Xuất phát điểm của Kế toán quản trị là kế toán chi phí cho nên có thể nói kế toán ở các nước trong nền kinh tế thị trường được hình thành và phát triển qua các giai đoạn sau: Trước năm 1
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG KHOA KẾ TOÁN – TÀI CHÍNH
Trang 2CHỦ ĐỀ 1: BẢN CHẤT CỦA KẾ TOÁN QUẢN TRỊ
I Khái niệm và bản chất của Kế toán quản trị
1 Lược sử hình thành và phát triển của Kế toán quản trị
Xuất phát điểm của Kế toán quản trị là kế toán chi phí cho nên có thể nói kế toán ở các nước trong nền kinh tế thị trường được hình thành và phát triển qua các giai đoạn sau:
Trước năm 1960:
Trong giai đoạn này, kế toán chỉ có một lĩnh vực duy nhất là Kế toán tài chính, tập trung vào việc ghi chép, tổng hợp các nghiệp vụ kinh tế phát sinh nhằm lập các báo cáo tài chính của một tổ chức Báo cáo tài chính giống như một bức tranh súc tích phản ánh các kết quả của quá trình họat động kinh doanh và tình trạng tài chính của doanh nghiệp
Từ năm 1960 đến 1980:
Khi nền sản xuất xã hội đã bắt đầu phát triển cao, cạnh tranh trong kinh doanh ngày càng trở nên gay gắt, các nhà quản trị doanh nghiệp rất quan tâm đến các thông tin cho quá trình ra quyết định liên quan đến doanh nghiệp Thông tin được quan tâm trước hết là chi phí cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Bởi vì để đạt được mức lợi nhuận cao, doanh nghiệp cần phải cố gắng tăng doanh thu hoặc giảm chi phí Tuy nhiên, việc tăng doanh thu lại phụ thuộc nhiều vào nhân tố khách quan như quan hệ cung cầu, giá cả, tình trạng cạnh tranh, cho nên các nhà quản trị thường tập trung các biện pháp vào việc
hạ thấp các loại chi phí vì điều đó phụ thuộc vào nhân tố chủ quan nhiều hơn Việc đòi hỏi các thông tin về chi phí đã thúc đẩy kế toán chi phí ra đời như một chuyên ngành riêng biệt với Kế toán tài chính
Kế toán chi phí có nhiệm vụ xác định và kiểm tra chi phí để giúp cho công việc của các nhà quản trị có trách nhiệm đối với chi phí, bao gồm kiểm tra chi phí sản xuất sản phẩm hay chi phí của dịch vụ cung cấp hay kiểm tra chi phí để thực hiện một chức năng riêng biệt nào đó của từng nhà quản trị
Từ sau năm 1980 đến nay:
Do sự phát triển nhanh chóng của công nghệ sản xuất cũng như công nghệ thông tin
mà nhu cầu sử dụng thông tin của các nhà quản trị cũng trở nên phong phú và đa dạng, nhất là các thông tin về tài chính để có thể giúp cho họ ra các quyết định kinh doanh đúng lúc và hợp lí Trong bối cảnh đó, Kế toán quản trị hình thành và phát triển , trở thành một
bộ phận quan trọng trong hệ thống cung cấp thông tin cho nhà quản trị để ra quyết định kinh doanh Một trong những nhiệm vụ của Kế toán quản trị là kiểm soát chi phí, do đó người ta nói Kế toán chi phí là giai đoạn đầu của sự phát triển Kế toán quản trị nên đôi lúc
Trang 3định và kiểm soát chi phí mà còn cung cấp các thông tin cho việc giải quyết các vấn đề về quản trị doanh nghiệp
Như vậy, Kế toán quản trị ra đời và phát triển trước hết ở các nước có nền kinh tế thị trường Về tên gọi, nội dung và phạm vi của Kế toán quản trị ở các nước khác nhau và
ở mỗi thời kì khác nhau thì không giống nhau Chẳng hạn, ở Mỹ và các nước áp dụng chuẩn mực và thông lệ kế toán quốc tế, trong giai đoạn đầu phát triển, Kế toán quản trị có các tên gọi là Kế toán chi phí hay Kế toán để ra quyết định kinh doanh Với ý nghĩa chung nhất thì Kế toán quản trị đặt trọng tâm vào việc xây dựng, kiểm soát, xác định và hoạch định các chi phí Quá trình này nhằm mục tiêu giải quyết các vấn đề thuộc quản trị doanh nghiệp để ra các quyết định kinh doanh đạt được hiệu quả cao nhất từ các thông tin mà kế toán cung cấp Nước Mỹ đã thành lập viện Kế toán viên quản trị (Institute of Management Accountants - IMA) là tổ chức chính thức của các kế toán viên quản trị Hoa Kỳ mà một trong những nhiệm vụ của viện là tổ chức các kì thi để cấp giấy chứng nhận cho các kế toán viên quản trị Kì thi đầu tiên được tổ chức vào năm 1972 Đến năm 1983, IMA chính thức ban hành các chuẩn mực về tư cách đạo đức đối với các kế toán viên quản trị Viện cũng đã xây dựng Uỷ ban đạo đức và trung tâm dịch vụ tư vấn đạo đức
Còn Pháp và các nước áp dụng kế toán Pháp gọi Kế toán quản trị là kế toán phân tích, đôi khi gọi là phân tích kinh doanh Kế toán phân tích của Pháp đặt trọng tâm vào việc xác định và kiểm soát chi phí bằng cách chia chi phí theo các trung tâm trách nhiệm của quản lý; phân tích, đánh giá và tìm ra các nguyên nhân làm sai lệch chi phí và cuối cùng là điều hoà giữa Kế toán tài chính và Kế toán phân tích
Thế còn ở Việt Nam thì sao?
Kế toán quản trị là thuật ngữ mới xuất hiện ở Việt Nam trong vòng 15 năm trở lại đây và đã thu hút được sự chú ý của các doanh nghiệp Tại Việt Nam, một số doanh nghiệp đã bước đầu vận dụng và xây dựng cho mình một bộ máy kế toán quản trị riêng biệt
Đánh dấu cho sự mở đầu này khi Luật Kế toán Việt Nam được Quốc hội nước Cộng hoà XHXN Việt Nam khoá XI kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 17/6/2003 có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2004 đã quy định về Kế toán quản trị ở các đơn vị như sau: “Kế toán quản trị
là việc thu thập, xử lý và cung cấp thông tin tài chính theo yêu cầu và quyết định kế toán trong nội bộ đơn vị kế toán” (Luật Kế toán Việt Nam - điều 3, khoản 4) Tuy nhiên, việc này chỉ được dừng lại ở góc độ nhìn nhận và xem xét, chưa có một quyết định cụ thể hay hướng dẫn thi hành mang tính tổng quát Do đó việc hiểu và vận dụng Kế toán quản trị ở
Trang 4Ngày 16/01/2006, Bộ tài chính tổ chức lấy ý kiến về việc ban hành thông tư hướng dẫn về thực hiện Kế toán quản trị tại trường Đại học Kinh tế TP.HCM Có thể nói, đây là động thái đầu tiên thể hiện sự quan tâm của cấp nhà nước đối với việc thực hiện Kế toán quản trị tại Việt Nam
