tâm, tạo thành thành nền tảng cho mọi hoạt động của nó Trường đại học hiện đại dĩ nhiên không phải là nơi độc quyền về nghiên cứu khoa học, nhưng vai trò của nó trong nghiên cứu khoa học, đặc biệt là khoa học xã hội và nhân văn, ngày càng quan trọng Trường Đại học không chỉ là nơi đào tạo nhân lực cho xã hội, trong đó có nhân lực nghiên cứu khoa học, mà chính
nó là một môi trường, một cỗ máy nghiên cứu Xuất phát từ ý tưởng nền tảng của Kant được Humboldt phát triển và hiện thực hóa sau đó về tự do học thuật, đại học trở thành một thể chế tự trị của trí tuệ, nơi các ý tưởng mới được sản sinh, các giải pháp điều chỉnh, cải biến và phát triển xã hội được đề xuất
Vai trò đặc biệt nói trên của trường đại học thể hiện rõ ràng nhất và hiệu quả nhất chính vào những giai đoạn thay đổi lớn của đời sống xã hội Đối với Việt Nam, cũng như đối với đa số các nước thuộc hệ thống xã hội chủ nghĩa trước đây, những thập kỷ cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI chính là một giai đoạn như thế Như chúng ta đã biết, sau những thập kỷ trì trệ, cuối cùng các quốc gia với cơ chế quản lý kinh tế - xã hội tập trung, quan liêu bao cấp đã buộc phải thay đổi vào cuối thập niên 1980
hội, nhân văn và kinh tế, Khoa Quốc tế - ĐHQGHN
Trang 2Đa số các quốc gia thuộc hệ thống này, chỉ trừ Cuba và Bắc Triều Tiên (mà gần đây cũng bắt đầu có dấu hiệu cải cách) đều đã chấp nhận kinh tế thị trường
Việc nghiên cứu những đóng góp của khoa học xã hội và nhân văn vào quá trình chuyển đổi với quy mô quốc tế này, dù dưới ánh sáng của những trào lưu chung đó hay đặt trong bối cảnh đặc thù của từng nước, đều sẽ cho ta những nhận thức bổ ích và lý thú
Trong bài viết này, chúng tôi tập trung vào một lĩnh vực tương đối hẹp, đó là chính sách quản lý tài chính đại học Tuy là một lĩnh vực hẹp, nhưng đó là một lĩnh vực cực kỳ phức tạp và đang gây nhiều tranh cãi không chỉ tại Việt Nam, mà gần như ở mọi nước, kể cả tại những quốc gia có hệ thống giáo dục đại học phát triển và tưởng chừng ổn định như Anh, Hoa Kỳ, Pháp Lý do là chính sách quản lý tài chính đại học liên quan đến các mối quan hệ kinh tế - xã hội và văn hóa, đồng thời đòi hỏi phải thay đổi
tư duy lại về bản chất cũng như sứ mệnh của đại học trong thời đại mới
Nghiên cứu này bắt đầu bằng việc đưa ra một bức tranh tổng quát của cơ chế quản lý tài chính trong bối cảnh chung về hệ thống quản lý đại học Việt Nam cùng với những mâu thuẫn và thách thức
mà nó đang phải đối mặt kể từ 1986, khi công cuộc cải cách bắt đầu Từ bức tranh thực tiễn đó, chúng tôi cho rằng đối với Việt Nam và những quốc gia đang phát triển có nền kinh tế chuyển đổi tương tự, xã hội hóa các nguồn lực tài chính là giải pháp hữu hiệu nhất và cần được thúc đẩy một cách mạnh mẽ để xây dựng một nền giáo dục đại học đáp ứng được kỳ vọng của cộng đồng Đây chính là cách mà nghiên cứu khoa học và nhân văn – trong trường hợp này là khoa học quản lý đại học – có thể đóng góp vào sự phát triển chung
Nghiên cứu của chúng tôi dựa rất nhiều vào các hoạt động thực tiễn của Khoa Quốc tê, nơi cả hai tác giả đều đang công tác
II Bức tranh khái quát về hiện trạng và những đổi mới trong quản lý của nền Đại học Việt Nam từ 1986
2.1 Tác động của cải cách
Chính sách Đổi Mới do ĐCS Việt Nam khởi xướng năm 1986, mà nội dung chủ yếu là từ bỏ đường lối phát triển kế hoạch hóa tập trung kiểu Liên Xô, là một bước ngoặt trong lịch Việt Nam hiện đại, dẫn đến những thay đổi sâu sắc trong đời sống kinh tế- xã hội và văn hóa của đất nước
