1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Thống kê doanh nghiệp võ hải thủy, nguyễn thu thủy

60 274 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 60
Dung lượng 0,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

2 thị trường, tác động của các hiện tượng tự nhiên đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp… 3.Nhiệm vụ của môn học: -Nghiên cứu xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê phản ánh m

Trang 1

ThS Nguyễn thị Hải Anh

CHƯƠNG I MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA THỐNG KÊ DOANH NGHIỆP

I-GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ MÔN HỌC THỐNG KÊ DOANH NGHIỆP: 1.Đối tượng nghiên cứu : Thống kê doanh nghiệp nghiên cứu mặt lượng trong mối liên

hệ mật thiết với mặt chất của các hiện tượng phát sinh trong phạm vi doanh nghiệp và ngoài phạm vi doanh nghiệp nhưng có liên quan đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, qua từng thời gian nhất định

2-Phạm vi nghiên cứu: Môn học nghiên cứu các hiện tượng phát sinh trong doanh

nghiệp hoặc các hiện tượng phát sinh bên ngoài doanh nghiệp nhưng có liên quan trực tiếp hay gián tiếp đến doanh nghiệp

Các hiện tượng phát sinh trong doanh nghiệp: các hiện tượng về kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp; các hiện tượng về hao phí các yếu tố đầu vào (lao động, tài sản, vốn…) cho quá trình sản xuất kinh doanh; các hiện tượng về hiệu quả sản xuất kinh doanh trong từng điều kiện thời gian cụ thể

Các hiện tượng phát sinh bên ngoài doanh nghiệp: nhu cầu tiêu dùng sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất trên thị trường trong nước và ngoài nước, biến động của giá cả hàng hóa trên

Trang 2

2 thị trường, tác động của các hiện tượng tự nhiên đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp…

3.Nhiệm vụ của môn học:

-Nghiên cứu xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê phản ánh mọi mặt hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, nhằm cung cấp các thông tin cần thiết làm cơ sở khoa học cho các quyết định trong quản lý

-Nghiên cứu phương pháp điều tra thống kê, phương pháp tổng hợp và phân tích thống

kê về hệ thống chỉ tiêu phản ánh tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

-Nghiên cứu các phương pháp dự báo xu hướng phát triển của doanh nghiệp

II MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN:

1- Doanh nghiệp:

Khái niệm: Doanh nghiệp là một đơn vị kinh tế được thành lập nhằm mục đích chủ yếu

là tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh

Cần phân biệt 2 khái niệm : hoạt động sản xuất kinh doanh và hoạt động sản xuất tự cấp

tự túc Chúng giống nhau là cùng sử dụng các yếu tố đầu vào để tạo ra sản phẩm đáp ứng cho

mục đích của người sản xuất Chúng khác nhau là:

-Hoạt động sản xuất tự cấp tự túc: Mục đích sản xuất là để thỏa mãn nhu cầu sử dụng

của người sản xuất, quy mô sản xuất thường nhỏ, sản phẩm làm ra không cần xã hội thừa nhận, doanh nghiệp không cần quan tâm đến các thông tin giá cả thị trường, thông tin về sản phẩm của các doanh nghiệp khác, và doanh nghiệp không nhất thiết phải hạch toán kinh tế

-Hoạt động sản xuất kinh doanh: Mục đích sản xuất là để thu được lợi nhuận, quy mô

sản xuất phụ thuộc vào nhu cầu thị trường và năng lực sản xuất của doanh nghiệp, sản phẩm làm ra phải được xã hội thừa nhận, doanh nghiệp luôn quan tâm đến các thông tin giá cả thị trường, thông tin về sản phẩm của các doanh nghiệp khác, và doanh nghiệp bắt buộc phải tiến hành hạch toán kinh tế

Phân loại doanh nghiệp:

-Căn cứ vào hình thức sở hữu vốn kinh doanh: Có thể chia ra 2 khu vực kinh tế :

□ Đối với khu vực kinh tế trong nước: Chia ra 3 loại doanh nghiệp:

+Doanh nghiệp quốc doanh: vốn kinh doanh thuộc sở hữu của nhà nước

+Doanh nghiệp ngoài quốc doanh: vốn kinh doanh thuộc sở hữu của tập thể, cá thể, tư nhân Như: hợp tác xã, hộ sản xuất nhỏ, doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn

+Doanh nghiệp liên doanh: có sự góp vốn liên doanh giữa thành phần kinh tế nhà nước

và các thành phần kinh tế khác

□ Đối với khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài: Chia ra 2 loại doanh nghiệp:

+Doanh nghiệp có 100% vốn nước ngoài

+Doanh nghiệp liên doanh: có sự góp vốn liên doanh giữa tổ chức hay cá nhân người nước ngoài và một đơn vị kinh tế thuộc 1 thành phần kinh tế nào đó trong nước

-Căn cứ vào khu vực và ngành kinh tế: Có thể chia ra:

+Doanh nghiệp thuộc khu vực I: bao gồm các doanh nghiệp khai thác sản phẩm trong thiên nhiên, như doanh nghiệp các ngành : nông nghiệp, lâm nghiệp, khai thác và nuôi trồng thủy sản

+Doanh nghiệp thuộc khu vực II: bao gồm các doanh nghiệp chế biến sản phẩm thiên nhiên khai thác được, như doanh nghiệp các ngành : công nghiệp khai thác khoáng sản, công nghiệp gia công chế biến, sản xuất điện, nước, khí đốt, xây dựng cơ bản

+Doanh nghiệp thuộc khu vực III: bao gồm các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ, như doanh nghiệp các ngành: thương mại, sửa chữa, giao thông vận tải, thông tin liên lạc, bưu chính viễn thông, du lịch, khách sạn nhà hàng, kinh doanh bất động sản, tư vấn, ngân hàng, bảo hiểm, y tế, giáo dục đào tạo, văn hóa thể thao, khoa học và công nghệ…

-Căn cứ vào đặc điểm hoạt động kinh doanh:

Trang 3

3

Có thể chia các doanh nghiệp trong từng ngành kinh tế ra thành các doanh nghiệp cụ thể khác nhau Chẳng hạn chia doanh nghiệp công nghiệp ra làm: doanh nghiệp đóng tàu, doanh nghiệp cơ khí chế tạo máy, doanh nghiệp dệt, doanh nghiệp may, doanh nghiệp da giày, doanh nghiệp chế biến thực phẩm, doanh nghiệp chế biến gỗ,…

2 Chỉ tiêu thống kê:

Khái niệm: Chỉ tiêu thống kê là biểu hiện khái quát đặc điểm về mặt lượng trong mối

liên hệ mật thiết với mặt chất của toàn bộ tổng thể trong những điều kiện không gian và thời gian cụ thể

Một chỉ tiêu thống kê luôn gắn với một đơn vị đo lường và phương pháp tính cụ thể Một

chỉ tiêu thống kê luôn bao gồm 2 phần: phần khái niệm (mặt chất) nêu lên thuộc tính của hiện tượng, cùng với điều kiện không gian và thời gian mà hiện tượng tồn tại; và phần con số: nêu

lên biểu hiện về mặt lượng tương ứng với phần khái niệm trên

Phân loại chỉ tiêu thống kê::

-Căn cứ vào nội dung : Có thể chia ra 2 loại chỉ tiêu:

+Chỉ tiêu khối lƣợng: Phản ánh khái quát đặc điểm về mặt lượng (quy mô, khối

lượng,…) của hiện tượng nghiên cứu Đơn vị tính: đơn vị hiện vật (cái, con, chiếc, m, l, kg,

…), đơn vị tiền tệ (đồng, USD…), đơn vị thời gian (giờ, ngày …)

Ví dụ: Số lao động trong danh sách, tổng diện tích đất đai, tổng giá trị tài sản cố định, tổng quỹ lương công nhân, giá trị sản xuất, doanh thu bán hàng…

+Chỉ tiêu chất lƣợng: Phản ánh khái quát đặc điểm về mặt chất (hiệu quả công việc,

trình độ phổ biến,…) của hiện tượng nghiên cứu Đơn vị tính là đơn vị kép (người/km, đ/đơn

vị sản phẩm, đơn vị sản phẩm / người,…)

Ví dụ: Giá bán bình quân 1 đơn vị sản phẩm, tiền lương bình quân 1 công nhân, năng suất lao động bình quân 1 giờ công lao động

-Căn cứ vào điều kiện thời gian: có thể chia ra:

+Chỉ tiêu thời điểm: phản ánh đặc điểm về quy mô của hiện tượng nghiên cứu tại một

Khái niệm: Hệ thống chỉ tiêu thống kê là tập hợp nhiều chỉ tiêu thống kê có mối liên hệ

với nhau, nhằm phản ánh tổng hợp nhiều mặt của hiện tượng nghiên cứu trong những điều kiện không gian và thời gian cụ thể

Hệ thống chỉ tiêu thường phản ánh: các mặt, các bộ phận hay các tính chất quan trọng nhất của hiện tượng nghiên cứu; các mối liên hệ cơ bản giữa các mặt, giữa các bộ phận hay giữa các tính chất của hiện tượng nghiên cứu; các mối liên hệ cơ bản giữa hiện tượng nghiên cứu và các hiện tượng có liên quan

Căn cứ để xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê: mục đích nghiên cứu, tính chất và đặc

điểm của hiện tượng nghiên cứu, và khả năng cho phép về tài chính, về nhân lực, về thời gian

III QUÁ TRÌNH NGHIÊN CỨU THỐNG KÊ:

1-Khái quát về quá trình nghiên cứu thống kê:

Các hiện tượng liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thường rất phức tạp, do đó việc nghiên cứu chúng cần phải được tổ chức một cách khoa học Thông thường quá trình nghiên cứu thống kê một hiện tượng kinh tế xã hội bao gồm các giai đoạn sau:

-Xác định mục đích nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, nội dung nghiên cứu

Trang 4

4 -Xác định hệ thống khái niệm liên quan đến hiện tượng nghiên cứu, từ đó xây dựng hệ thống chỉ tiêu nhằm lượng hóa các thuộc tính cơ bản của hiện tượng nghiên cứu để đáp ứng mục đích nghiên cứu

-Tổ chức việc điều tra thông kê để thu thập dữ liệu ban đầu về hiện tượng nghiên cứu dựa trên hệ thống chỉ tiêu đã được xác định

-Tổ chức việc xử lý dữ liệu bằng các phương pháp thống kê (tổng hợp thống kê, phân tích thống kê, dự đoán thống kê) để nhận định về bản chất cụ thể, tính quy luật và xu hướng phát triển của hiện tượng nghiên cứu

-Lập báo cáo kết quả và truyền đạt kết quả nghiên cứu

Tóm lại, bất cứ một quá trình nghiên cứu thống kê nào cũng phải trải qua 3 giai đoạn cơ bản: điều tra thống kê, tổng hợp thống kê, phân tích và dự đoán thống kê

2-Điều tra thống kê:

Khái niệm: Điều tra thống kê tức là tổ chức một cách khoa học việc thu thập thông tin

ban đầu về quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp dựa trên hệ thống chỉ tiêu đã xác định trước Kết quả của điều tra thống kê cung cấp cho ta thông tin ban đầu về đặc trưng riêng của từng đơn vị tổng thể, nhằm làm cơ sở cho công việc tổng hợp, phân tích và dự đoán thống

Yêu cầu cơ bản của điều tra thống kê: phải đảm bảo tính chính xác khi ghi chép số liệu;

tính kịp thời về thời gian điều tra và thời gian cung cấp số liệu; và tính đầy đủ về nội dung phản ánh, đầy đủ về số đơn vị tổng thể cần điều tra, nhằm đáp ứng cao nhất mục đích nghiên cứu

Các loại điều tra thống kê :

-Căn cứ vào thời gian thu thập dữ liệu: Có thể chia ra 2 loại điều tra:

+Điều tra thường xuyên: là thu thập dữ liệu về hiện tượng nghiên cứu một cách liên

tục, theo sát với quá trình phát sinh và phát triển của hiện tượng Dữ liệu thu thập từ điều tra thường xuyên có thể phản ánh sự phát triển của hiện tượng trong 1 thời kỳ nhất định

Ví dụ: Trong doanh nghiệp, điều tra hàng ngày về số công nhân đi làm, số sản phẩm sản xuất, số sản phẩm tiêu thụ, số vật tư sử dụng vào sản xuất…

+Điều tra không thường xuyên: là thu thập dữ liệu về hiện tượng nghiên cứu một cách

không liên tục, không gắn liền với quá trình phát sinh và phát triển của hiện tượng; chỉ khi nào

có nhu cầu nghiên cứu thì mới tiến hành thu thập dữ liệu Dữ liệu thu thập từ điều tra không thường xuyên chỉ phản ánh trạng thái của hiện tượng tại 1 thời điểm nhất định Ví dụ : Kiểm

kê số lượng hàng tồn kho vào các thời điểm các ngày đầu mỗi tháng; điều tra thời gian ngừng việc trong các ca sản xuất, kiểm kê tài sản vào cuối mỗi quý…

-Căn cứ vào phạm vi thu thập dữ liệu: Có thể chia ra 2 loại điều tra :

+Điều tra toàn bộ: là thu thập dữ liệu về tất cả các đơn vị thuộc tổng thể nghiên cứu,

không bỏ sót bất kỳ một đơn vị nào Đây là nguồn dữ liệu đầy đủ nhất về hiện tượng nghiên cứu; tuy nhiên chỉ có thể nghiên cứu hiện tượng một cách bao quát; mặt khác, rất tốn kém thời gian, nhân lực và chi phí cho điều tra Ví dụ: Chấm công lao động hàng ngày, tổng kiểm kê diện tích đất đai, tổng kiểm kê hàng hoá tồn kho, tổng kiểm kê tài sản cố định…

+Điều tra không toàn bộ: là thu thập dữ liệu về một số đơn vị thuộc tổng thể nghiên

cứu Điều tra không toàn bộ được chia thành 3 loại: điều tra chọn mẫu, điều tra trọng điểm và điều tra chuyên đề