Đến ngày 12/6/2006, Thông tư số 53/2006/TT-BTC của Bộ Tài Chính về hướng dẫn
áp dụng kế toán quản trị trong doanh nghiệp chính thức được ra đời nhằm hướng dẫn cho các doanh nghiệp thực hiện Kế toán quản trị Từ khi ra đời đến nay kế toán quản trị vẫn
mò mẫm lối đi, vẫn chưa có một tổ chức nào có đủ chuyên môn và kinh nghiệm chuyên tư vấn xây dựng hệ thống Kế toán quản trị Còn đối với các doanh nghiệp, thì Kế toán quản trị vẫn còn xa vời về mặt lý luận lẫn vận hành
2 Khái niệm và bản chất của Kế toán quản trị
a Khái niệm
Theo luật Kế toán Việt Nam, Kế toán quản trị là việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán
b Bản chất của Kế toán quản trị:
- Kế toán quản trị không chỉ thu nhận và tổng hợp các thông tin về các nghiệp vụ kinh tế đã thực sự hoàn thành được ghi chép 1 cách hệ thống hoá trong các sổ sách kế toán mà còn sử dụng các phương pháp khoa học để phân tích và xử lí chúng một cách cụ thể rồi hệ thống hoá các thông tin theo một trình tự dễ hiểu và giải trình quá trình phân tích theo các chỉ tiêu cụ thể để phục vụ cho công tác quản lý của nhà quản trị
- Kế toán quản trị chỉ cung cấp thông tin về hoạt động kinh tế- tài chính trong phạm
vi yêu cầu quản lý nội bộ doanh nghiệp Những thông tin này chỉ có ý nghĩa đối với những người, những bộ phận và những nhà điều hành doanh nghiệp chứ không có ý nghĩa với đối tượng bên ngoài doanh nghiệp Vì vậy, người ta nói Kế toán quản trị là loại kế toán dành cho những người làm công tác quản lý, trong khi đó Kế toán tài chính không phục vụ trực tiếp cho mục đích này
- Kế toán quản trị là một bộ phận của công tác kế toán nói chung và là một công cụ quan trọng không thể thiếu được đối với công tác quản lý nội bộ
3.Vai trò của Kế toán quản trị
Kế toán quản trị có vai trò cung cấp thông tin cho các nhà quản lý thực hiện các chức năng quản trị như chúng ta đã biết bao gồm: lập kế hoạch, tổ chức, thực hiện và kiểm tra Vì thế, ta sẽ phân tích vai trò cụ thể của Kế toán quản trị đối với từng chức năng
Trang 5a Đối với chức năng lập kế hoạch
Lập kế hoạch là gì? Lập kế hoạch là xây dựng các mục tiêu phải đạt và vạch ra các bước thực hiện để đạt được các mục tiêu đó
Lập kế hoạch bao gồm quá trình quan trọng là dự toán Dự toán là sự liên kết các mục tiêu lại với nhau và chỉ rõ cách huy động và sử dụng nguồn lực sẵn có về mặt tài chính để đạt được những mục tiêu đó Và một trong những nhiệm vụ quan trọng của Kế toán quản trị là lập các bảng dự toán cung cấp cho nhà quản trị
Như vậy, dự toán rất quan trọng và không thể thiếu được trong công tác lập kế hoạch mà lập kế hoạch lại là một chức năng quan trọng của quản lý Đối mặt với nền kinh
tế thị trường, các doanh nghiệp cần phải chủ động, linh hoạt, tích cực hơn trong cạnh tranh, lấy thị trường làm xuất phát điểm để tìm hiểu, xây dựng mục tiêu, lập kế hoạch kinh doanh, dự toán sản xuất kinh doanh cho phù hợp với điều kiện của doanh nghiệp Nếu ai đó cho rằng doanh nghiệp không cần lập kế hoạch, không có dự toán đầy đủ và chi tiết mà vẫn đạt được mục tiêu, vẫn có lợi nhuận thì đó chỉ là điều ngẫu nhiên, không vững chắc
b Đối với chức năng tổ chức và thực hiện
Tổ chức là gì ? Là vạch ra cấu trúc của tổ chức bao gồm việc xác định những nhiệm
vụ phải làm, ai làm, nhiệm vụ đó được tập hợp như thế nào, báo cáo cho ai và những quyết định được làm ra tại đâu
Chức năng thực hiện bao gồm điều khiển và phối hợp mọi người trong tổ chức Như vậy, với chức năng tổ chức và thực hiện, nhà quản trị phải biết cách liên kết tốt nhất giữa tổ chức con người với nguồn lực sẵn có của doanh nghiệp lại với nhau để các mục tiêu đề ra sẽ được thực hiện với hiệu quả cao nhất Để làm tốt chức năng này, nhà quản trị cũng có nhu cầu về thông tin Kế toán quản trị Kế toán quản trị sẽ cung cấp thông tin về những tình huống khác nhau của các phương án khác nhau để nhà quản trị có thể xem xét đưa ra quyết định kinh doanh đúng đắn trong quá trình tổ chức, điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh cho phù hợp với các mục tiêu chung
c Đối với chức năng kiểm tra- đánh giá
Chức năng sau cùng của nhà quản trị là kiểm soát, bao gồm các công việc theo dõi,
so sánh và sửa chữa Theo dõi xem tổ chức mình hoạt động như thế nào, so sánh kết quả thực hiện với những mục tiêu đã đặt ra, nếu có sai lệch đáng kể thì nhà quản trị có nhiệm
vụ đưa tổ chức trở lại đúng hướng
Như vậy nhiệm vụ của nhà quản trị trong chức năng này là phải phát hiện được
Trang 6liệu thực hiện với số liệu dự toán Để làm được điều này nhà quản trị cần được kế toán cung cấp các báo cáo thực hiện để đánh giá Kế toán quản trị cung cấp thông tin cho chức năng kiểm soát của nhà quản lý bằng cách thiết kế và phân tích các thông tin trên báo cáo
có dạng so sánh được Nhờ các báo cáo này mà nhà quản lý có thể điều chỉnh kịp thời những sai lệch nhằm đạt được các mục tiêu đề ra
Mỗi cấp quản lý sẽ có cách kiểm tra đánh giá khác nhau Các nhà quản trị thừa hành (ca trưởng, tổ trưởng sản xuất, quản đốc phân xưởng) thường trực tiếp kiểm tra- đánh giá tình hình thực hiện sản xuất trong ca, tổ, phân xưởng của họ Nhưng các nhà quản trị cấp cao không tham gia trực tiếp vào quá trình hoạt động hàng ngày nên họ phải dựa vào các báo cáo thực hiện của từng bộ phận thừa hành do Kế toán quản trị thiết kế để kiểm tra- đánh giá Do vậy, việc thiết kế các báo cáo thực hiện phục vụ cho công tác đánh giá là hết sức quan trọng vì nếu chọn được cách đánh giá thích hợp sẽ có tác dụng kích thích nhà quản lý thực thi tốt nhiệm vụ, ngược lại có thể làm hại đến quá trình sinh lợi của doanh nghiệp
d Đối với việc ra quyết định
Ra quyết định có phải là một chức năng của quản lý?
