1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phép biện chứng duy vật với đường lối tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường sinh thái của Đảng CSVN

35 753 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 35
Dung lượng 179,58 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦUTăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường sinh thái hiện nay đang trởthành vấn đề vô cùng bức xúc và được sự quan tâm của tất cả các nước trên thếgiới, đặc biệt trong bối cảnh môi t

Trang 1

HỌC VIỆN CÔNG NGHỆ BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG

TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC

ĐỀ TÀI

PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT VỚI ĐƯỜNG LỐI TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG SINH THÁI

CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

Hà Nội, Tháng 8 – 2016

Trang 2

HỌC VIỆN CÔNG NGHỆ BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG

TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC

ĐỀ TÀI

PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT VỚI ĐƯỜNG LỐI TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG SINH THÁI

CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

Hà Nội, Tháng 8 - 2016

Trang 3

MỤC LỤC

MỤC LỤC 3

MỞ ĐẦU 5

I Phép biện chứng duy vật – phương pháp luận nhận thức khoa học và thực tiễn 6

1.1 Khái niệm phép biện chứng duy vật 6

1.2 Bản chất của phép biện chứng duy vật 7

1.2.1 Hai nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vật 7

1.2.2 Các quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật 8

1.2.3 Các cặp phạm trù 10

1.3 Ý nghĩa phương pháp luận của phép biện chứng duy vật 10

1.3.1 Nguyên tắc toàn diện trong nhận thức và thực tiễn 10

1.3.2 Nguyên tắc lịch sử-cụ thể trong nhận thức và thực tiễn 11

1.3.3 Nguyên tắc phát triển trong nhận thức và thực tiễn 11

1.4 Tính tất yếu phải phát triển kinh tế gắn liền với bảo vệ môi trường 11

II Mối quan hệ biện chứng giữa đường lối tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường sinh thái của Đảng CSVN 12

2.1 Đường lối tăng trưởng kinh tế 12

2.1.1 Khái niệm 12

2.1.2 Đặc điểm đường lối tăng trưởng kinh tế theo các thời kỳ 13

2.2 Bảo vệ môi trường sinh thái 16

2.2.1 Môi trường sinh thái 16

2.2.2 Vai trò bảo vệ môi trường sinh thái với sự phát triển của xã hội 19

2.3 Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường sinh thái 20

2.3.1 Tác động qua lại của đường lối tăng trưởng kinh tế đến môi trường sinh thái và ngược lại 21

2.3.2 Những vấn đề đặt ra giữa mục tiêu, chiến lược tăng trưởng kinh tế đến bảo vệ môi trường sinh thái và ngược lại 22

III Thực trạng và giải pháp cân bằng giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường sinh thái 24

3.1 Hiện trạng biến đổi môi trường sinh thái ở VN 24

3.1.1 Rừng tiếp tục bị thu hẹp 24

3.1.2 Ô nhiễm biển, sông ngòi 25

3.1.3 Bãi rác công nghệ và chất thải 26

3.1.4 Ô nhiễm từ sản xuất nông nghiệp 26

3.1.5 Ô nhiễm ở các làng nghề 27

3.1.6 Khai thác khoáng sản 28

3.1.7 Ô nhiễm không khí 28

Trang 4

3.2 Một số quan điểm giải quyết mâu thuẫn giữa tăng trường kinh tế và bảo vệ môi trường 29

3.2.1 Phát triển nhanh gắn liền với phát triển bền vững 29

3.2.2 Đổi mới đồng bộ, phù hợp về kinh tế và chính trị vì mục tiêu xây dựng nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh 30

3.2.3 Mở rộng dân chủ, phát huy tối đa nhân tố con người; coi con người là chủ thể, nguồn lực chủ yếu và là mục tiêu của sự phát triển 30

3.2.5 Xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ ngày càng cao trong điều kiện hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng 31

3.3 Giải pháp cân bằng giữa tăng trường kinh tế và bảo vệ môi trường sinh thái 31

3.3.1 Tăng cường quản lý nhà nước 31

3.3.2 Biện pháp giáo dục 32

3.3.3 Hợp tác quốc tế 33

3.3.4 Áp dụng khoa học công nghệ 34

IV Kết luận 35

Tài liệu tham khảo 36

Trang 5

MỞ ĐẦU

Tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường sinh thái hiện nay đang trởthành vấn đề vô cùng bức xúc và được sự quan tâm của tất cả các nước trên thếgiới, đặc biệt trong bối cảnh môi trường đã và đang bị tàn phá, ảnh hưởng nặng

nề bởi một giai đoạn khá dài các nước chạy theo mục tiêu phát triển kinh tếnhanh, không quan tâm tới bảo về và giữ gìn môi trường Bất kỳ một quốc gianào, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển, do vận dụng theo mô hình kinh tếthị trường dù hoàn toàn hay một phần, với quy luật giá trị được đặt lên hàng đầu