Điều tra chọn mẫu : Có nghĩa là chọn ra một mẫu từ tổng thể chung để thu thập dữ liệu;

trên cơ sở dữ liệu thu thập được trên mẫu, ta sẽ tìm ra các đặc trưng của mẫu và từ đó suy rộng

ra đặc trưng chung của toàn bộ tổng thể Để chọn mẫu, ta có thể dùng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hay chọn mẫu phi ngẫu nhiên Đây là loại điều tra được sử dụng nhiều nhất trong nghiên cứu thống kê vì tiết kiệm được thời gian, chi phí, và kết quả đáng tin cậy Ví dụ: Điều tra chọn mẫu để nghiên cứu chất lượng sản phẩm trên các dây chuyền sản xuất hàng loạt, điều tra sự hài lòng của công nhân sau khi công ty áp dụng hình thức trả lương mới,…

Trang 5

5

Điều tra trọng điểm: Có nghĩa là chỉ thu thập dữ liệu của những bộ phận chủ yếu nhất,

quan trọng nhất của tổng thể nghiên cứu Trên cơ sở dữ liệu thu thập được, ta sẽ nhận định nhanh về tình hình cơ bản của hiện tượng, chứ không suy rộng thành đặc trưng chung của toàn

bộ tổng thể Ví dụ: Điều tra giá bán hàng ở các trung tâm thương mại để nắm nhanh tình hình biến động giá cả hàng tiêu dùng trên thị trường, điều tra năng suất cây trồng ở những vùng trồng chuyên canh…

Điều tra chuyên đề: Có nghĩa là chỉ thu thập dữ liệu trên 1 hay 1 số rất ít đơn vị của

tổng thể nhưng lại đi sâu nghiên cứu nhiều khía cạnh khác nhau của đơn vị đó Trên cơ sở dữ liệu thu thập được, ta chỉ có thể nhận định về bản thân đơn vị được điều tra; chứ không thể nhận định về tình hình cơ bản của hiện tượng, cũng như không thể suy rộng thành đặc trưng chung của toàn bộ tổng thể Đơn vị được chọn để điều tra chuyên đề thường là đơn vị đặc biệt yếu kém hay đặc biệt xuất sắc; nhằm tìm ra những nhân tố ảnh hưởng đến các đơn vị này, từ

đó có biện pháp ngăn chặn các tiêu cực hay nhân rộng các điển hình Ví dụ: Điều tra chuyên

đề đối với một số ít công nhân có năng suất lao động cao vượt trội trong doanh nghiệp, điều tra tình hình sản phẩm hỏng nhiều bất thường trong 1 ca sản xuất nào đó, điều tra về tai nạn lao động nghiêm trọng ở một tổ sản xuất

2.3-Phương pháp điều tra thống kê: Có 2 phương pháp cơ bản để thu thập dữ liệu

trong doanh nghiệp:

-Điều tra trực tiếp: Người điều tra trực tiếp quan sát hiện tượng hay phỏng vấn trực tiếp

đối tượng được điều tra và tự mình ghi chép vào phiếu điều tra

-Điều tra gián tiếp: Người điều tra thu thập dữ liệu một cách gián tiếp thông qua các

bản tự ghi, qua thư phỏng vấn, qua điện thoại, qua mạng, hay qua các văn bản liên quan sẵn có liên quan đến hiện tượng

Phương pháp điều tra trực tiếp có độ chính xác cao, nhưng tốn kém thời gian, nhân lực

và chi phí Phương pháp điểu tra gián tiếp tiết kiệm nhiều chi phí nhưng độ chính xác không cao

2.4-Các hình thức tổ chức điều tra thống kê : Có 2 hình thức tổ chức điều tra cơ bản

trong doanh nghiệp là:

-Báo cáo thống kê định kỳ: là hình thức tổ chức điều tra thống kê thống nhất trong cả

nước theo chế độ báo cáo do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định Chế độ báo cáo thống

kê quy định rõ các nội dung cơ bản mà các doanh nghiệp phải chấp hành là : quy định về các biểu mẫu báo cáo thống kê (nêu rõ mục đích, ý nghĩa, khái niệm, nội dung, phạm vi, phương pháp tính các chỉ tiêu thống kê trong biểu mẫu báo cáo), quy định về đơn vị lập báo cáo, đơn

vị nhận báo cáo, thời hạn nộp báo cáo…Thông tin thống kê của từng doanh nghiệp trong các báo cáo thống kê này là cơ sở để tổng hợp thông tin thống kê của từng địa phương, từng ngành

và tổng hợp chung cả nước

-Điều tra chuyên môn: là hình thức tổ chức điều tra thống kê không thường xuyên,

được tiến hành theo kế hoạch và phương pháp được quy định riêng cho mỗi lần điều tra Một phương án điều tra cho hình thức điều tra chuyên môn thường bao gồm các nội dung cơ bản sau:

Xác định mục đích điều tra: Quy định rõ cuộc điều tra nhằm tìm hiểu vấn đề gì, phục vụ

cho yêu cầu nghiên cứu nào Chẳng hạn mục đích của điều tra tình hình tồn kho vật tư trong doanh nghiệp nhằm để thấy rõ thực trạng quản lý và sử dụng vật tư, tìm ra những bất hợp lý trong công tác này để có giải pháp khắc phục

Xác định đơn vị điều tra: Dựa vào mục đích điều tra, xác định các đơn vị tổng thể cần

điều tra để thu thập dữ liệu chính xác, qua đó giới hạn phạm vi điều tra, tránh tình trạng trùng lặp hay bỏ sót khi thu thập dữ liệu

Xác định nội dung điều tra: Xác định mục lục các tiêu thức cần thu thập trên các đơn vị

điều tra, và diễn đạt chúng dưới dạng các câu hỏi ngắn gọn, rõ ràng Chẳng hạn: điều tra về

Trang 6

6 máy móc thiết bị có thể chọn các tiêu thức: tên thiết bị, công dụng, nơi sản xuất, bộ phận quản lý thiết bị, số lượng thiết bị, nguyên giá, giá trị đã khấu hao, giá trị còn lại…

Xác định thời điểm và thời kỳ điều tra: Thời điểm điều tra là mốc thời gian được chọn để

bắt đầu ghi chép dữ liệu ban đầu.Có hiện tượng phải chọn thời điểm điều tra chính xác tới giờ, tới phút (điều tra tình hình sử dụng quỹ thời gian lao động); nhưng có hiện tượng chỉ cần chính xác tới ngày (điều tra tồn kho vật tư) Thời kỳ điều tra là khoảng thời gian quy định để thu thập dữ liệu ban đầu ở các đơn vị điều tra, được tính từ khi bắt đầu cho tới khi kết thúc cuộc điều tra

Phiếu điều tra và bảng giải thích: Phiếu điều tra là loại bảng in sẵn theo mẫu quy định

để ghi tài liệu thu thập được trên từng đơn vị điều tra vào đó Phiếu điều tra phải bao gồm đầy

đủ các nội dung điều tra, đồng thời đảm bảo sự thuận tiện cho việc ghi chép và xử lý dữ liệu Bảng giải thích dùng để giải thích cách ghi vào phiếu điều tra, giải thích các nội dung trong phiếu để hiểu một cách thống nhất, hoặc gợi ý các câu trả lời nếu câu hỏi phức tạp…

3-Tổng hợp thống kê:

Khái niệm: Tổng hợp thống kê là tiến hành tập trung, chỉnh lý, hệ thống hóa một cách

khoa học các tài liệu thu thập được trong điều tra thống kê, nhằm làm cho các đặc trưng riêng biệt của từng đơn vị tổng thể bước đầu chuyển thành các đặc trưng chung của toàn bộ tổng thể

Tài liệu thu thập được nếu được tổng hợp một cách khoa học sẽ là căn cứ vững chắc để phân tích thống kê nhằm tìm ra bản chất và tính quy luật của hiện tượng một cách chính xác

Phương pháp tổng hợp thống kê: Phương pháp cơ bản để tổng hợp thống kê là phân tổ

thống kê

Khái niệm phân tổ thống kê: Việc căn cứ vào một hay một số tiêu thức nào đó để phân

chia tổng thể nghiên cứu thành các tổ có tính chất khác nhau được gọi là phân tổ thống kê

Phân loại phân tổ thống kê: Căn cứ vào nhiệm vụ có thể chia thành 3 loại:

-Phân tổ phân loại: có nghĩa là phân chia tổng thể nghiên cứu thành các loại hình có

tính chất khác nhau Chẳng hạn: Phân tổ kết quả sản xuất của 1 doanh nghiệp theo các ngành hoạt động

-Phân tổ kết cấu: có nghĩa là phân chia tổng thể nghiên cứu thành các bộ phận có tính

chất khác nhau, nhằm biểu hiện kết cấu tổng thể theo tiêu thức phân tổ Bộ phận nào chiếm tỷ trọng càng cao trong tổng thể thì càng chiếm vai trò quan trọng trong tổng thể đó Chẳng hạn : Phân tổ tổng thể công nhân của doanh nghiệp theo giới tính, theo trình độ chuyên môn, theo bậc thợ, theo tuổi nghề, theo nơi làm việc…

-Phân tổ liên hệ: có nghĩa là phân chia tổng thể nghiên cứu thành các tổ theo 2 hay 3

tiêu thức nhằm biểu hiện mối liên hệ giữa các tiêu thức đó Chẳng hạn: Phân tổ tổng thể công nhân của doanh nghiệp theo 2 tiêu thức : tiền lương và năng suất lao động, hay theo 3 tiêu thức: tiền lương, năng suất lao động, và giới tính

Nội dung chủ yếu của phân tổ thống kê: Để tiến hành phân tổ thống kê một tài liệu nào

đó, thường tiến hành 4 bước cơ bản như sau:

Bước 1: Chọn tiêu thức phân tổ: Có nghĩa là dựa vào mục đích nghiên cứu để lựa chọn

tiêu thức bản chất nhất làm căn cứ để phân tổ

Bước 2: Xác định số tổ cần chia Xét 2 trường hợp:

-Trường hợp tiêu thức phân tổ là tiêu thức thuộc tính:

Nếu tiêu thức thuộc tính có ít biểu hiện thì ứng với mỗi biểu hiện ta lập 1 tổ

Nếu tiêu thức thuộc tính có nhiều biểu hiện thì ta ghép nhiều biểu hiện vào 1 tổ

-Trường hợp tiêu thức phân tổ là tiêu thức số lượng:

Nếu tiêu thức số lượng có ít lượng biến thì ứng với mỗi lượng biến ta lập 1 tổ

Nếu tiêu thức số lượng có nhiều lượng biến thì ta ghép nhiều lượng biến vào một tổ,

khi đó sẽ tạo nên khoảng cách tổ Ta sẽ phân theo khoảng cách tổ không đều nếu sự khác nhau

Trang 7

7

về chất giữa các lượng biến không đều nhau Ta sẽ phân theo khoảng cách tổ đều nếu sự

khác nhau về chất giữa các lượng biến tương đối đều nhau

Công thức khoảng cách tổ: ax  min

Bước 3: Xác định các chỉ tiêu giải thích nhằm để giải thích đặc trưng của từng tổ cũng

như của toàn bộ tổng thể

Yêu cầu đối với các chỉ tiêu giải thích : Phải đáp ứng được mục đích nghiên cứu, phải có mối liên hệ chặt chẽ với tiêu thức phân tổ, và phải có mối liên hệ bổ sung cho nhau giữa các chỉ tiêu giải thích

Bước 4: Trình bày kết quả sau khi phân tổ Thường dùng 2 hình thức : bảng thống kê hay

đồ thị thống kê

3.3 Bảng thống kê:

Khái niệm: Bảng thống kê là 1 hình thức trình bày các tài liệu thống kê một cách hệ

thống, hợp lý và rõ ràng, nhằm nêu lên các đặc trưng về mặt lượng của hiện tượng nghiên cứu

Cấu thành của bảng thống kê: Có thể biểu hiện khái quát bảng thống kê như sau:

Tên bảng Phần giải thích

Phần chủ đề

Các chỉ tiêu giải thích Tên cột

Phần giải thích (biểu hiện qua tên các cột) : dùng để nêu lên các đặc trưng của tổng thể

nghiên cứu Có 2 cách trình bày phần giải thích:

Cách trình bày giản đơn: bố trí các chỉ tiêu giải thích theo kiểu song song với nhau, độc

lập nhau

Cách trình bày kết hợp: bố trí các chỉ tiêu giải thích theo kiểu phối hợp với nhau, đan

xen vào nhau

Chẳng hạn tài liệu doanh thu bán hàng trong tháng 1 và 2 của 1 doanh nghiệp, phân theo mặt hàng (A và B) và phân theo thị trường tiêu thụ (trong tỉnh và ngoài tỉnh) có thể trình bày theo 2 cách trên như sau :

Chỉ tiêu Đơn vị

tính

Mặt hàng Thị trường tiêu thụ

Doanh thu tháng 1 triệu đ

Doanh thu tháng 2 triệu đ

Tốc độ tăng doanh thu %

Tên

mặt

hàng

Doanh thu tháng 1 (triệu

đ) Doanh thu tháng 2 (triệu đ) Tốc độ tăng doanh thu (%) Tổng

số Thị trường tiêu thụ Tổng số Thị trường tiêu thụ Tổng số Thị trường tiêu thụ

Trang 8

8 Trong

tỉnh Ngoài tỉnh Trong tỉnh Ngoài tỉnh Trong tỉnh Ngoài tỉnh

-Nếu cả bảng có chung một đơn vị tính thì ghi đơn vị tính chung đó trên đầu bảng, ngay dưới tên bảng, bằng nét chữ nhỏ và để trong ngoặc đơn

-Nếu mỗi cột có đơn vị tính riêng thì ghi đơn vị tính ngay dưới tên cột và để trong ngoặc đơn

-Nếu mỗi hàng có đơn vị tính riêng thì lập thêm 1 cột ghi đơn vị tính sát ngay cột ghi tên hàng

3.4 Biểu đồ thống kê :

Khái niệm : Biểu đồ thống kê là các hình vẽ hoặc các đường nét hình học dùng để trình

bày các dữ liệu thống kê

Nội dung phản ánh : Biểu đồ thống kê thường phản ánh các nội dung sau :

-Quy mô hiện tượng và sự phát triển quy mô theo thời gian

-Kết cấu tổng thể và sự biến động của kết cấu theo thời gian

-Tình hình thực hiện kế hoạch (thực hiện định mức) về một chỉ tiêu nào đó

-Tình hình phân phối các đơn vị tổng thể theo 1 tiêu thức nào đó

-Mối liên hệ giữa các hiện tượng nghiên cứu…

Hình thức biểu hiện: Có các dạng biểu đồ thường dùng :

