1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩ lịch sử chính sách của hoa kỳ đối với cộng hòa nhân dân trung hoa trong cuộc chiến tranh triều tiên (1950 – 1953)

116 500 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 13,47 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bên cạnh đó, việc nghiên cứu về chính sách của Hoa Kỳ đối với CHND Trung Hoa trong giai đoạn đầu mới thành lập tới khi cuộc chiến tranh Triều Tiên kết thúc để thấy tác động của nó đến mố

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH



BÙI THỊ THÙY LINH

CHÍNH SÁCH CỦA HOA KỲ ĐỐI VỚI CỘNG HÒA NHÂN DÂN TRUNG

TRIỀU TIÊN (1950 – 1953)

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

Thành phố Hồ Chí Minh – 2011

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH



BÙI THỊ THÙY LINH

CHÍNH SÁCH CỦA HOA KỲ ĐỐI VỚI CỘNG HÒA NHÂN DÂN TRUNG HOA TRONG CUỘC CHIẾN TRANH TRIỀU TIÊN

Trang 3

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CIA 0Central Intelligence Agency

Cơ quan tình báo trung ương Mỹ

COCOM Uỷ ban khống chế xuất khẩu với các nước cộng sản

Hội đồng an ninh quốc gia Mỹ

Hội đồng tham mưu trưởng liên quân Mỹ

Trang 5

3 3 Bước phát triển mới của cuộc chiến tranh5 63

3 3 1 Chính quyền Eisenhower với cuộc chiến tranh Triều Tiên 63

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 5Lý do chọn đề tài, mục đích nghiên cứu

“Không ai được lợi gì nếu Mỹ và Trung Quốc coi nhau là đối thủ” Đó là lời tuyên bố của

Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton vào ngày 28/10/2010 tại Hawaii trong bài phát biểu mang tính tổng quát nhất về chiến lược Châu Á của Mỹ nhằm bác bỏ những suy đoán về việc Mỹ muốn kiềm chế Trung Quốc [114]

Quả đúng như vậy, Hoa Kỳ và Trung Quốc là hai đại cường hàng đầu trong vùng Châu Á – Thái Bình Dương Cũng chính vì thế, mối quan hệ Mỹ - Trung đã trở thành cặp quan hệ quan trọng nhất, có tính chất chiến lược ở khu vực này Suốt hơn 40 năm chiến tranh lạnh, quan hệ Mỹ - Trung luôn luôn thay đổi và sau chiến tranh lạnh quan hệ đó vẫn chưa thể gọi là ổn định Những thăng trầm trong mối quan hệ song phương giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc dù trong tình trạng tốt hay xấu cũng luôn tạo nên những hệ lụy to lớn đối với an ninh, hòa bình và ổn định của khu vực cũng như của toàn thế giới Và những sóng gió trong mối quan hệ này phần lớn xuất phát từ những chính sách của Hoa Kỳ đối với Trung Quốc

Quan hệ quốc tế vốn dĩ rất phức tạp nhưng chưa có mối quan hệ nào lại phức tạp như quan hệ

giữa Hợp chúng quốc Hoa Kỳ và CHND Trung Hoa Trong quá khứ cũng như hiện tại, quan hệ giữa hai nước trải qua nhiều bước thăng trầm, mà một trong những lúc xấu nhất là cuộc đối đầu trực tiếp bằng bạo lực quân sự giữa Trung Quốc với Mỹ trên bán đảo Triều Tiên Đó là sự mở đầu cho giai đoạn thứ nhất của quan hệ Hoa Kỳ và CHND Trung Hoa - giai đoạn căng thẳng và xung đột là chủ yếu

Trong cuộc đụng đầu trực tiếp đầu tiên và cũng là duy nhất ấy, Mỹ đã có những toan tính gì đối với một đối thủ mới ở khu vực Châu Á? Tại sao Omar Bradley – Chủ tịch SJC – đã phải thốt lên khi nhận xét cuộc chiến tranh Triều Tiên là một cuộc chiến tranh không đúng thời điểm, không đúng chỗ và không đúng đối tượng (The wrong war, in the wrong place, at the wrong time, with the wrong enemy) [95, 3] Những câu hỏi và vấn đề đại loại như thế còn có thể nối dài thêm đã từ lâu thu hút sự quan tâm nghiên cứu của giới học giả trong và ngoài nước Nhất là trong thời điểm hiện nay, tình hình bán đảo Triều Tiên liên tục ở trong tình trạng căng thẳng Nguy cơ tái diễn một cuộc chiến tranh vốn đã tạm ngưng ở đây suốt hơn nửa thế kỷ lại trở nên cận kề hơn bao giờ hết Chính vì thế cho tới nay, cuộc chiến tranh Triều Tiên vẫn luôn thu hút sự quan tâm của nhiều học giả và vẫn đang được nghiên cứu nhiều ở Việt Nam

Bên cạnh đó, việc nghiên cứu về chính sách của Hoa Kỳ đối với CHND Trung Hoa trong giai đoạn đầu mới thành lập tới khi cuộc chiến tranh Triều Tiên kết thúc để thấy tác động của nó đến mối quan hệ giữa hai nước trong giai đoạn này lại không được chú trọng trong một thời gian dài, cho đến ngày hôm nay Cho nên, đã đến lúc chấm dứt tình trạng “bỏ ngỏ” này bởi quan hệ Mỹ -

Trang 8

Trung hiện nay đang bước vào một giai đoạn phát triển mới trong bối cảnh quốc tế đã có nhiều thay đổi sâu sắc Hiểu về quá khứ để rút ra những lý giải cho hiện tại và là cơ sở dự báo cho tương lai luôn là một nhu cầu, một đòi hỏi được đặt ra cho giới học giả

Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi mạnh dạn chọn vấn đề “Chính sách của Hoa Kỳ đối

với Cộng hòa nhân dân Trung Hoa trong cuộc chiến tranh Triều Tiên (1950 – 1953)” làm đề tài

luận văn thạc sĩ của mình

Qua việc khảo cứu có hệ thống những tiền đề, xuất phát điểm và quá trình hình thành chính sách của Hoa Kỳ, chúng ta sẽ có cơ hội nhận thức đầy đủ những chính sách mà Hoa Kỳ đã đề ra và thực hiện đối với CHND Trung Hoa trong cuộc chiến tranh Triều Tiên cũng như những hệ quả của những chính sách đó đối với quan hệ giữa hai nước Điều này càng trở nên có ý nghĩa hơn khi luận văn sẽ góp phần lấp đi một khoảng trống trong nghiên cứu của chúng ta về một mảng quan hệ quốc

tế đã tồn tại trong thực tế và có liên quan mật thiết đến Việt Nam

Bên cạnh đó, quan hệ Mỹ - Trung đang đứng trước những cơ hội to lớn cho sự nâng cấp và phát triển mạnh mẽ hơn Vấn đề đặt ra là các quan hệ phải được xây dựng trên những nền tảng nào, trong cấu trúc nào, theo cách thức nào để đạt hiệu quả cao nhất, đem lại lợi ích to lớn cho cả hai phía Đề tài sẽ góp phần giải quyết vấn đề này thông qua những phân tích, kết luận mang tính khoa học về vị trí của Trung Quốc trong chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ, những nhân tố thuận hay không thuận chi phối quan hệ Mỹ - Trung, tác động của các mối quan hệ quan trọng khác đối với mối quan hệ quan trọng nhất khu vực Châu Á – Thái Bình Dương; và từ đó có những cơ sở dự báo, tác động đến hướng phát triển trong tương lai

2 5Tình hình nghiên cứu đề tài

Nghiên cứu về mối quan hệ giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc từ trong quá khứ tới hiện tại không còn là một vấn đề mới mẻ, đặc biệt tìm hiểu về chính sách của Hoa Kỳ đối với nước Trung Quốc lại càng không phải là chưa có ai khai thác Song trên thực tế, tìm hiểu về chính sách của Hoa Kỳ đối với nước CHND Trung Hoa trong giai đầu thành lập tới khi cuộc chiến tranh Triều Tiên kết thúc để thấy tác động của nó đến mối quan hệ Mỹ - Trung trong giai đoạn này và là bản lề để tìm hiểu về các giai đoạn tiếp theo lại là một khoảng trống, là mảnh đất ít người khai phá Những nghiên cứu liên quan còn khá lẻ tẻ, không tập trung và chưa thành hệ thống

Trước tiên phải kể đến tác phẩm “China and the Cold war” của Michael Lindsay (1955) với

hai chương liên quan tới đề tài luận văn là chapter 3: “Korea” và chapter 9: “America policy” Tác giả đã bước đầu phác họa được chiến lược toàn cầu của Hoa Kỳ trong thời kỳ đầu chiến tranh lạnh cũng như đã dựng lại được đôi nét về cuộc chiến tranh Triều Tiên Song do tác phẩm chỉ được nghiên cứu tới năm 1953 nên chưa tiếp cận được đầy đủ những tư liệu cần thiết

Trang 9

Robin W Winks năm 1964 có “The Cold war from Yalta to Cuba” Trong đó, chapter 4: “The

compass points South Asia (1945 – 1963)” liên quan chặt chẽ tới đề tài Tác giả đã khái quát được chính sách của Hoa Kỳ đối với Trung Quốc từ sau chiến tranh thế giới II và trong cuộc chiến tranh Triều Tiên Tuy nhiên, đây chỉ là những đánh giá khái quát, thiếu chi tiết và không đầy đủ

Năm 1965, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân cho xuất bản cuốn sách “Lịch sử cuộc chiến

tranh chính nghĩa giải phóng tổ quốc của nhân dân Triều Tiên” của Viện nghiên cứu Lịch sử nước

CHDCND Triều Tiên (do Lê Anh dịch) Cuốn sách đã khôi phục lại một cách chân thực, sinh động cuộc chiến tranh Triều Tiên mà ở đó, hành động và thái độ của hai phía Hoa Kỳ - Trung Quốc đã được bộc lộ một cách rõ nét

Năm 1979, John Spanier cho xuất bản cuốn sách “American foreign policy since World War

II” dày hơn 400 trang gồm 14 chương đề cập một cách toàn diện, chi tiết và sống động về chính sách đối ngoại và quá trình thực hiện của Hoa Kỳ Đây là một tài liệu tham khảo quý báu cho những

ai quan tâm tới các vấn đề chính trị quốc tế hay quan hệ quốc tế từ sau chiến tranh thế giới thứ II Trong đó, chương 4: “Containment in the Far East” (Chính sách ngăn chặn ở vùng Viễn Đông) có liên quan mật thiết đến luận văn Song tác giả trình bày chính sách của Hoa Kỳ đối với CHND Trung Hoa trong cuộc chiến tranh Triều Tiên khá sơ lược

Viết về cuộc chiến tranh Triều Tiên - bối cảnh cụ thể để những toan tính, quan điểm và chính

sách của Hoa Kỳ đối với Trung Quốc được thể hiện - có cuốn “The forgotten war” của Clay Blair

(1987) Công trình này viết về cuộc chiến tranh Triều Tiên một cách đầy đủ, chi tiết tới từng mốc thời gian, từng địa điểm và đơn vị quân đội cụ thể Tuy nhiên, cuốn sách thiên về tường thuật các trận đánh, các chiến dịch mà chưa trình bày được chính sách của Hoa Kỳ đối với Trung Quốc cũng như chưa đưa ra được những đánh giá, nhận xét

Năm 1988, cuốn sách“Waging peace and war, Dean Rush in Truman, Kennedy and Johnson

years” của Thomas J Schoenbaum được xuất bản Chương 6: “The Far East in Ferment: the Fall of

China and war in Korea” có đề cập tới quan điểm và chính sách của Hoa Kỳ đối với hai sự kiện lớn của thế giới trong thời kỳ đầu chiến tranh lạnh: nước CHND Trung Hoa ra đời và chiến tranh Triều Tiên

Đặc biệt, cuốn “From Pusan to Panmunjom” của Paik Sun Yup (1992) dày hơn 300 trang là

hồi ký chiến tranh của một vị tướng bốn sao chỉ huy sư đoàn 1 của Hàn Quốc Tác giả đã phục dựng lại một cách tỉ mỉ về cuộc chiến tranh mà ông không chỉ chứng kiến mà còn là người trực tiếp tham gia Bên cạnh đó, Paik Sun Yup còn tiết lộ mối quan hệ cá nhân của ông với tướng W Walker, tướng Ridgway, tướng Van Fleet…Những phát ngôn và quan điểm của các tướng lĩnh Hoa Kỳ cũng được trình bày một cách rõ nét, chân thực Đây chính là nguồn tài liệu cần thiết cho việc hoàn thành luận văn này

Trang 10

Năm 2000, nhà xuất bản W.W Norton & Company, Inc đã cho ấn hành cuốn “American

foreign policy the dynamics of choice in the 21P

st

P

century” của Bruce W Jentleson Cuốn sách đã tập trung trình bày cơ sở lý luận và lịch sử hình thành chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ; đồng thời đi sâu làm rõ mục tiêu và động cơ lựa chọn, những thay đổi và điều chỉnh trong chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ đối với các nước và từng sự kiện có liên quan

Năm 2002, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia cho xuất bản cuốn “Chiến tranh lạnh và di sản

của nó” của Trương Tiểu Minh Cuốn sách đã tập trung trình bày một số vấn đề quan trọng trong

thời kỳ chiến tranh lạnh: nguồn gốc, xung đột Đông – Tây, vai trò của Liên Hợp Quốc và thế giới thứ 3 trong chiến tranh lạnh, những bài học rút ra từ cuộc chiến tranh này Trong đó, tác giả đã khôi phục lại cuộc chiến tranh Triều Tiên mà ở đó nước CHND Trung Hoa vừa mới ra đời đã thể hiện sức mạnh và vai trò

Đặc biệt cuốn sách “America, Russia, and the Cold war, 1945 - 2000” của giáo sư Walter

LaFeber (2002) là chỗ dựa quan trọng cho luận văn của chúng tôi về quan điểm đánh giá Liên quan đến đề tài của luận văn là chương 5: “Korea: The War for Both Asia and Europe (1950 – 1951)” Mặc dù chỉ dừng lại ở năm 1951, song tác giả đã dựng lại được bức tranh cuộc chiến tranh Triều Tiên trong giai đoạn đầu mà ở đó những phát ngôn quan trọng về Trung Quốc của các quan chức cấp cao Hoa Kỳ đã được thể hiện rõ nét

Năm 2003, cuốn sách “Những sự kiện quan trọng của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa”

của Khuất Thạch được xuất bản Cuốn sách đã đề cập một cách sống động về bức tranh ngoại giao Trung Quốc từ khi mới thành lập cho tới nay Đây chính là một trong những nguồn gốc của những thay đổi trong chính sách của Hoa Kỳ nhằm mục đích đối phó và ngăn chặn

Năm 2004, Thomas J Mc Comick xuất bản cuốn “Nước Mỹ nửa thế kỷ chính sách đối ngoại

của Hoa Kỳ trong và sau chiến tranh lạnh” Tác giả đã đưa ra một cách hiểu mang tính lý thuyết về

chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ Đây là một nguồn tài liệu quan trọng để tìm hiểu về chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ trong suốt kỷ nguyên được biết đến với tên gọi Chiến tranh lạnh, trong đó có cuộc chiến tranh Triều Tiên với sự tham gia của chí nguyện quân Trung Quốc…Tuy nhiên, công trình này mới chỉ dừng lại ở việc mô tả đại cương hệ thống chính sách đối ngoại của nước Mỹ, mà chưa đề cập trực tiếp và đi sâu phân tích được chính sách của Hoa Kỳ đối với CHND Trung Hoa trong cuộc chiến tranh Triều Tiên

Năm 2006, nhà xuất bản Văn học đã cho xuất bản lần thứ hai cuốn sách“Các vấn đề chính trị

quốc tế ở Châu Á – Thái Bình Dương” của Michael Yahuda Trong chương 1: “Chiến tranh lạnh

1945 – 1989”, tác giả đã chỉ ra được tác động của chiến tranh lạnh lên toàn bộ vùng Châu Á – Thái Bình Dương, trong đó có sự hình thành hai nước Triều Tiên và cuộc chiến tranh tại bán đảo này

Trang 11

Đồng thời, tác giả cũng phân tích chính sách của Hoa Kỳ đối với khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, cơ sở để đưa quan hệ Mỹ - Trung trở thành mối quan hệ quan trọng nhất trong khu vực