đã làm cho đại bộ phận các nền kinh tế và các chủ thế kinh tế chạy theo mục tiêutăng trưởng, lợi nhuận mà bỏ qua yếu tố giữ gìn môi trường sinh thái nên đã gây

ra hàng loạt những hệ lụy như: khai thác tài nguyên một cách kiệt quệ, gây ônhiễm môi trường đất, nước, không khí, làm mất cân bằng đa dạng sinh học Đây là một trong những nguyên nhân chủ yếu gây ra các hệ quả như hiện tượngthủng tầng Ozone, hiệu ứng nhà kính, Trái Đất nóng lên, các thảm họa thiênnhiên như: mưa, bão, hạn hán, cháy rừng, diễn ra với cường độ nhanh, mạnh,tần suất dày đặc và mức độ nguy hiểm ngày càng tăng cao đe dọa cuộc sống củacon người Đứng trước thực trạng này, mọi quốc gia cần phải nhận thức đượcvấn đề bảo vệ môi trường là một chiến lược quan trọng trong các chiến lượcphát triển, tăng trường kinh tế hàng năm hoặc qua các thời kỳ, giai đoạn

Việt Nam vẫn là một nước đang phát triển, sản xuất nông nghiệp là chủyếu với trình độ canh tác chưa cao, chưa chú trọng yếu tố bảo vệ môi trường,ngành công nghiệp và thương mại dịch vụ phát triển chưa gắn liền với đảm bảomôi trường bền vững Thời gian gần đây, Việt Nam đã chịu nhiều ảnh hưởng bởi

hệ lụy của một thời gian dài phát triển mà không chú trọng tới đảm bảo tính bềnvững của môi trường như môi trường đất và nước bị ô nhiễm nghiêm trọng do

sử dụng phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vật quá nhiều, rác thải côngnghiệp, làng nghề, không được xử lý trước khi đưa ra môi trường, tình trạngchặt phá rừng vì mục đích kinh tế làm cho tình trạng lũ quét, sạt lở đất diễn ra

vô cùng nghiêm trọng Đảng và Nhà nước ta đã xác định môi trường bền vững là

Trang 6

nhân tố ưu tiên trong chiến lược phát triển kinh tế Thực tế hiện nay, Việt Namcũng đã và đang rất tích cực tham gia vào các tổ chức, hiệp hội, ký các công ướcvới các nước trên thế giới để đảm bảo mục tiêu tăng trưởng kinh tế nhưng phải

đi đôi với bảo vệ môi trường sinh thái.Chiến lược phát triển kinh tế gắn với bảo

vệ môi trường không những là ưu tiên hàng đầu mà còn là vấn đề mang tínhsống còn của sự phát triển của các quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam

Do đó, đề tài “Phép biện chứng duy vật với đường lối tăng trưởng kinh tế và bảo

vệ môi trường sinh thái của Đảng CSVN” có ý nghĩa thực tiễn vô cùng quantrọng đối với Việt Nam trong việc đề ra chiến lược phát triển kinh tế đúng đắntrong thời gian tới

I Phép biện chứng duy vật – phương pháp luận nhận thức khoa học và thực tiễn.

1.1.Khái niệm phép biện chứng duy vật

Phép biện chứng duy vật được xây dựng từ việc kế thừa có chọn lọcnhững thành tựu của các nhà khoa học trước, dựa trên cơ sở khái quát nhữngthành tựu khoa học mới nhất thế kỷ XIX cũng như thực tiễn lịch sử loài và thựctiễn xã hội, C Mác và Ph.Ăngghen đã sáng lập nên chủ nghĩa duy vật biệnchứng và phép biện chứng duy vật Sau này, V.I Lênin đã tiếp tục phát triển vàođầu thế kỷ XX, phát triển phép biện chứng lên hình thức mới về chất là phépbiện chứng duy vật

Phép biện chứng duy vật là sự thống nhất hữu cơ giữa thế giới quan duyvật và phương pháp luận biện chứng (hay giữa lý luận và phương pháp) Hệthống các quy luật, phạm trù của nó không chỉ phản ánh đúng đắn những quyluật cơ bản chung nhất của sự vận động và phát triển của thế giới Phép biệnchứng duy vật được xây dựng trên cơ sở một hệ thống những nguyên lý, nhữngphạm trù cơ bản, những quy luật phổ biến nhằm phản ánh đúng đắn hiện thựcthế giới khách quan đồng thời chỉ ra những cách thức để định hướng cho conngười trong nhận thức thế giới và cải tạo thế giới Vì thế Ph.Ăngghen đã đưa rađịnh nghĩa “phép biện chứng chẳng qua chỉ là môn khoa học về những quy luật

Trang 7

phổ biến của sự vận động và sự phát triển của tự nhiên, của xã hội loài người vàcủa tư duy”.