Trong một thời gian tương đối ngắn, chính sách cải cách này đã biến Việt Nam từ một quốc gia
bị chiến tranh tàn phá nặng nề và liên tục thiếu lương thực trầm trọng thành một trong những nền kinh
tế phát triển vào loại nhanh nhất thế giới Bất chấp hai cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997 và 2008, tốc độ tăng trưởng kinh tế tính trung bình của Việt Nam trong 25 năm qua là trên 7% Năm 2010, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Việt Nam đạt khoảng 102 tỷ đô la Mỹ, gấp 5 lần GDP năm 1986 GDP
Trang 3tính theo đầu người cũng tăng đáng kể từ khoảng 140 đô la Mỹ (1976) lên trên 1200 đô la vào năm
20091, đưa Việt Nam ra khỏi danh sách các nước nghèo
Cùng với sự tăng trưởng nhanh chóng, nền kinh tế Việt Nam cũng được quốc tế hóa nhanh chóng Từ năm 1989 đến năm 2009, Chính phủ Việt Nam đã cấp giấy phép cho 12.575 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) với tổng số vốn là trên 194 tỷ đô la Mỹ Đồng thời, đầu tư của Việt Nam cũng tăng đáng kể, đạt 7,7 tỷ đô la Mỹ trong giai đoạn 1989-2009 Tính chất mở của nền kinh tế Việt Nam còn thể hiện ở sự phụ thuộc của nó vào ngoại thương, với doanh số xuất nhập khẩu hiện tương đương với 150% GDP
Một thay đổi quan trọng khác của nền kinh tế Việt Nam là sự gia tăng nhanh chóng của tỷ trọng
và vai trò của khu vực kinh tế tư nhân Trong giai đoạn 2000-2009, số công ty tư nhân tăng với tốc độ trung bình hàng năm khoảng 22%, và năm 2008 khu vực tư nhân đóng góp 47% tổng sản phẩm quốc nội (Huỳnh Bửu Sơn, 2010)
Chính sách Đổi Mới có ảnh hưởng cực kỳ to lớn đối với hệ thống giáo dục quốc dân nói chung, ngành giáo dục đại học nói riêng
Như chúng ta đều biết, trước năm 1986, nói đúng hơn là từ năm 1975 đến năm 1986, nền giáo dục đại học Việt Nam được tổ chức theo mô hình Liên Xô Vào năm học 1980-1981, cả nước có tổng cộng 85 trường đại học và cao đẳng, với khoảng 140.000 sinh viên (Nguyễn, T.H., 2009) Hệ thống giáo dục đại học này có những đặc điểm cơ bản như sau: 1) Tất cả các cơ sở đào tạo đều là trường công; 2) Tuyệt đại đa số các trường đại học và cao đẳng có quy mô nhỏ, tổ chức theo chuyên ngành; 3) Mọi hoạt động đào tạo và nghiên cứu đều do dựa vào nguồn kinh phí do nhà nước cấp; 4) Giảng viên
và cán bộ quản lý được coi như những công chức nhà nước; 5) Toàn bộ nội dung giảng dạy do nhà nước quy định và kiểm soát; 7) Các trường đại học có xu hướng tập trung vào giảng dạy, trong khi các hoạt động nghiên cứu chủ yếu tập trung trong các viện nghiên cứu; 9) Phương thức và quy mô tuyển sinh do nhà nước quyết định, nhằm đào tạo nhân lực để thực hiên các kế hoạch của nhà nước chứ không phải theo yêu cầu của thị trường
Nền giáo dục đại học này dựa trên một quan niệm nền tảng, coi giáo dục đại học là một hoạt động công ích Nó không phải là không có những ưu điểm, đặc biệt là trong mối tương quan với hệ thống kinh tế xã hội tập trung, bao cấp theo mô hình Xô Viết
Tuy nhiên, khi Việt Nam cải cách và phát triển kinh tế thị trường, nền giáo dục với quan niệm
cũ và hệ thống quản lý cũ đã để lộ ra nhiều điểm không tương thích Những thách thức lớn nhất đối với
hệ thống quản lý giáo dục đại học Việt Nam có cội nguồn sâu xa là sự không tương thích giữa nguyên tắc quản lý tập trung và mang nặng tính chính trị với nhu cầu đào tạo nhân lực cho một nền kinh tế cải cách Nền kinh tế thị trường đa thành phần và ngày càng quốc tế hóa của Việt Nam đòi hỏi một nguồn
1
According to CIA’s Factbook, Vietnam’s GDP - per capita (PPP) in 2009 is $2,900 (est.)