Cùng năm này, Mộ Kiệt có cuốn“Bảy cuộc đàm phán siêu cấp” Công trình đã đề cập tới 7

cuộc đàm phán quan trọng trong lịch sử nước CHND Trung Hoa, trong đó có hội nghị hòa đàm tại Panmunjom nhằm chấm dứt cuộc chiến tranh Triều Tiên Từ đó, những quan điểm của Mỹ trong cuộc chiến tranh này đã được thể hiện qua các phát ngôn của các nhân vật cao cấp Mặc dù mang một số “thành kiến chính trị”, song tác giả đã cố gắng bám sát các sự kiện để dựng lại bức tranh quá khứ, dựng lại không khí của cuộc chiến tranh Triều Tiên hết sức sôi động mà ở đó Hoa Kỳ và CHND Trung Hoa đã trở nên đối đầu căng thẳng

Năm 2008, cuốn sách “Trung – Xô – Mỹ cuộc đối đầu lịch sử” của Lý Kiện được xuất bản

Cuốn sách đã đề cập tương đối có hệ thống và toàn diện những sự kiện lớn của nền chính trị thế giới trong suốt thời kỳ chiến tranh lạnh, đồng thời cụ thể về đường lối, chính sách đối ngoại của từng nước và các mối quan hệ phức tạp của lịch sử thế giới đương đại Đây là một tài liệu tham khảo quý báu khi cuốn sách đã tường thuật khá chi tiết các cuộc gặp gỡ, tiếp xúc, họp bàn, hội nghị giữa các quan chức cấp cao của Hoa Kỳ và Trung Quốc Từ đó, những quan điểm của Mỹ trong cuộc chiến tranh Triều Tiên cũng được thể hiện rõ qua các phát ngôn của các nhân vật cao cấp

Năm 2009, khoa Quốc tế học trường đại học Khoa học xã hội và nhân văn Hà Nội đã cho dịch

sang tiếng Việt cuốn sách “We all know: Rethinking Cold war history” (Giờ chúng ta mới biết, suy

nghĩ lại về lịch sử chiến tranh lạnh) của John Lewis Gaddis (được xuất bản năm 1998 với sự tài trợ của Quỹ Ford) Cuốn sách đã tìm hiểu một cách toàn diện về lịch sử chiến tranh lạnh từ khi nó bắt đầu cho tới khi kết thúc với những khám phá, những kiến giải khoa học mới mẻ Trong sách có hai chương liên quan đến đề tài luận văn là chương 3: “Các đế quốc chiến tranh lạnh: Châu Á” và chương 6: “Thế giới thứ ba” …

Nhìn chung các tác giả đã trình bày những nội dung cơ bản, những vấn đề quan trọng của lịch

sử quan hệ quốc tế thời kỳ chiến tranh lạnh Trong đó, chiến tranh Triều Tiên là một biểu hiện cụ thể của sự đối đầu Đông – Tây trong giai đoạn đầu, mà ở đó chính sách của Hoa Kỳ đối với CHND Trung Hoa được bộc lộ ít nhiều Ngoài ra, còn có các công trình có liên quan rải rác đến nội dung của đề tài và rất nhiều bài viết được đăng tải trên các tạp chí chuyên ngành, đặc biệt là tạp chí

“Nghiên cứu Quốc tế”, tạp chí “Châu Mỹ ngày nay” Tuy nhiên, tất cả đều còn tản mạn, thiếu hệ thống và không thế khái quát một cách đầy đủ về chính sách của Hoa Kỳ đối với CHND Trung Hoa trong cuộc chiến tranh Triều Tiên

Với những công trình nghiên cứu như trên, thật sự đó là một thuận lợi mà chúng tôi có được, nhưng đó cũng là khó khăn không nhỏ mà chúng tôi đã phải rất cố gắng để xử lý tư liệu, lựa chọn, phân tích và tổng hợp, đúc kết nhằm giải quyết vấn đề theo nội dung khoa học mà đề tài đòi hỏi

Trang 12

Bởi vì khối lượng các công trình, bài viết được công bố và đăng tải rất đa dạng và phong phú nhưng chưa có một công trình nào tập trung chuyên sâu và có hệ thống về chính sách của Hoa Kỳ đối với CHND Trung Hoa trong cuộc chiến tranh Triều Tiên Huống hồ, những ý kiến về chính sách của Hoa Kỳ rải rác trong các công trình đã biết lại có những quan điểm khác nhau thậm chí trái ngược nhau, như vấn đề Trung Quốc tham chiến, vấn đề Mỹ có ý định tấn công Trung Quốc và dùng bom nguyên tử, vấn đề trao trả tù binh, và những nhân tố chi phối chính sách của Hoa Kỳ…Tất cả đã được bàn tới nhưng dường như vẫn còn bỏ ngỏ, bởi chúng chưa được tập trung, khảo sát một cách

cụ thể, hệ thống và sâu sắc

Luận văn của chúng tôi một mặt kế thừa những thành tựu của những học giả, những nhà nghiên cứu đi trước; mặt khác cố gắng giải quyết thêm một vài vấn đề liên quan đến chính sách của Hoa Kỳ đối với CHND Trung Hoa trong cuộc chiến tranh Triều Tiên

3 5Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Vấn đề mà luận văn đặt ra chỉ nhằm tìm hiểu một khía cạnh nhỏ trong mảng nghiên cứu về lịch

sử quan hệ quốc tế thời kỳ chiến tranh lạnh, cũng chỉ là một khúc ngắn trong một bản nhạc với nhiều đoạn thăng trầm của mối quan hệ Mỹ - Trung Bản thân vấn đề đã tạo sự giới hạn nhất định cho đề tài

Như tên đề tài luận văn đã chỉ rõ, đối tượng nghiên cứu của luận văn là chính sách của Hoa Kỳ đối với CHND Trung Hoa trong cuộc chiến tranh Triều Tiên (1950 – 1953) Trong luận văn, chúng tôi tập trung nghiên cứu lĩnh vực chính trị đối ngoại là chủ yếu, tiếp đó là lĩnh vực quốc phòng bởi

“Quốc phòng là chính sách luôn đi kèm ngoại giao trong trường hợp Mỹ” [12, 661] và kinh tế đối

ngoại, mà chưa có điều kiện nghiên cứu các lĩnh vực khác của chính sách của Hoa Kỳ đối với CHND Trung Hoa trong giai đoạn này

Thời gian mà luận văn đề cập chủ yếu được gói gọn trong quãng thời gian của cuộc chiến tranh Triều Tiên (từ 1950 cho tới 1953) Đây là thời gian tiêu biểu cho một thời kỳ đọ sức giữa hai quốc gia thuộc về hai hệ thống xã hội đối lập Chính sách của Hoa Kỳ đối với CHND Trung Hoa trong cuộc chiến tranh Triều Tiên sẽ được chúng tôi trình bày qua hai giai đoạn: 6/1950 – 6/1951 (chương II) và 7/1951 – 7/1953 (chương III)

Tuy nhiên, lịch sử là một dòng chảy, là chuỗi sự kiện kế tiếp nhau và có mối quan hệ ảnh hưởng chặt chẽ với nhau Thật khó để hiểu chính sách của Hoa Kỳ đối với CHND Trung Hoa trong cuộc chiến tranh Triều Tiên mà không nghiên cứu giai đoạn lịch sử trước đó Do đó, chúng tôi giành hẳn chương I để tìm hiểu chính sách của Hoa Kỳ đối với Trung Quốc trước năm 1950

4 5Phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận có tính nền tảng chung nhất của luận văn này là hệ thống nhận thức luận Marxit, bao gồm chủ nghĩa duy vật biện chứng và đặc biệt là chủ nghĩa duy vật lịch sử Việc dựa vào chủ

Trang 13

nghĩa duy vật lịch sử với những quan điểm, học thuyết cơ bản của nó đã giúp chúng tôi giải quyết được những vấn đề mang tính lý luận được đặt ra trong quá trình thực hiện đề tài này

Hệ thống nhận thức luận Marxit và các quan điểm về xung đột trong quan hệ quốc tế là kim chỉ nam để chúng tôi xử lý những nguồn tài liệu và tiếp cận với quan điểm của các học giả, chính khách phương Tây

Trong khi xây dựng các luận điểm khoa học, tác giả luận văn đã sử dụng phương pháp lịch sử

phương pháp logic Trong đề tài cụ thể này, khi mà cả yêu cầu tái hiện, phục dựng lại quá trình

lịch sử của mối quan hệ lẫn yêu cầu nắm bắt được cái bản chất, cái chung nhất trong những chính sách của Mỹ đều có ý nghĩa quan trọng thì việc kết hợp sử dụng cả hai phương pháp nghiên cứu này

là điều có tính chất bắt buộc Dựa vào phương pháp lịch sử, tác giả cố gắng dựng lại toàn bộ hệ thống chính sách của Hoa Kỳ đối với CHND Trung Hoa qua những sự kiện, dấu mốc và giai đoạn phát triển căn bản Phương pháp logic giúp tác giả từ những cứ liệu lịch sử rút ra được cái chung nhất, bản chất nhất mục tiêu chiến lược của Mỹ đối với Trung Quốc, trên cơ sở này tìm ra chiều hướng phát triển của mối quan hệ Mỹ - Trung

Sự kết hợp chặt chẽ phương pháp lịch sử và phương pháp logic đã thể hiện tính lịch sử sâu sắc

và tính khoa học của luận văn Bên cạnh đó, chúng tôi còn sử dụng phương pháp liên ngành (đặc biệt là phương pháp nghiên cứu của ngành quan hệ quốc tế) để tìm hiểu một cách tổng thể về chính sách của Hoa Kỳ đối với CHND Trung Hoa trong cuộc chiến tranh Triều Tiên và giải quyết những vấn đề khác mà đề tài luận văn đặt ra

5 5Nguồn tài liệu

Luận văn được thực hiện dựa trên những nguồn tài liệu chủ yếu sau đây:

- Các tư liệu bậc I: bao gồm các văn bản thư từ trao đổi chính thức giữa tổng thống Truman với

Lý Thừa Vãn, Tưởng Giới Thạch và các quan chức cao cấp của Hoa Kỳ; biên bản các cuộc đàm phán ngoại giao hay các cuộc gặp gỡ cấp cao của các nhân vật quan trọng trong chính phủ Hoa Kỳ; biên bản các cuộc họp của Hội đồng an ninh quốc gia Hoa Kỳ; các bài phát biểu của Tổng thống Truman và Eisenhower cùng các Ngoại trưởng Hoa Kỳ trên đài phát thanh truyền hình…mà chúng tôi khai thác được từ nguồn chính thức của Bộ ngoại giao Hoa Kỳ (5http://history.state.govU), trang web của Thư viện và bảo tàng Tổng thống Truman (5http://www.trumanlibrary.org)U và trang web về lịch sử Chiến tranh lạnh (5http://www cwihp.orgU)

- Những ấn phẩm của các tác giả nước ngoài bao gồm cả sách, bài báo, tạp chí có liên quan đến nội dung đề tài

- Những công trình, bài viết của các tác giả Việt Nam như các loại sách chuyên sâu về lịch sử Hoa Kỳ, lịch sử quan hệ quốc tế…

Trang 14

6 5Đóng góp của luận văn

Nội dung nghiên cứu của luận văn được thực hiện trên cơ sở tiếp thu những thành tựu nghiên cứu của các nhà khoa học trong và ngoài nước Tuy vậy, qua việc tập trung làm sáng tỏ các nội dung chính, chúng tôi cố gắng đóng góp một số điểm mới trong luận văn của mình:

Luận văn nghiên cứu một cách có hệ thống về chính sách của Hoa Kỳ đối với CHND Trung Hoa trong cuộc chiến tranh Triều Tiên, dựng lại bức tranh tổng thể về những chính sách ấy một cách khách quan và trung thực; để người đọc trước hết hiểu được tương đối rõ ràng, mạch lạc chính sách của Hoa Kỳ đối với CHND Trung Hoa là gì và nó đã diễn ra như thế nào trong giai đoạn đầu rất quan trọng ấy của lịch sử chiến tranh lạnh

Không chỉ dừng lại ở việc mô tả, khôi phục lịch sử, luận văn còn tập trung phân tích, lý giải tại sao chính sách của Hoa Kỳ đối với CHND Trung Hoa trong cuộc chiến tranh Triều Tiên lại diễn ra như thế? Đâu là những nhân tố chi phối và kết quả của những chính sách đó? Chính sách của Hoa

Kỳ đối với CHND Trung Hoa trong cuộc chiến tranh Triều Tiên có những đặc điểm gì? Và chính sách của Hoa Kỳ đối với CHND Trung Hoa trong cuộc chiến tranh Triều Tiên có gì giống và khác

so với chính sách của Hoa Kỳ đối với các nước và lãnh thổ khác trong cùng khu vực?

Từ việc nghiên cứu chính sách của Hoa Kỳ đối với CHND Trung Hoa trong cuộc chiến tranh Triều Tiên, luận văn mạnh dạn đưa ra những ý kiến tổng kết, đánh giá nhận xét bước đầu; từ đó có

cơ sở dự báo hướng phát triển của mối quan hệ Mỹ - Trung trong tương lai

Luận văn còn góp phần làm sáng tỏ thêm những luận điểm khoa học về vị trí của Việt Nam trong chính sách của Mỹ cũng như trong mối quan hệ Mỹ - Trung giai đoạn này

Cuối cùng, nội dung và tư liệu của luận văn có thể sử dụng phục vụ cho việc nghiên cứu, giảng dạy về chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ nói riêng và lịch sử quan hệ quốc tế thời kỳ chiến tranh lạnh nói chung; và phục vụ cho nhu cầu tham khảo của bạn đọc quan tâm tới lịch sử Hoa Kỳ cũng như lịch sử quan hệ quốc tế

7 5Bố cục của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Thư mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, Luận văn có kết cấu

gồm 3 chương:

Chương 1: “Khái quát chính sách của Hoa Kỳ đối với Trung Quốc trước năm 1950”, có mục

đích khái quát một cách hệ thống chính sách của Hoa Kỳ đối với Trung Quốc từ cuối thế kỷ XIX cho đến khi nước CHND Trung Hoa ra đời để làm rõ vị trí của Trung Quốc trong chính sách của Hoa Kỳ và từ năm 1950 trở đi, chính sách của Hoa Kỳ đối với Trung Quốc đứng trước những vấn

đề gì cần giải quyết

Trang 15

Chương 2: “Chính sách của Hoa Kỳ đối với CHND Trung Hoa trong cuộc chiến tranh Triều

Tiên (giai đoạn 6/1950 – 6/1951)”, tìm hiểu sự điều chỉnh trong chính sách của Hoa Kỳ đối với

CHND Trung Hoa trong một năm đầu của cuộc chiến tranh Triều Tiên

Chương 3: “Chính sách của Hoa Kỳ đối với CHND Trung Hoa trong cuộc chiến tranh Triều

Tiên (giai đoạn 7/1951 – 7/1953)”, sẽ tập trung vào chính sách của Hoa Kỳ trong thời gian vừa

đánh vừa đàm để đi đến kết thúc cho cuộc chiến tranh ở bản đảo Triều Tiên Đồng thời, chương này cũng phân tích tác động của cuộc chiến tranh Triều Tiên đến chính sách của Hoa Kỳ đối với toàn vùng Châu Á – Thái Bình Dương

Trang 16

1 1 1 1Vị trí của Trung Quốc

Trung Quốc là một quốc gia có lịch sử lâu đời với bề dày truyền thống hơn 5000 năm và là đất nước có diện tích lãnh thổ rộng lớn với 9,6 triệu kmP

2

P (đứng thứ ba trên thế giới, chỉ sau Nga và Canada) Nằm ở phía đông Châu Á, bờ tây Thái Bình Dương, Trung Quốc có đường biên giới đất liền dài hơn 20.000 km Phía Đông giáp Triều Tiên; phía Đông Bắc giáp Nga; phía Bắc giáp Mông Cổ; phía Tây Bắc giáp Nga, Kazacxtan; phía Tây giáp Kyrgyzstan, Tajikistan, Afganistan, Pakistan; phía Tây Nam giáp Ấn Độ, Nepal, Butan; phía Nam giáp Mianmar, Lào và Việt Nam Đông và đông nam trông ra biển

Trung Quốc còn có đường bờ biển dài, bằng phẳng, có nhiều hải cảng đẹp, phần lớn quanh năm không đóng băng Phía bên kia bờ biển là các nước láng giềng: Nhật Bản, Hàn Quốc, Philippines, Brunei, Malaysia và Inđônêxia

Là quốc gia đông dân, lãnh thổ rộng lớn, núi sông tráng lệ, tài nguyên thiên nhiên vô cùng phong phú…đã từ lâu, Trung Quốc trở thành miền đất hứa, là miếng mồi hấp dẫn các nước đế quốc phương Tây đang trong cơn khát nguyên liệu và thị trường