1.2.Bản chất của phép biện chứng duy vật

1.2.1 Hai nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vật

1.2.1.1.Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến

Các sự vật, hiện tượng trong thế giới chỉ biểu hiện sự tồn tại của mìnhthông qua sự vận động liên tục và sự tác động qua lại không ngững lẫn nhau.Bảnchất tính quy luật của sự vật, hiện tượng cũng chỉ bộc lọ thông qua sự tác độngqua lại giữa các mặt của bản thân chúng hay sự tác động của chúng đối với các

sự vật, hiện tượng khác trong thực tế Do đó, để đánh giá sự tồn tại, bản chất củamột con người hay một sự vật hiện tượng tự nhiên, chúng ta phải thông qua mốiliên hệ, sự tác động của con người, sự vật đó với người khác, với sự vật khác,với xã hội và tự nhiên thông qua các hoạt động khác nhau Nguyên lý về mốiliên hệ phổ biến được thể hiện rõ rệt thông qua:

i) Bất cứ sự vật, hiện tượng nào cũng liên hệ với sự vật, hiện tượng khác,không có bất cứ sự vật, hiện tượng nào nằm ngoài mối liên hệ

ii) Mối liên hệ biểu hiện dưới những hình thức riêng biệt tùy theo điềukiện nhất định tuy nhiên nó đều chỉ là biểu hiện của mối liên hệ phổ biến nhất,chung nhất dưới những hình thức liên hệ riêng rẽ, cụ thể, được các nhà khoa họcnghiên cứu

iii) Nghiên cứu mối liên hệ của các sự vật, hiện tượng trong thế giới sẽ thấy rõđược tính đa dạng, nhiều vẻ, nhiều chiều, nhiều khía cạnh của các sự vật, hiện tượng đó

Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến đưa ra khái quát bức tranh toàn cảnhnhững mối liên hệ của thế giới (tự nhiên, xã hội và tư duy) Phép duy vật biệnchứng phân chia các mối liên hệ chỉ mang tính tương đối, tuy nhiên sự phân chianày lại vô cùng cần thiết bởi mỗi loại mối liên hệ có vị trí, vai trò xác định trong

sự vận động và phát triển của sự vật Con người sẽ dựa vào đó để có cách tácđộng phù hợp, nhằm đưa lại hiệu quả cao nhất trong các hoạt động của mình

1.2.1.2.Nguyên lý về sự phát triển

Trang 8

Sự phát triển, trong đó sự vật mới ra đời thay thế sự vật cũ là hiện tượngdiễn ra không ngừng trong tự nhiên, trong xã hội, trong bản thân con người vàtrong tư duy Sự phát triển thể hiện rất khác nhau trong hiện thực tùy theo hìnhthức tồn tại cụ thể của từng dạng vật chất Sự phát triển của giới vô cơ được thểhiện dưới dạng biến đổi các yếu tố và hệ thống vật chất, sự tác động qua lại giữachúng và trong các điều kiện nhất định sẽ làm nảy sinh các hợp chất phức tạp –các hợp chất hữu cơ ban đầu, tiền đề của sự sống Tuy nhiên, sự phát triển tronggiới hữu cơ thể hiện ở khả năng thích nghi của sinh vật với sự biến đổi phức tạpcủa môi trường, sự hoàn thiện thường xuyên quá trình trao đổi chất giữa cơ thể

và môi trường ở khả năng tự sản sinh ra chính mình với trình độ ngày càng caohơn, từ đó làm xuất hiện ngày càng nhiều các giống loài mới phù hợp với môitrường sống Như vậy, sự phát triển trong đó sự vật mới ra đời thay thế sự vật

cũ có thể là vận động đi lên, vận động tuần hoàn thậm chí là vận động đi xuống.Tuy nhiên, xét cả quá trình vậnđộng với không gian rộng và thời gian dài thì quátrình vận động đi lên luôn là xu hướng chung của mọi sự vật

Phép duy vật biện chứng khẳng định sự phát triển luôn mang tính kháchquan, không phụ thuộc ý muốn, nguyện vọng, ý chí, ý thức của con người mànằm ngay trong bản thân sự vật.Sự phát triển mang tính phổ biến vì nó diễn ra ởmọi lĩnh vực của tự nhiên, xã hội và tư duy, ở bất cứ sự vật, hiện tượng nào củathế giới khách quan.Bên cạnh đó, phát triển còn mang tính đa dạng phong phúkhi mà mỗi sự vật hiện tượng lại có quá trình phát triển không giống nhau, tồntại ở những không gian khác nhau, thời gian khác nhau