Trang 4nhân lực 1) có trình độ đại học chất lượng cao, 2) với số lượng ngày càng nhiều, đa dạng và 3) có trình
độ quốc tế hóa phù hợp
Để thích ứng với những đòi hỏi của tình hình mới, các nhà quản lý giáo dục Việt Nam đã tiến hành rất nhiều thay đổi, trong đó có cả những thay đổi thành công lẫn những thay đổi thất bại Những thay đổi được thực hiện ở tất cả các cấp và lĩnh vực quản lý Dưới đây là những ví dụ nổi bật nhất
2.2 Thay đổi về tổ chức hành chính
+ Cơ quan quản lý cấp bộ: Trước năm 1987, ngành giáo dục Việt Nam có ba cơ quan quản lý cấp bộ, đó là: Bộ Giáo dục, Bộ Đại học và Trung học Chuyên nghiệp, và Tổng cục Đạy nghề, ngoài ra còn có Uỷ ban Bảo vệ Bà mẹ và Trẻ em
Năm 1987, theo “Nghị quyết số 782NQ/HĐNN7 ngày 16-02-1987 của Hội đồng Nhà Nước về việc kiện toàn một bước các cơ quan thuộc Hội đồng Bộ trưởng, cử và miễn nhiệm một số thành viên
của Hội đồng Bộ Trưởng”, Uỷ ban Bảo vệ Bà mẹ và Trẻ em được sáp nhập vào Bộ Giáo dục, đồng thời Tổng cục Dạy nghề được sáp nhập vào Bộ Đại học và Trung học Chuyên nghiệp và Dạy nghề
Năm 1990, các cơ quan quản lý cấp bộ của ngành giáo dục một lần nữa lại được tái tổ chức Lần
này, Bộ Giáo dục và Bộ Đại học và Trung học Chuyên nghiệp và Dạy nghề được hợp nhất để tạo thành Bộ Giáo dục và Đào tạo
Mặc dù trên lý thuyết, Bộ Giáo dục và Đào tạo là cơ quan quản lý các hoạt động trong cả nước, trên thực tế việc quản lý phức tạp hơn nhiều Rất nhiều trường đại học và cao đẳng chuyên ngành còn chịu sự quản lý của các bộ, ngành, tổng cục, địa phương Chẳng hạn, trường Đại học Luật còn chịu sự quản lý của Bộ Tư Pháp, Đại học Văn hóa chịu sự quản lý của Bộ Văn hóa…Gần đây, một số Tổng công ty, Tập đoàn cũng mở trường đại học dưới sự quản lý của họ Chẳng hạn, Đại học FPT chịu sự quản lý của Tập đoàn FPT, Đại học Điện lực chịu sự quản lý của Tổng công ty Điện lực Việt Nam, Đại học Dầu khí chịu sự quản lý của Tâp đoàn Dầu khí Việt Nam…Ngoài ra, trong hệ thống giáo dục đại học Việt Nam còn có hai Đại học Quốc gia và ba Đại học Vùng với những quy định riêng sẽ nghiên cứu dưới đây
2.3 Vấn đề số lượng: quá trình phổ cập hóa đại học và sự gia tăng của khu vực học ngoài công lập
Đây chắc chắn là thay đổi lớn nhất và có nhiều ảnh hưởng nhất của hệ thống giáo dục đại học kể
từ 1986 Thành công ấn tượng của công cuộc Đổi Mới dẫn đến sự nâng cao đáng kể mức sống của người dân, đồng thời gia tăng đòi hỏi về nhân lực chất lượng cao Điều này, đến lượt nó, dẫn đến sự gia tăng nhanh chóng số trường đại học và cao đẳng Nhưng sự gia tăng mạnh mẽ nhất là ở khu vực ngoài công lập, bất chấp những bất cập của khuôn khổ pháp lý
Nếu nghiên cứu kinh nghiệm phát triển đại học của các quốc gia chuyển đổi khác, chúng ta sẽ thấy rằng sự phổ cập hóa đại học dường như là một xu thế phổ biến Trong nghiên cứu của mình về
Trang 5giáo dục đại học của các nước cựu xã hội chủ nghĩa Đông và Trung Âu, tác giả Marek Kwiek viết:
“Mức khởi điểm vào năm 1989 về tổng số sinh viên nhập học là dưới 10% ở Albania và Romania, giữa 10% và 15% ở Hungary, Slovakia và đa số các nước cộng hòa Trung Á của Liên Xô cũ (Kyrgizia, Tajikistan, Turmenistan, Uzbekistan), giữa 15% và 20% ở Croatia, Cộng hòa Czech, Belarus, Macedonia, Moldova và Ba Lan, giữa 20% và 25% ở Belarus, Bulgaria, Latvia, Nga, Slovenia và Ucraine – và tỷ lệ cao nhất là ở hai quốc gia nhỏ vùng Baltic – Estonia (36%) và Lithuania (28%) Một thập niên sau đó, năm 1999, một số quốc gia chuyển đổi đã có tỷ lệ tuyển sinh trên 40%: Estonia (45%)