Và điều này rất phù hợp với một trong những nhận thức cơ bản về đối ngoại của Bộ Ngoại

giao Hoa Kỳ: “Ngoại giao để phát triển kinh tế và mở rộng liên tục sản lượng tiềm năng” [12, 591]

Chẳng phải thế mà Tổng thống Theodore Roosevelt (1901 – 1909) đã ý thức rất rõ về quan hệ buôn bán với Trung Quốc Và trước đó, vào ngày 9/1/1900, tại Thượng viện, Albert Beveridge đã phát

biểu về lợi ích chính trị và kinh tế của nước Mỹ: “Philippines mãi mãi sẽ là của chúng ta…và phía

xa Philippines sẽ là thị trường vô hạn của Trung Quốc…Chúng ta sẽ không từ bỏ phần của chúng ta…Thái Bình Dương là của chúng ta…Liệu chúng ta có đi đâu để tìm người tiêu thụ cho lượng hàng hóa dư thừa của chúng ta? Địa lý đã trả lời câu hỏi đó Trung Quốc là khách hàng tự nhiên của chúng ta…” [66, 381]

Rõ ràng, duy trì vị trí kinh tế số một là điều kiện cần và đủ để duy trì sức mạnh và chính sách ngoại giao nước lớn Điều này cũng đã được nhà sử học người Mỹ là Marilyn Young khẳng định khi đề cập tới các lý do thương mại khiến công ty American China Development mở rộng ảnh hưởng của Mỹ ở Trung Quốc và chỉ thị của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đối với các phái viên tại Trung

Trang 17

Quốc nhằm “triển khai tất cả các biện pháp thích hợp bảo đảm mở rộng các lợi ích của Mỹ tại

Trung Quốc” [66, 365]

Nhưng sự quan tâm của Hoa Kỳ ở Trung Quốc còn vượt ra ngoài việc kinh doanh Người Mỹ

đã bị thôi miên bởi nền văn minh, nghệ thuật và những phong tục cổ xưa của người Trung Quốc Họ cũng xem Trung Hoa là một lãnh thổ hứa hẹn cho việc truyền giáo Có thể nói, người Mỹ đã bị Trung Quốc mê hoặc cả về sự huyền bí của lãnh thổ và một thị trường rộng lớn cho hàng hóa Mỹ

Và rồi người Mỹ đã không chỉ xem Mỹ Latinh là khu vực chịu ảnh hưởng của mình mà bắt đầu nghĩ đến Thái Bình Dương: Hawaii, Nhật Bản và đặc biệt là thị trường Trung Quốc

Đó cũng là lí do vì sao từ cuối thế kỷ XIX, Mỹ đã cố gắng mau lẹ xác lập vị thế của mình ở khu vực xa xôi này, dù xét trên nhiều phương diện quyền lợi của Mỹ ở đây chưa có gì đáng kể

1 1 2 1Chính sách “Mở cửa” và cơ hội ngang nhau

Ngoại thương và thương mại đã đưa nước Mỹ vượt Thái Bình Dương đến với Trung Quốc Mặc dù mãi đến năm 1784, thuyền buôn của Mỹ mới cập bến các cảng ở Trung Quốc (sau Bồ Đào Nha, Hà Lan, Anh và Pháp) nhưng sau đó, quan hệ buôn bán của Mỹ phát triển nhanh hơn nhiều nước khác ở Trung Quốc Đầu thế kỷ XIX, Hoa Kỳ đã vươn lên đứng hàng thứ hai về buôn bán thuốc phiện ở Trung Quốc với tỷ trọng bằng 10 – 20% khối lượng của Anh [52, 70] Trong những năm 40 của thế kỷ XIX, các tàu thủy của Mỹ đã chở bông đến Trung Quốc và đổi lại là những tàu chở đầy chè khi quay về [33, 107]

Tuy nhiên, từ thập niên 40 của thế kỷ XIX đến khi cuộc chiến tranh Mỹ - Tây Ban Nha bùng

nổ (năm 1898), do lưu lượng có hạn lại không có những lực lượng hải quân ủng hộ cho các đại diện ngoại giao như Anh và Pháp nên Mỹ chỉ có thể thi hành chính sách hợp tác với các nước mạnh Châu Âu là Anh và Pháp…trong cuộc xâu xé Trung Quốc với mục đích được “chia phần”

Và tới tháng 7/1844, nước Mỹ dưới thời Tổng thống John Tyler cũng đã đoạt được từ tay nhà Mãn Thanh một trong các hiệp ước thương mại đầu tiên trong lịch sử quan hệ Trung – Mỹ Đó chính là Hiệp ước Vọng Hạ, quy định Trung Quốc phải mở năm cửa khẩu gồm Quảng Châu, Hạ Môn, Phúc Châu, Ninh Ba và Thượng Hải thông thương với Hoa Kỳ; đồng thời phải cho Hoa Kỳ

được hưởng quyền ưu đãi tối huệ quốc Đặc biệt, về quyền lãnh sự tài phán, Hiệp ước ghi rõ “Nếu

người Mỹ ở Trung Quốc có kiện cáo với một người nước ngoài nào thì cả đôi bên đều phải đưa ra tòa án Mỹ xét xử, quan lại Trung Quốc không có quyền hỏi đến” [52, 95] Theo đó, Hoa Kỳ cũng đã

được hưởng tất cả những đặc quyền mà Anh có được trong Hiệp ước Nam Kinh (29/8/1842) và các hiệp ước bổ sung Trung – Anh Hơn thế, Hiệp ước Vọng Hạ còn làm cho Hoa Kỳ được pháp quyền cai trị bên ngoài ở Trung Quốc Không dừng lại, Mỹ còn cùng với Anh và Pháp giúp đỡ nhà Thanh

về vũ khí, thuyền chiến và tổ chức một đội quân chiến đấu với quân Thái Bình Thiên Quốc (1856 – 1864) nhằm gây sức ép đòi hỏi những điều kiện, những nhượng bộ mới

Trang 18

Mặc dù vậy, do đang vướng bận vào cuộc chiến tranh với Tây Ban Nha, Mỹ đã phần nào chậm chân hơn các đế quốc khác trong cuộc xâu xé “chiếc bánh” Trung Quốc Và điều này đã ảnh hưởng đến mậu dịch giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc Để khắc phục tình trạng này mà vẫn có thể xâm nhập vào thị trường Trung Quốc một cách êm thấm, cuối năm 1898, Tổng thống McKinley đã bày tỏ phải

áp dụng một thủ đoạn “tương thích” để bảo vệ lợi ích to lớn của Hoa Kỳ ở Trung Quốc Do không

có lực lượng thực tế đầy đủ để dùng vũ trang công khai xâm lược Trung Quốc, tư bản Mỹ chỉ có thể tấn công về mặt nào mà mình mạnh nhất, trước hết là sử dụng sức mạnh kinh tế Trong điều kiện có những khả năng ngang nhau, dựa vào nền công nghiệp phát triển nhất trong thế giới tư bản chủ nghĩa, không những Mỹ có thể đuổi kịp các nước lớn khác trong việc cướp bóc Trung Quốc mà còn

có thể loại Anh và các địch thủ khác để cuối cùng thống trị Trung Quốc

Thủ đoạn “tương thích” mà Tổng thống McKinley nói đến đã được Ngoại trưởng Mỹ John Hay đề xuất không lâu sau đó với tên gọi Chính sách “Mở cửa” (Open door) Ngày 6/9/1899, John Hay đã gửi công hàm về vấn đề chính sách đối với Trung Quốc đến các nước Anh, Pháp, Đức, Nga,

Nhật Bản và Italia; yêu cầu các nước thỏa thuận và đồng ý ba nguyên tắc: “1) Trong phạm vi thế

lực của mình, các nước không được can thiệp vào quyền mậu dịch của nước khác; 2)Do quan chức Trung Quốc trưng thu thuế quan đối với tất cả hàng nhập khẩu theo quy định của Trung Quốc; 3) Trong phạm vi thế lực của mình, các nước không được trưng thu thuế vào cảng và phí vận tải đường sắt có tính kỳ thị đối với các nước khác” [34, 273]

Rõ ràng, bằng chính sách “Mở cửa”, Hoa Kỳ muốn bảo vệ lợi ích của mình ở Trung Quốc qua việc khẳng định dù không giành được một khu vực ảnh hưởng nào ở Trung Quốc, Hoa Kỳ vẫn có quyền tiến hành mọi hoạt động trên toàn lãnh thổ nước này và ngang bằng với các cường quốc đến trước khác Điều này bắt nguồn từ địa vị quốc tế mới của Mỹ sau cuộc chiến tranh Mỹ - Tây Ban Nha, và đúng như lời nhận định của William Rockhill – Cố vấn chính sách Viễn Đông của John Hay: “Công hàm mở cửa làm cho Mỹ nắm được lưu lượng khống chế cân bằng ở Trung Quốc” [34,

274], có nghĩa Hoa Kỳ đã trở thành một trong những vai chính cùng các nước mạnh đấu tranh với nhau trên trường đua Châu Á – Thái Bình Dương Cũng từ đây, chính sách “Mở cửa” đã trở thành

“một trong những hòn đá tảng vĩ đại” trong lịch sử nước Mỹ, là một trong những thủ đoạn chủ yếu nhằm che đậy chính sách xâm lược của Mỹ

Đi đôi với hoạt động xâm chiếm những vị trí kinh tế ở Trung Quốc, giới cầm quyền Mỹ còn hết sức tích cực chống lại phong trào giải phóng dân tộc của nhân dân Trung Quốc Đầu tháng 8/1900, McKinley đã phái 5000 quân tham gia vào Liên quân tám nước tiến công Bắc Kinh – nơi các nhà truyền giáo và các nhà ngoại giao phương Tây đang bị Nghĩa Hòa Đoàn bao vây Để rồi sau Hiệp ước Tân Sửu (1901), Hoa Kỳ (mà trước đó là Anh và Nhật Bản) đã buộc nhà Thanh phải kí những điều ước bất bình đẳng mới Mỹ tiếp tục chính sách đàn áp lực lượng cách mạng Trung Quốc

Trang 19

thông qua việc ủng hộ Viên Thế Khải lên làm hoàng đế và khôi phục lại nền quân chủ sau cuộc Cách mạng Tân Hợi (1911) Và quan trọng hơn là từ đó, Hoa Kỳ có thể giành được quyền lợi ở Trung Quốc khi chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ (1914)

Tuy nhiên, một điều dễ nhận thấy là từ 1901 đến khi chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc vào năm 1918, chính sách ngoại giao mở cửa và can thiệp, chia sẻ các vấn đề quốc tế từ thời Tổng thống

T Roosevelt đến Wilson đều không thành công Người Mỹ vẫn quyết tâm với chủ nghĩa Monroe truyền thống và chủ nghĩa chính trị biệt lập

Nhưng việc mở rộng sự quan tâm tới vùng Châu Á – Thái Bình Dương cũng đồng nghĩa với việc Mỹ đã đụng độ với Nhật đang muốn bá chủ nơi đây Mâu thuẫn với Nhật Bản, không muốn thấy Nhật có thể độc chiếm và lũng đoạn Trung Quốc, ngay từ tháng 7/1928, chính phủ Hoa Kỳ đã thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức với chính phủ Nam Kinh Và trước đó, ngày 6/2/1922, tại

Hội nghị Washington, trong lúc bàn về vấn đề Trung Quốc, Hoa Kỳ đã tạo cho mình “một ảnh

hưởng có tính chất ưu việt” [21, 179] trên phần lục địa của đất nước này khi nguyên tắc “Mở cửa”

được chính thức thừa nhận, quyền lực chính trị ở Trung Quốc rơi vào tay Quốc Dân Đảng (QDĐ)

mà giới lãnh đạo Trung Quốc vốn có những mối quan hệ sâu xa và rộng rãi với các tầng lớp thượng lưu ở Mỹ Và còn hơn thế, với nguyên tắc “tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và quyền hành chính ở Trung Hoa”, Mỹ đã hạn chế được ảnh hưởng của Nhật Bản ở Trung Quốc Đặc biệt, tới năm 1931, Hoa Kỳ đã khởi thảo một kế hoạch thành lập “khoản vay bạc” để chuộc lại từ tay Nhật những đường sắt ở Trung Quốc [52, 187] Buôn bán của Hoa Kỳ với Trung Quốc cũng tăng lên nhanh chóng Trong năm 1931, buôn bán giữa hai nước đã vươn lên dẫn đầu, bỏ

xa Anh và Nhật Bản Ngân hàng của Mỹ ở Thượng Hải cũng quyết định thành lập hàng chục chi nhánh của mình ở vùng Đông Bắc Trung Quốc Các công ty của Mỹ có tới 400 chi nhánh lớn nhỏ ở Thượng Hải Và đến năm 1932, Mỹ đã vươn lên trở thành nước giữ vị trí hàng đầu trong việc nhập khẩu hàng hóa vào thành phố lớn nhất này của Trung Quốc [52, 190]

Về phía mình, từ sau chiến tranh thế giới thứ nhất, đặc biệt là từ đầu thập niên 1930, Nhật đã không tôn trọng chính sách này của Trung Quốc Mâu thuẫn Mỹ - Nhật cũng vì thế mà tăng lên Đây chính là nguyên nhân dẫn đến sự bùng nổ cuộc chiến tranh Thái Bình Dương vào năm 1941

1 2 5Chính sách của Hoa Kỳ đối với Trung Quốc trong chiến tranh Thái Bình Dương (1941 – 1945)

1 2 1 1Sự chuyển biến trong chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ

Chiến tranh thế giới thứ hai đã làm chuyển biến hoàn toàn định hướng chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ Diến biến chiến tranh và những đòi hỏi ngoại giao của nó là hiện trạng tác động quan trọng nhất trong việc chuyển hướng suy nghĩ của các nhà hoạt động chính trị và cả nhân dân Hoa

Kỳ, tạo ra trong chính giới và nhân dân nước này một ý thức rõ rệt về vai trò tích cực hơn của Hoa

Trang 20

Kỳ đối với tiến trình phát triển của toàn thế giới Chính quá trình dính líu và giải quyết những bất đồng trên thế giới, an ninh và quyền lợi của nước Mỹ mới được bảo vệ một cách bền vững nhất

Vì thế ngay từ mùa thu năm 1939, F Roosevelt một mặt đề nghị điều chỉnh “Luật trung lập” nhằm tương thích với tình hình mới đang diễn ra ở Châu Âu, mặt khác ông cố gắng hướng dẫn dư luận và cử tri Mỹ chú ý đến chiến tranh Và Roosevelt đã thành công trong việc thuyết phục Quốc hội chấp nhận nới lỏng “Luật cấm vận vũ khí” và chuẩn y Hiệp ước bán vũ khí cho Anh và Pháp theo hình thức trả tiền mặt và tự chuyên chở Đến năm 1940, đích thân ông lại ra chỉ thị tiến hành những cuộc nghiên cứu chi tiết về những vấn đề mà thời hậu chiến đặt ra Và cho tới tháng 3/1941, Quốc hội Mỹ đã thông qua Luật Lend – Lease nhằm tài trợ cho các nước đồng minh đang tham chiến Điều này cũng đồng nghĩa với việc người Mỹ đã chính thức từ bỏ hoàn toàn chính sách ngoại giao cách ly mới mà họ đã trung thành suốt 20 năm (1920 – 1941)

Tháng 8/1941, Roosevelt đã cùng với Thủ tướng Anh, Winston Churchill, có cuộc tiếp xúc bí mật thống nhất tám điểm về mục tiêu chiến tranh mà sau này trở thành Hiến chương Đại Tây Dương – một văn kiện ngoại giao nổi tiếng chứng tỏ Mỹ không thể đứng ngoài cuộc chiến ở Châu Âu Để rồi chỉ bốn tháng sau đó, với sự kiện ngày 7/12/1941, Nhật Bản tấn công Trân Châu Cảng, Tổng thống Roosevelt đã đưa nước Mỹ tham gia vào cuộc chiến bằng cửa sau, làm thay đổi hoàn toàn học thuyết đối ngoại xưa nay của Hoa Kỳ Chính sách cô lập đã chấm dứt vĩnh viễn, tham gia vào các vấn đề quốc tế là một chuyện không còn có thể thay đổi

Và trong thời gian chiến tranh, chính Tổng thống Roosevelt đã là người đề xướng, tổ chức và tham dự tích cực vào các hội nghị nổi tiếng từ Cairo (11/1943), Teheran (11- 12/1943), đến Yalta (2/1945) để bàn tính đường lối tiến hành chiến tranh và cả cục diện thế giới thời hậu chiến