1.2.2 Các quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật

Ba quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật có ý nghĩa phương phápluận chỉ đạo mọi hoạt động của con người để thực hiện quan điểm toàn diện,quan điểm phát triển và quan điểm lịch sử - cụ thể về phương diện vạch ranguồn gốc, động lực, cách thức và xu hướng phát triển tiến lên của các sự vật,hiện tượng trong thế giới Đó là ba quy luật:

1.2.2.1.Quy luật chuyển hoá

Trang 9

Từ những biến đổi về lượng dẫn tới những biến đổi về chất và ngược lại:gọi là quy luật lượng - chất Quy luật này phản ánh cách thức, cơ chế của quátrình phát triển, là cơ sở phương pháp luận chung để nhận thức và thúc đẩy quátrình phát triển của sự vật với 3 yêu cầu cơ bản là:

- Thường xuyên và tăng cường tích luỹ về lượng để tạo điều kiện cho sựthay đổi về chất Chống chủ nghĩa duy ý chí muốn đốt cháy giai đoạn

- Khi lượng được tích luỹ đến giới hạn độ, phải mạnh dạn thực hiện bướcnhảy vọt cách mạng, chống thái độ bảo thủ, trì trệ

- Vận dụng linh hoạt các hình thức nhảy vọt để đẩy nhanh quá trình phát triển

1.2.2.2.Quy luật đấu tranh và thống nhất giữa các mặt đối lập

Quy luật đấu tranh và thống nhất giữa các mặt đối lập còn được gọi là quyluật mâu thuẫn.Quy luật này là hạt nhân của phép biện chứng.Nó vạch ra nguồngốc, động lực của sự phát triển, phản ánh quá trình đấu tranh giải quyết mâuthuẫn bên trong sự vật Từ đó, phải vận dụng nguyên tắc mâu thuẫn mà yêu cầu

cơ bản của nó là phải nhận thức đúng đắn mâu thuẫn của sự vật, trước hết làmâu thuẫn cơ bản và mâu thuẫn chủ yếu, phải phân tích mâu thuẫn và quá trìnhđấu tranh giải quyết mâu thuẫn Đấu tranh là phương thức giải quyết mâu thuẫn.Tuy nhiên, hình thức đấu tranh rất đa dạng, linh hoạt, tuỳ thuộc mâu thuẫn cụthể và hoàn cảnh lịch sử cụ thể

1.2.2.3.Quy luật phủ định của phủ định

Quy luật này khái quát khuynh hướng phát triển tiến lên theo hình thứcxoáy ốc thể hiện tính chất chu kỳ trong quá trình phát triển Đó là cơ sở phươngpháp luận của nguyên tắc phủ định biện chứng, chỉ đạo mọi phương pháp suynghĩ và hành động của con người Phủ định biện chứng đòi hỏi phải tôn trọngtính kế thừa, nhưng kế thừa phải có chọn lọc, cải tạo, phê phán, chống kế thừanguyên xi, máy móc và phủ định sạch trơn, chủ nghĩa hư vô với quá khứ.Nguyên tắc phủ định biện chứng trang bị phương pháp khoa học để tiếp cận lịch

sử và tiên đoán, dự kiến những hình thái cơ bản của tương lai

1.2.3 Các cặp phạm trù

Trang 10

Bên cạnh 3 quy luật cơ bản, nội dung của phép biện chứng duy vật cònbao gồm các cặp phạm trù không cơ bản:

- Cặp phạm trù cái riêng - cái chung và cái đơn nhất

- Cặp phạm trù tất nhiên - ngẫu nhiên

- Cặp phạm trù nguyên nhân - kết quả

- Cặp phạm trù bản chất - hiện tượng

- Cặp phạm trù khả năng - hiện thực

- Cặp phạm trù nội dung - hình thức

Tóm lại, mỗi nguyên lý, phạm trù, quy luật của phép biện chứng duy vật

có ý nghĩa phương pháp luận quan trọng.Vì vậy, chúng phải được vận dụng tổnghợp trong nhận thức khoa học thực tiễn cách mạng

1.3.Ý nghĩa phương pháp luận của phép biện chứng duy vật

Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển của phépbiện chứng duy vật là cơ sở lý luận của nguyên tắc toàn diện, nguyên tắc lịch sử-

cụ thể và nguyên tắc phát triển

1.3.1 Nguyên tắc toàn diện trong nhận thức và thực tiễn

Nguyên tắc toàn diện đòi hỏi chúng ta phải xem xét sự vật, hiện tượng vớitất cả các mặt, các mối liên hệ; đồng thời phải đánh giá đúng vai trò, vị trí củatừng mặt, từng mối liên hệ; nắm được mối liên hệ chủ yếu có vai trò quyết định