và Lithuania (40%), Ba Lan (43) và Slovenia (51%)” (Marek Kwiek, 2008)
Như vậy, sự gia tăng của số trường cũng như của số sinh viên đại học của Việt Nam tuy khá nhanh nhưng chắc chắn còn xa mới đáp dứng được nhu cầu của xã hội, nếu chúng ta so sánh với các
nước khác Tác giả Mỹ Chico Harlan, trong bài viết “Vietnamese teens' thirst for college outpaces country's educational system” (Nhu cầu học đại học của thanh niên Việt Nam vượt quá khả năng đáp
ứng của hệ thống giáo dục quốc dân) trên tờ Washington Post, so sánh rằng với dân số gần 89 triệu
dân, Việt Nam có chưa tới 400 trường đại học và cao đẳng, trong khi Mỹ, với dân số 310 triệu, có tới hơn 4.400 trường Tác giả này cũng cho biết, tỷ lệ sinh viên so với dân số của Việt Nam chỉ bằng một nửa của Thái Lan và một phần ba của Hàn Quốc2 Số liệu của Ngân hàng Thế giới cho biết tỷ lệ sinh viên so với dân số của Việt Nam năm 2006 là 13% (Vietnam Country Summary 3), thấp hơn rất nhiều
so với các nước phát triển, như 70% tại Mỹ, Na Uy, Úc, hay giữa 70%-80% ở Phần Lan, New Zealand
và Thuỵ Điển (Kwiek Marek, 2008)
2.4 Vấn đề chất lượng: những thay đổi về mô hình nhà trường
Như trên đã nói, một trong những đặc điểm của nền giáo dục đại học Việt Nam trước 1986 là quy mô nhỏ và tính đơn ngành và sự thiếu quan tâm về nghiên cứu của phần lớn các cơ sở đào tạo Điều này không chỉ ảnh hưởng đến thứ bậc của các trường đại học trong các bảng xếp hạng, mà thực tế còn làm giảm tính năng động và mối gắn kết giữa đại học với thị trường lao động và các ngành sản xuất – kinh doanh
Ý thức được điều này, Chính phủ Việt Nam đã quyết định thành lập 2 Đại học Quốc gia với những quy chế đặc biệt Đại học Quốc gia Hà Nội được thành lập ngày 10 tháng 12 năm 1993 trên cơ
sở sáp nhập 3 trường đại học lớn là Đại học tổng hợp Hà Nội, Đại học sư Phạm Hà nội 1 và Đại học sư phạm ngoại ngữ Hà Nội Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh được thành lập ngày 27 tháng 01 năm 1995, trên cơ sở sáp nhập 9 trường đại học và phân hiệu đại học, đó là: Trường Đại học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thủ Đức, Trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh, Trường Đại học Nông lâm Thành phố Hồ Chí Minh, Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, Trường Đại học Tài chính Kế toán Thành phố Hồ Chí Minh, Trường Đại học
2 http://www.washingtonpost.com/wp-dyn/content/article/2010/07/23/AR2010072303685.html
3
http://siteresources.worldbank.org/EDUCATION/Resources/278200-1121703274255/1439264-1193249163062/VietnamCountrySummary.pdf
Trang 6Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, Trường Đại học Kiến trúc Thành phố Hồ Chí Minh, Phân hiệu Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh Hiện nay, ĐHQG Hà Nội có 10 cơ sở đào tạo thành viên, còn ĐHQG thành phố Hồ Chí Minh có 07 cơ sở đào tạo thành viên