-Dạng biểu đồ hình thanh (Bar chart): Có 2 dạng : thanh dọc và thanh ngang Thường

dùng để biểu hiện : quy mô của hiện tượng và sự phát triển quy mô theo thời gian; sự phân phối các đơn vị theo 1 tiêu thức số lượng nào đó; kết cấu của tổng thể và sự biến động của kết cấu theo thời gian,…

-Dạng biểu đồ hình tròn (Pie chart): Có dạng 1 hình tròn chia thành nhiều hình quạt :

hình tròn biểu hiện cho tổng thể, hình quạt biểu hiện cho từng bộ phận trong tổng thể Dạng biểu đồ này thường dùng để biểu hiện kết cấu của tổng thể trong từng năm

-Dạng biểu đồ hình gấp khúc (Line chart): Thường dùng để biểu hiện quy mô của hiện

tượng, sự phân phối các đơn vị theo 1 tiêu thức số lượng nào đó, mối liên hệ giữa 2 tiêu thức

số lượng,…

4.Phân tích thống kê:

Khái niệm: Phân tích thống kê có nghĩa là thông qua nghiên cứu các biểu hiện về mặt

lượng của hiện tượng để tìm ra bản chất cụ thể và tính quy luật của chúng trong điều kiện không gian và thời gian cụ thể

Phương pháp phân tích thống kê: Các phương pháp phân tích thống kê thường được sử

dụng trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp là

4.1.Phương pháp phân tích các mức độ của hiện tượng kinh tế xã hội:

4.1.1.Phương pháp số tuyệt đối:

Khái niệm: Số tuyệt đối trong thống kê (absolute figure) là chỉ tiêu biểu hiện quy mô,

khối lượng của hiện tượng nghiên cứu trong những điều kiện không gian và thời gian cụ thể

Đơn vị tính: đơn vị hiện vật (cái, mét, kg,…), đơn vị hiện vật quy ước (đơn vị quy đổi

theo một tiêu chuẩn nào đó, như nước mắm quy theo độ đạm); đơn vị tiền tệ (đồng, USD,…), đơn vị thời gian (giờ, ngày, tháng, )

Phân loại: Có thể chia ra 2 loại số tuyệt đối:

Trang 9

4.1.2.Phương pháp số tương đối:

Khái niệm: Số tương đối trong thống kê (relative figure) là chỉ tiêu biểu hiện quan hệ so

sánh giữa 2 chỉ tiêu cùng loại nhưng khác nhau về thời gian hoặc không gian; hoặc so sánh giữa 2 chỉ tiêu khác loại nhưng có quan hệ với nhau; hoặc so sánh giữa từng bộ phận với tổng thể trong cùng một chỉ tiêu

Trong thống kê, số tương đối thường dùng để phản ánh những đặc điểm về kết cấu trong tổng thể, quan hệ tỷ lệ, trình độ phát triển, mức độ hoàn thành kế hoạch, mức độ phổ biến của hiện tượng

Đơn vị tính: đơn vị số lần, phần trăm (%), phần nghìn (%o), đơn vị kép (người/km2) Phân loại:Có 5 loại số tương đối:

a-Số tương đối động thái (Tốc độ phát triển): so sánh 2 mức độ cùng loại nhưng khác

nhau về thời gian, dùng để phản ánh trình độ phát triển của hiện tượng theo thời gian

b-Số tương đối không gian : so sánh 2 mức độ cùng loại nhưng khác nhau về không

gian, dùng để phản ánh quan hệ tỷ lệ giữa các mức độ của hiện tượng trong những điều kiện không gian khác nhau

c-Số tương đối kết cấu: so sánh mức độ bộ phận với mức độ tổng thể, dùng để phản ánh

đặc điểm về kết cấu của tổng thể

d-Số tương đối hoàn thành kế hoạch: so sánh mức độ thực hiện với mức độ kế hoạch,

dùng để phản ánh trình độ hoàn thành kế hoạch về một chỉ tiêu nào đó

e-Số tương đối cường độ: so sánh 2 mức độ khác loại nhưng có liên quan với nhau,

dùng để phản ánh mức độ phổ biến của hiện tượng trong điều kiện không gian và thời gian nhất định

4.1.3.Phương pháp số bình quân :

Khái niệm: Số bình quân trong thống kê (average figure) là chỉ tiêu biểu hiện mức độ đại

biểu cho 1 tiêu thức số lượng nào đó trong 1 tổng thể bao gồm nhiều đơn vị cùng loại

Số bình quân mô tả đặc điểm chung nhất, phổ biến nhất của hiện tượng kinh tế xã hội trong các điều kiện không gian và thời gian cụ thể Chẳng hạn, tiền lương bình quân của công nhân trong 1 doanh nghiệp là mức lương phổ biến nhất, đại diện cho các mức lương khác nhau của từng công nhân trong doanh nghiệp

Các loại số bình quân thường dùng:

a-Số bình quân cộng: chia ra 2 loại:

a1-Số bình quân cộng giản đơn: áp dụng trong trường hợp mỗi lượng biến x xuất hiện 1 i

lần :

Công thức: x i

x n

  với n là số đơn vị của tổng thể

a2-Số bình quân cộng gia quyền : áp dụng trong trường hợp mỗi lượng biến x xuất hiện i

i i

x f

x 

 với f là số lần xuất hiện của mỗi lượng biến i x i

b-Số bình quân điều hòa : chia ra 2 loại:

Trang 10

10

b1-Số bình quân điều hòa giản đơn: áp dụng trong trường hợp biết được các lượng

biến x và các tích số i M ix f i i bằng nhau (M1M2   M nM) Công thức:

i

1x

c1-Số bình quân nhân giản đơn: áp dụng khi mỗi lượng biến x xuất hiện 1 lần : Công i

4.2.Phương pháp dãy số thời gian

Khái niệm: Dãy số thời gian (Time series data) : là 1 dãy các mức độ của 1 chỉ tiêu thống

kê được sắp xếp theo thứ tự thời gian dùng để phản ánh quá trình biến động của hiện tượng theo thời gian

Phân loại: Có 2 loại dãy số thời gian:

-Dãy số thời kỳ: Phản ánh sự biến động của hiện tượng qua các thời kỳ khác nhau Ví

dụ: Dãy số giá trị sản xuất của 1 doanh nghiệp qua các năm từ 2000 đến 2010

-Dãy số thời điểm: Phản ánh sự biến động của hiện tượng qua các thời điểm khác nhau

Ví dụ: Dãy số về số lao động hiện có tại doanh nghiệp vào những ngày đầu tháng trong năm

Các chỉ tiêu phân tích đặc điểm của dãy số thời gian:

4.2.1.Chỉ tiêu Mức độ bình quân theo thời gian ( y):

Khái niệm: Mức độ bình quân theo thời gian là chỉ tiêu bình quân, phản ánh mức độ đại

biểu cho các mức độ khác nhau trong dãy số thời gian; nhằm mô tả đặc điểm chung nhất, phổ biến nhất của hiện tượng nghiên cứu trong 1 thời gian dài

b-Đối với dãy số thời điểm:

b1-Nếu khoảng cách giữa các thời điểm bằng nhau:

i

y t y

Khái niệm: Tốc độ phát triển (Development index) còn gọi là chỉ số phát triển, là chỉ tiêu

tương đối phản ánh tỷ số giữa 2 mức độ trong dãy số; nhằm để biểu hiện nhịp điệu biến động của hiện tượng nghiên cứu qua 2 điều kiện thời gian khác nhau

i x

i f

Trang 11

11

Cách tính:Tùy theo mục đích nghiên cứu, có thể tính các loại tốc độ phát triển sau :

a-Tốc độ phát triển định gốc:

1100

i idg

i ilh i

4.2.3.Chỉ tiêu Tốc độ tăng (∆T):

Khái niệm: Tốc độ tăng (Growth rate) là chỉ tiêu tương đối phản ánh số lần hay số %

tăng thêm (hay giảm đi) giữa 2 mức độ trong dãy số

Cách tính: Tùy theo mục đích nghiên cứu, có thể tính các loại tốc độ tăng sau :

a-Tốc độ tăng định gốc: 1

dg(%) 1

4.2.4.Chỉ tiêu Lượng tăng tuyệt đối ( y)

Khái niệm: Lượng tăng tuyệt đối (Absolute increasement of indicator) là chỉ tiêu tuyệt

đối phản ánh hiệu số giữa 2 mức độ trong dãy số thời gian, phản ánh sự thay đổi mức độ của hiện tượng qua 2 thời gian khác nhau

Cách tính: Tùy theo mục đích nghiên cứu, có thể tính các lượng tăng tuyệt đối sau :

a-Lượng tăng tuyệt đối định gốc: y idg  y i y1

b-Lượng tăng tuyệt đối liên hoàn: y ilh  y i y i1

c-Lượng tăng tuyệt đối bình quân: 1

1

n

y y y

n

 

4.2.5.Chỉ tiêu Giá trị tuyệt đối của 1% tăng (C)

Khái niệm: Giá trị tuyệt đối của 1% tăng (Absolute value of one percent of increase) là

chỉ tiêu tuyệt đối phản ánh mức độ thực tế tương ứng với 1% của tốc độ tăng

Cách tính: Lấy lượng tăng tuyệt đối liên hoàn chia cho tốc độ tăng liên hoàn :

1100

4.3.Phương pháp chỉ số (Index method) :

Phương pháp chỉ số là một phương pháp phân tích thống kê dùng để nghiên cứu sự biến động của hiện tượng kinh tế xã hội

4.3.1.Chỉ số:

Khái niệm: Chỉ số là 1 chỉ tiêu tương đối phản ánh sự biến động của hiện tượng kinh tế

xã hội phức tạp bao gồm các phần tử không thể trực tiếp cộng được với nhau

Phân loại:

Trang 12

12 -Căn cứ vào ý nghĩa của chỉ số:có thể chia ra:

+Chỉ số động thái: phản ánh sự biến động của hiện tượng theo thời gian

+Chỉ số không gian: phản ánh sự biến động của hiện tượng theo không gian

+Chỉ số hoàn thành kế hoạch: phản ánh sự biến động của hiện tượng giữa mức thực

hiện và mức kế hoạch trong kỳ nghiên cứu

-Căn cứ vào tính chất của chỉ tiêu:có thể chia ra:

+Chỉ số của chỉ tiêu khối lượng: phản ánh sự biến động của 1 chỉ tiêu khối lượng +Chỉ số của chỉ tiêu chất lượng: phản ánh sự biến động của 1 chỉ tiêu chất lượng

Nguyên tắc xây dựng chỉ số :

-Trước tiên dùng quyền số để chuyển các phần tử từ chỗ không trực tiếp cộng được với nhau trở thành dạng đồng nhất và có thể cộng được

-Quyền số phải được cố định

-Cách chọn và cố định quyền số: Khi tính chỉ số của chỉ tiêu chất lượng thì chọn quyền

số là chỉ tiêu khối lượng và cố định ở kỳ báo cáo Khi tính chỉ số của chỉ tiêu khối lượng thì chọn quyền số là chỉ tiêu chất lượng và cố định ở kỳ gốc

Ví dụ: Chỉ số giá bán biểu diễn biến động của giá bán hàng hoá nói chung kỳ báo cáo

p q

 

 Số tuyệt đối: p q1 1p q0 1

Chỉ số khối lƣợng hàng bán biểu diễn biến động của khối lượng hàng bán nói chung kỳ

báo cáo so với kỳ gốc có dạng :

Số tương đối : 0 1

0 0

q

p q I

Khái niệm: Hệ thống chỉ số (Index system) là 1 dãy các chỉ số có mối liên hệ với nhau

hợp thành một đẳng thức nhất định Hệ thống chỉ số trong thống kê thường được xây dựng từ

1 phương trình kinh tế, biểu hiện mối liên hệ giữa hiện tượng nghiên cứu và các nhân tố ảnh hưởng

Ví dụ: Tổng doanh thu bán hàng = (Đơn giá từng loại sản phẩm X Khối lượng từng loại sản phẩm tiêu thụ)

Suy ra ta có mối liên hệ dưới dạng số tương đối và số tuyệt đối dựa theo phương trình trên như sau:

Số tương đối: Chỉ số doanh thu = Chỉ số giá bán X Chỉ số khối lượng sản phẩm tiêu thụ

Số tuyệt đối: Mức tăng (giảm) doanh thu = Mức tăng (giảm) doanh thu do biến động của giá bán + Mức tăng (giảm) doanh thu do biến động của khối lượng sản phẩm tiêu thụ

Cấu thành của 1 hệ thống chỉ số: bao gồm:

1 chỉ số toàn bộ: phản ánh sự biến động của hiện tượng nghiên cứu

Các chỉ số nhân tố: phản ánh sự biến động của từng nhân tố ảnh hưởng Các nhân tố

thường được sắp xếp theo trình tự từ nhân tố chất lượng đến nhân tố khối lượng, do đó các chỉ

số nhân tố cũng tuân theo trình tự đó

Trang 13

13 -Dựa vào mối quan hệ giữa các chỉ số trong hệ thống chỉ số, ta có thể tính được 1chỉ

số khi đã biết các chỉ số còn lại

Các dạng hệ thống chỉ số thường dùng trong phân tích thống kê :

a-Hệ thống chỉ số phân tích biến động của 1 chỉ tiêu tổng hợp:

Chỉ tiêu tổng hợp là chỉ tiêu mà các nhân tố ảnh hưởng đến sự biến động của nó là nhân

tố chất lượng và nhân tố khối lượng Ví dụ :

Tổng doanh thu bán hàng = (Đơn giá từng loại sản phẩm X Khối lượng từng loại sản phẩm tiêu thụ)

Tổng giá trị sản phẩm sản xuất = (Đơn giá từng loại sản phẩm X Khối lượng từng loại sản phẩm sản xuất)

Tổng giá thành sản phẩm sản xuất = (Giá thành 1 đơn vị sản phẩm X Khối lượng từng loại sản phẩm sản xuất)

Tổng giá trị sản phẩm sản xuất = Năng suất lao động bình quân 1 công nhân X Số công nhân bình quân

Tổng quỹ lương công nhân = Tiền lương bình quân 1 công nhân X Số công nhân bình quân