Sự vận dụng quan điểm toàn diện trong sự nghiệp cách mạng:

- Trong Cách mạng dân tộc dân chủ: Đảng ta vận dụng quan điểm toàndiện trong phân tích mâu thuẫn xã hội, đánh giá so sánh lực lượng giữa ta vớiđịch, tạo ra và sử dụng sức mạnh tổng hợp

- Trong công cuộc đổi mới, Đảng ta tiến hành đổi mới toàn diện, triệt để;đồng thời phải xác định khâu then chốt Nắm vững mối quan hệ giữa đổi mớikinh tế, đổi mới chính trị và đổi mới tư duy

Đối lập với nguyên tắc toàn diện của phép biện chứng, quan điểm siêuhình xem xét sự vật, hiện tượng một cách phiến diện Nó không xem xét tất cảcác mặt, các mối liên hệ của sự vật, hiện tượng; hoặc xem mặt này tách rời mặtkia, sự vật này tách rời sự vật khác.Chủ nghĩa chiết trung thì kết hợp các mặt

Trang 11

một cách vô nguyên tắc, kết hợp những mặt vốn không có mối liên hệ với nhauhoặc không thể dung hợp được với nhau Thuật nguỵ biện thì cường điệu mộtmặt, một mối liên hệ; hoặc lấy mặt thứ yếu làm mặt chủ yếu.

1.3.2 Nguyên tắc lịch sử-cụ thể trong nhận thức và thực tiễn

Nguyên tắc lịch sử-cụ thể đòi hỏi phải xem xét sự vật hiện tượng trongquá trình vận động phát triển: nó ra đời trong điều kiện như thế nào? trải quanhững giai đoạn phát triển như thế nào? mỗi giai đoạn có tính tất yếu và đặcđiểm như thế nào?

1.3.3 Nguyên tắc phát triển trong nhận thức và thực tiễn

Nguyên tắc phát triển đòi hỏi khi xem xét sự vật, hiện tượng phải nhìnthấy khuynh hướng biến đổi trong tương lai của chúng: cái cũ, cái lạc hậu sẽ mất

đi cái mới, cái tiến bộ sẻ ra đời thay thế cái cũ, cái lạc hậu

1.4.Tính tất yếu phải phát triển kinh tế gắn liền với bảo vệ môi trường

Phát triển kinh tế gắn với bảo vệ môi trường là một tất yếu khách quanvừa là yêu cầu bức thiết đối với mỗi quốc gia trên thế giới, đặc biệt khi các tácđộng của con người lên môi trường tự nhiên ngày càng nghiêm trọng gây nênnhững hậu quả không lường đe dọa trực tiếp tới sức khỏe, đời sống và sự tồn tạicủa con người Các nhà máy, xí nghiệp mọc lên như nấm, lượng khí thải, chấtthải đổ ra môi trường ngày càng nhiều; lượng rác thải của con người tăng lênhàng ngày, hàng giờ và chưa được thu gom, xử lý đúng cách làm ô nhiềm nguồnnước, không khí sống; sự phát triển của các phương tiện giao thông vận tải làmtăng lượng xả khí thải ra môi trường; rác công nghiệp …

Việt Nam đang đối mặt với vô vàn thách thức do phát triển kinh tế khôngchú trọng tới bảo vệ môi trường trong thời gian gần đây như ô nhiềm nguồnnước do rác thải công nghiệp ô nhiễm đất do khai thác than đá, quặng có sửdụng hóa chất độc hại, ô nhiễm không khí do sản xuất nông nghiệp sử dụng cácphương tiện thô sơ,đốt lò đất thủ công,đốt cao su làm nhựa đường…Do đó cựuthủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã nhận định “môi trường bị ô nhiễm, tài nguyên

bị cạn kiệt, rừng bị tàn phá, đất bị xói mòn và tình trạng sa mạc hóa, biến đổi khíhậu, nguy cơ nước biển dâng… làm thu hẹp không gian sinh tồn của con người

Trang 12

chẳng những tác động tiêu cực đến cuộc sống hiện tại mà còn đe dọa sự pháttriển của các thế hệ tương lai” là thách thức to lớn trên con đường phát triển củaViệt Nam trong thời gian tới Vì vậy, phát triển kinh tế phải gắn chặt với bảo vệ

và cải thiện môi trường, chủ động đối phó với hiểm họa nước biển dâng, sửdụng công nghệ tiết kiệm nguyên liệu, nang lượng, phát triển kinh tế xanh cầnđược thể hiện trong toàn bộ kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của cả nước cũngnhư trong từng lĩnh vực ở từng địa phương, đơn vị