Theo quyết định số 15/2001/QĐ-TTg (ngày 12 tháng 2 năm 2001) của Thủ tướng Chính phủ về việc tổ chức lại hai đại học quốc gia tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, các Đại học Quốc gia có quy chế tổ chức và hoạt động đặc biệt, có vai trò như những trung tâm đào tạo và nghiên cứu khoa học– công nghệ đa ngành, đa lĩnh vực, chất lượng cao, làm nòng cốt cho hệ thống giáo dục đại học Việt Nam Quyết định số 16/2001/QĐ-TTg Ngày 12/2/2001 của Thủ tướng Chính phủ “khẳng định và tăng cường hơn nữa quyền tự chủ của các Đại học Quốc gia trong nhiều lĩnh vực hoạt động, đặc biệt là đào tạo, nghiên cứu khoa học - công nghệ, tổ chức cán bộ, kế hoạch - tài chính và hợp tác quốc tế”
(Website của ĐHQGHN)
Ngoài hai Đại học Quốc gia, năm 1994 Chính phủ Việt Nam còn quyết định thành lập 3 Đại học Vùng, đó là Đại học Thái Nguyên, Đại học Huế và Đại học Đà Nẵng Hiện nay, Đại học Thái Nguyên
có 09 cơ sở đào tạo thành viên (Website của Đại học Thái Nguyên), Đại học Huế hiện có 07 trường đại học thành viên (Website của Đại học Huế) và Đại học Đà Nẵng có 07 cơ sở đào tạo thành viên (Website của Đại học Đà Nẵng) Các Đại học Vùng có nhiều quyền tự chủ hơn so với các đại học khác,
tuy không bằng các Đại học Quốc gia
Việc áp dụng mô hình đại học nghiên cứu, đa ngành, đa lĩnh vực được thực hiện không chỉ tại hai Đại học Quốc gia và 03 Đại học Vùng, mà còn cả ở nhiều trường đại học khác, đặc biệc là các trường “trọng điểm” Các trường mới thành lập, đặc biệt là các trường tư tuy quy mô nhỏ, cũng có xu hướng áp dụng mô hình này
Việc áp dụng một hình mô hình đại học nghiên cứu, đa ngành, đa lĩnh vực cũng ít nhiều liên quan đến chủ trương áp dụng hệ thống tín chỉ thay cho hệ thống niên chế trong đào tạo đang được triển khai dần tại các trường đại học trong cả nước
Để nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu, Việt Nam cũng áp dụng một biện pháp thí điểm khác là tổ chức các chương trình đào tạo “theo chuẩn quốc tế”, được gọi là các “chương trình tiên tiến” Các chương trình này thường được thiết kế dựa trên các chương trình nước ngoài, trong những năm học cuối sử dụng ngoại ngữ để dạy và học
2.5 Vấn đề quốc tế hóa: mở rộng hợp tác và liên kết quốc tế
Giống như tất cả các nước đang phát triển khác, Việt Nam đang nỗ lực quốc tế hóa nền giáo dục đại học của mình Nhưng với một quốc gia có nền kinh tế phụ thuộc rất lớn vào ngoại thương và đầu tư nước ngoài như Việt Nam, vấn đề quốc tế hóa đại học còn cấp bách hơn nhiều Nhiệm vụ này được tiến hành bằng nhiều biện pháp khác nhau Trước hết là nỗ lực gửi sinh viên đi đào tạo ở nước ngoài – hoạt động quốc tế hóa chủ yếu của Việt Nam trước năm 1986 và bị suy giảm đáng kể sau khi các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu sụp đổ Năm 2000, sau hơn một thập kỷ cải cách tương đối thành công, Việt
Trang 7Nam đã nỗ lực phục hồi lại hoạt động quan trọng này bằng việc khởi động một dự án, gọi là “Dự Án 322”, có nhiệm vụ hàng năm gửi khoảng 450 sinh viên du học ở nước ngoài bằng một nguồn kinh phí vào khoảng 100 tỷ đồng từ ngân sách nhà nước Năm 2008, Bộ Giáo dục và Đào tạo đưa ra một đề án thậm chí còn tham vọng hơn, đó là đào tạo 20,000 Tiến sĩ từ 2008 đến 2020, trong đó khoảng 50% được đào tạo ở nước ngoài
Biện pháp quan trọng thứ hai là khuyến khích sự tham gia của các có sở đào tạo và nghiên cứu nước ngoài, kể cả việc mở trường hoặc phân hiệu tại Việt Nam Trường đại học 100% vốn nước ngoài đầu tiên được thành lập tại Việt Nam là RMIT, khai giảng lần đầu tiên tại phân hiệu thành phố Hồ Chí Minh năm 2001 và tại phân hiệu Hà Nội năm 2004