Hệ thống chỉ số phân tích chỉ tiêu tổng hợp có dạng tổng quát là:

Chỉ số của chỉ tiêu tổng hợp = Chỉ số của chỉ tiêu chất lƣợng X Chỉ số của chỉ tiêu khối lƣợng

Ví dụ: Hệ thống chỉ số phân tích biến động của chỉ tiêu doanh thu bán hàng ở kỳ báo cáo

so với kỳ gốc dưới tác động của 2 nhân tố giá bán và khối lượng hàng bán có dạng:

b- Hệ thống chỉ số phân tích biến động của 1 chỉ tiêu bình quân :

Chỉ tiêu bình quân là chỉ tiêu mà các nhân tố ảnh hưởng đến sự biến động của nó là

chính bản thân chỉ tiêu đó và kết cấu của tổng thể Ví dụ :

Tiền lương bình quân 1 công nhân toàn DN = Tiền lương bình quân 1 CN từng phân xưởng X Kết cấu công nhân

NSLĐ bình quân 1 công nhân toàn DN = NSLĐ bình quân 1 CN từng phân xưởng X Kết cấu công nhân

Giá bán bình quân 1 đvsp trên các thị trường = Giá bán bq 1 đvsp từng thị trường X Kết cấu hàng bán theo thị trường

Hệ thống chỉ số phân tích biến động của chỉ tiêu bình quân có dạng tổng quát là:

Chỉ số của chỉ tiêu bình quân = Chỉ số của bản thân chỉ tiêu X Chỉ số kết cấu tổng thể

Khái niệm: Dự đoán thống kê là sự tiếp tục quá trình phân tích thống kê, trong đó người

ta sử dụng các phương pháp thống kê để dự đoán các mức độ, mối quan hệ và xu hướng phát triển của hiện tượng nghiên cứu trong tương lai

Trang 14

14

Cơ sở để dự đoán thống kê là dãy số thời gian, tức là dựa trên xu hướng biến động của hiện tượng và tác động của các nhân tố trong thời gian đã qua để dự đoán về hiện tượng trong tương lai

Để phục vụ cho công tác quản lý quá trình sản xuất kinh doanh tại doanh nghiệp, người

ta thường sử dụng dự đoán thống kê ngắn hạn : vài giờ, 1 tuần, 1 tháng, 1 quý, 1 năm

Một số phương pháp dự đoán thống kê ngắn hạn :

5.1.Dự đoán theo lƣợng tăng tuyệt đối bình quân (y):

Trường hợp vận dụng: Khi các mức độ của dãy số thời gian có lượng tăng tuyệt đối liên hoàn từng thời kỳ gần đồng đều nhau, nghĩa là dãy số có dạng gần giống như một cấp số cộng

5.2.Dự đoán theo tốc độ phát triển bình quân (T ):

Trường hợp vận dụng: Khi các mức độ của dãy số thời gian có tốc độ phát triển liên hoàn từng thời kỳ gần đồng đều nhau, nghĩa là dãy số có dạng gần giống như một cấp số nhân

Thống kê trực thuộc Cục Thống kê tỉnh thành phố Tổng cục thống kê (General Statistics

Office of Vietnam) là một cơ quan thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư ; hoạt động độc lập về chuyên

môn, nghiệp vụ thống kê theo Luật Thống kê và các văn bản pháp lý về thống kê; thực hiện các chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư quản lý nhà nước về thống kê; tổ chức các hoạt động thống kê và cung cấp thông tin thống kê kinh tế và xã hội cho các cơ quan, tổ chức và cá nhân theo quy định của pháp luật Cơ cấu tổ chức của Tổng cục thống kê bao gồm:

- Các tổ chức giúp Tổng cục trưởng thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn quản lý Nhà nước :

Vụ Hệ thống tài khoản quốc gia; Vụ Phương pháp chế độ thống kê; Vụ Thống kê Tổng hợp;

Vụ Thống kê Công nghiệp và Xây dựng; Vụ Thống kê Nông, Lâm nghiệp và Thủy sản; Vụ Thống kê Thương mại, Dịch vụ và Giá cả; Vụ Thống kê Dân số và Lao động; Vụ Thống kê

Xã hội và Môi trường; Vụ Hợp tác quốc tế; Vụ Tổ chức Cán bộ; Vụ Kế hoạch tài chính; Thanh tra; Văn phòng

- Các đơn vị sự nghiệp thuộc Tổng cục Thống kê : Viện Nghiên cứu khoa học thống kê;

Trung tâm Tin học thống kê; Trung tâm Tư liệu thống kê; Tạp chí Con số và Sự kiện; Trường Cao đẳng thống kê; Trường Trung học thống kê II; Trung tâm Tin học thống kê khu vực II; Trung tâm Tin học thống kê khu vực III

- Các đơn vị sản xuất kinh doanh thuộc Tổng cục Thống kê : Nhà Xuất bản Thống kê;

Công ty Phát hành Biểu mẫu Thống kê; Xí nghiệp in Thống kê Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 15

15

nghiệp vụ thống kê cho toàn ngành trên địa bàn tỉnh Ở mỗi doanh nghiệp có bộ phận thống

kê có nhiệm vụ tổ chức thực hiện chế độ báo cáo thống kê cơ sở theo quy định của Luật Thống

kê, đồng thời tổ chức công tác thống kê phục vụ yêu cầu quản lý doanh nghiệp

2 Luật Thống kê :

Luật thống kê của nước ta được ban hành ngày 26 tháng 6 năm 2003, và có hiệu lực kể

từ ngày 01 tháng 01 năm 2004 Luật thống kê đưa ra các quy định về hoạt động thống kê, sử dụng thông tin thống kê và hệ thống tổ chức thống kê nhà nước Luật gồm có 8 chương : Chương 1- Những quy định chung; chương 2- Hệ thống thông tin thống kê; Chương 3- Điều tra thống kê và báo cáo thống kê (chế độ báo cáo thống kê cơ sở, chế độ báo cáo thống kê tổng hợp); Chương 4- Công bố và sử dụng thông tin thống kê; Chương 5- Tổ chức thống kê; Chương 6- Quản lý nhà nước về thống kê; Chương 7-Khen thưởng và xử lý vi phạm; Chương

8- Điều khoản thi hành Luật thống kê ra đời nhằm để nâng cao hiệu quả của công tác thống

kê, nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin thống kê cho các cơ quan quản lý nhà nước trong việc đánh giá, dự báo tình hình, hoạch định chiến lược, chính sách, xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế xã hội; đồng thời đáp ứng nhu cầu thông tin thống kê cho các tổ chức, cá nhân khác Những vấn đề cơ bản được quy định trong Luật thống kê bao gồm :

-Hoạt động thống kê: là hoạt động điều tra, báo cáo, tổng hợp, phân tích và công bố

thông tin phản ánh bản chất và tính quy luật của các hiện tượng kinh tế xã hội trong điều kiện không gian và thời gian cụ thể, do tổ chức thống kê nhà nước tiến hành

Nguyên tắc cơ bản của hoạt động thống kê: Bảo đảm tính trung thực, khách quan, chính xác, đầy đủ, kịp thời; bảo đảm tính độc lập về chuyên môn, nghiệp vụ thống kê; bảo đảm tính thống nhất về chỉ tiêu, biểu mẫu, phương pháp tính, bảng phân loại, đơn vị đo lường, niên độ thống kê và bảo đảm tính so sánh quốc tế; không trùng lặp, chồng chéo giữa các cuộc điều tra thống kê, các chế độ báo cáo thống kê; công khai về phương pháp thống kê, công bố thông tin thống kê; bảo đảm quyền bình đẳng trong việc tiếp cận và sử dụng thông tin thống kê nhà nước đã được công bố công khai; những thông tin thống kê về từng tổ chức, cá nhân chỉ được

sử dụng cho mục đích tổng hợp thống kê

-Thông tin thống kê: là sản phẩm của hoạt động thống kê, bao gồm số liệu thống kê và

bản phân tích các số liệu đó

-Tổ chức, cá nhân cung cấp thông tin thống kê: bao gồm: cơ quan nhà nước các cấp; đơn

vị sự nghiệp; tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp,

tổ chức nghề nghiệp; đơn vị thuộc lực lượng vũ trang nhân dân; doanh nghiệp và các đơn vị trực thuộc doanh nghiệp (chi nhánh, văn phòng đại diện, đơn vị phụ thuộc); hợp tác xã; tổ hợp tác, hộ kinh doanh cá thể; hộ gia đình và cá nhân; tổ chức khác của Việt Nam ở trong nước và nước ngoài; tổ chức, cá nhân nước ngoài hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam (trừ các tổ chức, cá nhân được hưởng quyền ưu đãi, miễn trừ ngoại giao, lãnh sự theo điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết)

-Chỉ tiêu thống kê: là tiêu chí mà biểu hiện bằng số của nó phản ánh quy mô, tốc độ phát

triển, cơ cấu, quan hệ tỷ lệ của hiện tượng kinh tế xã hội trong điều kiện không gian và thời gian cụ thể

-Hệ thống chỉ tiêu quốc gia: là tập hợp những chỉ tiêu thống kê phản ánh tình hình kinh

tế xã hội chủ yếu của đất nước Căn cứ vào yêu cầu nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội, Thủ tướng chính phủ ban hành hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia là cơ sở để xây dựng các chương trình điều tra thống kê quốc gia, và xây dựng chế độ báo cáo thống kê tổng hợp và chế độ báo cáo thống kê cơ sở Căn cứ vào hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia, các Bộ sẽ ban hành hệ thống chỉ tiêu phục vụ yêu cầu quản lý cho từng ngành

-Báo cáo thống kê: là hình thức thu thập thông tin thống kê theo chế độ báo cáo thống kê

do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành

Trang 16

16

-Chế độ báo cáo thống kê : Tất cả mọi tổ chức, cá nhân cung cấp thông tin thống kê có

nghĩa vụ thực hiện chế độ báo cáo thống kê, bao gồm chế độ báo cáo thống kê tổng hợp và chế

độ báo cáo thống kê cơ sở Chế độ báo cáo thống kê tổng hợp áp dụng đối với các bộ, ngành Chế độ báo cáo thống kê cơ sở áp dụng đối với ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn; doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế và các đơn vị trực thuộc doanh nghiệp Tổ chức thực hiện chế độ báo cáo thống kê cơ sở bao gồm : thu thập thông tin thống kê từ các chứng từ, sổ ghi chép số liệu ban đầu; tính toán, tổng hợp các chỉ tiêu đúng theo nội dung và phương pháp quy định; lập và nộp báo cáo theo quy định của chế độ báo cáo thống kê định kỳ (1 tháng, 3 tháng, 06 tháng, 1 năm)

-Cơ quan quản lý nhà nước về thống kê: Tổng cục thống kê giúp chính phủ thực hiện

nhiệm vụ quản lý nhà nước về thống kê; Bộ và cơ quan ngang Bộ có trách nhiệm quản lý nhà nước về thống kê trong ngành được phân công; Ủy ban nhân dân tỉnh thành phố trực thuộc trung ương có trách nhiệm quản lý nhà nước về thống kê tại địa phương

-Nội dung chủ yếu của quản lý nhà nước về thống kê : Xây dựng và chỉ đạo thực hiện

chiến lược phát triển công tác thống kê; ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về thống kê; quản lý việc công bố các thông tin thống kê; tổ chức đào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ thống kê; tổ chức ứng dụng công nghệ tiên tiến vào hoạt động thống kê; tổ chức hợp tác quốc tế về thống kê; tổ chức thanh tra kiểm tra việc chấp hành pháp luật về thống kê;

tổ chức giải quyết khiếu nại tố cáo về thống kê…

CHƯƠNG II THỐNG KÊ KẾT QUẢ SẢN XUẤT CỦA DOANH NGHIỆP I.KHÁI NIỆM VÀ PHÂN LOẠI:

1-Khái niệm:

-Hoạt động sản xuất của doanh nghiệp: Là hoạt động sử dụng các yếu tố đầu vào để

tạo ra sản phẩm vật chất và dịch vụ nhằm đáp ứng cho nhu cầu tiêu dùng của xã hội và để thu được lợi nhuận

Theo hệ thống tài khoản quốc gia SNA (System of National Account – hệ thống chỉ tiêu

áp dụng chung cho các nước thành viên của LHQ), thì định nghĩa sản xuất là : “Tất cả hoạt động có mục đích của con người (không tính hoạt động tự phục vụ cho bản thân) có tạo ra thu nhập đều được xem là hoạt động sản xuất”

-Kết quả sản xuất của doanh nghiệp: Là kết quả hữu ích của hoạt động sản xuất của

doanh nghiệp, được biểu hiện dưới dạng sản phẩm vật chất hay sản phẩm dịch vụ

Điều kiện để được gọi là kết quả sản xuất của doanh nghiệp là:

+Phải là thành quả do lao động của doanh nghiệp tạo ra, phù hợp với mục đích sản xuất của doanh nghiệp

+Kết quả đó có thể được biểu hiện dưới hình thái vật chất hay phi vật chất

+Kết quả đó phải có tính hữu ích, nghĩa là đem lại lợi ích tiêu dùng xã hội, thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng của khách hàng, và được khách hàng chấp nhận

2-Phân loại : Có nhiều cách phân loại kết quả sản xuất của doanh nghiệp:

2.1.Căn cứ vào khu vực kinh tế và ngành kinh tế:

Hệ thống phân ngành kinh tế theo tiêu chuẩn Việt Nam hiện hành phân chia nền kinh tế quốc dân thành 3 khu vực lớn, gồm 20 ngành cấp I, 60 ngành cấp II, 150 ngành cấp III và 299 ngành cấp IV Đây là cách phân chia nền kinh tế quốc dân thành các ngành kinh tế khác nhau, căn cứ vào đặc điểm về vị trí và chức năng hoạt động của các đơn vị kinh tế trong hệ thống phân công lao động xã hội Thực chất là phân loại và mã hoá các hoạt động kinh tế theo bản

Trang 17

17 chất của chúng được đặc trưng bởi nguyên liệu đầu vào, quy trình công nghệ sản xuất và sản phẩm đầu ra