II Mối quan hệ biện chứng giữa đường lối tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường sinh thái của Đảng CSVN

2.1.Đường lối tăng trưởng kinh tế

- Sự tăng lên của tổng sản phẩm quốc nội (GDP), tổng sản phẩm quốcdân (GNP) và tổng sản phẩm quốc dân tính theo đầu người

- Sự biến đổi cơ cấu kinh tế theohướng tiến bộ, thể hiện ở các ngành dịch

vụ và công nghiệp trong tổng sản phẩm quốc dân tăng lên, còn tỷ trọng nôngnghiệp ngày càng giảm xuống

- Mức độ thoả mãn các nhu cầu cơ bản của xã hội thể hiện bằng sự tăng lêncủa thu nhập thực tế, chất lượng giáo dục, y tế… mà mỗi người dân được hưởng

Như vậy, phát triển kinh tế là mục tiêu và ước vọng của các dân tộc trongmọi thời đại

2.1.1.2 Môi trường sinh thái – kinh tế môi trường

Môi trường là một khái niệm tổng hợp, phức tạp, mang tính mở và phát triểncùng với sự phát triển của khoa học – công nghệ nói riêng, của nền kinh tế - xã hội

và nhận thức của loài người nói chung

Trang 13

Kinh tế môi trường là một ngành khoa học đa ngành và mới mẻ, lấy cácvấn đề môi trường làm đối tượng nghiên cứu chính của mình và tiếp cận chủ yếuchúng dưới góc độ kinh tế.

Môi trường là toàn bộ các vùng địa - vật lí và sinh học, các điều kiện vềvật chất - tự nhiên, bao gồm sinh quyển (không khí, nước, đất, ánh sáng…) và

hệ sinh thái với tư cách là sản phẩm của tạo hoá, có trước con người, tương táclẫn nhau, và cùng tác động đến sự hình thành và phát triển của con người cùngcác hoạt động xã hội của họ Bản thân các hoạt động sinh tồn của con ngườicũng đang ngày càng làm thay đổi môi trường một cách mạnh mẽ

2.1.2 Đặc điểm đường lối tăng trưởng kinh tế theo các thời kỳ

Kinh tế Việt Nam trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội (từ 1975 đếnnay) trải qua hai giai đoạn:

- Giai đoạn I: từ năm 1975 đến năm 1986, giai đoạn nền kinh tế chỉ huymang tính chất tập trung quan liêu, bao cấp

Trong giai đoạn này, cơ cấu quản lý kinh tế của nước ta là tập trung quanliêu bao cấp, theo đó nền kinh tế tồn tại là nền kinh tế mệnh lệnh chỉ huy Đảng

và Nhà nước chỉ công nhận duy nhất hai thành phần kinh tế: thành phần kinh tếNhà nước và thành phần kinh tế tập thể Các thành phần kinh tế tư nhân khôngđược phép tồn tại và hoạt động

Nền kinh tế của một nước phản ánh mối quan hệ giữa quan hệ sản xuất vàlực lượng sản xuất.Sự phát triển của nền kinh tế cũng phản ánh sự phù hợp củahai yếu tố trên Ở nước ta giai đoạn này, trong khi lực lượng sản xuất còn chưaphát triển và mức độ phát triển không đồng đều, sản xuất nhỏ thủ công là phổbiến, trình độ phân công lao động và xã hội hóa rất thấp thì chúng ta lại xây dựngnền kinh tế mệnh lệnh, chỉ huy Nhà nước chỉ ưu tiên, chú trọng bảo hộ cho kinh

Trang 14

tế quốc doanh và kinh tế tập thể, coi hai thành phần kinh tế là kinh tế XHCN, còncác thành phần kinh tế khách bị coi là mầm mống của CNTB nên bị xóa bỏ hoàntoàn Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng năm 1976, Đảng ta đãxác định đường lối kinh tế dựa trên đường lối phát triển chung của đất nước, trong

đó có một vài điểm đáng lưu ý sau: “Đẩy mạnh công nghiệp hóa XHCN, xâydựng vật chất kỹ thuật của CNXH, đưa nền kinh tế nước ta từ sản xuất nhỏ lênsản xuất lớn XHCN, xây dựng chế độ làm chủ tập thể XHCN Ưu tiên phát triểncông nghiệp nặng một cách hợp lý trên cơ sở phát triển nông nghiệp và côngnghiệp nhẹ…” Tuy nhiên, việc xác định mục tiêu chặng đường đầu tiên của thời

kỳ quá độ của Đảng là chưa rõ ràng, hơn nữa Đảng đã phạm sai lầm trong việcxác định bước đi về xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, về cải tạo XHCN, về việc