Ra quyết định cũng có thể được xem là một chức năng của quản trị nhưng tự thân
nó không phải là một chức năng riêng biệt mà nó tồn tại trong cả 4 chức năng của nhà quản trị Bởi lẽ, việc ra quyết định là nội dung cơ bản của hoạt động quản trị, nghĩa là từ việc điều hành sản xuất hàng ngày cho đến việc giải quyết đồng bộ các vấn đề kinh tế lớn đều được tiến hành trên cơ sở các quyết định thích hợp Vì lẽ đó nên Kế toán quản trị cung cấp thông tin cho các chức năng của nhà quản trị thì cũng có nghĩa là nó cung cấp thông tin cho qúa trình ra quyết định, mà phần lớn là cho hoạt động này
II Phân biệt Kế toán quản trị và Kế toán tài chính
Kế toán quản trị và Kế toán tài chính là hai bộ phận cấu thành nên hệ thống kế toán nên nó có những nét giống nhau mang đặc điểm của kế toán nói chung Tuy nhiên, do Kế toán quản trị và Kế toán tài chính phục vụ cho những đối tượng có mục đích sử dụng thông tin kế toán khác nhau nên giữa chúng cũng có những điểm khác nhau Cụ thể:
1 Điểm giống nhau:
- Kế toán quản trị và Kế toán tài chính đều đề cập đến các sự kiện kinh tế và đều quan tâm đến thu nhập, chi phí, công nợ và quá trình lưu chuyển tiền tệ của doanh nghiệp
- Kế toán quản trị và Kế toán tài chính đều dựa trên hệ thống ghi chép ban đầu của kế
Trang 7theo định kì và cung cấp cho bên ngoài Kế toán quản trị sử dụng hệ thống đó để phân tích, xử lí nhằm tạo ra thông tin thích hợp cung cấp cho nhà quản trị
- Kế toán quản trị và Kế toán tài chính đều có mối liên hệ trách nhiệm của nhà quản
lý Kế toán tài chính biểu hiện trách nhiệm của nhà quản trị cấp cao còn Kế toán quản trị biểu hiện trách nhiệm của nhà quản trị ở từng cấp trong doanh nghiệp
2 Điểm khác nhau:
Kế toán quản trị và Kế toán tài chính khác nhau trên một số điểm sau:
a Đối tượng sử dụng thông tin:
Đối tượng sử dụng thông tin Kế toán quản trị chủ yếu là các nhà quản trị trực tiếp điều hành hoạt động kinh doanh trong doanh nghiệp Ngược lại, đối tượng sử dụng thông tin của Kế toán tài chính lại là các cá nhân, tổ chức ở bên ngoài doanh nghiệp có quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp
b Đặc điểm thông tin:
- Thông tin của Kế toán tài chính chỉ là sự phản ánh qúa khứ, tức là Kế toán tài chính ghi chép lại các nghiệp vụ kinh tế đã xảy ra thông qua hệ thống các phương pháp kế toán khoa học để cung cấp thông tin một cách tổng quát nhất trên các báo cáo tài chính
- Thông tin của Kế toán quản trị khác thông tin của Kế toán tài chính ở chỗ nó không đặt trọng tâm vào việc phản ánh quá khứ mà nó hướng đến tương lai, nghĩa là thông tin của Kế toán quản trị mang tính dự báo trước cho nhà quản trị những thay đổi có thể xảy ra nếu mức độ hoạt động kinh doanh thay đổi
- Một điểm khác nữa là thông tin của Kế toán quản trị đòi hỏi phải linh hoạt, tốc độ
và thích hợp chứ không cần độ chính xác tuyệt đối, khách quan và đúng chuẩn mực qui định như thông tin của Kế toán tài chính
c Phạm vi báo cáo:
Báo cáo của Kế toán tài chính là báo cáo theo mục tiêu chung của toàn doanh nghiệp, phản ánh toàn bộ kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, còn các báo cáo của Kế toán quản trị chỉ phản ánh một phần hoặc một mặt hoạt động của doanh nghiệp và chúng được thiết kế đặc biệt cho từng nhà quản trị cá biệt hoặc cho từng quyết định cụ thể
Báo cáo của Kế toán quản trị cũng được lập chung cho toàn doanh nghiệp nhưng đó
là các báo cáo dự toán cho mục tiêu kế hoạch ngắn và dài hạn
Trang 8d Kỳ báo cáo:
Báo cáo tài chính được soạn thảo theo định kì qui định thường là quí, năm còn báo cáo Kế toán quản trị , do nhu cầu cung cấp thông tin cho việc điều hành và quản trị hoạt động sản xuất kinh doanh hàng ngày nên được soạn thảo thường xuyên hơn, có thể là hàng tuần, hàng tháng, để có thể có quyết định kịp thời hay phát hiện và chấn chỉnh ngay các chỗ còn yếu kém ngay khi chúng vừa phát sinh
e Tính pháp lệnh:
Kế toán tài chính có tính pháp lệnh, nghĩa là sổ sách và báo cáo của Kế toán tài chính ở mọi doanh nghiệp đều bắt buộc phải tuân theo chế độ thống nhất do Nhà nước ban hành, nếu thực hiện không đúng sẽ không được chấp nhận
Trái lại, sổ sách và báo cáo của Kế toán quản trị là riêng có, hoàn toàn phụ thuộc cách thiết kế của từng doanh nghiệp sao cho phù hợp và có tác dụng đối với mục tiêu đề
ra quyết định kinh doanh đúng lúc và đúng đắn
III Tổ chức hệ thống Kế toán quản trị trong các doanh nghiệp
1 Mô hình tổ chức Kế toán quản trị trong doanh nghiệp
- Mô hình 1: Tổ chức hệ thống Kế toán quản trị kết hợp chặt chẽ hệ thống Kế toán tài chính trên cùng một bộ máy kế toán, hệ thống tài khoản và hệ thống sổ kế toán thống nhất
- Mô hình 2: Tổ chức hệ thống Kế toán quản trị độc lập với hệ thống Kế toán tài chính
2 Nội dung tổ chức thực hiện Kế toán quản trị trong doanh nghiệp
Theo Thông tư số 53/2006/TT-BTC ngày 12/06/2006, tổ chức thực hiện Kế toán quản trịtrong doanh nghiệp theo các nội dung sau:
- Tổ chức vận dụng chứng từ kế toán, tài khoản kế toán, sổ kế toán
- Tổ chức vận dụng lập báo cáo Kế toán quản trị và tổ chức phân tích thông tin kinh
Trang 9- Được thiết kế và sử dụng các chứng từ nội bộ dùng cho kế toán quản trị mà không có quy định của Nhà nước Được thiết lập hệ thống thu thập và cung cấp thông tin nhanh, kịp thời qua Email, Fax và các phương tiện thông tin khác
b Nguyên tắc tổ chức vận dụng tài khoản kế toán
- Doanh nghiệp căn cứ vào hệ thống tài khoản kế toán do Bộ Tài chính ban hành
hoặc được Bộ Tài chính chấp thuận áp dụng cho doanh nghiệp để chi tiết hoá theo các cấp (cấp 2, 3, 4) phù hợp với kế hoạch, dự toán đã lập và yêu cầu cung cấp thông tin của kế
toán quản trị trong doanh nghiệp
- Việc chi tiết hoá các cấp tài khoản kế toán dựa trên các yêu cầu sau:
+ Xuất phát từ yêu cầu cung cấp thông tin kế toán quản trị của từng cấp quản lý + Các tài khoản có mối quan hệ với nhau cần đảm bảo tính thống nhất về ký hiệu, cấp độ,…(Ví dụ: TK 15411, 51111, 63211, 91111, )
+ Việc chi tiết hoá tài khoản không được làm sai lệch nội dung, kết cấu và phương pháp ghi chép của tài khoản
- Doanh nghiệp được mở tài khoản kế toán chi tiết theo các cấp trong các trường hợp sau:
+ Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành theo từng công việc; Sản phẩm, mặt hàng, bộ phận sản xuất, kinh doanh,
+ Kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh theo từng công việc, sản phẩm, mặt hàng, bộ phận sản xuất, kinh doanh,
+ Kế toán hàng tồn kho theo từng thứ, loại
+ Kế toán các nguồn vốn, các khoản vay, các khoản nợ phải thu, phải trả, theo chủ thể và từng loại
Ngoài ra tuỳ theo yêu cầu cung cấp thông tin kế toán quản trị mà doanh nghiệp thiết kế chi tiết hoá các tài khoản kế toán cho phù hợp
kế toán và cần phù hợp với yêu cầu quản lý của doanh nghiệp
- Doanh nghiệp có thể thiết kế các sổ kế toán mới phù hợp với yêu cầu quản lý chi phí, doanh thu và xác định kết quả kinh doanh theo bộ phận, mặt hàng, công việc và các
Trang 10d Yêu cầu, nội dung báo cáo Kế toán quản trị
- Yêu cầu thiết lập hệ thống báo cáo kế toán quản trị
+ Hệ thống báo cáo kế toán quản trị cần được xây dựng phù hợp với yêu cầu cung cấp thông tin phục vụ quản lý nội bộ của từng doanh nghiệp cụ thể
+ Nội dung hệ thống báo cáo kế toán quản trị cần đảm bảo cung cấp đầy đủ và đảm bảo tính so sánh được của các thông tin phục vụ yêu cầu quản lý, điều hành và ra các quyết định kinh tế của doanh nghiệp