2.1.1 Khu vực I: Hoạt động sản xuất có đặc điểm chung là khai thác tự nhiên Bao gồm

sản phẩm nông nghiệp, sản phẩm lâm nghiệp và sản phẩm thủy sản

-Sản phẩm nông nghiệp: Đặc điểm của quá trình sản xuất nông nghiệp có sự kết hợp

giữa lao động của con người và quá trình sinh trưởng tự nhiên của cây trồng, vật nuôi, cùng với các điều kiện thiên thiên khác sáng tạo ra Phần lớn sản phẩm tạo ra có thể được dùng để tái sản xuất ra bản thân nó (hạt giống, cây trồng, con giống, trứng,…) Kết quả tạo ra đa dạng: sản phẩm chính và phụ (thóc và rơm rạ, củ khoai và lá khoai,…); sản phẩm chính song đôi (thịt và trứng)…Chất lượng sản phẩm thường không đồng đều (loại 1,2,3…)

Sản phẩm nông nghiệp là kết quả tạo ra của hoạt động sản xuất nông nghiệp trong một thời kỳ nhất định; bao gồm:

+Sản phẩm từ hoạt động trồng trọt và chăn nuôi;

+Kết quả của hoạt động dịch vụ nông nghiệp (cày bừa, bón phân, cho thuê sức kéo súc vật,…)

-Sản phẩm lâm nghiệp: Đặc điểm của quá trình sản xuất lâm nghiệp là có sự kết hợp

giữa lao động của con người và quá trình sinh trưởng tự nhiên của sinh vật, cùng với các điều kiện thiên thiên khác sáng tạo ra trên các vùng rừng Sản phẩm lâm nghiệp là kết quả tạo ra của hoạt động sản xuất lâm nghiệp trong một thời kỳ nhất định; bao gồm:

+Kết quả của việc trồng mới, chăm sóc, tu bổ rừng tự nhiên và rừng trồng do doanh nghiệp thực hiện

+Sản phẩm gỗ và lâm sản khai thác từ rừng trồng và rừng tự nhiên được doanh nghiệp quản lý và sử dụng

+Kết quả của hoạt động dịch vụ lâm nghiệp như: ươm cây, lai tạo giống,…

-Sản phẩm thủy sản:

Sản phẩm thủy sản là kết quả tạo ra của hoạt động khai thác, đánh bắt thủy hải sản tự nhiên, hoặc thủy sản được ươm và nuôi trồng trong một thời kỳ nhất định; bao gồm:

+Kết quả của hoạt động khai thác thủy hải sản tự nhiên (không bao gồm hoạt động mò

và bắt thủy hải sản của nông dân)

+Kết quả của hoạt động ươm và nuôi trồng thủy sản

+Kết quả của hoạt động dịch vụ thủy sản

2.1.2 Khu vực II: Hoạt động sản xuất có đặc điểm chung là chế biến sản phẩm từ sản

phẩm tự nhiên Bao gồm sản phẩm công nghiệp, sản phẩm xây dựng

-Sản phẩm công nghiệp: Sản phẩm công nghiệp là kết quả trực tiếp và hữu ích, được

tạo ra từ hoạt động sản xuất công nghiệp của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định; bao gồm:

+Sản phẩm của ngành công nghiệp khai thác mỏ (than, quặng, khoáng sản) Hoạt động này có đặc điểm là sản phẩm thu được là của cải sẵn có trong thiên nhiên, không có sự tham gia của con người vào quá trình tái sản xuất ra nó

+Sản phẩm của ngành công nghiệp chế biến

+Sản phẩm của ngành công nghiệp sản xuất điện, nước và hơi đốt

+Kết quả của các hoạt động dịch vụ sản xuất có tính chất công nghiệp như sơn, mạ, in, nhuộm, xay xát, lắp ráp…

-Sản phẩm xây dựng (sản phẩm xây lắp): Sản phẩm xây dựng là kết quả trực tiếp và

hữu ích, được tạo ra từ hoạt động xây dựng của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định; bao gồm:

+Kết quả của hoạt động xây dựng : Công trình nhà cửa, vật kiến trúc được xây dựng mới

+Kết quả của hoạt động lắp đặt máy móc thiết bị vào nền bệ cố định để có thể hoạt động được

Trang 18

18 +Kết quả của các hoạt động dịch vụ xây lắp: khảo sát, thiết kế, thăm dò trước và trong quá trình thi công xây lắp; sửa chữa nhà cửa vật kiến trúc…

+Kết quả của các hoạt động dịch vụ khác: cho thuê máy móc thiết bị thi công, tiền thu do làm tổng thầu xây dựng chia thầu với các đơn vị khác…

2.1.3 Khu vực III: Hoạt động sản xuất có đặc điểm chung là tạo ra các sản phẩm không

có hình thái vật chất được gọi là dịch vụ

Sản phẩm dịch vụ khu vực III bao gồm :

+Kết quả của ngành thương nghiệp; sửa chữa (đối với xe có động cơ, mô tô, xe máy, đồ dùng cá nhân và gia đình)

+Kết quả của ngành du lịch, khách sạn và nhà hàng

+Kết quả của ngành giao thông vận tải, kho bãi, thông tin liên lạc

+Kết quả của ngành tài chính, tín dụng,

+Kết quả của ngành kinh doanh bất động sản, dịch vụ tư vấn

+Kết quả của ngành y tế, giáo dục và đào tạo, văn hóa và thể thao, khoa học và công nghệ

+Kết quả các ngành dịch vụ khác…

2.2 Căn cứ vào hình thái biểu hiện:

Có thể chia kết quả sản xuất của doanh nghiệp ra làm 2 loại:

-Sản phẩm vật chất: có hình thái vật chất cụ thể Khi tạo ra sản phẩm vật chất, doanh

nghiệp sẽ làm tăng thêm của cải vật chất cho xã hội Quá trình sản xuất và quá trình tiêu thụ sản phẩm vật chất thì không đồng nhất với nhau

-Sản phẩm dịch vụ : không có hình thái vật chất cụ thể Khi tạo ra dịch vụ, doanh

nghiệp sẽ làm phong phú thêm cuộc sống vật chất và tinh thần của xã hội Quá trình sản xuất

và quá trình tiêu thụ dịch vụ đồng nhất với nhau

2.3 Căn cứ vào mức độ hoàn thành :

* Đối với khu vực I: Có thể chia kết quả sản xuất của doanh nghiệp ra làm 2 loại:

-Thành phẩm: Là những sản phẩm có thể thu hoạch được, có thể đáp ứng nhu cầu tiêu

dùng của xã hội trong kỳ Ví dụ: Số lượng gỗ thu hoạch được, số thủy hải sản đánh bắt được, trọng lượng thịt hơi tăng lên của đàn gia súc…

-Sản phẩm dở dang: Là những sản phẩm mà doanh nghiệp đã đầu tư vào đó công lao

động, chi phí vật tư và tiền vốn, nhưng chưa thể thu hoạch được trong kỳ này Ví dụ: Kết quả chăm sóc cây lâu năm nhưng chưa đến kỳ thu hoạch trong kỳ

* Đối với khu vực II: Có thể chia kết quả sản xuất của doanh nghiệp ra làm 3 loại:

-Thành phẩm: Là những sản phẩm đã hoàn thành, đã kết thúc giai đoạn sản xuất, đã

được kiểm tra phù hợp với tiêu chuẩn chất lượng, đã được nhập kho để bán ra ngoài (đối với sản phẩm công nghiệp) hoặc đã được nghiệm thu chấp nhận thanh toán (đối với sản phẩm xây lắp) Tùy theo đặc điểm sản xuất sản phẩm mà thành phẩm có thể chia ra nhiều loại với nhiều

mức phẩm cấp khác nhau: chính phẩm, thứ phẩm; hay loại 1, loại 2, loại 3…

-Bán thành phẩm: Là những sản phẩm đã hoàn thành ở một hay một số đoạn trong toàn

bộ quy trình sản xuất, nhưng chưa đến đoạn sản xuất cuối cùng, do đó cần phải tiếp tục sản xuất để cho ra thành phẩm Ví dụ: bán thành phẩm sợi trong doanh nghiệp dệt

Chú ý: Nếu bán thành phẩm được đem bán ra ngoài thì cũng coi chúng như là thành phẩm

-Sản phẩm dở dang: Là những sản phẩm chưa đủ điều kiện để được gọi là bán thành

phẩm hay thành phẩm Ví dụ: Sản phẩm đang được chế tạo trên dây chuyền sản xuất của phân xưởng, công trình đang xây dựng dở dang

* Đối với khu vực III: Vì sản phẩm dịch vụ không có hình thái vật chất do đó chúng phải

ở mức độ hoàn thành thì mới được tính là kết quả sản xuất trong kỳ

2.4 Căn cứ vào mục đích sản xuất :

* Đối với khu vực I: Kết quả sản xuất được chia ra 2 loại:

Trang 19

19

-Sản phẩm chính: Có giá trị sử dụng cao, việc tạo ra sản phẩm cũng chính là mục đích sản xuất của doanh nghiệp

-Sản phẩm phụ: Có giá trị sử dụng thấp hơn nhiều so với sản phẩm chính, thường được

thu hoạch kèm theo sản phẩm chính

* Đối với khu vực II: Kết quả sản xuất được chia ra 3 loại:

-Sản phẩm chính: Việc tạo ra sản phẩm cũng chính là mục đích sản xuất của doanh

nghiệp

-Sản phẩm phụ: Sản phẩm được tạo ra trên cơ sở tận dụng phế liệu, phế phẩm của hoạt

động sản xuất sản phẩm chính

-Sản phẩm phụ trợ: Sản phẩm được tạo ra nhằm mục đích hỗ trợ, phục vụ cho quá trình

sản xuất sản phẩm và quá trình tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp Chẳng hạn: sản phẩm của phân xưởng điện, phân xưởng sửa chữa, phân xưởng sản xuất vật liệu bao bì, phân xưởng sản xuất khuôn mẫu…

II-HỆ THỐNG CHỈ TIÊU THỐNG KÊ KẾT QUẢ SẢN XUẤT CỦA DOANH NGHIỆP:

Hệ thống chỉ tiêu thống kê kết quả sản xuất của doanh nghiệp được xây dựng phù hợp với hệ thống tài khoản quốc gia được Thủ tướng chính phủ ban hành theo Quyết định số 183/TTg ngày 25/12/1992

Căn cứ vào đơn vị tính, có thể chia ra các chỉ tiêu thống kê kết quả sản xuất ra làm 2 loại

: các chỉ tiêu tính bằng đơn vị hiện vật và các chỉ tiêu tính bằng đơn vị giá trị

1-Các chỉ tiêu thống kê kết quả sản xuất tính bằng đơn vị hiện vật:

* Nguyên tắc tính:

-Chỉ tính cho sản phẩm vật chất được sản xuất trong kỳ

-Dùng đơn vị phù hợp với tính chất vật lý cơ bản của sản phẩm để tính toán như: đơn vị hiện vật : mét, lít, kg, cái, chiếc, bộ, đôi,…; đơn vị kép: kwh, người-km, tấn-km…

*Các chỉ tiêu thống kê kết quả sản xuất tính bằng đơn vị hiện vật:

1.1 Chỉ tiêu Khối lƣợng thành phẩm: Phản ánh khối lượng từng loại sản phẩm đã

được sản xuất trong kỳ Chỉ tính cho sản phẩm cùng tên và có quy cách, cỡ loại, thành phần cấu tạo như nhau

1.2 Chỉ tiêu Khối lƣợng thành phẩm quy ƣớc:

Để mở rộng phạm vi tính toán đối với các sản phẩm cùng tên nhưng có quy cách, cỡ

loại, thành phần cấu tạo… khác nhau, người ta sử dụng hệ số tính đổi để quy đổi các sản phẩm

khác nhau về cùng một loại chuẩn

Khối lượng thành phẩm quy ước = (Khối lượng thành phẩm X Hệ số tính đổi)

Hệ số tính đổi = Đặc tính sản phẩm cần quy đổi : Đặc tính sản phẩm được chọn làm chuẩn

Hệ số tính đổi thường được xác định dựavào một trong bốn mặt sau: tính chất biểu thị của sản phẩm; thành phần cấu tạo, công suất, trọng lượng của sản phẩm; lượng lao động hao

phí để sản xuất 1 đơn vị sản phẩm; giá thành 1 đơn vị sản phẩm

* Ý nghĩa của chỉ tiêu thống kê kết quả sản xuất bằng đơn vị hiện vật:

-Thông qua đơn vị hiện vật ta có thể hình dung được tính năng, đặc thù và công dụng của sản phẩm được sản xuất

-Phản ánh cụ thể sản lượng mà doanh nghiệp đã cung ứng cho nền kinh tế quốc dân để đáp ứng cho nhu cầu tiêu dùng xã hội trong một thời kỳ nào đó

-Là cơ sở để tính các chỉ tiêu thống kê kết quả sản xuất bằng đơn vị tiền tệ

-Là nguồn số liệu để lập bảng cân đối sản phẩm vật chất của nền kinh tế quốc dân

* Nhược điểm:

-Không phản ánh đầy đủ kết quả sản xuất của doanh nghiệp trong kỳ

-Không thể tổng hợp kết quả chung toàn doanh nghiệp hay toàn ngành trong trường hợp sản xuất nhiều loại sản phẩm khác nhau

Trang 20

20

2-Các chỉ tiêu thống kê kết quả sản xuất tính bằng đơn vị giá trị :

* Nguyên tắc:

-Chỉ tính kết quả tạo ra trong kỳ báo cáo Kết quả được tạo ra ở kỳ nào thì tính cho kỳ

đó, nếu kết quả còn dở dang thì tính chênh lệch giữa cuối kỳ và đầu kỳ

-Chỉ tính kết quả hữu ích, không tính các sản phẩm sản xuất không đạt tiêu chuẩn chất lượng

-Tính toàn bộ kết quả do doanh nghiệp tạo ra

-Nếu 1 doanh nghiệp hoạt động trong nhiều ngành, từng ngành là một đơn vị hạch toán độc lập thì kết quả sản xuất toàn doanh nghiệp là tổng hợp kết quả sản xuất của từng ngành

*Công thức tính tổng quát: Giá trị sản phẩm = (Đơn giá X Khối lượng từng loại sản phẩm)

Đơn giá để tính giá trị sản phẩm được chia ra 2 loại :