Nhưng hình thức quốc tế hóa phổ biến hơn là các chương trình liên kết Hiện nay, các trường liên kết đào tạo quốc tế không đơn thuần là một giải pháp nhằm cải thiện hoặc quốc tế hóa nền giáo dục đại học về mặt hàn lâm, mà còn là một giải pháp trong chính sách quản lý tài chính đại học Chúng tôi
sẽ nghiên cứu kỹ hơn khía cạnh tài chính của liên kết đào tạo đại học trong những phần tiếp theo
III Vấn đề quản lý tài chính và đa dạng hóa các nguồn tài chính Đại học ở Việt Nam
Như ở trên đã nói, ba nhiệm vụ quan trọng nhất của nền giáo dục đại học Việt Nam hiện nay là nâng cao chất lượng, đa dạng hóa ngành nghề và quốc tế hóa Cả ba nhiệm vụ này đều đòi hỏi một nguồn tài chính dồi dào để cải thiện cơ sở vật chất và chất lượng đào tạo và nghiên cứu của các cơ sở đào tạo đang tăng lên nhanh chóng Điều này cực kỳ khó khăn, nếu không nói là bất khả thi nếu chỉ dựa vào nguồn kinh phí hạn chế từ ngân sách
Chi tiêu cho giáo dục nói chung, và cho giáo dục đại học nói riêng, của Việt Nam chiếm một tỷ
lệ cao hay thấp trong cơ cấu chi tiêu quốc gia? Ấn tượng thông thường là cao Thực ra không đúng Chi tiêu cho giáo dục của Việt Nam trong nhiều năm qua ở vào khoảng 12% ngân sách quốc gia, trong đó
chi tiêu cho giáo dục đại học chiếm khoảng 5% ngân sách quốc gia (Xem bảng 1) Nếu tính theo GDP,
chi tiêu cho giáo dục của Việt Nam là khoảng 3%, thấp hơn đáng kể so với 4,2% ở Philippines, 5,4% ở Thái Lan, 6,7% ở Malaysia (theo Ngô Doãn Đãi, Higher Education in South East Asia - UNESCO)
Bảng 1: Chi cho giáo dục và đào tạo (% ngân sách nhà nước)
Năm 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 Chi tiêu cho giáo
dục và đào tạo 11,63 11,89 12,04 12,63 11,83 10,89 12,12 13,46 12,85
Nguồn: Tổng cục Thống kê Việt Nam 4
4 http://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=389&idmid=3&ItemID=9883
Trang 8Trong bức tranh chúng đó, chi tiêu cho giáo dục đại học của Việt Nam, tính theo phần trăm GPD, cũng thấp hơn đáng kể so với nhiều quốc gia khác Theo Đặng Quế Anh, chi tiêu cho giáo dục đại học ở Việt Nam năm 2002 chiếm 0,41% GDP, thấp hơn nhiều so mức mức bình quân của thế giới
là 1,22% Bảng (2) dưới đây so sánh mức đầu tư cho giáo dục đại học (bao gồm cả đầu tư công và đầu
tư tư nhân) tính theo GDP của Việt Nam và một số nước:
Bảng 2: Chi phí cho giáo dục đại học của một số nước châu ÂU Đơn vị: % GDP
Đầu tư cho
Đại học 1,0 1,1 1,1 1,1 1,3 1,3 1,3 1,8
Nguồn: European Higher Education in a Worldwide Perspective, do Marek Kwiek trích dẫn
Tỷ lệ đầu tư thấp cho giáo dục đại học ở Việt Nam có lý do là GDP tính theo đầu người còn tương đối thấp (mới đạt khoảng hơn 1200 USD vào năm 2010), Việt Nam buộc phải phải ưu tiên cho các chi tiêu cấp bách khác như y tế, giao thông…
Với tỷ lệ đầu tư thấp như vậy, trong khi giá trị tuyệt đối của GDP đã thấp, trên thực tế, tình trạng thiếu hụt tài chính cho giáo dục đại học Việt Nam diễn ra rất trầm trọng Trong bối cảnh số trường và sinh viên tăng lên nhanh hơn nhiều so với tốc tộc tăng GDP, suất đầu tư cho một sinh viên ở mức rất thấp Trong bài trả lời phỏng vấn báo Tuổi Trẻ ngày 07/06/2010, ông Đào Trọng Thi, chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, giáo dục, thanh niên, thiếu niên và nhi đồng của Quốc hội, cho biết rằng suất đầu tư cho một sinh viên tại trường công cách đây năm sáu năm vào khoảng 6.000.000 đồng (khoảng