+ Các chỉ tiêu trong báo cáo kế toán quản trị cần phải được thiết kế phù hợp với các chỉ tiêu của kế hoạch, dự toán và báo cáo tài chính nhưng có thể thay đổi theo yêu cầu quản lý của các cấp
- Hệ thống báo cáo kế toán quản trị
Hệ thống báo cáo kế toán quản trị chủ yếu của một doanh nghiệp thường bao
gồm:
- Báo cáo tình hình thực hiện:
+ Báo cáo doanh thu, chi phí và lợi nhuận của từng loại sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ;
+ Báo cáo khối lượng hàng hoá mua vào và bán ra trong kỳ theo đối tượng khách hàng, giá bán, chiết khấu và các hình thức khuyến mại khác;
+ Báo cáo chi tiết khối lượng sản phẩm hoàn thành, tiêu thụ;
+ Báo cáo chấp hành định mức hàng tồn kho;
+ Báo cáo tình hình sử dụng lao động và năng suất lao động;
+ Báo cáo chi tiết sản phẩm, công việc hoàn thành;
+ Báo cáo cân đối nhập, xuất, tồn kho nguyên liệu, vật liệu, sản phẩm, hàng hoá; + Báo cáo chi tiết nợ phải thu theo thời hạn nợ, khách nợ và khả năng thu nợ; + Báo cáo chi tiết các khoản nợ vay, nợ phải trả theo thời hạn nợ và chủ nợ;
+ Báo cáo bộ phận lập cho trung tâm trách nhiệm;
+ Báo cáo chi tiết tăng, giảm vốn chủ sở hữu
- Báo cáo phân tích:
+ Phân tích mối quan hệ giữa chi phí, khối lượng và lợi nhuận;
+ Phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp;
+ Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến tình hình thực hiện kế hoạch sản xuất và tài chính
Ngoài ra, căn cứ vào yêu cầu quản lý, điều hành của từng giai đoạn cụ thể, doanh
Trang 11CHỦ ĐỀ 2: PHÂN TÍCH MỐI QUAN HỆ GIỮA CHI PHÍ - KHỐI LƯỢNG -
SDĐP đơn vị = Giá bán – BP đơn vị
Ý nghĩa: Số dư đảm phí được dùng để trang trải định phí và phần còn lại chính là lợi nhuận
Lợi nhuận = Tổng SDĐP – Tổng định phí
Nếu tổng SDĐP > tổng định phí: Doanh nghiệp có lãi
Nếu tổng SDĐP < tổng định phí: Doanh nghiệp bị lỗ
Nếu tổng SDĐP = tổng định phí: Doanh nghiệp hòa vốn
Sau điểm hòa vốn, với mỗi sản phẩm bán thêm được thì doanh nghiệp sẽ có thêm số
dư đảm phí, và do không phải bù đắp định phí nữa nên số dư đảm phí sẽ chính là lợi nhuận
Ví dụ: Một doanh nghiệp chuyên sản xuất sản phẩm A có số liệu về chi phí và thu nhập bình thường trong tháng như sau:
- Khối lượng bán : 2.000sản phẩm /tháng
- Giá bán : 25.000đ/sản phẩm
Trang 12- Định phí hoạt động: 30.000.000đ/tháng
Ta có báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh theo dạng số dư đảm phí như sau:
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
* Giả sử sản lượng tiêu thụ tăng thêm 200 sản phẩm, ta có:
Tổng SDĐP tăng thêm = Sản lượng tăng thêm x SDĐP đơn vị
Tổng SDĐP tăng thêm = 200 x 10 = 2.000
Do định phí không đổi nên SDĐP tăng thêm chính là lợi nhuận tăng thêm 2.000
*Giả sử, doanh thu tăng thêm 10.000 (giá bán không đổi), dựa vào tỷ lệ SDĐP ta có cách tính như sau:
Tổng SDĐP tăng thêm = Doanh thu tăng thêm x Tỷ lệ SDĐP
hoạch phát triển dài hạn của doanh nghiệp, thái độ của nhà quản lý đối với rủi ro, Song nhìn chung, doanh nghiệp nào có tỷ lệ định phí lớn thì tỷ lệ số dư đảm phí cao, nếu doanh thu tăng thì lợi nhuận tăng nhanh và ngược lại Còn doanh nghiệp nào có tỷ trọng định phí thấp thì tỷ lệ số dư đảm phí thấp, khi doanh thu tăng thì lợi nhuận tăng chậm và ngược lại
Trang 13Ví dụ: Công ty A và B cùng kinh doanh một mặt hàng, có Báo cáo KQKD theo dạng số dư đảm phí như sau:
LN tăng thêmA = SDĐP tăng thêmA = 200.000 x 25% = 50.000
LN tăng thêmB = SDĐP tăng thêmB = 200.000 x 40% = 80.000
Ngược lại, thay vì tăng, doanh thu của 2 công ty lại giảm 200.000 Nếu thực hiện cách tính tương tự ta sẽ có kết quả ngược lại
Qua đây, có thể thấy, khi doanh thu tăng thì công ty B (có tỷ trọng định phí cao) thuận lợi hơn, nhưng nếu doanh thu có xu hướng giảm thì công ty A lại bất lợi hơn
4 Đòn bẩy kinh doanh:
Đòn bẩy kinh doanh được định nghĩa là tỷ lệ thay đổi về lợi nhuận phát sinh do sự thay đổi về sản lượng tiêu thụ (doanh thu)
Đòn bẩy kinh
Tốc độ tăng LN
>1 Tốc độ tăng SL tiêu thụ
Đòn bẩy kinh doanh phản ánh mức độ sử dụng định phí:
- Đòn bẩy kinh doanh lớn khi doanh nghiệp có tỷ lệ định phí cao trong tổng chi phí Khi đó, lợi nhuận sẽ rất nhạy cảm sự thay đổi của sản lượng tiêu thụ
- Đòn bẩy kinh doanh bé khi doanh nghiệp có tỷ lệ định phí thấp trong tổng chi phí Khi đó, lợi nhuận sẽ ổn định với sự thay đổi của sản lượng tiêu thụ
Độ lớn đòn bẩy kinh doanh của một doanh nghiệp tại một mức độ chi phí,khối lượng tiêu thụ và doanh thu nhất định được đo bằng:
Độ lớn đòn bẩy kinh doanh =
Tổng số dư đảm phí Lợi nhuận
Ý nghĩa: Độ lớn đòn bẩy kinh doanh cho biết khi sản lượng tiêu thụ thay đổi 1% thì
Trang 14Khái niệm đòn bẩy kinh doanh cung cấp cho nhà quản trị một công cụ để dự kiến lợi nhuận:
*Một số ứng dụng mối quan hệ CVP vào quá trình ra quyết định
Trong thực tế việc kinh doanh luôn xảy ra những thay đổi về định phí, biến phí, sản lượng tiêu thụ, giá bán, cơ cấu sản phẩm tiêu thụ ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp Việc ra quyết định nên lựa chọn sự thay đổi nào là hoàn toàn phụ thuộc vào
sự thay đổi đó ảnh hưởng như thế nào đến lợi nhuận của doanh nghiệp
Xét ví dụ tại một công ty sản xuất kinh doanh sản phẩm X như sau:
Sản lượng tiêu thụ : 1.000sp
Biến phí đơn vị : 600 ngđ/sp
Tổng định phí : 120.000 ngđ/tháng
Với số liệu trên, ta có báo cáo kết quả kinh doanh như sau:
BÁO CÁO KẾT QUẢ KINH DOANH
Phương án 1: Định phí và sản lượng tiêu thụ thay đổi
Bộ phận kinh doanh đề xuất nếu tăng chi phí quảng cáo thêm 12.000/tháng thì sản lượng tiêu thụ có thể tăng thêm 10%
Số dư đảm phí tăng thêm = (1.000sp x 10%) x 200 = 20.000
Định phí tăng thêm (do tăng quảng cáo) = 12.000
→ Lợi nhuận tăng thêm = 20.000 – 12.000 = 8.000
Phương án 2: Biến phí, sản lượng tiêu thụ thay đổi
Trang 15Nhà quản lý dự tính, với mỗi sản phẩm bán được sẽ tặng món quà trị giá 40 thì sản lượng tiêu thụ tăng thêm 300sp/tháng
Tổng sản lượng tiêu thụ dự kiến = 1.300sp
SDĐP đơn vị dự kiến = 800 – (600 + 40) = 160
Tổng SDĐP dự kiến = 160 x 1.300sp = 208.000
Tổng SDĐP hiện tại = 200.000
SDĐP tăng thêm = 208.000 – 200.000 = 8.000
→ Lợi nhuận tăng thêm = 8.000 (do định phí không đổi)
Phương án 3: Định phí, biến phí, sản lượng tiêu thụ thay đổi
Nhà quản lý dự tính thay cách trả lương cố định cho nhân viên bán hàng 25.000/tháng bằng cách trả 20.000/tháng và 20/sản phẩm bán được, nhờ đó, sản lượng tiêu thụ tăng thêm 10%
Tổng sản lượng tiêu thụ dự kiến = 1.000sp x 110% = 1.100sp
→ Lợi nhuận tăng thêm = 5.000 – 2.000 = 3.000
Phương án 4: Định phí, giá bán, sản lượng tiêu thụ thay đổi
Dự tính nếu giảm giá bán 30/sp đồng thời chi thêm cho quảng cáo 10.000/tháng thì sản lượng tiêu thụ tăng thêm 30%
Tổng sản lượng tiêu thụ dự kiến = 1.000sp x 130% = 1.300sp
→ Lợi nhuận tăng thêm = 21.000 – 10.000 = 11.000
Dựa trên mức lợi nhuận tăng thêm của 4 phương án đã tính được, nhà quản lý có thể quyết định lựa chọn phương án 4 vì mức lợi nhuận tăng thêm là cao nhất
* Xác định giá bán trong trường hợp đặc biệt:
Giả sử đã bán được 1.000 sản phẩm, có khách hàng muốn mua 100 sản phẩm với
Trang 16tốn thêm 5/sản phẩm Nhà quản trị mong muốn thu được 10.000 lợi nhuận cho số sản phẩm này Vậy, giá bán sản phẩm của đơn hàng này là bao nhiêu? Có bán được không ?