Tất cả các chính sách và hoạt động đối ngoại của Hoa Kỳ thời kỳ này hầu hết được thiết kế một cách trực tiếp từ Tổng thống Roosevelt và được sự tán đồng hầu như nhất loạt của Quốc hội Và năm 1943, Quốc hội Mỹ lại một lần nữa nhất trí thông qua Đạo luật lập pháp tuyên bố nước Mỹ cần phải gia nhập một tổ chức quốc tế có quyền lực nhằm ngăn chặn tình trạng xâm lăng và những đe dọa hòa bình Tổ chức quốc tế ấy năm 1945 đã ra đời với tên gọi Liên Hợp Quốc

1 2 2 1Đường lối chung của Hoa Kỳ đối với Trung Quốc

Trở về từ Hội nghị Washington (4/1942), Churchill đã tuyên bố khám phá lớn nhất ở thủ đô Hoa Kỳ đã khiến ông sững sờ là “Trung Quốc” [23, 182] Có thể nói, Trung Quốc đã trở thành một trong những trọng tâm trong chính sách của Hoa Kỳ ở vùng Châu Á – Thái Bình Dương và trên toàn thế giới mà mối bận tâm trước nhất là lĩnh vực quân sự Trong các tính toán chiến lược quân sự của Hoa Kỳ ngay từ thời gian đầu của cuộc chiến tranh, Roosevelt đã dành cho Trung Quốc một vị trí đáng kể Vẫn tiếp tục chính sách của thời kỳ trước, Mỹ muốn Trung Quốc kìm giữ càng nhiều càng tốt lực lượng quân sự của Nhật Bản Đặc biệt sau sự kiện Trân Châu Cảng, Mỹ đã thực sự coi

Trang 21

Trung Quốc là bạn đồng minh, hình thành nên cục diện Trung – Mỹ sát cánh chống Nhật Trong quan điểm của Mỹ, sự tích cực tham gia chiến tranh của Trung Quốc có thể làm giảm bớt nhịp độ tấn công của Nhật ở Đông Nam Á, đổi lại Trung Quốc sẽ nhận được sự ủng hộ của chính quyền Roosevelt trong việc giành lại những phần lãnh thổ bị Nhật xâm chiếm

Đồng thời, tình cảm của Mỹ dành cho Trung Quốc cũng được thể hiện trong suốt thời kỳ chiến tranh Washington đã giữ quan điểm cho rằng Trung Quốc phải thoát khỏi chiến tranh với chủ quyền đầy đủ trên những vùng biên giới cổ xưa của mình (trong đó có cả Mãn Châu, Đài Loan và quần đảo Bành Hồ) và cần phải trở thành một cường quốc chủ yếu là thành viên thường trực của Hội đồng Bảo An Liên Hợp Quốc Trung Quốc sẽ phải là nước Mỹ của lục địa Châu Á; là một cường quốc rộng lớn, thống nhất, tự do và dân chủ Có thể nói, Roosevelt đã vẽ ra cho Trung Quốc một viễn cảnh mà Churchill đã từng coi như một “ánh trăng lãng mạn” [8, 110] và Mỹ cũng đã cố gắng từng bước để đưa viễn cảnh đó trở thành hiện thực

Vai trò mà Roosevelt mưu tính dành cho Trung Quốc trong chiến lược ngoại giao quốc tế của

mình cũng đã được Bộ trưởng Ngoại giao Cordell Hull khẳng định trong hồi ký của mình: “Đối với

Trung Quốc, chúng ta có hai mục tiêu Thứ nhất là cùng chung tiến hành chiến tranh một cách có hiệu quả Thứ hai là nhìn nhận và xây dựng Trung Quốc thành một cường quốc ngang hàng với ba đồng minh phương Tây: Nga, Anh và Hoa Kỳ, cả trong và sau thời gian chiến tranh, vừa để chuẩn

bị cho công cuộc tổ chức thời hậu chiến, vừa tạo dựng sự ổn định và phồn vinh ở phương Đông”

[23, 182]

1 2 3 1Từ đường lối chung đến thực tiễn

1 2 3 1 3Chuẩn bị cho vai trò cường quốc thế giới của Trung Quốc

Một bộ phận cấu thành trong mưu đồ chiến lược toàn cầu của Hoa Kỳ cho thời hậu chiến là sau chiến tranh, bốn đại cường Hoa Kỳ, Liên Xô, Anh và Trung Quốc sẽ chia nhau kiểm soát thế giới Trong trật tự mới này, Anh sẽ ngày càng lệ thuộc vào Mỹ, những thuộc địa mới của Anh sẽ rơi vào quỹ đạo ảnh hưởng của Mỹ Còn Trung Quốc như lời của Roosevelt nói với Tân Bộ trưởng

Ngoại giao Stettinius sẽ là “nhân tố quan trọng nhất ở toàn vùng Viễn Đông” [23, 185] và phải cần

20 – 50 năm để trở thành cường quốc thế giới Trên bước đường đạt đến mục tiêu này, Trung Quốc

sẽ nhận được sự ủng hộ của Mỹ và sẽ trở thành người cổ vũ cho mọi bước đi của Washington ở Châu Á cũng như làm đối trọng với Liên Xô ở vùng Viễn Đông Chính bởi thế, chính quyền Roosevelt đã nỗ lực với hàng loạt các bước vận động cụ thể nhằm nâng cao vị trí của Trung Quốc

để chuẩn bị cho Trung Quốc một vai trò mới – cường quốc thế giới

Tháng 2/1942, tướng Stillwell được cử sang làm Tham mưu trưởng quân đội Tưởng Giới

Thạch cùng với lời nhắn gửi của Tổng thống Roosevelt là Mỹ “có ý định hoàn trả lại cho Trung

Quốc mọi lãnh thổ đã bị mất” [23, 183] Ba tháng sau đó, trong một cuộc gặp gỡ với Molotov,

Trang 22

Roosevelt lại đưa ra quan điểm Hoa Kỳ cùng với Liên Xô, Anh và Trung Quốc là bốn đại cường sẽ đóng vai trò cảnh sát quốc tế cho nên không cần phải giải giáp hoàn toàn Tới mùa thu năm 1942, những cuộc đàm phán về việc hủy bỏ quyền tại ngoại pháp quyền mà các cường quốc phương Tây đang thụ hưởng ở Trung Quốc được bắt đầu Và như một cử chỉ đầy ngụ ý, Hoa Kỳ đã nêu gương bằng việc đơn phương từ bỏ chế độ ưu đãi này ngay từ tháng 2/1941

Đặc biệt, vào tháng 3/1943, trong những cuộc tiếp xúc với Ngoại trưởng Anh là A Eden, Tổng

thống Roosevelt còn dự trù cả những hoạt động chung với Trung Quốc: “Có thể thành lập ở Nam

Triều Tiên một căn cứ vững chắc để trên cơ sở đó Trung Quốc và Hợp chúng quốc có thể đảm bảo hòa bình ở phần phía Tây Thái Bình Dương”, mà quan trọng hơn là “trong trường hợp xảy ra một cuộc xung đột với Nga, Trung Quốc chắc chắn sẽ đứng về phía chúng ta” [23, 186]

Rõ ràng, Roosevelt đã dành cho Trung Quốc một sự chú tâm rất đặc biệt Và lần đầu tiên chính phủ Hoa Kỳ chính thức đặt vấn đề nâng Trung Quốc lên địa vị một trong các đại cường thế giới là khi họ lên tiếng yêu cầu để Trung Quốc được là người đồng ký kết vào bản Tuyên bố tứ cường về nền an ninh chung tại Moskva vào ngày 30/10/1943 Văn kiện đã thừa nhận Trung Quốc có quyền

và có trách nhiệm cùng dự phần với các cường quốc khác vào sự nghiệp tiến hành chiến tranh, tổ chức hòa bình và thiết lập một tổ chức cho quan hệ cộng tác thời hậu chiến

Không lâu sau đó, Hội nghị Cairo (11/1943) giữa Roosevelt, Churchill và Tưởng Giới Thạch

đã đưa ra bản Tuyên bố, theo đó “Mãn Châu, Đài Loan và quần đảo Bảnh Hồ mà Nhật đã tước

đoạt của Trung Quốc sẽ được giao hoàn lại cho Cộng hòa Trung Hoa” [23, 184] Roosevelt còn

đưa ra những lời hứa hết sức hấp dẫn: sẽ đề nghị Stalin ngừng giúp đỡ lực lượng cộng sản Trung Quốc theo yêu cầu của Tưởng Giới Thạch; đồng thời sẽ gây sức ép để Churchill hoàn trả Hồng Kông cho Trung Quốc và dành cho Trung Quốc vị thế ưu đãi ở nước Nhật bị chiếm đóng thời hậu chiến Roosevelt còn đề nghị cùng với Trung Quốc ký Hiệp ước An ninh giữa hai nước sau khi chiến tranh chấm dứt Tất cả đã làm cho Tưởng Giới Thạch hết sức thỏa mãn và đưa mối quan hệ

giữa Hoa Kỳ và Trung Hoa Dân Quốc trở nên “gần hơn bao giờ hết trong một tình bạn sâu đậm và

mục tiêu thống nhất” [23, 184] như lời phát biểu của Tổng thống Roosevelt với nhân dân cả nước

trong bài diễn văn đọc nhân ngày Lễ Giáng sinh (25/12/1943)

Không dừng lại, tại Hội nghị Teheran ngay sau đó, Hoa Kỳ đã đề nghị thành lập một tổ chức quốc tế mới để giữ gìn hòa bình thế giới với sự điều khiển của bốn nước Theo Mỹ, Anh sẽ kiểm soát Tây Âu; Nga kiểm soát Đông Âu; Hoa Kỳ ở Châu Mỹ, Thái Bình Dương và Nhật Bản; còn lục địa Châu Á thuộc về Trung Quốc Cuối tháng 12/1941, Tưởng Giới Thạch được cử làm Tư lệnh quân Đồng minh ở Trung Quốc, Đông Dương và Miến Điện Và đến tháng 12/1943, Mỹ đã dành cho Trung Quốc một khoản viện trợ quân sự đáng kể là 201 triệu USD thông qua chương trình Lend – Lease [24, 182]

Trang 23

Sau những nỗ lực của Hoa Kỳ, từ ngày 21/8 – 7/10/1944, Trung Quốc đã được tham dự các cuộc đàm phán về việc thành lập Liên Hợp Quốc ở Dumbarton Oaks (Washington), và là một trong những cường quốc đỡ đầu Hội nghị quốc tế thành lập Liên Hợp Quốc tại San Francisco (4 – 6/1945) Tuy nhiên, để có thể đảm đương vai trò của mình trong chiến lược toàn cầu của Mỹ thời hậu chiến, Trung Quốc cần phải có đủ điều kiện để trở thành đồng minh đáng tin cậy của Mỹ mà đầu tiên là phải trở thành một nước hùng mạnh Con đường trở nên hùng mạnh của Trung Quốc cần

đi qua những cuộc cải cách tự do, thiết lập một chế độ chính trị đa đảng Chỉ có như thế, Trung Quốc mới thoát khỏi nguy cơ chìm đắm trong khủng hoảng chính trị và những rối loạn của thời nội chiến Điều này cũng bao gồm việc QDĐ cần phải chấp nhận sự tồn tại của những đảng phái đối

lập, kể cả ĐCS Biết rất rõ “Trung Quốc trở thành nhân tố chính ở Viễn Đông là yêu cầu cơ bản

cho hòa bình và an ninh ở vùng này” nhưng Roosevelt cũng hiểu hơn ai hết “không có nơi nào có thể gây ra nhiều khó khăn trong thời hậu chiến hơn là Trung Quốc” [23, 187] Hoa Kỳ luôn lo lắng

trước viễn cảnh một cuộc nội chiến sẽ bùng lên từ mối quan hệ ngày càng xấu đi giữa QDĐ và ĐCS, và rồi sẽ kéo theo những người Liên Xô nhân danh những người cộng sản can thiệp Điều đó

sẽ chỉ làm cho mối quan hệ Mỹ - Xô trở nên phức tạp – một điều mà Roosevelt không hề mong đợi khi xây dựng những nền tảng cơ bản trong chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ Bởi thế, chính sách

của Hoa Kỳ được hướng vào mục tiêu “bằng mọi cách thích hợp thúc đẩy việc thành lập một chính

phủ đại nghị rộng rãi Chính thể này sẽ mang lại sự thống nhất trong nước, bao gồm cả việc hòa giải cho khác biệt Quốc – Cộng và hoàn thành một cách có hiệu quả các trách nhiệm trong nước và ngoài nước của mình” [23, 188]

1 2 3 2 3Thúc đẩy kết hợp các lực lượng vũ trang ở Trung Quốc

Washington đã rất quan tâm tới việc duy trì chế độ QDĐ vì Roosevelt tin rằng chế độ này là sự đảm bảo tốt nhất cho quyền lợi của Mỹ ở Trung Quốc và Viễn Đông bởi thị trường rộng lớn của Trung Quốc sẽ đem lại những quyền lợi to lớn cho tư bản Mỹ Chính vì lẽ đó, Mỹ đã làm những gì

có thể để ngăn cản ở Đông Á một nước Trung Hoa cách mạng tồn tại bên cạnh Liên Xô, chủ yếu là

kết thân với những người cộng sản Trung Quốc mà người Mỹ gọi là “Chính sách nhích gần lại với

ĐCS Trung Quốc” [67, 80] Bên cạnh đó, như giáo điều của Giáo hội Trưởng lão (Prebytarian

Banner) đã từng xác định: “Vì đạo đức chúng ta buộc phải trở thành một cường quốc ở Châu

Á…Mỹ và Anh sẽ để mắt tới Trung Quốc để nước này không bị Nga hóa” [79, 42], Mỹ cũng luôn

tìm cách kéo những người chủ chốt ở Trung Quốc về phía mình, hoặc ít nhất cũng làm cho ban lãnh đạo Trung Quốc phải có một đường lối đối lập với Liên Xô Chẳng phải thế mà ngay từ năm 1936, Edgar Snow đã đến Diên An làm thân với những người lãnh đạo của ĐCS Trung Quốc

Đầu năm 1942, một nhóm sĩ quan Mỹ cũng đã đến Diên An Và suốt trong thời gian chống Nhật, họ được nằm trong ban tham mưu của những người cộng sản, được phép lập một phái đoàn

Trang 24

quân sự thường trực của Mỹ ở đây Họ cũng có mặt ở phần lớn các căn cứ của ĐCS Trung Quốc và được tự do đi lại khắp vùng giải phóng Cũng trong năm này, phái đoàn quan sát viên của Mỹ đã thông báo cho những người lãnh đạo chủ chốt của ĐCS Trung Quốc biết dự định của Tổng thống

Mỹ đến năm 1946 sẽ cho quân đổ bộ vào Nhật Bản và Trung Quốc Đến lúc đó, Mỹ có thể viện trợ

vật chất cho quân đội của ĐCS Trung Quốc “nhưng với điều kiện là phải đoạn tuyệt với Liên Xô và

Đảng Cộng Sản” [67, 79 - 80]

Như Stillwell đã từng viết trong báo cáo gửi Bộ Chỉ huy đề ngày 10/10/1944: “Chìa khóa cho

sự ổn định [ở Viễn Đông] phải là một Trung Quốc mạnh, thống nhất Điều này chỉ có thể đạt được trên một nền tảng dân chủ” [23, 189] Với cách nhìn nhận vấn đề Trung Quốc như trên, Hoa Kỳ đã

nỗ lực hết sức nhằm đưa QDĐ và ĐCS xích lại gần nhau Và Washington đã tìm mọi cách thuyết phục chính quyền QDĐ từ bỏ ý đồ xóa bỏ lực lượng cộng sản bằng bạo lực và ngăn ngừa nội chiến bùng nổ Tháng 8/1943, Bộ Ngoại giao Mỹ đã nói rõ quan điểm của mình với Tống Tử Văn – Bộ

trưởng Ngoại giao của Trung Quốc rằng Hoa Kỳ “Không thúc giục chính phủ Trung Quốc có hành

động chống lại cộng sản, trái lại, Hoa Kỳ hy vọng rằng sẽ không xảy ra tình trạng lộn xộn” [23,

189]

Bước sang năm 1944, những quan ngại của giới lãnh đạo Hoa Kỳ lại càng tăng thêm khi những mâu thuẫn giữa QDĐ và ĐCS lại có xu hướng gia tăng trong khi mối quan hệ Xô – Trung đã bắt đầu xuất hiện những dấu hiệu căng thẳng Trong tình hình đó, tháng 6/1944, Phó Tổng thống Henry