200 Euros)/sinh viên, nay chỉ đạt khoảng 2.500.000 đồng (Khoảng 80 Euros)/sinh viên5 Đó là mức đầu
tư hết sức thấp nếu so sánh không chỉ với mức đầu tư ở các nước phát triển (Chẳng hạn: Na Uy: 12.000
Euros; Đan Mạch: 13.600 Euros; Thụy Điển: 14.000 Euros; Thụy Sĩ: 19.000 Euros – Theo Marek Kwiek) Chính vì lý do đó, tất cả các trường đại học Việt Nam đều đang bị lạc hậu nhanh chóng về cơ
sở vật chất
Tình trạng thiếu hụt tài chính cũng dẫn đến tình trạng thu nhập thấp của giảng viên khiến cho nhiều trí thức giỏi có xu hướng lựa chọn những ngành nghề có thu nhập cao hơn Thu nhập thấp cũng là một lý do khiến tình trạng tiêu cực trong giáo dục cũng trở nên nghiêm trọng
Nhà nước Việt Nam từ lâu đã ý thức được vấn đề này Năm 1987, Bộ Giáo dục và Đào tạo đưa
ra một chính sách tài chính mới theo hướng đa dạng hóa các nguồn tài chính, được gọi là “xã hội hóa giáo dục” Cần phải nói là trái với cách hiểu thông thường ở phương Tây, “xã hội hóa” ở Việt Nam về
Trang 9
bản chất là thu hút các nguồn tài chính ngoài ngân sách nhà nước và từ bỏ sự phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn tài chính do nhà nước cấp Như vậy, về bản chất, khái niệm này khá gần gũi với “tư nhân hóa”
Như trên đã nói, trước Đổi Mới, tất cả các trường đại học và cao đẳng ở Việt Nam đều là trường công và gần như toàn bộ chi phí cho giáo dục đại học là lấy từ ngân sách nhà nước Bước đi đầu tiên theo hướng “xã hội hóa” các nguồn lực tài chính cho giáo dục đại học được Bộ Giáo dục và Đào tạo thực hiện vào năm 1987 với việc cho phép các trường đại học tổ chức những chương trình không chính quy (hệ B) song song với chương trình chính thức Các sinh viên theo học hệ B phải trả học phí, trong khi các sinh viên chính thức hầu như được miễn hoàn toàn học phí Tác giả Ngô Doãn Đãi cho biết rằng số sinh viên hệ B tăng nhanh hơn nhiều so với sinh viên chính thức Trong năm 1987-1988, tổng
số sinh viên là 133.136, trong đó 91.182 sinh viên hệ chính quy (không phải nộp phí) và 41.954 sinh viên phải nộp học phía Trong năm học 1988-1989, số sinh viên hệ B (phải nộp học phí) đã gấp bốn lần
số sinh viên chính thức được miễn học phí (UNESCO, “Higher Education in South East Asia”, 2006, phần nói về Việt Nam)
Cùng với những chương trình không chính quy này là sự nở rộ của các chương trình đào tạo tại chức, chuyên tu, từ lâu đã trở thành một nguồn thu đáng kể của nhiều trường đại học Tờ Tuổi trẻ, số ra ngày 11/12/2010 cho biết, “Hiện tại, cứ ba người học ĐH, CĐ thì có một người học hệ tại chức Thậm chí ở một số trường ĐH, tỉ lệ này là 1/1 Đó là kết quả của sự bùng nổ quy mô đào tạo tại chức vài năm gần đây Năm 2010, các trường ĐH, CĐ được Bộ GD-ĐT giao tổng chỉ tiêu đào tạo tại chức, văn bằng
2, liên thông với hơn 322.000 chỉ tiêu, tương đương tới 62,9% so với tổng chỉ tiêu đào tạo của hệ chính quy Trong đó, hệ vừa học vừa làm (tại chức) có “phần bánh” to nhất Tổng chỉ tiêu tại chức của các trường ĐH, CĐ tăng đáng kể so với vài năm trước và hiện đã vượt qua tỉ lệ 50% so với hệ chính quy” (Minh Giảng-Hà Bình, 2010)