Biến phí/sản phẩm = 600 + 5 = 605
Định phí/sản phẩm = 0 (vì 1.000sp đã bù đắp hết định phí)
Lợi nhuận mong muốn/sản phẩm = 10.000/100sp = 100
→ Giá bán của đơn hàng = 605 + 100 = 705/sp
So sánh với giá bán đề nghị của khách hàng = 800 x 90% = 720/sp
Vậy, đơn hàng này thực hiện được
II Phân tích điểm hoà vốn:
- Sản lượng, doanh thu ở mức nào để doanh nghiệp đạt được điểm hoà vốn
- Phạm vi lời-lỗ của doanh nghiệp theo những cơ cấu chi phí - sản lượng tiêu thụ - doanh thu
- Phạm vi đảm bảo an toàn về doanh thu để đạt được một mức lợi nhuận mong muốn
2 Phương pháp xác định điểm hoà vốn:
yt : doanh thu yc : chi phí
b Doanh thu hoà vốn (y o ):
Trang 17Doanh thu hoà vốn là doanh thu ở mức tiêu thụ hoà vốn Như vậy, doanh thu hoà vốn được xác định :
Đồ thị hòa vốn dạng tổng quát Đồ thị hòa vốn dạng phân biệt
Lưu ý: Đối với đồ thị dạng phân biệt ta chỉ cần kẻ thêm đường biểu diễn biến phí yb
= b.x song song với đường biểu diễn chi phí yc = A + b.x
c Doanh thu an toàn:
Doanh thu an toàn được hiểu là phần chênh lệch giữa doanh thu thực hiện với doanh thu hoà vốn
Mức doanh thu an toàn = Doanh thu thực hiện - Doanh thu hoà vốn
Tỷ lệ doanh thu
Mức doanh thu an toàn
x 100%
Doanh thu thực hiện
Ý nghĩa: Chỉ tiêu trên phản ánh độ an toàn của hoạt động sản xuất kinh doanh, giá trị càng lớn càng thể hiện tính an toàn càng cao và ngược lại
d Công suất hoà vốn:
Công suất hoà vốn được hiểu là tỷ lệ giữa sản lượng hoà vốn và sản lượng theo công suất thiết kế
Trang 18h% = A (2)
X(p - b)
Trong đó, X : Sản lượng theo công suất thiết kế; h%: Công suất hoà vốn
Ý nghĩa: Chỉ tiêu này cho biết cần phải huy động bao nhiêu % công suất để đạt được điểm hoà vốn Mức huy động năng lực sản xuất > h% thì sẽ có lợi nhuận và ngược lại
e Thời gian đạt điểm hoà vốn:
n = x o x 12 tháng = h% x 12 tháng
X
Trong đó, n : Số thời gian (tháng) cần thiết để đạt điểm hoà vốn
x o : Sản lượng hoà vốn
X : Sản lượng theo công suất thiết kế (theo năm)
3 Phân tích chỉ tiêu lợi nhuận:
a Phương trình lợi nhuận:
Từ phương trình cơ bản thể hiện mối quan hệ CVP:
Lợi nhuận = Tổng SDĐP – Tổng định phí
= (SDĐP đơn vị x SL tiêu thụ) – Tổng định phí
hay y LN = (p - b).x – A : phương trình lợi nhuận (1)
b Sản lượng mong muốn và doanh thu mong muốn:
Từ phương trình lợi nhuận, ta thấy rằng nếu doanh nghiệp muốn có mức lợi nhuận như dự kiến thì doanh nghiệp có thể tìm được mức sản lượng tiêu thụ và mức doanh thu cần phải đạt được
Gọi Im : Lợi nhuận mong muốn
xm : Sản lượng mong muốn (mức tiêu thụ để đạt được Im)
ym : Doanh thu mong muốn (mức doanh thu để đạt được Im)
* Xác định sản lượng mong muốn:
Trang 19y m = p A + Im = A + I m hay Tổng định phí + LN mong muốn
Trang 20Đồ thị lợi nhuận:
Đồ thị lợi nhuận được vẽ qua các bước sau:
Bước 1: Trên trục tung Oy (phản ánh giá trị) vẽ đường doanh thu yt = px song song với Ox (phản ánh sản lượng tiêu thụ) và cắt Oy tại điểm O’ Đường thẳng yt chia trục Oy thành 2 phần đối xứng nhau, phần trên là phạm vi lãi, phần dưới là phạm vi lỗ
Bước 2: Vẽ đường lợi nhuận yLN = (p - b)x - A, đường này cắt Oy tại điểm có tọa độ (0,-A) đi qua phạm vi lỗ rồi cắt đường yt tại điểm hoà vốn và bước qua phạm vi lãi
4 Phân tích điểm hoà vốn trong mối quan hệ với kết cấu hàng bán
Kết cấu hàng bán là tỷ trọng doanh thu của từng mặt hàng chiếm trong tổng doanh thu bán hàng của doanh nghiệp
Kết cấu hàng bán thay đổi sẽ ảnh hưởng đến điểm hòa vốn và lợi nhuận
Nếu doanh thu của sản phẩm có tỷ lệ số dư đảm phí cao chiếm tỷ trọng lớn trong tổng doanh thu thì điểm hòa vốn sẽ giảm và lợi nhuận tăng và ngược lại
Do vậy, chỉ khi tìm được một kết cấu hợp lý thì mới đem lại lợi nhuận tối đa Cần lưu ý rằng có nhiều yếư tố tác động đến kết cấu hàng bán như sự biến động của thị trường,
sự thay đổi thị hiếu của khách hàng, do đó nhà quản trị cần phải quan tâm đến chúng nếu không sẽ ảnh hưởng chung tới lợi nhuận của toàn công ty
Ví dụ: Công ty sản xuất kinh doanh 2 loại sản phẩm A và B, có báo cáo kết quả kinh doanh như sau:
Trang 21Với kết cấu hàng bán là doanh thu sản phẩm A chiếm 30% và doanh thu sản phẩm
B chiếm 70%, công ty có điểm hòa vốn là:
Với kết cấu hàng bán là doanh thu sản phẩm A chiếm 40% và doanh thu sản phẩm
B chiếm 60%, công ty có điểm hòa vốn là:
- Tỷ lệ số dư đảm phí bình quân giảm
- Doanh thu hòa vốn tăng
- Lợi nhuận giảm
Trang 22Với kết cấu hàng bán là doanh thu sản phẩm A chiếm 20% và doanh thu sản phẩm
B chiếm 80%, công ty có điểm hòa vốn là:
- Tỷ lệ số dư đảm phí bình quân tăng
- Doanh thu hòa vốn giảm
- Lợi nhuận tăng
III Những điểm hạn chế khi phân tích quan hệ CVP
Tất cả các phân tích trên đây được coi là đúng khi và chỉ khi các điều kiện sau đây được thoả mãn:
- Mối quan hệ biến động của chi phí, sản lượng tiêu thụ, doanh thu và lợi nhuận được giả định là quan hệ tuyến tính trong suốt phạm vi vận động
- Chi phí phải được phân tích một cách chính xác thành định phí và biến phí
- Kết cấu sản phẩm sản xuất kinh doanh được giả định cố định trong quá trình thay đổi các yếu tố chi phí và khối lượng tiêu thụ
- Tồn kho sản phẩm không thay đổi hoặc quá trình sản xuất và tiêu thụ cùng một mức độ
- Công suất máy móc thiết bị, năng suất của công nhân không thay đổi trong suốt thời kì phân tích
- Giá cả phải ổn định
Như vậy, việc phân tích mối quan hệ CVP chỉ cho chúng ta một cách suy nghĩ về mối quan hệ chi phí - khối lượng - lợi nhuận hơn là cách tính toán chính xác để tìm ra sản lượng, doanh thu, trong mối quan hệ CP-KL-LN Vì vậy, để đảm bảo tính khả thi, sự chính xác khi ra quyết định dựa vào mối quan hệ CVP cần phải hội tụ những điều kiện giả thuyết
Trang 23CHỦ ĐỀ 3: LẬP VÀ PHÂN TÍCH BÁO CÁO BỘ PHẬN
a Khái niệm báo cáo bộ phận:
Báo cáo bộ phận là báo cáo kết quả kinh doanh được lập chi tiết cho từng bộ phận riêng biệt
Để hữu ích, báo cáo bộ phận phải cung cấp thông tin đáp ứng cho 2 nhu cầu sau:
- Đánh giá sự đầu tư các nguồn lực của công ty cho các bộ phận
- Đánh giá thành quả quản lý của các nhà quản trị bộ phận