A Wallace đã được cử sang Trung Quốc để dàn xếp mâu thuẫn giữa QDĐ và ĐCS, cũng như khôi phục lại sự tin cậy lẫn nhau giữa Trung Quốc và Liên Xô Trong các cuộc tiếp xúc giữa hai bên, Wallace đã nói với nhà lãnh đạo QDĐ rằng để tiến hành chiến tranh hiệu quả và không làm rắc rối

mối quan hệ Xô – Mỹ (là hai điều mà Mỹ quan tâm) thì “không nên để lơ lửng một vấn đề nào, mà

vốn dĩ dẫn đến xung đột giữa Trung Quốc và Liên Xô” [23, 190] Ông cũng nói thêm Tổng thống

Roosevelt có ý muốn được xem như một “người bạn” điều giải những bất đồng giữa các bên ở Trung Quốc Và nếu như Tưởng Giới Thạch không tìm thấy tiếng nói chung với những người cộng

sản thì Hoa Kỳ “cũng không thể ngăn chặn người Nga ở Mãn Châu” [23, 190]

Bị lệ thuộc về nhiều mặt, nhất là quân sự và kinh tế, bởi thế Tưởng Giới Thạch đã không thể khước từ các khuyến cáo cũng như những sức ép nặng nề từ Washington Nhưng chỉ bốn ngày sau khi Wallace trở về Mỹ, ngày 28/6/1944, Nhật Bản tấn công quy mô lớn ở miền Đông và đe dọa trực tiếp Trùng Khánh Để cứu vãn tình thế và cũng để xóa bỏ nỗi hồ nghi đang ngày một tăng thêm của không ít người trong giới cầm quyền Hoa Kỳ về vai trò của Tưởng Giới Thạch trong chính sách của Roosevelt, một cuộc vận động ngoại giao chưa từng có đã diễn ra Roosevelt nỗ lực hết sức để quy

tụ các lực lượng vũ trang hiện có của Trung Quốc vào một bộ chỉ huy thống nhất Ngày 14/7/1944,

Trang 25

Tổng thống Hoa Kỳ đã kêu gọi lãnh tụ QDĐ đi đến một thỏa thuận “cộng tác với những người cộng

sản” [23, 191]

Tiếp đó, Đại sứ Mỹ tại Trung Quốc Gauss đã nói với Tưởng Giới Thạch (30/8/1944) rằng chính phủ Hoa Kỳ quan tâm tìm kiếm một giải pháp nhanh chóng để giải quyết vấn đề nội bộ của Trung Quốc nhằm cùng nhau chống Nhật có hiệu quả Ông đề nghị muốn đi đến thống nhất Trung Quốc thì trước tiên cần phải thành lập một hình thức đại loại như “Hội đồng chiến tranh có trách nhiệm” để giao quyền đại diện và trách nhiệm cho các phe nhóm khác nhau Sau đó tròn một tháng, Gauss lại một lần nữa đưa ra hình thức “Hội đồng thống nhất tất cả các đảng ở Trung Quốc” nhằm thuyết phục các phe nhóm khác nhau ở Trung Quốc cùng thống nhất trong một nỗ lực chung chống Nhật Và điều này hoàn toàn phù hợp với mong muốn được đối xử ngang bằng với QDĐ và tiếp cận với Washington, đi đến thành lập một “Chính phủ liên hợp” của giới lãnh đạo ĐCS Trung Quốc

Để thúc đẩy tiến trình kết hợp các lực lượng vũ trang khác nhau ở Trung Quốc vì mục tiêu đánh bại Nhật, ngày 18/8/1944, Thiếu tướng Patrick J Hurley được cử làm đại diện cá nhân của Tổng thống Roosevelt và trở thành Đại sứ ở Trung Quốc từ tháng 12/1944 Nhiệm vụ của ông tại

Trung Quốc được trình bày rõ trong bức điện gửi Bộ trưởng Stettinius (23/12/1944): “1) Ngăn ngừa

sự sụp đổ của chính phủ QDĐ; 2) Ủng hộ Tưởng Giới Thạch trong vai trò là Tổng thống nước Cộng hòa và tổng tư lệnh quân đội;…5) Kết hợp tất cả các lực lượng quân sự ở Trung Quốc vào mục tiêu đánh bại Nhật” [23, 193] Hurley cũng tự đặt ra và tuân thủ nghiêm ngặt hai nguyên tắc

hoạt động trong quá trình thực hiện kế hoạch: Thứ nhất, “Bất kỳ viện trợ nào của Mỹ cho ĐCS đều

phải thông qua chính phủ Quốc dân Trung Quốc” sau khi giữa QDĐ và ĐCS đã đạt được một sự

thỏa thuận; thứ hai, “tránh gây sức ép với Tưởng Giới Thạch” vì ông tin rằng Tưởng Giới Thạch

“sẽ phản ứng thuận lợi với những lời lẽ có lý” và có thể thương lượng với chính phủ Hoa Kỳ [23,

195]

Toàn bộ các chương trình hoạt động và quan điểm của Hurley đều nhận được sự tán đồng của Tổng thống Roosevelt và người kế nhiệm H Truman Để rồi sau đó ông đã rất tích cực tiến hành các cuộc thương lượng trực tiếp với những người lãnh đạo cao cấp nhất của hai lực lượng đang chi phối chính trường Trung Quốc là QDĐ và ĐCS Tuy nhiên cũng chính những nguyên tắc đề ra đã làm mất đi tính linh hoạt trong các hoạt động của Hurley Và rồi những mâu thuẫn vẫn không thể hòa giải, cho tới khi Nhật đầu hàng vô điều kiện thì cả QDĐ và ĐCS đã ngay lập tức có một cuộc chạy đua giành quyền tiếp quản những khu vực do Nhật kiểm soát trước đây Nội chiến có nguy cơ diễn ra

Trang 26

1 3 6Chính sách của Hoa Kỳ đối với Trung Quốc trong cuộc nội chiến (1945 – 1949)

1 3 1 1Những cố gắng của Wedemeyer và sứ mệnh của Marshall

1 3 1 1 3Những cố gắng của Wedemeyer

Ngay từ cuối tháng 7/1945, sau những thắng lợi của phe Đồng minh, quân đội Mỹ đã trù tính

kế hoạch đổ bộ và chiếm cứ một số cảng của Trung Quốc Và sau những đề nghị giúp đỡ của Tưởng Giới Thạch, Bộ Chiến tranh Mỹ đã gửi Chỉ thị cho Tướng Wedemeyer, người thay thế Stillwell phụ trách mặt trận Trung Quốc (10/8/1945), lệnh cho quân Mỹ chiếm cứ những cảng quan trọng và những trung tâm giao thông Đồng thời, Chỉ thị cũng nêu rõ cần nhanh chóng chuyển quân QDĐ đến những khu vực trọng yếu và giao cho họ những khu vực mà Mỹ chiếm đóng Đồng thời,

Wedemeyer cũng được lệnh “không ủng hộ chính phủ QDĐ gây nội chiến” [23, 199]

Tuân theo Chỉ thị trên, chỉ trong vài tháng sau khi chiến tranh chấm dứt, Wedemeyer đã di chuyển 40 – 50 vạn quân Tưởng đến những địa điểm mới Quân Mỹ trực tiếp chiếm giữ Bắc Bình, Thiên Tân, những mỏ than và những tuyến đường sắt ở miền Bắc Đồng thời, chính phủ Mỹ bằng những hoạt động ngoại giao cũng đã cho người Nhật ngầm hiểu họ chỉ có thể đầu hàng lực lượng QDĐ Nhờ sự giúp đỡ to lớn của Mỹ, chính phủ Tưởng Giới Thạch đã lập lại được quyền kiểm soát của mình ở Hoa Trung và Hoa Nam, chiếm giữ một số thành phố và đường giao thông quan trọng nhất ở Hoa Bắc

Tuy nhiên, quân Tưởng hoàn toàn không được chuẩn bị để tiếp quản Mãn Châu trước sự chống đối của những người cộng sản Trong khi đó, cảm tình của nhân dân vùng mới tiếp thu dành cho chính phủ Quốc Dân ngày một giảm sút bởi tình trạng nhũng lạm quyền hành của các viên chức Chính vì thế, trong báo cáo gửi Washington đề ngày 14/11/1945, Wedemeyer đã đưa ra kết luận:

“a) Chính phủ Tưởng cần tiến hành các cải cách về chính trị, kinh tế và xã hội; b) Chính phủ Tưởng cần đi đến một dàn xếp thỏa đáng với những người cộng sản để ổn định tình hình Hoa Bắc; c) Chính phủ Tưởng cần đạt được những thỏa thuận thích đáng với Nga và cộng sản Trung Quốc để lấy lại quyền kiểm soát Mãn Châu;…” [23, 200 - 201]

1 3 1 2 3Hoạt động của G Marshall

Chính trong bối cảnh trên, ngày 27/11/1945, Tướng George C Marshall được cử thay Hurley làm đại diện riêng của Tổng thống Truman ở Trung Quốc với cấp hàm đại sứ Trong chỉ thị trao cho Marshall ngày 15/12 và trong Thông điệp của Tổng thống Mỹ về chính sách đối với Trung Quốc

công bố ngày 16/12, Truman đã khẳng định: “sẽ là quyền lợi thiết thân nhất của Hoa Kỳ và của

toàn thể Liên Hợp Quốc nếu nhân dân Trung Quốc không bỏ qua một cơ hội nào nhằm điều giải các bất đồng nội bộ của họ bằng những phương pháp đàm phán hòa bình” [23, 201] Mỹ cam kết

sẽ không can thiệp quân sự để tác động đến cuộc nội chiến ở Trung Quốc Tuy nhiên, Tổng thống Truman cũng thể hiện rõ quan điểm ủng hộ Tưởng Giới Thạch trong nỗ lực thiết lập một chính phủ

Trang 27

liên hợp với những người cộng sản: “Chính phủ Trung Hoa Dân Quốc hiện nay là chính phủ hợp

pháp duy nhất ở Trung Quốc” [19, 114] Điều này cũng được đề cập đến trong Chỉ thị của Bộ

trưởng Ngoại giao Byrnes gửi Marshall: “Chính phủ của Tổng tư lệnh Tưởng Giới Thạch tạo cơ sở

thỏa đáng nhất cho một nền dân chủ phát triển” [23, 203] Dù vậy, sự ủng hộ này luôn kèm theo

những điều kiện nhất định Truman tỏ rõ sẽ rất vui lòng cung cấp một khoản vay bằng hàng hóa trị giá 500 triệu USD với điều kiện Trung Quốc phải thành lập một chính phủ liên hợp để tiếp thu và sử dụng tài khoản này [35, 395] Ông nhấn mạnh cần phải triệu tập hội nghị thống nhất các đảng phái chính ở Trung Quốc để bàn giải pháp chấm dứt tình trạng phân ly, mang lại sự thống nhất cho đất nước theo những điều kiện cho phép mọi chính đảng lớn có quyền đại diện thích đáng trong chính phủ; đồng thời phải đạt được sự thỏa hiệp để thống nhất các lực lượng vũ trang ở Trung Quốc dưới một bộ chỉ huy chung Truman cũng giải thích thêm một Trung Quốc chia rẽ và bị nội chiến tàn phá không phải là chốn thích hợp để nhận sự trợ giúp kinh tế từ phía Mỹ cũng như viện trợ quân sự

Và ngay sau khi đến Trung Quốc, Marshall đã rất tích cực hoạt động để đạt những mục tiêu trên Ngày 3/1/1946, ông đã cùng Chu Ân Lai và Trần Trung triệu tập “Ủy ban ba bên” để bàn về vấn đề chấm dứt các hoạt động quân sự Từ ngày 7 – 10/1/1946, Hội đồng Hiệp thương chính trị gồm đại diện QDĐ và những phe phái khác đã họp và đưa đến một thỏa hiệp đình chiến, tạo bầu không khí thuận lợi cho việc triệu tập Hội nghị Hiệp thương chính trị tại Trùng Khánh (10 – 31/1/1946) Hội nghị đã thông qua 5 nghị quyết đề cập đến những vấn đề chia sẻ quyền lực giữa QDĐ với những ưu thế được thừa nhận và các phe phái khác, khẳng định quyền lãnh đạo của Tưởng Giới Thạch cùng với sự bình đẳng và vị thế hợp pháp của mọi chính đảng, làm rõ công cuộc tái tổ chức lại quân đội QDĐ và lực lượng vũ trang của cộng sản Tới ngày 25/2, Nghị quyết “Các nguyên tắc cho việc tổ chức lại quân đội và thu nạp lực lượng vũ trang cộng sản vào quân đội Quốc Dân” đã

được công bố và được Marshall xem là “niềm hy vọng to lớn nhất của Trung Quốc”

Tuy nhiên, trở ngại to lớn trong quá trình làm trung gian điều giải của người Mỹ là vấn đề Mãn Châu Những quyền lợi xung khắc giữa QDĐ và ĐCS Trung Quốc ở đây đã càng làm cho mối quan

hệ này nảy sinh nhiều phức tạp Trong quá trình đàm phán, Marshall đã cố gắng dung hòa lập trường của hai bên theo hướng chấp thuận lập trường cơ bản của cộng sản nhưng ủng hộ QDĐ trong những vấn đề chi tiết Nhưng chính sách của chính phủ Hoa Kỳ trong thời điềm này lại tỏ ra khá

mâu thuẫn và bấp bênh Bỏ qua lời phản đối của Marshall về kế hoạch “sử dụng bạo lực” của

Tưởng, chính phủ Hoa Kỳ vẫn tiếp tục chính sách Lend – Lease đối với Trung Quốc mặc dù đã ngưng ở những nước khác Và điều này càng làm cho diễn biến tình hình trở nên xấu hơn, nhất là khi ĐCS Trung Quốc lên án gay gắt và phản đối sự giúp đỡ về tài chính và quân sự của Mỹ cho chính sách gây nội chiến của Tưởng

Trang 28

Trong bối cảnh đó, Washington đã quyết định cử John Leighton Stuart làm đại sứ ở Trung Quốc phụ giúp Marshall Nhưng hoàn toàn ngược với quan điểm của Stuart về chính sách của Mỹ đối với Trung Quốc cần dứt khoát: hoặc hết sức giúp đỡ để đảm bảo thắng lợi của chế độ Tưởng Giới Thạch, hoặc rút chân và không can thiệp vào cuộc nội chiến ở Trung Quốc; chính phủ Mỹ vẫn kiên quyết với vai trò trung gian điều giải Tới ngày 29/7, nhằm hỗ trợ cho Marshall và Stuart, Hoa

Kỳ đã quyết định thi hành chính sách cấm vận vũ khí đối với Trung Quốc Tiếp đó chính phủ Mỹ khuấy động dư luận nhằm gây sức ép lên cả hai phía, đặc biệt là tác động mạnh mẽ tới người lãnh

đạo QDĐ: “nếu không có một tiến bộ thực sự trong nỗ lực giải quyết hòa bình các vấn đề nội bộ

của Trung Quốc, Truman buộc phải xem xét và giải thích lại lập trường của chính phủ Mỹ cho nhân dân trong nước” [23, 214]

Mặc dù vậy, ngày 30/8, Mỹ và Tưởng đã ký với nhau Hiệp ước về việc Mỹ bán cho Trung Quốc số đồ tiếp liệu phi quân sự thặng dư của Mỹ ở Trung Quốc, Ấn Độ, Miến Điện và các đảo Thái Bình Dương với trị giá 205 triệu USD Chính quyền QDĐ còn liên tiếp nhận viện trợ Mỹ bằng hàng hóa, vật cứu tế và tín dụng…Tính đến giữa năm 1947, Mỹ đã giúp Tưởng hơn 4 tỷ USD Tư bản độc quyền Mỹ đã cùng với giai cấp tư sản mại bản Trung Quốc chi phối nền kinh tế của nước này Trong năm 1946, Mỹ chiếm 51,2% tổng số mậu dịch nhập khẩu của Trung Quốc và con số này tiếp tục tăng trong thời gian sau [19, 132] Và tới ngày 4/11/1946, Hiệp ước hữu nghị, Mậu dịch và Hàng hải giữa hai bên cũng đã được ký kết Theo đó, người Mỹ được tự do ra vào, sinh sống và kinh doanh mọi ngành nghề; có quyền hoạt động tôn giáo, làm giàu và tự do sử dụng tàu bè buôn bán trên toàn lãnh thổ Trung Quốc Các công dân Mỹ được quyền mua và thuê nhà cửa, ruộng đất của Trung Quốc Chính phủ QDĐ còn cho Mỹ lập căn cứ không quân ở Nam Kinh, Thượng Hải, Côn Minh, Bắc Kinh, Thiên Tân…; lập căn cứ hải quân ở cảng Thanh Đảo; lập các trường huấn luyện không quân và hải quân ở Đài Loan [19, 133]