Việc cho phép phát triển khu vực ngoài công lập là một hướng đi khác của chính sách xã hội hóa Hai mươi hai năm kể từ khi cơ sở đào tạo đại học ngoài công lập đầu tiên được thành lập (trường đại học Thăng Long, thành lập năm 1988 với tên gọi ban đầu là Trung tâm Đại học Dân lập Thăng Long), khu vực ngoài công lập đã có 77 trường đại học và cao đẳng trong tổng số 403 trường Hơn nữa, theo các thống kê, tốc độ phát triển của khu vực ngoài công lập ngày càng tăng lên trong những năm gần đây (xem bảng 3) Khu vực đại học ngoài công lập có ba hình thức khác nhau, đó là trường bán
công (semi-public), trường dân lập (people-founded) và trường tư Trường bán công là trường do nhà
nước và các tổ chức kinh tế - xã hội hoặc cá nhân cùng làm Thông thường các trường bán công được nhà nước xây dựng và trang bị cơ sở hạ tầng, còn chi thường xuyên dựa vào nguồn thu từ học phí Trường dân lập do các tổ chức kinh tế - xã hội và nghề nghiệp lập ra và đầu tư, hoạt động dựa vào nguồn thu từ học phí Các trường tư do các cá nhân thành lập, đầu tư và sở hữu
Trang 10Bảng 3: Số trường đại học và cao đẳng của Việt Nam
2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009
Tổng số 178 191 202 214 230 277 322 369 393 403 Công lập 148 168 179 187 201 243 275 305 322 326 Ngoài
Nguồn: Tổng cục Thống kê Việt Nam
Cũng theo số liệu của Tổng cục Thống kê Việt Nam, năm 2009, cả nước có 1.796.200 sinh viên, trong đó 248.800 theo học tại các trường đại học ngoài công lập Trong10 năm qua, số sinh viên tại các trường công lập tăng 5.2%, trong khi đó số sinh viên tại các trường ngoài công lập tăng 17% Bảng (4) dưới đây mô tả sự gia tăng về số lượng sinh viên đại học và cao đẳng ở Việt Nam trong giai đoạn
2000-2009
Bảng 4: Số sinh viên (ngàn)
2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009
Tổngsố 899.5 974.1 1020.7 1131.0 1319.8 1387.1 1666.2 1603.5 1719.5 1796.2 Công lập 795.6 873.0 908.8 993.9 1182.0 1226.7 1456.7 1414.7 1501.3 1547.4 Ngoài
Công lập 103.9 101.1 111.9 137.1 137.8 160.4 209.5 188.8 218.2 248.8
Nguồn: Tổng cục Thống kê Việt Nam
Hướng quan trọng thứ ba trong chính sách đa dạng hóa các nguồn lực tài chính cho đại học là kêu gọi đầu tư nước ngoài thông qua việc mở trường hoặc chi nhánh tại Việt Nam hoặc tổ chức các chương trình đào tạo liên kết Việc kêu gọi các trường đại học nước ngoài đầu tư mở trường nước ngoài từng được nhiều nước áp dụng nhưng không nhiều trường hợp nào thành công Lý do, theo tôi, chủ yếu
là chính sách Một ví dụ là Hàn Quốc Theo Kiyong Byun và Minjung, Hàn Quốc tuyên bố mở thị trường giáo dục đại học năm 1996, một năm sau khi gia nhập WTO Luật Trường Tư (Private School Act) sửa đổi năm 1997 chính thức cho phép các tổ chức nước ngoài mở trường tại Hàn Quốc Tuy nhiên, với những ràng buộc khá ngặt nghèo, đặc biệt là chỉ cho phép các tổ chức phi lợi nhuận mở trường (nghĩa là các trường nước ngoài không có quyền chuyển lợi nhuận ra khỏi Hàn Quốc) khiến cho rất ít, nếu không nói là không hề có, đối tác nước ngoài quan tâm đến việc mở trường tại nước này Mãi đến giữa thập niên 2000, chính phủ Hàn Quốc mới thay đổi quan điểm “Luật đặc biệt về thành lập và vận hành các tổ chức giáo dục 2005” (Special Act on the Establishment and Operation of Foreign Educational Institutions in 2005) mới nới lỏng các hạn chế đối với các tổ chức giáo dục nước ngoài, đặc biệt là cho phép chuyển lợi nhuận ra khỏi Hàn Quốc, cho phép chính phủ Hàn Quốc tài trợ các tổ chức giáo dục nước ngoài và cho phép các tổ chức này tự chủ trong tuyển sinh, trừ một số lĩnh vực như