b Đặc điểm của báo cáo bộ phận:
- Các báo cáo bộ phận được trình bày theo hình thức số dư đảm phí
- Định phí bộ phận và định phí chung được trình bày riêng biệt để tính số dư bộ phận
- Định phí bộ phận có thể kiểm soát và định phí bộ phận không thể kiểm soát được trình bày riêng biệt
c Lập báo cáo bộ phận:
- Định phí bộ phận: là định phí liên quan trực tiếp đến từng bộ phận cụ thể Khi bộ phận
không còn tồn tại thì định phí bộ phận cũng sẽ mất đi
Định phí bộ phận được chia thành định phí bộ phận có thể kiểm soát và định phí
bộ phận không thể kiểm soát tùy thuộc vào quyền ra quyết định của nhà quản trị bộ phận
- Định phí chung: là định phí không liên quan trực tiếp đến bộ phận cụ thể nào, dù cho
các bộ phận có tồn tại hay không thì định phí chung vẫn luôn tồn tại với doanh nghiệp
- Số dư bộ phận: là phần còn lại của số dư đảm phí do bộ phận tạo ra sau khi bù đắp các
định phí bộ phận Số dư bộ phận dùng để trang trải định phí chung, còn lại là lợi nhuận
Khi định phí bộ phận được tách thành định phí bộ phận có thể kiểm soát và định phí bộ phận không thể kiểm soát, số dư bộ phận được xác định sau khi tính số dư bộ phận
có thể kiểm soát
Trang 24Báo cáo bộ phận được trình bày theo các chỉ tiêu sau:
d Minh họa báo cáo bộ phận:
Báo cáo bộ phận theo khu vực
Trang 25(4)ĐPBP có thể KS: là định phí của từng khu vực mà nhà quản lý của từng khu vực có thể kiểm soát được
(5) ĐPBP không thể KS: là định phí của từng khu vực mà nhà quản lý của từng khu vực không thể kiểm soát được
(7)Số dư bộ phận (khu vực): số dư đảm phí của từng khu vực tạo ra sau khi đã bù đắp hết các định phí của khu vực
(8) ĐP chung (của công ty): định phí của công ty liên quan đến cả 2 khu vực
Báo cáo bộ phận theo sản phẩm (khu vực B)
(8) ĐP chung (của khu vực): định phí của khu vực liên quan đến cả 2 loại sản phẩm
Minh họa trên nhấn mạnh mô hình ứng xử của chi phí trong mối liên hệ với các các nhân và các bộ phận trong một tổ chức Minh họa trên cũng dựa vào dữ liệu hàng tháng và giả thiết rằng biến phí biến động theo sản lượng tiêu thụ Hai loại bộ phận khác nhau được đề cập đến là khu vực và sản phẩm Khi chúng ta chuyển từ báo cáo bộ phận này sang báo cáo bộ phận khác thì phạm vi bộ phận sẽ thu hẹp dần, từ công ty như một tổng thể, đến các khu vực A và B rồi đến các sản phẩm X, Y
II Phân tích báo cáo bộ phận
Phân tích báo cáo bộ phận nhằm đạt 2 mục tiêu chủ yếu:
- Đánh giá kết quả bộ phận
Trang 261 Đánh giá kết quả bộ phận:
Thông qua phân tích báo cáo bộ phận, các nhà quản trị có thể đánh giá khả năng sinh lời ngắn hạn và khả năng sinh lời dài hạn của từng bộ phận để đưa ra các quyết định thích hợp
a Đánh giá khả năng sinh lời ngắn hạn
Các chỉ tiêu liên quan đến số dư đảm phí như số dư đảm phí đơn vị, tỷ lệ số dư đảm phí thích hợp cho việc đánh giá khả năng sinh lời trong ngắn hạn của từng bộ phận Chẳng hạn, theo báo cáo bộ phận khu vực, khu vực A có tỷ lệ SDĐP 40%, cao hơn so với khu vực B (30%), điều đó cho thấy khu vực B có khả năng sinh lợi trong ngắn hạn tốt hơn Vì vậy, nếu công ty mở rộng doanh thu khu vực A thì sẽ thu được mức gia tăng lợi nhuận cao hơn so với khu vực B
Số dư đảm phí còn có ích cho việc dự đoán ảnh hưởng của những thay đổi về mức
độ hoạt động đến lợi nhuận, quyết định giá bán cho những đơn đặt hàng đặc biệt và sử dụng năng lực hiện có mà chúng ta đã nghiên cứu trong phân tích CVP
b Đánh giá khả năng sinh lời dài hạn
Số dư bộ phận là phần còn lại của số dư đảm phí bộ phận sau khi trừ đi tất cả định phí bộ phận bao gồm cả định phí có thể kiểm soát và không thể kiểm soát của nhà quản trị
bộ phận Chính vì vậy, số dư bộ phận có thể được xem như là một chỉ tiêu kinh tế phản ánh thành quả của việc đầu tư vào một bộ phận
Từ quan điểm ra quyết định, số dư bộ phận có ích đối với những quyết định dài hạn như thay đổi tiềm lực sản xuất kinh doanh, định giá sản phẩm trong dài hạn,…
2 Đánh giá thành quả quản lý bộ phận
Số dư bộ phận có thể kiểm soát là phần còn lại của số dư đảm phí sau khi trừ định phí bộ phận có thể kiểm soát Chỉ tiêu này phản ánh thành quả quản lý của nhà quản trị bộ phận, do vậy nó được sử dụng để đánh giá thành quả của quản lý bộ phận
Trang 27CHỦ ĐỀ: DỰ TOÁN SẢN XUẤT KINH DOANH
I Khái quát về dự toán
1 Khái niệm
Dự toán là tính toán chi tiết nhằm chỉ rõ cách huy động và sử dụng nguồn lực dựa trên mục tiêu kế hoạch xác định trong từng thời gian cụ thể Dự toán được biểu hiện dưới dạng số lượng và giá trị một cách có hệ thống
2 Tác dụng của dự toán
- Tác dụng lớn nhất của dự toán đối với nhà quản trị là cung cấp phương tiện thông tin một cách có hệ thống toàn bộ kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp ở từng giai đoạn, từng thời kì
- Xác định các mục tiêu cụ thể cho từng chỉ tiêu trong từng thời kì kế hoạch cũng như của từng bộ phận trong doanh nghiệp để làm căn cứđánh giá thực hiện sau này
- Lường trước những khó khăn khi chúng chưa xảy ra để có phương án đối phó kịp thời và đúng đắn
- Kết hợp toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp bằng các kế hoạch của từng bộ phận khác nhau, nhờ vậy dự toán đảm bảo cho các kế hoạch của từng bộ phận phù hợp với mục tiêu chung của doanh nghiệp
- Là cơ sở để phân tích biến động chi phí sản xuất kinh doanh trong kì thực hiện Việc làm này có tác dụng tích cực cho quá trình dự toán kì sau
Tóm lại, dự toán là một công cụ để làm cho kế hoạch có hiệu quả và cung cấp
hệ thống thông tin để theo dõi hoạt động kinh doanh có vận hành theo đúng mục tiêu hay không
3 Các loại dự toán sản xuất kinh doanh
a Dự toán sản xuất kinh doanh ngắn hạn:
Là dự toán được lập cho kỳ kế hoạch là 1 năm và được chia ra thành từng thời kỳ ngắn hơn là qúi, tháng
Dự toán sản xuất kinh doanh ngắn hạn thường liên quan đến các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp như: mua hàng, bán hàng, sản xuất, thu, chi …
Trang 28Đặc điểm cơ bản của dự toán ngắn hạn là được lập hàng năm trước khi niên