Tất cả những việc này đã khiến những người cộng sản hết sức bất bình và cho rằng việc Mỹ thuyết phục Tưởng ngừng nội chiến chỉ là hình thức Lệnh tổng động viên đã được ban bố ngay từ ngày 19/8/1946 Hai bên bước vào cuộc nội chiến thực sự trên quy mô cả nước Điều đó cũng có nghĩa vai trò trung gian điều giải của Marshall đã không thể hoàn thành Ngày 6/1/1947, Marshall được triệu hồi về nước Tạm ngừng can dự vào các diễn biến ở Trung Quốc đã trở thành chủ trương của Hoa Kỳ đối với Trung Quốc trong thời gian sau đó, mà biểu hiện cụ thể nhất là Mỹ vẫn tiếp tục chính sách cấm vận vũ khí Thực chất của quyết định này là tránh bị ràng buộc và Mỹ có thể can thiệp sâu rộng hơn vào nội trị ở Trung Quốc Người Mỹ vẫn cho rằng Trung Quốc thích hợp hoàn hảo cho kế hoạch của Washington thời hậu chiến và Tưởng Giới Thạch có thể là lãnh tụ của cường quốc này sẽ ủng hộ Mỹ chống Liên Xô trong mối quan hệ Đông – Tây cũng như chống Anh trong các vấn đề thuộc địa Đế quốc Mỹ tin rằng với ưu thế về vật chất và số lượng của quân đội QDĐ,

Trang 29

Mỹ - Tưởng sẽ giành thắng lợi Vì thế, trong hoàn cảnh thuận lợi này, việc Mỹ còn giữ vai trò trung gian chỉ làm cho QDĐ thêm khó xử

1 3 2 1Sự chuyển hướng trong chính sách của Hoa Kỳ đối với Trung Quốc

Tuy vậy, giai đoạn không rõ ràng trong chính sách của Mỹ đối với Trung Quốc không duy trì được lâu Diễn biến tình hình mới: những thắng lợi liên tiếp của ĐCS trong tháng 5/1947, cuộc khủng hoảng kinh tế trầm trọng kéo theo sự mất ổn định về chính trị và xã hội ở những vùng chiếm đóng của quân QDĐ, những lời chỉ trích của Đảng Cộng hòa đối lập nhằm vào các chính sách đối với Trung Quốc của chính phủ Truman…đã làm cho chính sách của Mỹ nhanh chóng phải chấm dứt Trong hoàn cảnh đó, để giúp đỡ cho chính phủ Quốc dân, Hoa Kỳ đã để lại cho Tưởng 6500 tấn đạn dược và quân cụ khi lính Mỹ rút khỏi Hoa Bắc (4 – 7/1947) [23, 219] Đặc biệt, ngày 26/5, Tổng thống Truman đã cho bãi bỏ lệnh cấm vận vũ khí đối với Trung Quốc Và sau những nỗ lực

của Wedemeyer điều tra tình hình Trung Quốc tại Nam Kinh nhằm giúp chính phủ Mỹ có thể đề ra một “Chương trình phục hồi” đối với chính phủ Tưởng Giới Thạch, đến tháng 10/1947, những

quan điểm cơ bản trong việc hoạch định chính sách đối với Trung Quốc của Hoa Kỳ đã được phác

họa trong “Sách trắng”: “Đã rõ ràng là về cơ bản giải pháp cho các vấn đề của Trung Quốc phải là

công việc của chính người Trung Quốc Chương trình viện trợ của Mỹ dành cho Trung Quốc không phải là thứ có thể đặt Hoa Kỳ vào vị thế có trách nhiệm trực tiếp cho việc chỉ đạo cuộc chiến ở Trung Quốc hay đối với nền dân chủ Trung Quốc Chính phủ Hoa Kỳ thực sự là không thể thay thế chính phủ Trung Quốc và quản lý các công việc kinh tế và quân sự của họ được Bất kỳ công việc nào kiểu như vậy sẽ lôi Hoa Kỳ vào những cam kết liên tục mà không sao có thể rút chân ra được, bất kể hoàn cảnh hoặc hoạt động của chính phủ Trung Quốc Cũng phải tính đến gánh vác nặng nề

về ngoại viện mà Hoa Kỳ đang đảm đương ở những nơi khác…” [23, 222 - 223]

Mặc dù vậy, để nhân nhượng các nghị sĩ Cộng hòa trong việc tìm kiếm sự ủng hộ của Quốc hội cho chương trình viện trợ khẩn cấp Châu Âu, cuối tháng 10 và trong tháng 11/1947, chính phủ Truman đã quyết định viện trợ cho Trung Quốc 27,7 triệu USD; đồng thời thành lập một nhóm cố vấn quân sự tham gia công tác huấn luyện tân binh ở Đài Loan và đóng góp ý kiến liên quan đến kế hoạch tác chiến, nhưng không được can dự vào việc soạn thảo kế hoạch chiến lược và những cuộc hành binh [23, 223] Rõ ràng, chính phủ Hoa Kỳ sau khoảng thời gian không nhất quán trong chính sách đối với Trung Quốc đã đưa ra được một chính sách cụ thể thể hiện sự dung hòa giữa những đòi hỏi tăng cường viện trợ cho Trung Quốc của một số chính trị gia và chính sách muốn rút chân ra khỏi Trung Quốc của chính phủ Đó là can dự có giới hạn

Cũng trong khoảng thời gian đó, cuộc nội chiến ở Trung Quốc đã đi đến một bước ngoặt lịch sử: lực lượng cộng sản chuyển sang tiến công trên quy mô cả nước và đang trên đà thắng lợi Trước tình hình căng thẳng như vậy, Quốc hội Hoa Kỳ đã thông qua “Đạo luật viện trợ Trung Quốc”

Trang 30

(China Aid Act) vào tháng 4/1948, cung cấp 463 triệu viện trợ kinh tế và quân sự [14, 437] Song mọi viện trợ dành cho chính phủ QDĐ giờ đây đều tỏ ra vô ích trước diễn biến quá mau lẹ trên mặt trận quân sự Sự suy sụp của chính quyền Tưởng Giới Thạch trên mọi lĩnh vực khiến chính phủ Hoa

Kỳ nghĩ tới cần phải có một chính sách tích cực hơn đối với Trung Quốc Và nhìn chung, các viên chức Hoa Kỳ đều cố tránh hết sức việc thành lập một chính phủ liên hợp bao gồm cả cộng sản Điều

này ngay từ ngày 11/3/1948, Tổng thống Truman đã tuyên bố: “Chúng tôi không muốn bất kỳ người

cộng sản nào trong chính phủ ở Trung Quốc hay ở nơi nào khác, nếu chúng tôi có thể làm được”

[23, 225] Đồng thời, lập trường của Hoa Kỳ đối với Trung Quốc còn là không can thiệp quân sự cũng như tăng cường viện trợ bởi theo như lời cảnh báo của Tướng Marshall cho Ủy ban Quan hệ

đối ngoại của Thượng viện hồi đầu năm 1948 thì Mỹ “không đủ khả năng cả về kinh tế và quân sự

để tiếp nhận những thất bại liên tục của chính phủ Trung Quốc hiện nay, như vậy sẽ dẫn đến sự hao phí sức mạnh của chúng ta dành cho những khu vực khác” [18, 95 - 96] Chính vì thế, từ tháng

12/1948, khước từ yêu cầu giúp đỡ chỉ huy quân đội của Tưởng Giới Thạch, Washington đã ra lệnh rút nhóm cố vấn quân sự hỗn hợp được thành lập từ năm 1947 về nước Và việc Marshall từ chức

Bộ trưởng Ngoại giao, nhường chỗ cho Dean Acheson ngày 29/1/1949 cũng đồng nghĩa với chính sách can dự có giới hạn hoàn toàn thất bại

Trong bối cảnh sự sụp đổ của chính quyền Tưởng Giới Thạch và ĐCS Trung Quốc giành được

chính quyền đã trở thành điều không thể tránh khỏi, chính phủ Truman rất mong muốn “ngăn cản

Trung Quốc trở thành nước phụ thuộc Liên Xô” [45, 389] Điều này đã được khẳng định trong bản

kiến nghị hành động NSC-34 được Truman phê chuẩn ngày 13/10/1948 Nhận thức được tính “độc

lập tương đối mạnh” của ĐCS Trung Quốc trong mối quan hệ với Liên Xô, một bộ phận ra quyết

sách trong chính phủ Mỹ đều cho rằng những thắng lợi của ĐCS Trung Quốc “không có khả năng

trở thành mối nguy hại có tính chất như là một tai họa đối với lợi ích của nước Mỹ” [45, 397]

Washington sẽ tìm kiếm một “Tito ở Châu Á” và Mao Trạch Đông có thể là một ứng cử viên hợp

lý Vì thế, chính phủ Mỹ đã tìm mọi cơ hội để cải thiện quan hệ với ĐCS Trung Quốc và tìm cách gây mâu thuẫn giữa họ với Liên Xô, coi đây là một bộ phận quan trọng trong chính sách đối ngoại của mình Song dù hy vọng có thể ly gián mối quan hệ giữa Trung Quốc và Liên Xô, chính sách của

Mỹ đối với Trung Quốc vẫn có những giới hạn nhất định Họ không dám công khai thừa nhận chính quyền của ĐCS Trung Quốc, càng không thể cắt đứt quan hệ với chính quyền Tưởng Giới Thạch

Đặc biệt, vào ngày 30/6/1949, trong bài diễn văn “Bàn về nền chuyên chính dân chủ nhân

dân” đề cập tới chính sách đối ngoại trong tương lai của chế độ mới ở Trung Quốc, Mao đã khẳng

định phải “liên minh với Liên Xô, với các nước dân chủ nhân dân, liên hiệp với giai cấp vô sản và

đông đảo nhân dân các nước khác” [23, 229] Tuyên bố này đã xóa tan ảo tưởng về khả năng phát

sinh một sự kiện giống Nam Tư mà nhiều người Mỹ vẫn ấp ủ và được giới lãnh đạo Mỹ đón nhận

Trang 31

như một lời báo động Đến ngày 5/9/1949, Tổng tư lệnh quân Mỹ đóng tại Nhật Bản là Michael Owen lại đề nghị Mỹ sử dụng không quân giúp Tưởng Giới Thạch tiếp tục phong tỏa và tấn công các thành phố ở ven biển

Nhưng tới ngày 1/10/1949, Mao Trạch Đông tuyên bố thành lập nước CHND Trung Hoa Sự

thắng lợi của ĐCS Trung Quốc đã bị người Mỹ đón nhận với một “mối ác cảm nặng nề” và đã

“gây ra một chấn thương lớn trong dư luận Mỹ” [21, 111]

*

Rõ ràng, sự quan tâm đặc biệt mà chính giới Hoa Kỳ dành cho Trung Quốc đã xuất hiện từ những năm đầu thế kỷ XX Nhưng ở đây lúc này, nhiều nước lớn đã chiếm cho mình những khu vực ảnh hưởng rộng lớn Mỹ là người đến sau, lại không có lực lượng thực tế đầy đủ để dùng vũ trang công khai xâm lược Trung Quốc Chính sách “Open door” đã trở thành một trong những thủ đoạn chủ yếu và cũng là một trong những âm mưu nhằm che đậy chính sách xâm lược của Mỹ Và đi kèm với đó là tích cực chống lại phong trào giải phóng dân tộc của nhân dân Trung Quốc

Trong cuộc thế chiến lần thứ nhất và cả quãng thời gian giữa hai cuộc đại chiến thế giới, Quốc hội Mỹ thực hiện chính sách cô lập và luôn cho rằng lợi ích của Hoa Kỳ ở thế giới ngoài Châu Mỹ

là không lớn Vì thế, một mặt Washington muốn bảo vệ một số đặc quyền nhất định của Mỹ ở bên ngoài; mặt khác lại tránh xa những xung đột bởi chúng không gắn liền với quyền lợi và an ninh Mỹ,

sẽ chỉ đưa đến những bất đồng, chi phí tốn kém và thậm chí là phiêu lưu vào chiến tranh

Trong thời kỳ đại chiến, Roosevelt đã từng có ý tưởng dùng lực lượng QDĐ làm nhân tố quan trọng chế ngự sức mạnh và làm giảm nhịp độ tiến công của quân Nhật ở Châu Á; dùng nước Trung Quốc thống nhất và liên kết chặt chẽ với Mỹ làm nền tảng cho hòa bình, ổn định ở Viễn Đông dưới quyền cai quản của nước Mỹ Và để đạt được mục tiêu đó, Mỹ đã nỗ lực hết sức để kết hợp các lực lượng vũ trang ở Trung Quốc và tích cực hoạt động nhằm nâng cao vị trí của Trung Quốc để trở thành một cường quốc chủ yếu sau chiến tranh

Theo thỏa thuận giữa ba cường quốc Liên Xô, Anh và Hoa Kỳ tại Hội nghị Yalta (2/1945) mà

thực chất là sự thỏa hiệp của hai siêu cường Xô – Mỹ, Trung Quốc sẽ là “khu đệm” với một chính phủ liên hiệp của QDĐ có sự tham gia của ĐCS Trung Quốc Thế nhưng, tình hình Trung Quốc đã

diễn ra không theo sự sắp đặt của hai siêu cường, tháng 7/1946, nội chiến lần thứ ba đã bùng nổ Sự can thiệp của Mỹ vào Trung Quốc trong khoảng thời gian từ năm 1945 đến năm 1949 là một bộ phận hợp thành của chính sách đối ngoại của Mỹ trong giai đoạn sau chiến tranh Đồng thời đây

cũng là một trong những biểu hiện chủ yếu và cụ thể của “Học thuyết ngăn chặn”: Mỹ có tiền và vũ

khí, còn Tưởng Giới Thạch có quân lính làm bia đỡ đạn Đó là sự phân công chủ yếu trong cuộc nội

Trang 32

chiến ở Trung Quốc mà Hoa Kỳ đã can thiệp với quy mô rộng lớn Mặc dù vậy, chính sách của Hoa

Kỳ đối với Trung Quốc trong thời kỳ này “chứa đầy những điều không sáng tỏ và gây tranh luận

kéo dài cho đến sau này” [12, 606] Mỹ không bộc lộ quyết tâm ủng hộ hết sức để giúp đỡ Tưởng

Giới Thạch, nhưng cũng không thể hiện là bỏ mặc người bạn đồng minh tự xoay xở

Điều này xuất phát từ cách nhìn nhận về vị trí của Trung Quốc trong chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ Người Mỹ đã có cảm tình với Trung Quốc trong một thời gian dài Với họ, Châu Âu là thế giới cũ còn Châu Á thuộc về thế giới mới Tuy rất quan trọng song Trung Quốc chưa thể bằng Châu

Âu trong quan điểm của người Mỹ Năm 1947, Trung Quốc được SJC xếp vị trí trí thứ 13 trong danh sách các nước mà việc phòng thủ là quan trọng đối với Mỹ Chỉ một năm sau, Ủy ban Hải và không quân đã hạ xuống hàng 17 Và tới tháng 11/1949, cả Nhà Trắng và Lầu Năm Góc đều thống

nhất rằng “vị thế của chúng ta không bị đe dọa trực tiếp với việc mất Trung Quốc chừng nào an

ninh của các quần đảo (ở Tây Thái Bình Dương, đặc biệt là Okinawa và Philippines) vẫn tiếp tục được giữ vững” [21, 135] Do đó, những cố gắng nhằm chặn đứng cộng sản ở Trung Quốc phải là

thứ yếu so với chính sách kiềm chế cộng sản ở Châu Âu Hơn thế, trong khi nguồn lực của Mỹ có hạn chế và được ưu tiên hàng đầu cho Châu Âu, nhiệm vụ của Mỹ khi dính líu vào Trung Quốc đã trở nên quá rộng lớn khi không những ngăn chặn sự bành trướng của Liên Xô mà còn phải hỗ trợ quân đội đang đánh nhau Và Mỹ đã áp dụng sách lược “hai tay”: vừa hòa đàm chính trị; vừa ủng hộ Tưởng Giới Thạch lũng đoạn quyền lợi, tiếp nhận sự đầu hàng của Nhật Bản để tranh giành khu vực

kiểm soát với ĐCS [34, 485] để rồi tiến hành chính sách “thoát thân” [34, 488] đối với cuộc nội

chiến Trung Quốc để có thể linh hoạt trong đối ngoại

Và trong bối cảnh lớn của cuộc chiến tranh lạnh Đông – Tây, việc hoạch định chính sách của Hoa Kỳ đối với Trung Quốc chịu ảnh hưởng tương đối lớn của nhân tố Liên Xô, chủ yếu xuất phát

từ góc độ đối phó với Liên Xô Chính vì thế, nhận thức và phản ứng của chính phủ Mỹ đối với

phương châm chiến lược “Nhất biên đảo” của ĐCS Trung Quốc là yếu tố quan trọng dẫn đến quan

hệ hai nước Trung – Mỹ căng thẳng trong một thời gian dài sau đó

Như vậy, trong giai đoạn này, chính sách của Hoa Kỳ đối với Trung Quốc đã thể hiện sự cố gắng biến Trung Quốc trở thành một nước thống nhất, ổn định và thân Mỹ làm nền tảng cho quyền lợi của Hoa Kỳ ở Viễn Đông Đồng thời, Washington cũng thực hiện chính sách kiềm chế và ngăn chặn đối với Trung Quốc song vẫn luôn áp dụng chính sách đối ngoại linh hoạt để không bị lôi cuốn vào những biến động phức tạp ở Châu Á