áp dụng cơ cấu quản lý kinh tế… trong hoàn cảnh nước tacơ sở vật chất kỹ thuậtcòn thấp kém, công nghệ lạc hậu, sản xuất nông nghiệp là chính

Trong thời kỳ này, do ảnh hưởng của điều kiện lịch sử, chúng ra đã saochép rập khuôn mô hình phát triển kinh tế xã hội và cơ cấu quản lý kinh tế củacác nước XHCN Có thể nói, nền kinh tế mệnh lênh – chỉ huy mang tính chất tậptrung, quan liêu, bao cấp là phù hợp với hoàn cảnh có chiến tranh, bởi lúc đómục tiêu chung và lớn nhất của cả nước là hoàn thành cách mạng dân tộc dânchủ nhân dân, giải phóng đất nước để tiếp tục tiến hành cách mạng XHCN Vìthế, việc tập trung sức người sức của cho cuộc chiến tranh chính nghĩa là hết sứccần thiết.Điều đó tạo nên sức mạnh to lớn của toàn dân, nhanh chóng hoàn thànhcách mạng dân tộc dân chủ nhân dân để tiến tới cách mạng XHCN Tuy nhiên,khi đất nước đã giành thống nhất, thời kỳ quá độ được thực hiện trong phạm vi

cả nước, nền kinh tế tập trung bao cấp này không còn phù hợp với hoàn cảnh đấtnước Kinh tế phát triển thụ động và thiếu linh hoạt, các nguồn lực không đượckhai thác triệt để, sản xuất kém hiệu quả do cách làm việc cứng nhắc…Và hậuquả tất yếu là năm 1979 và năm 1985-1986, nền kinh tế-xã hội nước ta lâm vàocuộc khủng hoảng: tình trạng lạm phát trầm trọng (cao nhất là năm 1985 với tỉ lệlạm phát là 600%), sản xuất trì truệ, hàng hóa khan hiếm, giá cả tăng vọt, đời

Trang 15

sống người dân khó khăn…Điều này đã tạo áp lực lớn đối với sự phát triển củađất nước Do đó, sự nghiệp đổi mới được bắt đầu ngay từ áp lực này.

Trong cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH(năm 1991), Đảng đã chỉ ra nguyên nhân của những sai lầm trong giai đoạn này:

“Đảng đã sai phạm sai lầm chủ quan duy ý chí, vi phạm quy luật khách quan,nóng vội trong cải tạo XHCN, xóa bỏ ngay nền kinh tế nhiều thành phần, cómức đẩy mạnh quá mức việc xây dựng công nghiệp nặng, duy trì quá lâu cơ chếquản lý tập trung quan liêu, bao cấp, có nhiều chủ trương sai trong việc cải cáchgiá cả, tiền tệ, tiền lương…” Đó là bài học tổng kết những thời kỳ lãnh đạo củaĐảng đối với sự phát triển của đất nước nói chung và nền kinh tế nói riêng Dođiều kiện lịch sử, nhận thức bước đầu của Đảng về con đường đi lên XHCN ởnước ta còn chưa đúng đắn mặc dù vậy, điều này cũng tạo điều kiện để Đảngtừng bước bổ sung, phát triển và hoàn chỉnh, làm cho con đường đó ngày càng

rõ ràng hơn trong những giai đoạn sau

- Giai đoạn II: từ năm 1986 đến nay, Việt Nam xây dựng nền kinh tế hànghóa nhiều thành phần theo định hướng XHCN, vận hành theo cơ chế thị trường có sựquản lý của Nhà nước (gọi tắt là nền kinh tế thị trường định hướng XHCN)

Chúng ra thực sự có chính sách đổi mới từ Đại hội Đảng lần thứ VI 1986) chủ trương thực hiện thành công trong báo cáo chính trị thì có 5 nhiệm vụliên quan đến đổi mới kinh tế:

(12- Xây dựng và tổ chức thực hiện ba chương trình về lương thực – thựcphẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu

 Thực hiện nhiệm vụ cải tạo XHCN một cách thường xuyên với nhữnghình thức và bước đi thích hợp, làm cho QHSX phù hợp với tính chất và trình độcủa LLSX, thúc đẩy sự phát triển của LLSX

 Đổi mới cơ chế quản lý kinh tế

 Giải quyết cho được những vấn đề cấp bách về phân phối, lưu thông

 Phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động…

Tiếp đó, bên cạnh việc tổng kết thực tiễn, bài học kinh nghiệm sau mộtthời gian quá độ lên CHXH, Đại hội Đảng lần thứ VII của Đảng đã cụ thể hóa