độ kế toán kết thúc, nó định hướng cho hoạt động của doanh nghiệp trong năm kế hoạch tiếp theo
b Dự toán SXKD dài hạn: được gọi là dự toán vốn
Là dự toán được lập liên quan đến tài sản dài hạn, loại tài sản được sử dụng vào hoạt động kinh doanh và tạo ra lợi nhuận thường vượt qua 1 năm Do vậy, dự toán này là việc sắp xếp các nguồn lực về tiền để thu được lợi nhuận dự kiến trong tương lai nhiều năm
Đặc điểm cơ bản của dự toán dài hạn là:
+ Lợi nhuận dự kiến lớn
+ Mức độ rủi ro cao
+Thời điểm đưa vốn vào hoạt động, thời gian thu hồi vốn
và thời điểm thu lợi nhuận dự kiến tương đối dài
c Dự toán sản xuất kinh doanh linh hoạt
Là dự toán được lập tương ứng với nhiều mức hoạt động khác nhau Dự toán linh hoạt được lập theo mối quan hệ với quá trình hoạt động, giúp chúng ta xác định chi phí tương ứng với các mức độ, phạm vi hoạt động khác nhau
Thông thường, dự toán linh hoạt được lập ở 3 mức độ cơ bản là:
+ Mức độ hoạt động bình thường
4 Các mô hình lập dự toán
Việc lập dự toán dựa trên cơ sở các mô hình thông tin sau:
Mô hình 1: Mô hình thông tin 1 xuống
- Trình tự: Theo mô hình này, các chỉ tiêu dự toán được định ra từ ban quản
lý cấp cao nhất của đơn vị, xét duyệt thông qua cho các cấp trung gian, trên cơ sở
đó cấp trung gian xét duyệt thông qua cho cấp cơ sở
- Ưu điểm: Tiết kiệm thời gian và chi phí
- Nhược điểm: Mang tính áp đặt từ trên xuống, do vậy, đòi hỏi quản lý cấp
cao phải có tầm nhìn tổng quát, toàn diện và chi tiết về mọi mặt hoạt động của đơn
vị
Trang 29Mô hình 2: Mô hình thông tin 2 xuống, 1 lên
- Trình tự:
+ Các chỉ tiêu dự toán được dự thảo bởi ban quản lý cấp cao nhất trong đơn
vị, sau đó phân bổ cho các đơn vị trung gian Trên cơ sở đó cấp trung gian phân bổ cho các đơn vị cấp cơ sở
+ Quản lý cấp cơ sở căn cứ vào các chỉ tiêu dự thảo và khả năng, điều kiện của mình để xác định chỉ tiêu dự toán có thể thực hiện được và trình lên cấp trung gian
+ Quản lý cấp trung gian tổng hợp các chỉ tiêu dự toán từ cấp cơ sở kết hợp với một tầm nhìn tổng quát, toàn diện về hoạt động của cấp cơ sở để xác định chỉ tiêu dự toán có thể thực hiện được ở bộ phận mình và trình lên quản lý cấp cao + Trên cơ sở tổng hợp các chỉ tiêu dự toán từ các cấp trung gian, kết hợp với tầm nhìn toàn diện về toàn bộ hoạt động của tổ chức và hướng đến mục tiêu chung của tổ chức, quản lý cấp cao sẽ quyết định chỉ tiêu dự toán chính thức cho cấp trung gian, trên cơ sở đó cấp trung gian quyết định chỉ tiêu dự toán chính thức cho cấp cơ sở
- Nhược điểm: Thời gian lập dự toán dài và phát sinh nhiều chi phí
Mô hình 3: Mô hình thông tin 1 lên, 1 xuống
- Trình tự: Theo mô hình này, dự toán sẽ lập từ cấp thấp nhất đến cấp cao
Trang 30của tổ chức, quản lý cấp cao sẽ quyết định chỉ tiêu dự toán chính thức cho cấp trung gian, trên cơ sở đó cấp trung gian quyết định chỉ tiêu dự toán chính thức cho cấp cơ sở
- Ưu điểm: Tốn ít thời gian và chi phí
- Nhược điểm:
Dự toán được lập xuất phát từ cấp cơ sở nên họ có xu hướng là xác lập các chỉ tiêu dự toán dưới mức khả năng và điều kiện của mình để dễ dàng hoàn thành các chỉ tiêu dự toán, do vậy có thể không khai thác hết khả năng tiềm tàng của đơn
vị
II Định mức chi phí
1 Khái niệm
- Định mức chi phí sản xuất: Là biểu hiện bằng tiền những hao phí về lao
động sống và lao động vật hóa theo tiêu chuẩn để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm
ở điều kiện hoạt đông kinh doanh bình thường
- Định mức chi phí sản xuất kinh doanh: Là những hao phí về lao động sống
và lao động vật hóa theo tiêu chuẩn để sản xuất và tiêu thụ một đơn vị sản phẩm ở điều kiện sản xuất kinh doanh bình thường
Định mức chi phí được xây dựng từ 2 yếu tố:
- Định mức lượng: phản ánh số lượng các đơn vị đầu vào sử dụng để tạo nên
1 đơn vị sản phẩm đầu ra
- Định mức giá: phản ánh giá bình quân của 1 đơn vị đầu vào
Định mức chi phí = (Định mức lượng x Định mức giá)
2 Các loại định mức
Có 2 loại định mức:
a Định mức lý tưởng:
Là định mức được xây dựng trong điều kiện hoạt động tối ưu nhất:
- Không cho phép bất kì một sự gián đoạn nào trong quá trình sản xuất;
- Máy móc thiết bị làm việc liên tục
- Nguyên vật liệu đạt tiêu chuẩn
- Đòi hỏi trình độ lành nghề cao của người lao động và sự cố gắng tối đa trong suốt quá trình làm việc
Trang 31Định mức này được đưa ra để cô lập xem xét làm cơ sở xây dựng định mức thực hiện và hướng quá trình thực hiện đến định mức này
b Định mức thực hiện:
Là định mức được xây dựng trong điều kiện trung bình tiên tiến:
- Với sự làm việc bình thường của máy móc thiết bị
- Nguyên liệu đạt tiêu chuẩn
- Trình độ lành nghề và sự cố gắng nhất định của người lao động có thể đạt được định mức này
Định mức này là cơ sở để xây dựng dự toán, phân tích chi phí, đánh giá trách nhiệm của các bộ phận, cá nhân trong tổ chức
3 Phương pháp xây dựng định mức chi phí
Có 2 phương phương pháp cơ bản để xây dựng định mức chi phí là phương pháp thống kê kinh nghiệm và phân tích kinh tế kỹ thuật
a Phương pháp thống kê kinh nghiệm:
Phươngpháp này dựa trên cơ sở thống kê số liệu thực tế sản xuất kinh doanh
ở nhiều kì kế toán trước đó
+ Căn cứ số liệu thống kê về số lượng các yếu tố đầu vào bình quân của các kì trước để sản xuất một đơn vị sản phẩm đầu ra, kết hợp với các biện pháp quản lý sử dụng để xây dựng định mức lượng
+ Căn cứ vào mức độ biến động của giá bình quân các kì trước, tình hình thị trường và các quyết định tồn kho để xác định định mức giá
b.Phương pháp phân tích kinh tế kỹ thuật:
Phương pháp này dựa trên cơ sở trực tiếp phân tích thiết kế của sản phẩm, tình hình máy móc thiết bị, phân tích quy trình công nghệ sản xuất, hành vi sản xuất, biện pháp quản lý sản xuất … để xây dựng định mức chi phí
Trong thực tế, người ta sử dụng đồng thời cả 2 phương pháp trên trong quá trình xây dựng định mức
Để xây dựng định mức một cách tiên tiến hợp lý, đòi hỏi người xây dựng định mức phải có trình độ chuyên môn nghiệp vụ; có kinh nghiệm về lĩnh vực hoạt động; có tinh thần trách nhiệm cao đối với chất lượng và giá cả sản phẩm; đồng