Trang 33

Chương 2 2: CHÍNH SÁCH CỦA HOA KỲ ĐỐI VỚI CHND TRUNG HOA

TRONG CUỘC CHIẾN TRANH TRIỀU TIÊN (6/1950 - 6/1951)

2 1 7Nước CHND Trung Hoa và mối quan hệ với Liên Xô

Sau Hội nghị Hiệp thương chính trị nhân dân khai mạc tại Bắc Kinh (ngày 21/9/1949) thông qua Hiến pháp tạm thời của nước Trung Hoa mới, ngày 1/10/1949, Mao Trạch Đông chính thức tuyên bố thành lập nước CHND Trung Hoa, mở ra một thời kỳ phát triển mới cho lịch sử đất nước này Ngay hôm sau, ngày 2/10, Liên Xô đã tuyên bố thừa nhận và đặt quan hệ ngoại giao với nước CHND Trung Hoa mới thành lập Trước đó, ngày 8/7/1949, Lưu Thiếu Kỳ đã dẫn đầu đoạn đại biểu ĐCS Trung Quốc sang thăm Liên Xô và hội đàm cùng Stalin về việc thiết lập một nước Trung Quốc

mới Trong chuyến viếng thăm này, Lưu Thiếu Kỳ đã tỏ rõ quan điểm “Tôi hy vọng khi đó Liên Xô

đã công nhận Trung Quốc mới trước các nước đế quốc khác Chúng tôi sẽ có chính sách riêng, sát cánh cùng Liên Xô trên mặt trận chống chủ nghĩa đế quốc”; và đưa ra đề xuất “Hai dân tộc Xô – Trung củng cố khối đoàn kết hữu nghị, có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với hai nước và quốc tế”

[57, 71] Chuyến đi thăm Moskva của Lưu Thiếu Kỳ đã chứng tỏ mối quan hệ Xô – Trung đang

bước sang một giai đoạn mới, khẳng định chính sách “Nhất biên đảo” là sự lựa chọn cuối cùng và

vô cùng cần thiết cho công cuộc chống chủ nghĩa đế quốc và kiến thiết nước Trung Hoa mới trong thời điểm hiện tại Người Trung Quốc nhấn mạnh rằng trong chiến tranh lạnh không quốc gia nào

có thể lựa chọn vị trí đứng giữa khối đế quốc do Mỹ đứng đầu và khối xã hội chủ nghĩa do Liên Xô đứng đầu, trung lập chỉ là bức màn ngụy trang và nước Trung Hoa mới lựa chọn con đường đi bên cạnh Liên Xô

Tiếp sau Liên Xô là CHND Bulgaria, Ba Lan, Tiệp Khắc, Rumania, Hungary, Anbania, Mông

Cổ, CHND Triều Tiên, Việt Nam…lần lượt công nhận và đặt quan hệ ngoại giao với nước Trung Hoa mới Như vậy, CHND Trung Hoa đã nhanh chóng đứng vững trên trường quốc tế, và trở thành một thành viên của hệ thống xã hội chủ nghĩa Điều đó đã góp phần tăng cường đáng kể lực lượng

và vị thế của phe này cũng như thúc đẩy một bước tiến lớn cho phong trào cộng sản quốc tế không chỉ ở Châu Á mà còn trên toàn thế giới

Tới tháng 2/1950, sau cuộc hội kiến với Mao Trạch Đông tại Moskva (kéo dài từ tháng 12/1949), Stalin đã đồng ý viện trợ cho Trung Quốc một khoản tín dụng là 300 triệu dollar mà một nửa trong số đó được dùng để mua các trang thiết bị hải quân cần thiết nhất cho cuộc tiến công Đài Loan Đồng thời, Liên Xô còn giúp đỡ về trang bị và cố vấn quân sự (bao gồm cả chuyên viên kỹ thuật quân sự), tiến hành cải tiến trang bị và kỹ thuật Không quân và hải quân Trung Quốc bước đầu đã được hình thành nhanh chóng Cũng trong thời gian này, ngày 14/2, Hiệp ước Hữu nghị, Tương trợ và Hợp tác Xô – Trung đã được ký kết tại Moskva, có giá trị trong 30 năm Trong đó,

Hiệp ước quy định rõ “Trong trường hợp một trong hai bên ký kết là mục tiêu tiến công của Nhật

Trang 34

hay của một quốc gia liên minh với Nhật, và do vậy ở trong tình trạng chiến tranh, nước ký kết còn lại sẽ ngay lập tức mang đến, bằng mọi phương tiện có thể được, sự giúp đỡ về quân sự và những

sự giúp đỡ khác…” và “Các bên ký kết sẽ không ký kết bất kỳ liên minh nào chống lại một trong hai nước ký kết và sẽ không tham gia bất kỳ khối liên hiệp, tiến hành các hoạt động hay biện pháp chống lại một trong hai nước ký kết…” [21, 112] Hiệp ước đã tạo ra một chỗ dựa vững chắc và

đáng tin cậy cho giới lãnh đạo Trung Quốc để có thể dồn sức cho hoạt động đối nội

Được ký kết trong bối cảnh mối quan hệ “gần gũi mang tính định mệnh” [21, 113] giữa CHND Trung Hoa và Liên Xô đang bước vào thời kỳ “trăng mật” [36, 170] để rồi sau đó là một

loạt các hiệp ước khác cũng được kí kết: Hiệp định về đường sắt Trường Xuân, cảng Lữ Thuận và Đại Liên của Trung Quốc; Hiệp định về khoản tiền 300 triệu USD mà Liên Xô sẽ cho nước CHND Trung Hoa vay để xây dựng đất nước sau chiến tranh… Và không đầy một năm sau, Hiệp ước Xô – Trung đã có cơ hội phát huy tác dụng khi Chí nguyện quân Trung Quốc sẵn lòng chịu đựng những

hi sinh to lớn tham gia vào cuộc chiến tranh Triều Tiên (1950 – 1953) Nhờ đó, cả thế giới đã cảm nhận được sâu sắc sức mạnh và tầm quan trọng của Trung Hoa mới trong phe xã hội chủ nghĩa

2 2 8Sự điều chỉnh chiến lược toàn cầu của Mỹ

2 2 1 Quan điểm của Hoa Kỳ về “sự sụp đổ của Trung Quốc”

Sự kiện ngày 1/10/1949 đã tạo nên một hiện tượng chính trị ở Mỹ là hội chứng “Ai đã làm mất

Trung Quốc?” (The who lost China syndrome?) tạo tiền đề lịch sử chi phối chính sách của Hoa Kỳ

đối với Trung Quốc trong một thời gian dài sau đó, khiến mối quan hệ giữa hai nước trở nên phức tạp, chứa đựng nhiều biến động và chịu tác động bởi nhiều yếu tố mà chủ yếu liên quan đến an ninh

và lợi ích chiến lược quốc gia của hai bên

Sự thất bại của chế độ QDĐ đã tạo nên một làn sóng chỉ trích Tổng thống Truman đã bỏ rơi chính quyền Tưởng Giới Thạch Trước tình hình đó, Bộ trưởng Ngoại giao Acheson đã phải làm mọi động tác để ủng hộ việc công nhận chính quyền Tưởng ở Đài Loan, tiếp tục duy trì tòa Đại sứ Tưởng ở Washington; đồng thời cự tuyệt thừa nhận tính hợp pháp của chính quyền Trung Quốc mới

bởi theo lời tuyên bố của Acheson vào ngày 7/12/1949 thì “việc đặt vấn đề công nhận chính phủ

Trung cộng là quá sớm” [14, 429] và ngăn cản CHND Trung Hoa thay thế quyền đại diện của chính

quyền QDĐ tại Liên Hợp Quốc cũng như các tổ chức quốc tế khác

Đây cũng không phải là một điều khó hiểu Thắng lợi của cuộc cách mạng Trung Quốc đã giáng một đòn chí tử vào những kế hoạch của Mỹ ở Trung Quốc và vùng Viễn Đông Trong những năm 1949 – 1950 đã xuất hiện những dấu hiệu rõ ràng về sự thay đổi từ phía Mỹ Trước sự thay đổi

nhanh chóng ở Trung Quốc, Mỹ đã giữ một thái độ “chờ xem” [34, 488] hay như lời nhận xét của

Lý Kiện là “đợi cho bụi trần lắng xuống” [36, 155] Washington đã xác lập một lập trường mang tính chất trung dung đối với chính quyền mới ở Hoa lục: không “thù địch thẳng thừng” mà cũng

Trang 35

không có “thái độ hòa giải” [21, 135] Từ đầu tháng 5/1949, chính phủ Hoa Kỳ dồn sức vào việc

lập một mặt trận chung giữa các nước phương Tây về vấn đề công nhận nước Trung Hoa mới, yêu cầu các nước phải thống nhất hành động và không được đơn phương công nhận khi chưa bàn bạc

với nước khác Đại sứ Mỹ ở Trung Quốc còn tuyên bố “chỉ khi nào nước Trung Quốc không liên

minh với Liên Xô, Mỹ mới có thể công nhận một nước Trung Quốc của ĐCS” [36, 155]

Các chuyên gia về vấn đề Châu Á của Mỹ còn cho rằng dù Hiệp ước Xô – Trung (2/1950)

được ký kết thì Trung Quốc vẫn “không phải là con rối của Liên Xô” [10, 202] và có thể hoàn toàn

tin tưởng rằng đây chính là tiền đề để tách hai nước này ra và kéo Trung Quốc trở lại hệ thống thế

giới Trong một lời bình luận đầu năm 1950, Acheson cũng quả quyết trước Thượng viện: “Những

mục tiêu rất cơ bản của Matxcơva trái ngược với những mục tiêu rất cơ bản của Trung Quốc” [18,

96] Chính vì thế, một trong những mục tiêu hàng đầu trong chính sách của Mỹ ở Châu Á là “tách

Trung Quốc như một đồng minh của Liên bang Xô Viết” bằng cách “khơi dậy những khác biệt giữa cách thức điều hành” của hai nước và “tạo ra những phân cách bên trong chế độ của Bắc Kinh”

[18, 97]

Đó cũng chính là những lý do để ngày 5/1/1950, trong bài phát biểu của mình, Truman đã tuyên bố: “Hoa Kỳ không có ý định tìm kiếm những quyền lợi hay sự ưu đãi nào đặc biệt, hoặc thiết

lập căn cứ quân sự ở Đài Loan vào lúc này Hoa Kỳ cũng không có ý định sử dụng lực lượng quân

sự của mình để can thiệp vào tình hình hiện nay Hoa Kỳ sẽ không theo đuổi đường lối có thể dẫn đến việc dính líu vào cuộc nội chiến ở Trung Quốc Tương tự như vậy, Chính phủ Hoa Kỳ sẽ không cung cấp viện trợ hay cố vấn quân sự cho lực lượng Trung Quốc ở Đài Loan” [21, 54 - 55] Cũng

trong ngày này, Bộ trưởng Ngoại giao Dean Acheson khi tuyên bố về “vành đai phòng thủ”

(defensive perimeter) của Mỹ ở Tây Thái Bình Dương đã khẳng định Hợp chúng quốc Hoa Kỳ

“không coi Đài Loan, lục địa ở vùng Đông Nam Á, hay Nam Triều Tiên là yếu tố cần thiết đối với

sự an ninh của người Mỹ” [63, 1037]

Thế nhưng, “sự cuồng loạn chống cộng” và thái độ không chịu dàn hòa khi bị “mất Trung Quốc” của Chủ nghĩa McCarthy cuối cùng đã buộc Mỹ sử dụng chính sách kiềm chế “cô lập tiến

tới ngăn chặn” và “tận dụng mọi khả năng khiến ĐCS rơi vào những ngày khốn khổ về kinh tế”

[57, 212] Ngày 17/12/1949, Quốc hội Mỹ đã cảnh báo tàu thuyền Mỹ không nên qua lại khu vực nguy hiểm là Thượng Hải và các tuyến đường hàng hải Trung Quốc Một tuần sau, Quốc hội tiếp

tục ra lệnh “Hễ là tàu bè thuộc chủ quyền nước Mỹ nếu đi vào khu vực QDĐ phong tỏa sẽ bị tịch

thu giấy chứng nhận hành trình” [57, 212] Trong tháng 7/1950, chính phủ Mỹ chính thức tuyên bố

“phạm vi khống chế mậu dịch COCOM đối với Liên Xô và tập đoàn Đông Âu nay mở rộng sang Trung Quốc và Bắc Triều Tiên” Và tới ngày 20/7/1950, Bộ Ngoại thương Mỹ tuyên bố “bãi bỏ

Trang 36

không cấp giấy phép cho các tàu vận tải hàng hóa của Mỹ vào Trung Quốc mới, người đã được cấp phải giao nộp lại theo luật” [57, 213]

2 2 2 2Lợi ích chiến lược của Hoa Kỳ ở Châu Á

Chiến thắng của Hồng quân Trung Quốc còn làm cho chính sách Châu Á của Mỹ buộc phải chuyển biến Chính quyền Truman nhận thấy cần phải theo đuổi một chính sách tích cực hơn ở Châu Á Để cho cộng sản bành trướng hơn nữa sẽ là một thất bại về đối ngoại của Mỹ và là một thất bại về đối nội của phe dân chủ Điều này đã được Mac Arthur khẳng định trong bức thư gửi các

nghị sĩ vào mùa đông năm 1950 “nếu chúng ta thua trong cuộc chiến tranh với chủ nghĩa cộng sản

ở Châu Á, thì sự sụp đổ của Châu Âu là không thể tránh khỏi, và nếu thắng thì Châu Âu chắc chắn

sẽ tránh được chiến tranh và giữ được nền tự do” [65, 90]

Trước hết là cần quay ngược về với Nhật Bản Washington muốn Nhật phải nhanh chóng hùng mạnh để trở thành phòng tuyến ngăn chặn cộng sản tốt ở Đông Á Như lời của G Kennan, người có ảnh hưởng lớn đến việc hoạch định chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ trong thời kỳ đầu của Chiến tranh lạnh, đã từng thừa nhận người Mỹ luôn cảm thấy an toàn khi có một nước Nhật Bản

thân hữu Hiểu rất rõ ý nghĩa của Nhật trong hệ thống phòng thủ ngoại vi của Mỹ “…Nhật có ảnh

hưởng rất lớn, tích cực hay tiêu cực, tùy thuộc vào việc nó ngả theo phe nào” [21, 77], Mỹ luôn coi

Nhật Bản là một đối trọng quân sự để “đối phó với Trung Quốc đỏ” [34, 489] Vì thế từ mùa hè

năm 1949, giới cầm quyền Hoa Kỳ đã nôn nóng xúc tiến cuộc vận động ký hòa ước với Nhật sao cho có thể duy trì các căn cứ quân sự của họ ở nước này

Từ cuối năm 1949, Mỹ cũng đã chú ý nhiều hơn đến chính sách Đông Dương Tháng 12 năm này, Truman chuẩn y văn kiện số 48/2 của Hội đồng An ninh Quốc gia tạo cơ sở cho việc tăng thêm trợ giúp kinh tế và quân sự ở Châu Á và khẳng định cần quan tâm đặc biệt đến tình hình Việt Nam [27, 75 - 76] Và đến tháng 2/1950, Truman đã quyết định chuyển khoản viện trợ đầu tiên cho thực dân Pháp nhằm duy trì sự tồn tại của họ ở Đông Dương với tổng giá trị là 18 triệu dollar [12, 606]