Trang 16

đường lối phát triển, đề ra những phương hướng rõ ràng đối với đất nước tatrong thời kỳ quá độ lên XHCN Trong cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời

kỳ quá độ lên CNHX (1991), Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định: “ Nước

ta quá độ lên CNHX, bỏ qua chế độ tư bản,…Các thế lực thù địch thường xuyêntìm cách phá hoạt chế độ xã hội và nền độc lập của nhân dân ta.” Đồng thời,phương hướng cơ bản về xây dựng nền kinh tế ở nước ta được xác định là: “…Phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng XHCN, vậnhành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước Kinh tế quốc doanh vàkinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng của nền kinh tế quốc dân…” Sựphát triển của nền kinh tế thị trường ở Việt Nam cần có định hướng XHCN củaĐảng, có sự quản lý của Nhà nước để tránh lệch hướng và hạn chế những mặttrái tiêu cực của kinh tế thị trường

Như vậy đặc trưng của thời kỳ quá độ lên XHCN ở nước ta là bỏ qua chế

độ TBCN, từ phong kiến lạc hậu tiến thẳng lên XHCN Việc xác định được vấn

đề “ bỏ qua chế độ TBCN” chứ không phải “bỏ qua giai đoạn TBCN” là mộtbước tiến quan trọng trong nhận thức của Đảng ta

2.2 Bảo vệ môi trường sinh thái

2.2.1 Môi trường sinh thái

Môi trường sinh thái là một mạng lưới chỉnh thể có mối liên quan chặt chẽvới nhau giữa đất, nước, không khí và các cơ thể sống trong phạm vi toàn cầu

Vai trò của môi trường:

Môi trường là không gian sinh sống cho con người và thế giới sinh vật.Trên không gian do môi trường cung cấp, con người thực hiện các hoạt độngsống của mình, trong đó có quá trình sản xuất của cải vật chất Nói một cách cụthể, đối với quá trình sản xuất, môi trường đã cung cấp mặt bằng và phông tựnhiên cho sản xuất nông – lâm – ngư nghiệp

Môi trường là nơi chứa đựng các nguồn tài nguyên cần thiết cho đời sống

và sản xuất của con người Xét về bản chất thì mọi hoạt động của con người đểduy trì cuộc sống đều nhằm vào việc khai thác các hệ thống sinh thái của tự

Trang 17

nhiên thông qua lao động cơ bắp, vật tư công cụ và trí tuệ Với sự hỗ trợ của các

hệ thống sinh thái, con người đã lấy từ tự nhiên những nguồn tài nguyên thiênnhiên cần thiết phục vụ cho việc sản xuất ra của cải vật chất nhằm đáp ứng nhucầu của mình.Thiên nhiên là nguồn cung cấp mọi nguồn tài nguyên cần thiết.Nócung cấp nguồn vật liệu, năng lượng, thông tin cần thiết cho hoạt động sinhsống, sản xuất và quản lý của con người Nhu cầu của con người và các nguồntài nguyên không ngừng tăng lên cả về số lượng, chất lượng và mức độ phức tạptheo trình độ phát triển của xã hội Các loại tài nguyên được khai thác bao gồm:

Rừng tự nhiên: cung cấp nước, bảo tồn tính đa dạng sinh học và độ phìnhiêu của đất, nguồn gỗ, củi, dược liệu và cải thiện điều kiện sinh thái…

Các thủy vực: cung cấp nước, dinh dưỡng, nơi vui chơi giải trí và cácnguồn thủy hải sản…

Động thực vật: cung cấp lương thực, thực phẩm và các nguồn gen quýhiếm…

Không khí, nhiệt độ, năng lượng mặt trời, gió, nước: để con người hít thở,cung cấp năng lượng cho sản xuất…

Các loại quặng, dầu mỏ: Cung cấp năng lượng và nguyên liệu cho cáchoạt động sản xuất nông nghiệp…

Môi trường là nơi chứa đựng các chất phế thải do con người tạo ra trongcuộc sống và hoạt động sản xuất Trong quá trình sản xuất và tiêu dùng của cảivật chất, con người luôn đào thải ra các chất thải vào môi trường.Thời kỳ sơkhai, khi dân số nhân loại còn ít, chủ yếu do các quá trình phân hủy tự nhiên làmcho chất thải sau một thời gian biến đổi nhất định lại trở lại trạng thái nguyênliệu của tự nhiên Nhưng ngày nay, do dân số thế giới tăng lên nhanh chóngcùng quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa làm số lượng chất thải tăng lênkhông ngừng khiến chức năng phân hủy tự nhiên của môi trường quá tải, gây ônhiễm môi trường Nếu phân loại chi tiết, có thể chia chức năng này ra thành cácloại sau:

- Chức năng biến đổi lý – hóa học

- Chức năng biến đổi sinh hóa

Ngày đăng: 26/08/2016, 23:33

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w