Trang 32+ Phải tiến hành phân tích một cách chi tiết những kết quả đạt được trong quá khứ
+ Xác định các nguyên nhân chủ quan, khách quan tác động đến kết quả đó + Xem xét về những thay đổi về điều kiện kinh tế, kỹ thuật quản lý trong tương lai để điều chỉnh bổ sung định mức cho phù hợp
4 Định mức các khoản mục chi phí
a Định mức chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Định mức chi phí nguyên vật liệu trực tiếp = Định mức lượng x Định mức giá
- Định mức lượng nguyên vật liệu: Phản ánh số lượng nguyên vật liệu đầu vào bình quân để sản xuất một đơn vị sản phẩm, bao gồm:
+ Số lượng nguyên vật liệu cho nhu cầu sản xuất cơ bản
+ Số lượng nguyên vật liệu hao hụt cho phép trong sản xuất
+ Số lượng nguyên vật liệu hư hỏng trong sản xuất
- Định mức giá nguyên vật liệu: Phản ánh đơn giá bình quân của một đơn vị nguyên vật liệu, bao gồm:
+ Giá mua nguyên vật liệu theo hóa đơn
+ Chi phí thu mua nguyên vật liệu: chi phí vận chuyển, bốc dỡ, lưu kho … + Trừ các khoản chiết khấu thương mại, giảm giá
b Định mức chi phí nhân công trực tiếp
Định mức chi phí nhân công trực tiếp = Định mức lượng x Định mức giá
- Định mức lượng thời gian: phản ánh số lượng thời gian bình quân (giờ, phút) để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm hoặc một công đoạn sản xuất sản phẩm, bao gồm:
+ Thời gian cho nhu cầu sản xuất cơ bản
+ Thời gian cho vận hành máy móc thiết bị
+ Thời gian ngừng nghỉ hợp lí của máy móc thiết bị, người lao động
+ Thời gian cho sửa chữa sản phẩm
- Định mức giá của đơn vị thời gian: phản ánh chi phí nhân công trả cho một đơn vị thời gian (giờ, phút), bao gồm:
+ Tiền lương cơ bản cho một đơn vị thời gian
+ Tiền lương phụ, các khoản phụ cấp lương
Trang 33+ Các khoản trích về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp
và kinh phí công đoàn theo tỉ lệ quy định
Trong trường hợp quy trình sản xuất sản phẩm phức tạp, trải qua nhiều công đoạn, sản phẩm sản xuất có thể gián đoạn về mặt kỹ thuật, yêu cầu quản lý tách riêng cho từng công đoạn tương ứng với các trình độ kỹ thuật phức tạp khác nhau thì có thể định mức chi phí cho từng công đoạn sản xuất Sau đó, tổng hợp chi phí của các công đoạn sản xuất sản phẩm để xác định định mức chi phí cho một đơn vị sản phẩm
c Định mức chi phí sản xuất chung
Chi phí sản xuất chung theo mô hình ứng xử chi phí được chia làm biến phí và định phí sản xuất chung
Định mức CPSXC = Định mức biến phí SXC + Định mức định phí SXC
* Định mức biến phí sản xuất chung
Biến phí sản xuất chung là các chi phí cần thiết khác cho quá trình sản xuất, biến động tỉ lệ với mức độ hoạt động
Biến phí sản xuất chung có thể liên quan trực tiếp đến một loại sản phẩm hoặc liên quan gián tiếp đến nhiều loại sản phẩm
+ Nếu biến phí sản xuất chung liên quan trực tiếp đến từng sản phẩm, chiếm
tỉ trọng lớn trong chi phí sản xuất thì xây dựng định mức về lượng, giá cho từng yếu tố biến phí SXC tương tự như chi phí nguyên vật liệu hoặc chi phí nhân công trực tiếp
Định mức biến phí SXC (theo từng yếu tố ) = Định mức lượng x Định mức giá
+ Nếu biến phí sản xuất chung bao gồm nhiều loại, liên quan đến nhiều sản phẩm, chiếm tỉ trọng không lớn trong chi phí sản xuất thì căn cứ vào kết quả thống
kê biến phí sản xuất chung, biến phí trực tiếp của các kì kế toán trước để xác định
tỉ lệ biến phí sản xuất chung trên biến phí trực tiếp bình quân của các kì trước
Định mức biến phí SXC = Định mức biến phí trực tiếp x Tỷ lệ biến phí SXC
* Định mức định phí sản xuất chung:
Định mức định phí SXC = Định mức lượng x Định mức giá
- Định mức lượng: mức hoạt động để sản xuất 1 đơn vị sản phẩm như số giờ
Trang 34- Định mức giá: dựa vào dự toán định phí sản xuất chung và tổng mức hoạt động dự kiến trong kì để xác định
Tổng mức hoạt động dự toán trong kì
d Định mức chi phí bán hàng và chi phí QLDN
Định mức chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp được xác định tương tự như định mức chi phí sản xuất chung
II Phương pháp lập dự toán
Hệ thống dự toán sản xuất kinh doanh ngắn hạn trong doanh nghiệp sản xuất
Dự toán
CP nhân công trực tiếp
Dự toán
CP sản xuất chung
Dự toán Bảng CĐKT
Trang 35của doanh nghiệp Dự toán tiêu thụ có ý nghĩa rất lớn đến việc định hướng các hoạt động, chỉ đạo điều hành quá trình sản xuất kinh doanh, tiết kiệm chi phí và nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh Để lập dự toán tiêu thụ phải dựa trên những cơ sở sau:
+ Tình hình tiêu thụ ở các kì kế toán trước
+ Chu kì sản xuất kinh doanh, tiêu thụ sản phẩm
+ Chính sách gía cả sản phẩm, khả năng mở rộng thị trường tiêu thụ
+ Chính sách quảng cáo, khuyến mãi
+ Xu hướng phát triển kinh tế của ngành, lĩnh vực đơn vị hoạt động
+ Thu nhập của người tiêu dùng
+ Các chính sách, chế độ, thể lệ của Nhà nước
+ Dự kiến những biến động về kinh tế, xã hội trong và ngoài nước
- Dự toán tiêu thụ còn kèm theo bảng dự toán số tiền thu được trong từng quí căn cứ trên số dự kiến thu được bởi lẽ, doanh thu của 1 quí thường được khách hàng trả trong nhiều quí tuỳ theo phương thức thanh toán và thời hạn thanh toán ghi trong hợp đồng Ngoài ra, bảng dự kiến lịch thu tiền được xây dựng còn để làm
cơ sở cho việc lập dự toán tiền mặt sau này
Cách tính các chỉ tiêu trong bảng dự toán tiêu thụ:
Dự toán KLSP
Trang 363 Dự toán chi phí mua nguyên vật liệu và chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Bảng dự toán này nhằm xác định nhu cầu vật liệu của doanh nghiệp để đáp ứng cho nhu cầu sản xuất và dự trữ Cơ sở để lập dự toán này là dựa vào định mức chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
- Bảng dự toán này sẽ trình bày các chỉ tiêu được tính toán như sau :
4 Dự toán chi phí nhân công trực tiếp
Căn cứ vào dự toán khối lượng sản phẩm sản xuất, định mức thời gian sản xuất cho một đơn vị sản phẩm để xác định nhu cầu thời gian cần thiết cho sản xuất sản phẩm Đồng thời căn cứ vào định mức đơn giá cho 1 đơn vị thời gian để lập dự toán chi phí nhân công trực tiếp