Sự quan tâm này của Mỹ sẽ còn tiếp tục tăng lên trong quá trình tham chiến ở Triều Tiên, vì Mỹ cần Pháp ở Đông Dương để “chia lửa” hơn bao giờ hết

Chiếm sự quan tâm lớn trong giới cầm quyền Hoa Kỳ chính là vấn đề Đài Loan, hay nói khác

đi sau thắng lợi của ĐCS Trung Quốc ở lục địa Trung Hoa, trong chính sách của Hoa Kỳ đối với Trung Quốc nổi lên vấn đề Đài Loan Nếu như lúc đầu, chính quyền Truman có kế hoạch để cho tình hình liên quan đến Đài Loan tự tiến triển theo chiều hướng của nó, thì về sau sự việc lại không diễn ra như vậy Nhận thức về vấn đề Đài Loan, ngay từ tháng 11/1949, Acheson đã từng tuyên bố

“Việc Đài Loan là một căn cứ quân sự là không thể khác được Nói chung, trong tư duy về chính sách đối ngoại của Mỹ, suy tính cho an ninh của Đại Tây Dương phải ưu tiên suy tính đến an ninh của Thái Bình Dương” [45, 403] Truman không muốn Đài Loan trở thành một căn cứ quân sự của

Trang 37

Liên Xô ở vùng Tây Thái Bình Dương mà ngược lại Mỹ muốn giúp đỡ Tưởng chiếm cứ Đài Loan là

để làm công cụ xâm lược nước CHND Trung Hoa nhằm tái lập chính quyền QDĐ thân Mỹ Bởi vậy, viện trợ kinh tế cho Đài Loan vẫn được tiếp tục Từ mùa xuân năm 1950, trang thiết bị quân sự cũng đã được gửi sang Đài Loan Đồng thời, để kiềm chế nước Trung Quốc mới, Mỹ đã tích cực hoạt động nhằm ngăn chặn không để nước CHND Trung Hoa được giữ địa vị hợp pháp ở Liên Hợp Quốc

Và đương nhiên, trong chính sách Châu Á của Mỹ không thể thiếu vấn đề Triều Tiên Bán đảo Triều Tiên án ngữ ở một vị trí xung yếu; là “cái neo” để Mỹ có thể trụ chân ở Đông Á Triều Tiên cũng đồng thời là cửa ngõ phía Bắc của Trung Hoa với những ảnh hưởng từ xa xưa Chính vì thế, có được Triều Tiên, Mỹ sẽ tạo nên một sự uy hiếp to lớn đối với những lực lượng tiềm ẩn nguy cơ, thách thức ảnh hưởng đến quyền lợi của Mỹ tại khu vực và trên toàn thế giới là Nhật Bản, Liên Xô

và Trung Quốc

Mặc dù vậy, cho đến khi chiến tranh Triều Tiên bùng nổ, những biến đổi trong chính sách của Hoa Kỳ đối với Châu Á là chưa lớn Châu Âu vẫn là quan trọng nhất Còn Châu Á (với trọng tâm là Nhật Bản, Philippines và những đảo ngoài khơi lục địa Châu Á) có tầm quan trọng chiến lược

giao và Bộ Quốc phòng “duyệt xét và đánh giá lại toàn bộ chính sách đối ngoại và quốc phòng của

Hoa Kỳ dưới ánh sáng của các sự biến: Trung Quốc bị mất, Liên Xô làm chủ năng lượng hạt nhân

và viễn cảnh chế tạo bom H” [22, 11] Tới ngày 25/4/1950, Hội đồng An ninh Quốc gia Hoa Kỳ đã

thông qua một văn kiện tuyệt mật mang ký hiệu NSC – 68 (được hoàn thành vào ngày 7/4/1950 bởi

Paul Nitze) được đánh giá là “một xác định toàn diện đầu tiên về chiến lược quốc gia” [22, 11]

Trong đó, văn kiện đã đánh giá sức mạnh quân sự của Liên Xô lớn hơn trước rất nhiều khiến cho sự

đe dọa từ phía Moskva càng trở nên trực tiếp hơn Vì thế dự án NSC – 68 đưa ra yêu cầu phải có ba

chuyển đổi quan trọng trong chiến lược của Mỹ: Thứ nhất, cần phải có một sự toàn cầu hóa chính sách ngăn chặn Mối đe dọa không chỉ ở Châu Âu, Châu Á mà còn có ở bất kỳ nơi nào khác Thứ

hai, cần phải quân sự hóa chính sách ngăn chặn; hay nói cách khác là tái quân bị trên quy mô lớn về

Trang 38

phía Mỹ, cả ở lực lượng thông thường và hạt nhân Điều cần thiết lúc này là việc tăng cường sức mạnh quân sự rộng khắp: một mạng lưới các căn cứ quân sự ở ngoài nước trên phạm vi toàn cầu, những liên minh quân sự vượt ra ngoài cả NATO, và một mức độ gia tăng chi phí quốc phòng đáng

kể Thứ ba là phát triển bom Hydro Với mức phá hủy tương đương với bom nguyên tử, một trái

bom Hydrogen (bom H) có khả năng phá hủy trên phạm vi rộng lớn hơn, từ đó góp phần duy trì ưu thế hạt nhân của Mỹ [33, 137] Và 40 tỷ dollar là một con số hoàn toàn thích hợp cho ngân sách quốc phòng trong việc thực hiện kế hoạch này [27, 199]

Rõ ràng, NSC – 68 đã thể hiện một sự cứng rắn cả về chiến lược và chính trị Điều đó đã khuấy động nên một cuộc tranh cãi lớn trong chính quyền Truman Và chiến tranh Triều Tiên bùng

nổ càng thúc đẩy tình hình leo thang, đã trực tiếp thúc đẩy việc thực hiện văn kiện NSC – 68 khi

không còn hoài nghi gì nữa như những gì Truman đã từng tuyên bố “Chủ nghĩa cộng sản đang

hành động ở Triều Tiên như người Nhật đã từng hành động 10, 15 và 20 năm về trước” [33, 138]

Ngày 30/9, Truman đã chuẩn y NSC – 68 Tái quân bị được thực hiện một cách nhanh chóng Ngân sách quốc phòng được đẩy lên đến mức 50 tỷ USD [27, 199] Và sau này, Acheson cũng thừa nhận:

“{Cuộc khủng hoảng} Triều Tiên nổ ra đã cứu chúng ta” [44, 214]

2 3 9Từ NSC - 68 đến cuộc chiến tranh Triều Tiên

2 3 1 Bán đảo Triều Tiên sau Chiến tranh thế giới II

2 3 1 1 3Sự thành lập hai nước Triều Tiên

Chính vị trí và vai trò của Triều Tiên trong chiến lược của Mỹ ở Châu Á là lời giải thích rõ

ng nhất vì sao Triều Tiên chỉ là “khu vực biên duyên chiến lược” [45, 109] nhưng cả Liên Xô và

Mỹ đều chấp nhận để bị lôi cuốn vào cuộc chiến tranh ở nơi đây Ngay sau khi Chiến tranh thế giới

II kết thúc, bán đảo Triều Tiên đã trở thành nơi đấu tranh của Mỹ - Xô, phản ánh so sánh lực lượng của hai siêu cường

Theo đúng quy định của Hội nghị Potsdam (7/1945), ngay trong tháng 8/1945, khi chiến dịch tấn công đạo quân Quan Đông của Nhật Bản còn đang diễn ra, Liên Xô đã tiến vào phía Bắc của Triều Tiên (tới vĩ tuyến 38), giúp đỡ ĐCS Triều Tiên được khôi phục và phát triển nhanh chóng Ngày 2/9/1945, khi quân Nhật tuyên bố đầu hàng vô điều kiện cũng là lúc Tướng Mac Arthur, Tổng

tư lệnh các lực lượng vũ trang Đồng minh ở Châu Á – Thái Bình Dương, được sự đồng ý của Liên

Xô đã chính thức ra lệnh binh sĩ Nhật Bản ở phía Bắc vĩ tuyến 38 đầu hàng người Nga còn ở phía Nam vĩ tuyến 38 sẽ do người Mỹ tiếp nhận đầu hàng Tới ngày 9/9/1945, quân đội Mỹ đã bắt đầu đổ

bộ vào miền Nam Trước đó 3 ngày, với sự giúp đỡ của Liên Xô, một chính phủ bao gồm tất cả các

tổ chức và cá nhân từng tham gia chống Nhật được thành lập Ngay sau khi vào Triều Tiên, người

Mỹ đã lập tức cho giải tán chính phủ và tự thiết lập Chính quyền quân sự của Hoa Kỳ tại Triều Tiên với sự tham gia của các viên chức trong bộ máy cai trị cũ của Nhật Cũng từ đó, mỗi bên Xô – Mỹ

Trang 39

đều cố gắng xúc tiến việc xây dựng mỗi miền theo đường lối riêng của mình, dẫn đến sự ra đời của hai nước Triều Tiên

Ở miền Bắc, ngay từ tháng 2/1946, Liên Xô đã cho thành lập một chính quyền do Đảng Lao động làm nòng cốt và do Kim Nhật Thành đứng đầu Tới 25/8/1948, với sự giúp đỡ của Liên Xô, cuộc bầu cử Quốc hội Bắc Triều Tiên đã diễn ra một cách trọng thể với thành phần hầu hết là đảng viên cộng sản hoặc có cảm tình với ĐCS Nửa tháng sau, Quốc hội tuyên bố thành lập nước CHDCND Triều Tiên với Chính phủ do Kim Nhật Thành làm Thủ tướng Thủ đô đóng tại Pyongyang (Bình Nhưỡng) Chính phủ CHDCND Triều Tiên tự coi mình là đại diện chân chính duy nhất của cả nước

Ngày 12/10, Liên Xô đã chính thức thừa nhận Chính phủ CHDCND Triều Tiên Tiếp theo sau

là một loạt các nước dân chủ nhân dân ở Đông Âu cũng lần lượt công nhận Chính phủ này Sau khi

đã trang bị và huấn luyện cho các lực lượng du kích của ĐCS trở thành Quân đội nhân dân Triều Tiên hùng mạnh, tháng 12/1948, quân đội Liên Xô đã rút khỏi Bắc Triều Tiên và đề nghị quân Mỹ cũng đồng thời rút quân

Ở miền Nam, dưới sự bảo trợ của Mỹ, ngày 14/2/1946, “Hội đồng đại diện cho nền dân chủ Triều Tiên” đứng đầu là Lý Thừa Vãn đã được thành lập bao gồm địa chủ, tư sản và các phần tử bảo thủ khác Hội đồng được coi là cơ quan tư vấn và chấp hành mệnh lệnh của tư lệnh quân đội chiếm đóng Mỹ Tới ngày 10/5/1948, Ủy ban lâm thời của Liên Hợp Quốc về Triều Tiên (thành lập ngày 14/11/1947) đã tổ chức cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội Triều Tiên Hai tháng sau, ngày 12/7, Hiến pháp nước Đại Hàn Dân Quốc (gọi tắt là Hàn Quốc) được thông qua Lý Thừa Vãn trở thành Tổng thống đầu tiên của nước cộng hòa Chính phủ Hàn Quốc đóng tại Seoul (Hán Thành) và cũng

tự coi là đại diện cho cả nước

Ngày 12/12, Đại Hội Đồng Liên Hợp Quốc đã thông qua nghị quyết thừa nhận Chính phủ Lý Thừa Vãn Và tới 1/1/1949, Hoa Kỳ chính thức công nhận Chính phủ Hàn Quốc Cuối tháng 6/1949, Mỹ cũng hoàn tất việc rút quân khỏi Nam Triều Tiên Tuy vậy, một đoàn cố vấn quân sự

Mỹ gồm 500 người vẫn ở lại với nhiệm vụ giúp Lý Thừa Vãn huấn luyện quân đội [21, 50] Và trong khi rút khỏi Triều Tiên, Mỹ cũng đã chuyển giao cho quân đội Hàn Quốc một kho vũ khí lớn trị giá tới 110 triệu dollar với 100.000 khẩu súng, 50 triệu viên đạn dùng cho vũ khí hạng nhẹ, 2000 ống phóng tên lửa, hơn 4 vạn xe cộ, cùng rất nhiều đại bác và súng cối đủ trang bị cho một đội quân 5 vạn người [36, 191 - 192]

Như vậy, sự thành lập hai nước Triều Tiên chính là kết quả của hai đường lối trái ngược nhau giữa Mỹ và Liên Xô trong việc giải quyết vấn đề Triều Tiên sau chiến tranh Điều đó đã biến vĩ tuyến 38 từ chỗ là ranh giới phân chia khu vực đóng quân của hai cường quốc thành biên giới của

sự đối lập: nước CHDCND Triều Tiên kiên trì đường lối xã hội chủ nghĩa còn Đại Hàn Dân Quốc

Trang 40

thực thi chế độ tư bản chủ nghĩa Bán đảo Triều Tiên cũng vì thế mà trở thành một điểm nóng, một trong các trận tuyến của cuộc chiến tranh lạnh

2 3 1 2 4Quan điểm của hai bên về cuộc chiến tranh ở Triều Tiên

Có thể giải thích thế nào về sự thay đổi thái độ của Hoa Kỳ khi người Mỹ đã đứng ngoài cuộc nội chiến ở Trung Quốc thì có lý gì lại can thiệp vào nội tình của bán đảo nhỏ bé mà chỉ mới đầu tháng 1/1950, Washington còn tuyên bố Triều Tiên nằm ngoài phạm vi phòng thủ của Mỹ

Tuy nhiên, có lẽ không khó để xác định mục tiêu chính trị và kinh tế của Mỹ trong cuộc chiến tranh Triều Tiên Phát biểu của Washington ngày 5/1/1950 phần nào dựa trên mong đợi người Hàn Quốc có thể tự đứng vững được trước một cuộc tấn công từ phía Bắc Nhưng trường hợp này đã không xảy ra Trong khi đó, tình hình chính trị trong nước Mỹ đã làm lung lay thêm lập trường ban đầu của chính quyền Truman Những lời buộc tội vì đã “để mất Trung Hoa” trở nên mạnh mẽ hơn

Từ tháng 2/1950, Thượng nghị sĩ Josept Mc Carthy bắt đầu công kích các ảnh hưởng cộng sản ngày càng tăng lên trong chính quyền Nếu Nam Triều Tiên giờ cũng thất thủ sẽ gây rắc rối Truman trong cuộc bầu cử Quốc hội diễn ra trong vài tháng tới khiến Truman cần phải hành động nhanh và quyết đoán Và ông đã nhận được sự ủng hộ tuyệt đối từ Quốc hội và công chúng Mỹ

Một lập luận không kém phần quan trọng nữa là chính sách ngăn chặn sự bành trướng của chủ

nghĩa cộng sản và học thuyết domino (the domino theory) Người Mỹ cho rằng Moskva đứng đằng

sau cuộc tấn công của Bắc Triều Tiên Sự xâm lược này cần phải ngăn chặn càng sớm càng tốt vì nếu sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản không được chống lại ở Triều Tiên sẽ dẫn tới những bước tiến mới ở các khu vực trung tâm hơn, mà Tây Âu và Nhật Bản rất có thể là mục tiêu tiếp theo Triều Tiên phải được thống nhất thành một quốc gia không cộng sản Và giờ đây chính những người cộng sản đã tạo ra cơ hội để thực hiện Chính cách nghĩ như vậy là yếu tố trung tâm trong quyết định gửi quân Mỹ đến Triều Tiên

Ngoài mục đích gây thêm tình hình căng thẳng mới trên thế giới để lấy thêm cớ đe dọa và thúc đẩy các nước đồng minh phương Tây tích cực chuẩn bị chiến tranh theo chương trình của Mỹ (Văn kiện NSC – 68); giới cầm quyền ở Washington muốn tham chiến ở Triều Tiên còn vì mục đích

kinh tế

Từ sau Đại chiến thế giới lần II, nền kinh tế Mỹ đang dần bước vào một giai đoạn khó khăn mới với những triệu chứng khủng hoảng Mức sản xuất trong các năm 1948 – 1949 sụt giảm khá nhiều, số nguyên liệu tồn kho đạt mức cao nhất so với trước chiến tranh Cùng với đó, số lượng người thất nghiệp tăng lên nhanh chóng, lợi nhuận của các công ty sụt xuống kéo theo hàng vạn xí nghiệp phải ngừng hoạt động Trong khi đó, Mỹ vẫn tiếp tục hướng sản xuất theo hướng phục vụ chiến tranh, những chi phí quân sự cũng ngày một tăng

Ngày đăng: 26/08/2016, 23:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w