+Giá cố định (giá so sánh): Là giá được quy định trong bảng giá cố định của nhà nước,

thường ổn định trong thời kỳ dài và chỉ thay đổi khi nhà nước ban hành bảng giá mới Sử dụng loại giá này ta có thể phân tích biến động kết quả sản xuất qua các thời kỳ trên cơ sở loại trừ ảnh hưởng của biến động giá

+Giá thực tế (giá hiện hành): Là giá tại thời điểm đang xét, thường xuyên biến đổi theo

quy luật cung cầu trên thị trường Sử dụng loại giá này ta có thể phản ánh được giá trị thực tế của kết quả sản xuất trong kỳ, từ đó làm cơ sở để hạch toán lỗ, lãi trong kỳ đó

Các doanh nghiệp thường dùng giá sử dụng cuối cùng (tức là giá mà người tiêu dùng

phải trả khi mua sản phẩm và dịch vụ của doanh nghiệp) để làm giá thực tế khi tính toán kết quả sản xuất bằng đơn vị giá trị

2.1.Chỉ tiêu Giá trị sản xuất (GO - Gross Output):

Giá trị sản xuất là chỉ tiêu phản ánh toàn bộ giá trị của sản phẩm vật chất và dịch vụ do lao động của doanh nghiệp tạo ra trong 1 thời kỳ nhất định (thường là 1 tháng, 1 quý, 1 năm) Nếu doanh nghiệp có nhiều loại hoạt động thuộc nhiều ngành khác nhau, mỗi hoạt động được hạch toán độc lập, thì phải tính giá trị sản xuất của từng ngành rồi sau đó tổng hợp giá trị sản xuất của toàn doanh nghiệp Cách tính giá trị sản xuất từng ngành như sau :

2.1.1.Giá trị sản xuất ngành nông - lâm nghiệp:

* Nguyên tắc: Tính theo phương pháp tổng mức chu chuyển, có nghĩa là được phép tính

trùng các giá trị chu chuyển giữa hoạt động trồng trọt và hoạt động chăn nuôi, cũng như các giá trị chu chuyển trong nội bộ ngành nông lâm nghiệp

* Nội dung: Giá trị sản xuất ngành nông lâm nghiệp gồm 6 yếu tố :

(2) Giá trị sản phẩm chăn nuôi:

-Giá trị trọng lượng tăng thêm trong năm của đàn gia súc, gia cầm (không tính đàn gia súc cơ bản như nái sản sinh, đực giống, gia súc nuôi lấy sữa, lấy lông….)

-Giá trị sản phẩm thu được trong quá trình chăn nuôi không qua giết thịt như trứng, sữa….; các sản phẩm tận thu như sừng, da, lông … của gia súc chết

-Giá trị sản phẩm chăn nuôi các vật nuôi khác như: mật ong, kén tằm, nhộng tằm… -Giá trị sản phẩm phụ của chăn nuôi như phân gia súc gia cầm… thực tế được thu lại và

sử dụng trong năm

(3) Giá trị sản phẩm lâm nghiệp:

-Giá trị công việc khai thác gỗ và lâm sản trên rừng trồng và rừng tự nhiên do doanh nghiệp quản lý

Trang 21

21 -Giá trị công việc trồng mới, chăm sóc tu bổ rừng tự nhiên và rừng trồng do doanh nghiệp thực hiện

-Giá trị các hoạt động lâm nghiệp khác như: ươm cây,lai tạo giống, quản lý, bảo vệ rừng

và thu lượm các lâm sản khác như sa nhân, nấm, măng…

(4) Chênh lệch giá trị sản phẩm dở dang của trồng trọt, chăn nuôi và lâm nghiệp cuối kỳ

so với đầu kỳ

(5) Giá trị các hoạt động dịch vụ sản xuất mà doanh nghiệp làm thuê cho bên ngoài (tính theo doanh thu thu được)

(6) Tiền thu được do cho thuê máy móc thiết bị thuộc quyền quản lý của doanh nghiệp

2.1.2.Giá trị sản xuất ngành thủy sản: gồm 5 yếu tố :

(1) Giá trị sản phẩm thủy sản đánh bắt, khai thác ở biển và ở sông hồ ao đầm nước ngọt (2) Giá trị sản phẩm thủy sản nuôi trồng ở các vùng nước

(3) Giá trị các công việc sơ chế như: ướp lạnh, ướp đông, phơi khô thủy sản để bảo quản trước khi bán ra

(4) Giá trị các công việc ươm, nhân giống thủy sản

(5) Chênh lệch giá trị sản phẩm dở dang (bao gồm toàn bộ các chi phí về vật tư, lao động

cho các công việc đã làm nhưng chưa thu hoạch được) giữa cuối kỳ so với đầu kỳ

2.1.3.Giá trị sản xuất ngành công nghiệp:

* Nguyên tắc: Tính theo phương pháp công xưởng, lấy đơn vị hạch toán độc lập làm đơn

vị tính toán Chỉ được tính kết quả trực tiếp, cuối cùng của hoạt động sản xuất công nghiệp trong đơn vị hạch toán độc lập Như vậy chỉ được tính kết quả do chính hoạt động sản xuất công nghiệp tạo ra, tính 1 lần, không tính trùng, không tính những sản phẩm mua vào rồi bán

ra, không qua chế biến gì thêm ở doanh nghiệp

* Nội dung: Có 2 cách tính:

Cách 1: Giá trị sản xuất ngành công nghiệp bao gồm 5 yếu tố :

(1) Giá trị thành phẩm đã sản xuất trong kỳ bằng nguyên vật liệu của doanh nghiệp hoặc bằng nguyên vật liệu của người đặt hàng mang đến

Chú ý: Trong thực tế doanh nghiệp thường không hạch toán được giá trị nguyên vật liệu của người đặt hàng mang đến gia công chế biến, do đó giá trị này không thể hiện trong thu nhập và chi phí của doanh nghiệp

Đối với những ngành công nghiệp đặc thù không có thủ tục nhập kho thành phẩm, như sản xuất điện, nước, nước đá, hơi nước… thì tính theo sản lượng thực tế tiêu thụ, chứ không tính theo sản lượng sản xuất

(2) Giá trị bán thành phẩm, vật bao bì đóng gói, phụ tùng do hoạt động sản xuất công nghiệp của doanh nghiệp tạo ra, đã xuất bán ra ngoài doanh nghiệp, hoặc cho các bộ phận khác không phải là hoạt động công nghiệp của doanh nghiệp nhưng có hạch toán riêng ; giá trị của những phế phẩm, phế liệu, thứ phẩm đã tiêu thụ được trong kỳ

(3) Giá trị chênh lệch giữa cuối kỳ và đầu kỳ của bán thành phẩm, sản phẩm dở dang trong hoạt động sản xuất công nghiệp.Giá trị này thường được tính dựa vào số dư đầu kỳ và cuối kỳ của tài khoản “chi phí sản xuất dở dang”

(4) Giá trị các công việc có tính chất công nghiệp làm thuê cho bên ngoài đã hoàn thành trong kỳ

Công việc có tính chất công nghiệp chỉ khôi phục lại hoặc làm tăng thêm giá trị sử dụng của sản phẩm chứ không làm thay đổi giá trị sử dụng ban đầu của sản phẩm; do đó chỉ được tính phần giá trị bản thân công việc có tính chất công nghiệp, chứ không được tính giá trị ban đầu của sản phẩm Nếu công việc này làm cho chính hoạt động sản xuất công nghiệp của doanh nghiệp thì không được tính vào giá trị sản xuất, nhưng nếu làm cho các hoạt động khác không phải sản xuất công nghiệp của doanh nghiệp thì được tính

Trang 22

22 (5) Doanh thu cho thuê máy móc thiết bị trong dây chuyền sản xuất công nghiệp của doanh nghiệp Giá trị này chỉ phát sinh khi doanh nghiệp không sử dụng mà đem cho bên ngoài thuê

Cách 2: Giá trị sản xuất ngành công nghiệp bao gồm 5 yếu tố :

(1) Doanh thu tiêu thụ thành phẩm của hoạt động sản xuất chính và phụ

(2) Doanh thu từ bán phế liệu, phế phẩm và bán thành phẩm

(3) Giá trị chênh lệch giữa cuối kỳ và đầu kỳ của bán thành phẩm và sản phẩm dở dang, của thành phẩm tồn kho, của thành phẩm đã gởi bán nhưng chưa thu được tiền

(4) Doanh thu từ công việc có tính chất công nghiệp làm thuê cho bên ngoài

(5) Doanh thu từ cho thuê máy móc thiết bị trong dây chuyền sản xuất công nghiệp của doanh nghiệp

2.1.4.Giá trị sản xuất ngành xây dựng:

* Nguyên tắc:

-Chỉ tính vào giá trị sản xuất toàn bộ kết quả thi công xây lắp theo thiết kế có trong hợp đồng nhận thầu, phù hợp với dự toán đã duyệt và được chủ đầu tư chấp nhận Trường hợp thay đổi thiết kế thì phải có hợp đồng bổ sung Những khối lượng thi công vượt thiết kế thì phải có

sự thỏa thuận của bên chủ đầu tư thì mới tính vào giá trị sản xuất Giá thực tế để tính giá trị sản xuất là giá được bên chủ đầu tư chấp nhận thanh toán, được ghi trong hợp đồng

-Chỉ tính những kết quả trực tiếp, có ích của hoạt động xây dựng tạo ra trong quá trình thực hiện hợp đồng nhận thầu Tính cả giá trị của khối lượng phá đi làm lại do bên chủ đầu tư gây ra, không phải lỗi doanh nghiệp; không được tính giá trị của khối lượng phá đi làm lại do không đảm bảo chất lượng thiết kế do doanh nghiệp gây ra

-Đối với hoạt động xây dựng mới công trình thì giá trị sản xuất bao gồm : chi phí trực tiếp, chi phí gián tiếp và lãi định mức cho khối lượng công việc xây dựng được ghi trong dự toán

-Đối với hoạt động lắp đặt máy móc thiết bị lên nền hay bệ máy cố định để máy móc thiết bị có thể hoạt động được: tính vào giá trị sản xuất giá trị của tất cả các công việc có liên quan từ khâu chuẩn bị lắp máy đến khâu thử máy để đánh giá chất lượng công tác lắp đặt; không được tính giá trị máy móc thiết bị được lắp đặt vào giá trị sản xuất

-Đối với phụ liệu, phế liệu, phế phẩm trong hoạt động xây dựng : chỉ tính phần giá trị đã bán thu được tiền, không tính phần giá trị đang tập trung ở kho bãi chưa bán ra

* Nội dung: Giá trị sản xuất ngành xây dựng bao gồm 6 yếu tố :

(1) Doanh thu tiêu thụ sản phẩm xây lắp : bao gồm giá trị những công trình mới xây dựng (tính cả giá trị tháo dỡ bỏ các vật kiến trúc và giá trị sửa chữa lớn có ghi trong thiết kế và quy phạm kỹ thuật về công tác xây dựng) và giá trị lắp đặt máy móc thiết bị

(2) Chênh lệch giữa cuối kỳ và đầu kỳ của chi phí xây lắp dở dang

(3) Tiền bán phụ liệu, phế liệu, phế phẩm trong ngành xây dựng

(4) Doanh thu từ : cho bên ngoài thuê máy móc thiết bị thi công (có người điều khiển đi theo), thu chênh lệch với bên chủ đầu tư do doanh nghiệp làm tổng thầu xây dựng chia thầu với các đơn vị khác

(5) Giá trị hoạt động khảo sát thiết kế về xây dựng đã thực hiện

(6) Giá trị sửa chữa công trình nhà cửa, vật kiến trúc

(7) Doanh thu phụ của đơn vị xây lắp không đủ thông tin bóc tách để chia vào các ngành thích hợp khác (có giá trị nhỏ hơn 15% so với ngành hoạt động chính)

Hoạt động sửa chữa được hiểu là dùng cấu kiện, phụ tùng mới để thay thế cấu kiện, phụ tùng của các công trình nhà cửa, vật kiến trúc đã bị hư hỏng, hao mòn ; nhằm để phục hồi hình thái tự nhiên của chúng, đảm bảo cho chúng phát huy tác dụng một cách bình thường

2.1.5.Giá trị sản xuất ngành giao thông vận tải:

* Nguyên tắc:

Trang 23

23 -Chỉ tính kết quả hoạt động giao thông vận tải phục vụ cho nhu cầu của sản xuất và đời sống của xã hội; không tính kết quả của hoạt động vận tải phục vụ cho nội bộ doanh nghiệp vì đã đưa vào chi phí sản xuất của doanh nghiệp

-Chỉ tính cho đơn vị vận tải hạch toán kinh tế độc lập

* Nội dung: Giá trị sản xuất ngành giao thông vận tải bao gồm 6 yếu tố :

(1) Doanh thu về vận chuyển bốc xếp hàng hóa

(2) Doanh thu về vận chuyển hành khách, hành lý

(3) Doanh thu về cho thuê các phương tiện vận chuyển, bốc xếp hàng hóa, cho thuê bến bãi, kho tàng, cho thuê phương tiện bảo quản hàng hóa

(4) Doanh thu về quản lý cảng vụ, sân bay, bến bãi

(5) Doanh thu về dịch vụ vận tải, đại lý vận tải, hoa tiêu tín hiệu dẫn dắt tàu thuyền và hướng dẫn đường bay

(6) Doanh thu khác liên quan đến vận chuyển bốc xếp hàng hóa: tiền lưu kho, lưu bãi, tiền phạt vi phạm hợp đồng,…

(7) Doanh thu phụ của đơn vị vận tải không đủ thông tin bóc tách để chia vào các ngành thích hợp khác

2.1.6.Giá trị sản xuất ngành thương nghiệp:

* Nguyên tắc:

-Giá trị sản xuất của ngành thương nghiệp là phần giá trị của vật tư hàng hóa tăng lên trong quá trình luân chuyển từ nơi sản xuất đến nơi sử dụng cuối cùng Không tính chi phí vận tải thuê ngoài, và thuế nhập khẩu vào giá trị sản xuất ngành thương nghiệp

-Nếu doanh nghiệp có hoạt động xuất nhập khẩu trực tiếp thì giá trị hàng nhập khẩu được tính theo giá CIF (giá giao hàng tại biên giới nước nhập khẩu, bao gồm giá trị hàng hóa

nhập khẩu, cộng với chi phí bảo hiểm, và chi phí vận chuyển hàng hóa tới địa điểm giao nhận

ở biên giới, không bao gồm chi phí dỡ hàng từ phương tiện chuyên chở); giá trị hàng xuất

khẩu được tính theo giá FOB (giá giao hàng tại biên giới nước xuất khẩu, bao gồm giá trị hàng

hóa xuất khẩu, cộng với chi phí vận chuyển hàng hóa đến địa điểm giao nhận ở biên giới và chi phí bốc dỡ hàng lên phương tiện chuyên chở) Nếu doanh nghiệp xuất nhập khẩu ủy thác

thì tính giá trị hàng hóa theo giá mua hay giá bán thực tế

-Nếu doanh nghiệp làm hàng gia công cho nước ngoài, với nguyên vật liệu được nhập từ nước ngoài, thì tính toàn bộ giá trị hàng hóa đó vào giá trị hàng xuất khẩu

- Thuế nhập khẩu hàng hóa

và dịch vụ Giá trị sản xuất

2.1.7.Giá trị sản xuất các ngành dịch vụ:

* Nguyên tắc: Giá trị sản xuất do các ngành dịch vụ tạo ra chính là giá trị các hoạt động

dịch vụ mà doanh nghiệp đã hoàn thành cho bên ngoài

* Cách tính: Giá trị sản xuất các ngành dịch vụ = Tổng doanh thu từ các hoạt động dịch

vụ trong kỳ

2.2.Chỉ tiêu Giá trị gia tăng (VA – Value Added):

Giá trị gia tăng là chỉ tiêu phản ánh toàn bộ giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ do lao động của doanh nghiệp mới sáng tạo ra và giá trị khấu hao TSCĐ trong 1 thời kỳ nhất định (1 tháng, 1 quý, 1 năm)

Giá trị gia tăng chính là toàn bộ giá trị mới do lao động của doanh nghiệp sáng tạo ra từ hoạt động sản xuất trong kỳ, bao gồm: phần giá trị cho bản thân người lao động (V), phần giá trị cho doanh nghiệp và xã hội (M) và phần giá trị hoàn vốn cố định đã đầu tư (C1) Doanh

Trang 24

24 nghiệp tạo ra càng nhiều giá trị gia tăng cũng có nghĩa là tạo ra càng nhiều thu nhập cho người lao động, thu nhập cho doanh nghiệp, thu nhập cho xã hội và tạo ra giá trị để thu hồi vốn đầu tư vào tài sản cố định

Trên góc độ toàn bộ nền kinh tế, VA của doanh nghiệp là cơ sở để tính chỉ tiêu Tổng sản

phẩm trong nước (Gross Domestic Product – GDP): GDP là chỉ tiêu phản ánh toàn bộ giá trị

sản phẩm vật chất và dịch vụ do nền kinh tế mới sáng tạo ra trong 1 thời kỳ nhất định (thường

là 1năm)

GDP = ∑ Giá trị gia tăng của từng ngành

*Cách tính: Có 2 phương pháp tính giá trị gia tăng :

Cách 1: Tính giá trị gia tăng theo phương pháp sản xuất:

Giá trị gia tăng (VA) = Giá trị sản xuất (GO) – Chi phí trung gian (IC)

Chi phí trung gian (IC – Intermediational Cost) : là toàn bộ chi phí vật chất mua ngoài

và chi phí dịch vụ thuê ngoài mà doanh nghiệp đã sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh trong một thời kỳ nhất định

Chi phí vật chất mua ngoài bao gồm: chi phí nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, bán

thành phẩm mua ngoài; chi phí nhiên liệu, năng lượng mua ngoài; giá trị công cụ lao động nhỏ

là vật rẻ tiền mau hỏng được phân bổ trong kỳ; chi phí dụng cụ bảo hộ lao động dùng trong thời gian làm việc; chi phí sửa chữa nhỏ máy móc thiết bị nhà xưởng; chi phí vật chất dùng cho quản lý sản xuất kinh doanh; chi phí vật chất khác

Chi phí dịch vụ thuê ngoài bao gồm: chi phí vận tải, bưu điện; chi phí quảng cáo; chi

phí dịch vụ trả cho ngân hàng, tín dụng, bảo hiểm, dịch vụ pháp lý; tiền thuê nhà, thuê máy móc; chi cho đào tạo, tập huấn nghiệp vụ; chi cho dịch vụ y tế, văn hóa, thể thao, vệ sinh, an ninh bảo vệ, phòng cháy chữa cháy; chi cho công tác phí (không tính phụ cấp đi đường và phụ cấp lưu trú); chi cho tiếp khách hội nghị; chi hoa hồng, lệ phí, bồi thường

Chú ý:

-Chi phí trung gian được tính theo giá thực tế (gồm giá mua trừ đi chiết khấu thương

nghiệp, cộng thêm cước phí vận tải từ nơi mua đến nơi sử dụng)

-Không tính vào chi phí trung gian chi phí mua sắm TSCĐ và chi phí khấu hao TSCĐ dùng vào sản xuất Chỉ tính vào chi phí trung gian các hao hụt tổn thất nguyên vật liệu trong định mức; còn phần hao hụt ngoài định mức thì tính vào phần giảm tích lũy tài sản

-Phải dựa vào chứng từ, sổ sách ghi chép ban đầu của doanh nghiệp để bóc tách chi phí

trung gian từ các chi phí sản xuất của doanh nghiệp trong kỳ Chẳng hạn: Trong công tác phí

thì tiền vé tàu xe, tiền trả khách sạn tính vào chi phí dịch vụ thuê ngoài; còn phụ cấp đi đường

và phụ cấp lưu trú thì tính vào thu nhập của người sản xuất; trong chi phí hội nghị thì tiền vé

tàu xe, tiền trả khách sạn tính vào chi phí dịch vụ thuê ngoài; tiền mua tài liệu thì tính vào chi phí vật chất mua ngoài; tiền phong bao cho báo cáo viên thì tính vào thu nhập của người sản xuất

Cách 2: Tính giá trị gia tăng theo phương pháp phân phối:

Giá trị gia tăng = Thu nhập lần đầu của

người lao động

+ Thu nhập lần đầu của doanh nghiệp

+ Khấu hao TSCĐ

-Thu nhập lần đầu của người lao động (V): là thu nhập của người lao động từ việc

tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Bao gồm: tiền lương và các khoản có tính chất lương; tiền trả cho lao động thuê ngoài (trả bằng tiền và hiện vật); tiền BHXH trả thay lương; các thu nhập khác mà doanh nghiệp trả trực tiếp cho người lao động (ăn trưa, phụ cấp ca đêm, phụ cấp bồi dưỡng độc hại, phụ cấp đi đường, phụ cấp lưu trú, phong bao hội nghị, phụ cấp cho những ngày ngừng việc, tiền chi cho học tập, bồi dưỡng nghiệp vụ…)

-Thu nhập lần đầu của doanh nghiệp (M): bao gồm 2 bộ phận là:

Trang 25

25

Thu nhập lần đầu của nhà nước: là khoản thu nhập lần đầu của nhà nước từ hoạt động

sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, đó là các khoản thuế sản xuất và lệ phí mà doanh nghiệp phải nộp vào ngân sách như: thuế môn bài, thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu, thuế nhà đất, thuế tài nguyên, lệ phí giao thông, phí qua cầu, qua phà…, (đã trừ đi phần trợ cấp của nhà nước)

Thặng dư sản xuất (lợi nhuận kinh doanh): là giá trị thặng dư tạo ra từ hoạt động sản

xuất kinh doanh của doanh nghiệp Doanh nghiệp dùng khoản thặng dư này để đóng thuế thu nhập doanh nghiệp, trả lãi tiền vay ngân hàng (không kể chi phí dịch vụ ngân hàng vì đã tính vào chi phí trung gian), và phần còn lại là lãi ròng của doanh nghiệp Thặng dư sản xuất được tính bằng cách lấy giá trị sản xuất trừ đi các khoản : chi phí trung gian, thu nhập của người lao động, khấu hao TSCĐ, thuế sản xuất

-Khấu hao TSCĐ (C1): là toàn bộ giá trị khấu hao đã trích cho TSCĐ dùng vào sản

xuất kinh doanh trong kỳ

2.3 Chỉ tiêu Doanh thu bán hàng:

Doanh thu bán hàng là chỉ tiêu phản ánh toàn bộ thu nhập do doanh nghiệp tạo ra từ hoạt động tiêu thụ sản phẩm vật chất và dịch vụ trong 1 thời kỳ nhất định

*Cách tính: Doanh thu bán hàng = ∑ (Đơn giá bán X Khối lượng SPVC và DV được tiêu thụ)

Trong đó: Sản phẩm vật chất và dịch vụ được tiêu thụ là toàn bộ sản phẩm vật chất và

dịch vụ đã giao hay đã cung ứng cho khách hàng, khách hàng đã chấp nhận thanh toán ở mức giá nào đó, không kể là họ đã trả tiền hay chưa

Đơn giá bán là giá bán 1 đơn vị sản phẩm và dịch vụ, được tính theo giá thực tế tại thời

điểm tiêu thụ

2.4 Chỉ tiêu Doanh thu bán hàng thuần (doanh thu thuần) :

Doanh thu bán hàng thuần là chỉ tiêu phản ánh toàn bộ thu nhập thực tế do doanh nghiệp tạo ra từ hoạt động tiêu thụ sản phẩm vật chất và dịch vụ trong 1 thời kỳ nhất định

*Cách tính: Doanh thu bán hàng thuần = Doanh thu bán hàng – Các khoản làm giảm

doanh thu

Các khoản làm giảm doanh thu gồm:

Thuế gián thu bao gồm : thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu, thuế giá trị gia tăng được

tính trên sản phẩm và dịch vụ được tiêu thụ trong kỳ Đây là các khoản tiền thuế mà doanh nghiệp thu được khi bán hàng hóa và cung cấp dịch vụ Doanh nghiệp phải nộp các khoản này vào ngân sách nhà nước

Chiết khấu thương mại: là khoản tiền giảm trừ cho người mua theo thỏa thuận khi họ

mua với khối lượng lớn

Giảm giá hàng bán: là khoản giảm trừ cho người mua vì lý do hàng kém phẩm chất hay

không đúng quy cách theo hợp đồng thỏa thuận giữa 2 bên

Hàng bán bị trả lại: Là giá trị sản phẩm đã tiêu thụ nhưng bị khách hàng trả lại vì lý do

vi phạm hợp đồng như hàng bị mất, hàng kém phẩm chất, không đúng chủng loại, quy cách

2.5.Chỉ tiêu Lợi nhuận bán hàng :

Lợi nhuận bán hàng là chỉ tiêu phản ánh giá trị chênh lệch giữa thu nhập thực tế tạo ra từ hoạt động tiêu thụ sản phẩm vật chất và dịch vụ của doanh nghiệp trong kỳ và các chi phí mà doanh nghiệp đã bỏ ra cho hoạt động đó

Lợi nhuận bán hàng là giá trị thặng dư mà doanh nghiệp tạo ra từ hoạt động tiêu thụ sản phẩm và dịch vụ trong kỳ Lợi nhuận tạo ra này sẽ được phân phối lại một phần cho nhà nước qua thuế thu nhập doanh nghiệp, một phần để trả lãi vay ngân hàng, và phần còn lại để cho doanh nghiệp

Cách tính:

Cách 1: Lợi nhuận bán hàng = Doanh thu bán hàng thuần – Chi phí sản xuất kinh

doanh

Trang 26

26

Nếu lợi nhuận dương, ta gọi là lãi; nếu lợi nhuận âm, ta gọi là lỗ trong kinh doanh

Chi phí sản xuất kinh doanh bao gồm các khoản chi phí sản xuất và chi phí ngoài sản

xuất mà doanh nghiệp đã bỏ ra cho sản phẩm và dịch vụ được tiêu thụ trong kỳ

Chi phí sản xuất kinh doanh = Giá vốn hàng bán + Chi phí bán hàng + Chi phí quản lý DN Giá vốn hàng bán : là các khoản chi phí bỏ ra để sản xuất thành phẩm và hoàn thành

dịch vụ Bao gồm: chi phí nguyên liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung

Chi phí bán hàng: là các khoản chi phí bỏ ra để tiêu thụ thành phẩm và dịch vụ; như: chi

phí bảo quản, đóng gói, vận chuyển, bảo hiểm, quảng cáo, bảo hành sản phẩm…

Chi phí quản lý doanh nghiệp: là các khoản chi phí quản lý chung liên quan đến hoạt

động của cả doanh nghiệp như: chi phí lương và các khoản trích theo lương của nhân viên quản lý, chi phí khấu hao và sửa chữa TSCĐ dùng cho bộ phận quản lý; chi phí vật liệu công

cụ dụng cụ dùng cho bộ phận quản lý; chi phí điện, nước, điện thoại, tiếp khách…

Cách 2: Tính theo hệ thống tài khoản quốc gia (SNA)

Lợi nhuận

bán hàng

= GO (giá hiện hành)

- IC (giá hiện hành)

- Thu nhập của người SX

- Thuế sản xuất kinh doanh

- Khấu hao TSCĐ

Thuế sản xuất kinh doanh bao gồm: thuế môn bài, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu, thuế giá trị gia tăng, , thuế nhà đất, thuế tài nguyên, các lệ phí coi như thuế…

Chú ý: Lợi nhuận bán hàng trong kỳ thường được phân phối như sau: Nộp thuế thu nhập

doanh nghiệp (theo quy định của chính phủ, từ 1/1/2009 thuế suất thuế TNDN là 25% thay

cho mức cũ là 28%); trả lãi tiền vay ngân hàng ; chia lợi nhuận cho các cổ đông góp vốn, cho

các nhà đầu tư, cho các bên tham gia liên doanh; hay lãi của chủ DN (đối với doanh nghiệp

tư nhân) ; nộp lợi nhuận lên cấp trên; trích lập các quỹ DN (quỹ đầu tư phát triển, quỹ dự

phòng trợ cấp mất việc làm, quỹ khen thưởng và phúc lợi)

CHƯƠNG III THỐNG KÊ LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP

Lao động là yếu tố đầu vào có tính chất quyết định đối với quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Sử dụng có hiệu quả lực lượng lao động là một trong những nhiệm vụ quan trọng của doanh nghiệp Thống kê lao động trong doanh nghiệp bao gồm các nội dung: thống

kê số lượng lao động, thống kê thời gian lao động, thống kê thu nhập người lao động và thống

kê năng suất lao động

A THỐNG KÊ SỐ LƯỢNG LAO ĐỘNG VÀ THỜI GIAN LAO ĐỘNG I.KHÁI NIỆM VÀ PHÂN LOẠI:

1-Khái niệm: Lao động trong doanh nghiệp là những người đang có việc làm trong

doanh nghiệp

2-Phân loại:

2.1.Căn cứ vào việc quản lý và trả lương: Có thể chia ra 2 loại lao động:

-Lao động trong danh sách: Là những người lao động được doanh nghiệp trực tiếp quản

lý và trả lương trong kỳ, được đăng ký trong danh sách lao động của doanh nghiệp Đây là bộ phận lao động chủ yếu, quyết định kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

-Lao động ngoài danh sách: Là những người lao động không thuộc quyền quản lý và trả

lương của doanh nghiệp như: sinh viên thực tập, thợ học nghề do đơn vị khác gởi đến, lao

Trang 27

27 động gia đình làm gia công cho doanh nghiệp, những người làm công tác chuyên trách Đảng, Đoàn thanh niên, Công đoàn do quỹ lương của Đảng hoặc đoàn thể trả…

2.2 Căn cứ vào mục đích tuyển dụng và thời gian sử dụng: Có thể chia lao động

trong danh sách ra làm 2 loại:

-Lao động lâu dài: Là những người lao động được tuyển dụng chính thức để làm việc lâu

dài và những người chưa có quyết định tuyển dụng chính thức nhưng đã làm việc liên tục tại doanh nghiệp từ 6 tháng trở lên

-Lao động tạm thời: Là những người lao động được tuyển dụng để làm những công việc

đột xuất hay công việc có tính thời vụ

2.3 Căn cứ vào ngành hoạt động: Có thể chia lao động trong danh sách ra làm : lao

động công nghiệp, lao động xây dựng cơ bản, lao động nông nghiệp, lao động thương nghiệp…

Chú ý: Chỉ phân loại lao động theo ngành khi các ngành này được hạch toán độc lập và

có quỹ lương riêng; nếu không thì sẽ tính vào ngành sản xuất chính của doanh nghiệp

2.4 Căn cứ vào nhiệm vụ trong quá trình sản xuất kinh doanh: Có thể chia lao động

trong danh sách ra làm 3 loại :

-Lao động quản lý: là những người có nhiệm vụ quản lý mọi mặt hoạt động của quá trình

sản xuất kinh doanh như: quản lý kỹ thuật, quản lý kinh tế, quản lý nhân sự, quản lý hành chính…

-Lao động trực tiếp: là những người có nhiệm vụ trực tiếp sử dụng máy móc thiết bị tác

động lên vật tư nguyên liệu để tạo ra sản phẩm

-Lao động phục vụ: và những người có nhiệm vụ phục vụ cho bộ phận lao động trực

tiếp Công việc của họ là : vệ sinh máy, vệ sinh nhà xưởng, vận chuyển vật tư nguyên liệu, bán thành phẩm, thành phẩm, bảo trì sửa chữa nhỏ thiết bị…

Trong thực tế, tùy theo đặc điểm hoạt động tại doanh nghiệp và mục đích nghiên cứu, người ta thường kết hợp các tiêu thức phân loại trên, đồng thời vận dụng thêm các tiêu thức khác như: nghề nghiệp, nơi làm việc, giới tính, bậc lương, bậc thợ, tuổi nghề, tuổi đời, trình độ văn hóa…để phân loại lao động trong doanh nghiệp

II HỆ THỐNG CHỈ TIÊU THỐNG KÊ SỐ LƢỢNG LAO ĐỘNG:

1-Các chỉ tiêu phản ánh quy mô lao động:

1.1.Chỉ tiêu Số lao động hiện có: Là chỉ tiêu phản ánh quy mô lao động của doanh

nghiệp tại 1 thời điểm nhất định

Dựa vào bảng chấm công lao động của từng tổ sản xuất, từng ca sản xuất, từng phân xưởng sản xuất, từng phòng ban…ta có tính được số lao động hiện có trong từng thời điểm nhất định

1.2.Chỉ tiêu Số lao động bình quân: Là chỉ tiêu phản ánh khái quát quy mô lao động

của doanh nghiệp trong 1 thời kỳ

Gọi T là số lao động bình quân trong kỳ Có 2 cách tính:

3

4 3 2 1 3 2

1 1

T T T

T T

T T

Trang 28

1 12 2

tháng quý

nam

T T T

T T

T T

2-Các chỉ tiêu phản ánh kết cấu lao động:

Kết cấu lao động là chỉ tiêu phản ánh tỷ trọng từng bộ phận lao động (phân theo 1 tiêu thức nào đó) chiếm trong tổng thể lao động của doanh nghiệp tại 1 thời điểm hay trong 1 thời

3-Các chỉ tiêu phản ánh biến động số lƣợng lao động:

Để theo dõi tình hình tăng giảm số lượng lao động lao động trong kỳ, có thể dùng bảng cân đối lao động có dạng như sau:

3.1.Chỉ tiêu Hệ số tăng lao động: Là chỉ tiêu phản ánh tình hình tăng năng lực lao động

trong kỳ Nó cho biết tỷ lệ số lao động mới được bổ sung trong kỳ chiếm tỷ trọng bao nhiêu % trong tổng số lao động hiện có cuối kỳ

Hệ số tăng lao động = Số lao động tăng thêm trong kỳ : Số lao động hiện có cuối kỳ

3.2.Chỉ tiêu Hệ số giảm lao động: Là chỉ tiêu phản ánh tình hình giảm năng lực lao

động trong kỳ Nó cho biết tỷ lệ số lao động bị giảm đi trong kỳ chiếm tỷ trọng bao nhiêu % trong tổng số lao động hiện có đầu kỳ

Hệ số giảm lao động = Số lao động giảm trong kỳ : Số lao động hiện có đầu kỳ

Để có thể đưa ra những nhận định sâu sắc về tình hình biến động lao động trong kỳ, ta không chỉ tính chung cho toàn bộ tổng thể mà còn có thể tính riêng cho từng bộ phận lao động; hoặc tính biến động lao động theo từng nguyên nhân gây tăng (giảm)

Chú ý: Để phản ánh tình hình tăng hoặc giảm năng lực lao động trong kỳ, cũng có thể

lấy số lao động tăng thêm hay giảm đi trong kỳ so sánh với số lao động bình quân trong kỳ

III HỆ THỐNG CHỈ TIÊU THỐNG KÊ THỜI GIAN LAO ĐỘNG:

Các chỉ tiêu này có thể tính riêng cho bộ phận lao động trực tiếp hoặc tính chung cho toàn bộ lao động trong danh sách của doanh nghiệp, và tính cho thời gian là 1 tháng, 1 quý, 6 tháng, 1 năm

1-Các chỉ tiêu phản ánh các loại thời gian lao động :

1.1-Các loại thời gian lao động tính bằng ngày công (đơn vị tính: ngày – người)

Trang 29

Tổng ngày công theo chế độ

Tổng ngày công có thể sử dụng cao nhất Tổng ngày

công nghỉ phép năm Tổng ngày công có mặt Tổng ngày

công vắng mặt Tổng ngày

công làm

thêm

Tổng ngày công làm việc thực tế trong chế độ

Tổng ngày công ngừng việc Tổng ngày công làm việc thực tế

trong kỳ

Tổng ngày công theo lịch : là quỹ thời gian tính theo lịch tương ứng với quy mô lao động

của doanh nghiệp trong kỳ

Tổng ngày công theo lịch = Số ngày theo lịch trong kỳ X Số lao động bình quân

Tổng ngày công theo chế độ: là tổng ngày công nhà nước quy định phải làm việc trong

Tổng ngày công có thể sử dụng cao nhất: là tổng ngày công tối đa mà doanh nghiệp có

thể sử dụng vào quá trình sản xuất kinh doanh trong kỳ

Tổng ngày công vắng mặt: là tổng ngày công mà người lao động không có mặt tại nơi

làm việc vì các lý do như ốm đau, sinh đẻ, học tập, hội họp hoặc nghỉ không lý do

Tổng ngày công có mặt: là tổng ngày công mà người lao động có mặt tại nơi làm việc,

không kể họ có làm việc hay không Dựa vào bảng chấm công để tính chỉ tiêu này

Tổng ngày công ngừng việc: là tổng ngày công mà người lao động có mặt tại nơi làm

việc nhưng thực tế không làm việc cả ngày vì nguyên nhân nào đó như: mất điện, máy hỏng, không bố trí kịp nhiệm vụ, mưa, bão, lũ lụt

Tổng ngày công làm việc thực tế trong chế độ: là tổng ngày công làm việc thực tế của

người lao động trong những ngày làm việc do nhà nước quy định

Tổng ngày công làm thêm: là tổng ngày công mà người lao động làm thêm ngoài chế độ

theo yêu cầu của doanh nghiệp, thường làm vào ngày nghỉ lễ, thứ bảy, chủ nhật Nếu người lao động làm thêm ca ngay trong ngày đó thì tính vào tổng giờ công làm thêm, chứ không tính vào tổng ngày công làm thêm

Tổng ngày công làm việc thực tế trong kỳ: là tổng ngày công làm việc thực tế của người

lao động trong kỳ, bao gồm làm việc thực tế trong chế độ và làm thêm ngoài chế độ Đây là chỉ tiêu phản ánh tòan bộ thời gian lao động hao phí cho quá trình sản xuất kinh doanh, làm cơ

sở để tính tiền lương và năng suất lao động

1.2-Các loại thời gian lao động tính bằng giờ công (đơn vị tính: giờ – người)

Trang 30

Tổng giờ công trong chế độ: Là quỹ giờ công mà người lao động phải làm việc trong kỳ

theo chế độ nhà nước quy định

Tổng giờ công trong chế độ trong

kỳ

= Số giờ làm việc theo chế độ trong 1 ngày X Số người làm việc thực tế trong kỳ Theo chế độ quy định: số giờ làm việc theo chế độ trong 1 ngày là 8 giờ/ngày, trừ những ngành sản xuất đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thì số giờ làm việc theo chế độ được quy định ít hơn

Tổng giờ công ngừng việc nội bộ ca: là tổng giờ công không làm việc trong ca do mọi

nguyên nhân : máy hỏng, mất điện đột xuất, thiếu nguyên liệu, hội họp, ốm đau, giải lao kéo dài, đi muộn, về sớm

Tổng giờ công làm thêm: Là tổng giờ công mà người lao động làm việc vào thời gian

ngoài ca sản xuất quy định (thời gian làm thêm này có thể trọn 1 ca hay không trọn 1 ca)

Tổng giờ công làm việc thực tế : Là tổng giờ công làm việc thực tế của người lao động

trong kỳ, bao gồm làm việc thực tế trong chế độ và làm thêm ngoài chế độ Đây là chỉ tiêu phản ánh tòan bộ thời gian lao động hao phí cho quá trình sản xuất kinh doanh

2-Các chỉ tiêu phản ánh tình hình sử dụng thời gian lao động:

Chỉ tiêu Hệ số ngày công có mặt (H cm): Phản ánh tình hình có mặt tại nơi làm việc của

người lao động trong kỳ

cm

H = Tổng ngày công có mặt : Tổng ngày công có thể sử dụng cao nhất

Chỉ tiêu Hệ số sử dụng ngày công có mặt (H s cmd ) : Phản ánh tình hình sử dụng quỹ ngày công của người lao động có mặt tại nơi làm việc vào hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ

d

s cm

H = Tổng ngày công làm việc thực tế trong chế độ : Tổng ngày công có mặt

Chỉ tiêu Hệ số sử dụng ngày công có thể sử dụng cao nhất (H sdncsdcn): Phản ánh tình hình sử dụng quỹ ngày công có thể sử dụng cao nhất vào hoạt động sản xuất kinh doanh trong

Chỉ tiêu Hệ số sử dụng ngày công theo lịch (H sdnctl) : Phản ánh tình hình sử dụng quỹ

ngày công theo lịch vào hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ

dnctl

s

H = Tổng ngày công làm việc thực tế : Tổng ngày công theo lịch

Chỉ tiêu Số ngày làm việc thực tế bình quân 1 lao động (H ngày-ld): Phản ánh số ngày làm việc thực tế bình quân của 1 lao động trong kỳ

ày-ld

ng

H = Tổng ngày công làm việc thực tế : Số lao động bình quân

Chỉ tiêu Số giờ làm việc thực tế bình quân 1 ngày (H gio-ngay): Phản ánh số giờ làm việc thực tế bình quân trong 1 ngày làm việc của 1 lao động

-ngay

gio

H = Tổng giờ công làm việc thực tế : Tổng ngày công làm việc thực tế

Chỉ tiêu Số giờ làm việc thực tế bình quân 1 lao động (H gio-ld): Phản ánh số giờ làm việc thực tế bình quân của 1 lao động trong kỳ

Ngày đăng: 27/08/2016, 09:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

3.3. Bảng thống kê: - Thống kê doanh nghiệp  võ hải thủy, nguyễn thu thủy
3.3. Bảng thống kê: (Trang 7)
Đồ thị thống kê - Thống kê doanh nghiệp  võ hải thủy, nguyễn thu thủy
th ị thống kê (Trang 7)
Hình thức biểu hiện: Có các dạng biểu đồ thường dùng : - Thống kê doanh nghiệp  võ hải thủy, nguyễn thu thủy
Hình th ức biểu hiện: Có các dạng biểu đồ thường dùng : (Trang 8)
Sơ đồ phản ánh: - Thống kê doanh nghiệp  võ hải thủy, nguyễn thu thủy
Sơ đồ ph ản ánh: (Trang 29)
Bảng cân đối TSCĐ để theo dõi thường xuyên. - Thống kê doanh nghiệp  võ hải thủy, nguyễn thu thủy
Bảng c ân đối TSCĐ để theo dõi thường xuyên (Trang 39)
Bảng cân đối lao động có dạng : - Thống kê doanh nghiệp  võ hải thủy, nguyễn thu thủy
Bảng c ân đối lao động có dạng : (Trang 55)
Bảng cân đối TSCĐ  có dạng: - Thống kê doanh nghiệp  võ hải thủy, nguyễn thu thủy
Bảng c ân đối TSCĐ có dạng: (Trang 58)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm