1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

MỐI QUAN HỆ GIỮA NỀN KINH TẾ CHÍNH THỨC VÀ NỀN KINH TẾ NGẦM: BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM TỪ CÁC QUỐC GIA ASEAN.

70 562 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 70
Dung lượng 1,75 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan rằng, luận văn “Mối quan hệ giữa nền kinh tế chính thức và nền kinh tế ngầm: Bằng chứng thực nghiệm từ các quốc gia ASEAN” này là bài nghiên cứu của chính tôi. Ngoại trừ những tài liệu tham khảo được trích dẫn trong luận văn, tôi cam đoan rằng, toàn phần hay những phần nhỏ của luận văn này chưa từng được công bố hoặc được sử dụng để nhận bằng cấp ở những nơi khác. Không có nghiên cứu, luận văn, tài liệu nào của người khác được sử dụng trong luận văn này mà không được trích dẫn theo đúng quy định. Luận văn này chưa bao giờ được nộp để nhận bất kỳ bằng cấp nào tại các trường đại học hoặc cơ sở đào tạo khác. Luận văn này là một nhánh nghiên cứu trong Đề tài Nghiên cứu cấp Bộ “Lượng hóa quy mô kinh tế ngầm và Đề xuất giải pháp nhằm giảm quy mô kinh tế ngầm trong nền kinh tế Việt Nam” do TS. Võ Hồng Đức là Chủ nhiệm Đề tài. Luận văn này đã có một bài báo được chấp nhận đăng trên tập chí International Journal of Economics and Finance, Vol. 6, No. 11, November 2014 với tên: “Any Link between Unofficial Economy and Official Economy? An Empirical Evidence from the ASEAN” TP. Hồ Chí Minh, tháng 11 năm 2014 PHẠM MINH TIẾN

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ TP HỒ CHÍ MINH

PHẠM MINH TIẾN

MỐI QUAN HỆ GIỮA NỀN KINH TẾ CHÍNH THỨC VÀ NỀN KINH TẾ NGẦM: BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM TỪ CÁC QUỐC GIA ASEAN

Chuyên ngành : Kinh tế học

Mã số chuyên ngành : 60 03 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS VÕ HỒNG ĐỨC

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng, luận văn “Mối quan hệ giữa nền kinh tế chính thức và nền

kinh tế ngầm: Bằng chứng thực nghiệm từ các quốc gia ASEAN” này là bài nghiên cứu

của chính tôi

Ngoại trừ những tài liệu tham khảo được trích dẫn trong luận văn, tôi cam đoan rằng,

toàn phần hay những phần nhỏ của luận văn này chưa từng được công bố hoặc được sử

dụng để nhận bằng cấp ở những nơi khác

Không có nghiên cứu, luận văn, tài liệu nào của người khác được sử dụng trong luận

văn này mà không được trích dẫn theo đúng quy định

Luận văn này chưa bao giờ được nộp để nhận bất kỳ bằng cấp nào tại các trường đại

học hoặc cơ sở đào tạo khác

Luận văn này là một nhánh nghiên cứu trong Đề tài Nghiên cứu cấp Bộ “Lượng hóa

quy mô kinh tế ngầm và Đề xuất giải pháp nhằm giảm quy mô kinh tế ngầm trong nền

kinh tế Việt Nam” do TS Võ Hồng Đức là Chủ nhiệm Đề tài

Luận văn này đã có một bài báo được chấp nhận đăng trên tập chí International

Journal of Economics and Finance, Vol 6, No 11, November 2014 với tên: “Any Link

between Unofficial Economy and Official Economy? An Empirical Evidence from the

ASEAN”

TP Hồ Chí Minh, tháng 11 năm 2014

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Võ Hồng Đức, người Thầy tâm huyết đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều thời gian định hướng và góp ý cho Tôi trong suốt quá trình thực hiện để hoàn thành luận văn này

Xin cảm ơn quý Thầy, Cô Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, những người

đã trang bị cho tôi những kiến thức quý báu trong thời gian Tôi theo học tại Trường

Và cuối cùng, Tôi xin chân thành cảm ơn tất cả những người thân trong gia đình, bạn

bè và đồng nghiệp đã tận tình hỗ trợ, góp ý và động viên Tôi trong suốt thời gian học tập

Trang 4

TÓM TẮT

Nghiên cứu này được thực hiện để kiểm tra và lượng hóa các mối quan hệ giữa nền kinh tế chính thức và nền kinh tế ngầm ( kinh tế không chính thức) cho các quốc gia ASEAN trong giai đoạn từ năm 1996 đến năm 2013 Kinh tế ngầm là một biến tiềm ẩn (không quan sát được) có thể được ước tính bằng cách sử dụng các chỉ số quan sát khác Do vậy, trong nghiên cứu ngày, phương pháp MIMIC – phương pháp được sử dụng rộng rãi trong các

nghiên cứu định lượng, được sử dụng Để sử dụng phương pháp MIMIC, các biến số nguyên

nhân (causes variables) và các biến số chỉ báo (indicators variables) cần được xác định

Các biến số này được xác định trên nền tảng của các lý thuyết có liên quan đến kinh tế ngầm; các nghiên cứu thực nghiệm đã được thực hiện; và điều kiện cụ thể của các quốc gia ASEAN trong nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng tỷ lệ lực lượng lao động tham gia và tăng trưởng GDP

bình quân đầu người là hai chỉ số đáng tin cậy cho sự hiện diện và gia tăng về quy mô của

nền kinh tế ngầm cho các quốc gia ASEAN trong giai đoạn nghiên cứu Trong khi đó, gánh

nặng thuế; chi tiêu của chính phủ; tỷ lệ thất nghiệp; độ mở của nền kinh tế; đầu tư ròng;

và tự làm chủ của lao động có khả năng là nguyên nhân của sự hiện diện của nền kinh tế

ngầm Bên cạnh đó, đối với tất cả các quốc gia thuộc khu vực ASEAN, quy mô nền kinh tế ngầm đã đạt đến một kích thước lớn, chiếm đến 33,8% GDP chính thức trong giai đoạn từ năm 1996 đến năm 2013 Quy mô kinh tế ngầm trung bình cho các quốc gia ASEAN trong nghiên cứu này hiện tại là 37,8% (năm 2013) Điều đáng lo ngại là quy mô trung bình của nền kinh tế ngầm của 8 quốc gia này có xu hướng ngày càng tăng theo thời gian

Kết quả nghiên cứu cũng thể hiện rằng, tồn tại mối quan hệ giữa nền kinh tế ngầm và nền kinh tế chính thức – quy mô nền kinh tế ngầm có liên quan đến quy mô của nền kinh

tế chính thức Kết quả nghiên cứu cũng cho chúng tôi kết luận quan trọng rằng, kinh tế

ngầm và kinh tế chính thức có mối quan hệ nghịch biến hai chiều khi nền kinh tế chính

thức được đo lường bằng chỉ tiêu thu nhập bình quân đầu người và quan hệ nghịch biến

một chiều từ kinh tế ngầm đến kinh tế chính thức khi quy mô nền kinh tế chính thức được

Trang 5

nghiên cứu cung cấp bằng chứng khoa học định lượng để kết luận rằng trong khi tác động tiêu cực từ nền kinh tế ngầm đến nền kinh tế chính thức là rõ ràng, ảnh hưởng từ nền kinh

tế chính thức đến nền kinh tế ngầm là không rõ ràng Sự tồn tại của một nền kinh tế ngầm với quy mô lớn như tại các quốc gia ASEAN trong nghiên cứu đã ảnh hưởng đến chất lượng của dữ liệu tài khoản quốc gia cũng như dữ liệu tài chính được báo cáo trong các báo cáo ngân sách của chính phủ Thực tế là quy mô của các nền kinh tế ngầm của 8 quốc gia ASEAN mà chúng tôi đã ước tính trong nghiên cứu này đã tăng đáng kể từ 1996-2013, cho thấy dữ liệu tài khoản quốc gia của các quốc gia ASEAN bị đánh giá thấp đáng kể trong giai đoạn vừa qua

Các hàm ý chính sách từ nghiên cứu này là các quốc gia thuộc ASEAN sẽ được hưởng lợi nhiều hơn từ quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế khi nền kinh tế ngầm cho mỗi quốc gia có một kích thước nhỏ hơn so với bây giờ Trong khi khuyến nghị chính sách cụ thể để kiểm soát tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế ngầm nằm ngoài tầm với của nghiên cứu này, chính phủ các nước ASEAN cần phải xem xét nguyên nhân cơ bản gây ra sự hiện diện và sự phát triển của nền kinh tế ngầm Sự phân tích này là cơ hội để việc ban hành các chính sách nhằm hạn chế sự gia tăng của nền kinh tế ngầm di chuyển ra khỏi cách tiếp cận thông thường được thông qua bởi chính phủ bằng các hình thức trừng phạt và giáo dục Một cách tiếp cận phù hợp hơn để kiểm soát tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế ngầm là thông qua một đánh giá toàn diện và có hệ thống hơn đối với gánh nặng thuế và các khoản đóng góp an ninh xã hội; và quy định được chứng minh và cung cấp trong các nghiên cứu

về nền kinh tế ngầm

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

TÓM TẮT iii

MỤC LỤC v

DANH MỤC HÌNH vii

DANH MỤC BẢNG BIỂU vii

DANH MỤC VIẾT TẮT ix

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1

1.1 Đặt vấn đề nghiên cứu 1

1.2 Câu hỏi nghiên cứu 3

1.3 Mục tiêu nghiên cứu 3

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 3

1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 4

1.5 Phương pháp nghiên cứu 4

1.6 Ý nghĩa nghiên cứu 5

1.7 Kết cấu nghiên cứu dự kiến 5

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU 7

2.1 Những vấn đề cơ bản liên quan đến kinh tế ngầm 7

2.1.1 Khái niệm về kinh tế ngầm 7

2.1.2 Phân loại kinh tế ngầm 9

2.2 Nguyên nhân xuất hiện của kinh tế ngầm 12

2.4 Mối quan hệ giữa kinh tế ngầm và kinh tế chính thức 14

2.4 Các hướng nghiên cứu chính về kinh tế ngầm 17

2.5 Mô hình nghiên cứu 18

2.5.1 Các mô hình nghiên cứu trước 18

2.5.2 Kết quả một số nghiên cứu về kinh tế ngầm 21

Trang 7

CHƯƠNG 3PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22

3.1 Quy trình nghiên cứu 22

3.2 Phương pháp tiếp cận và phân tích cho nghiên cứu 23

3.2.1 Phương pháp tiếp cận 23

3.2.2 Phương pháp phân tích 26

3.3 Dữ liệu nghiên cứu 28

3.4 Mô hình nghiên cứu lý thuyết đề xuất 28

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 36

4.1 Tổng quan về các quốc gia Đông Nam Á 36

4.2 Tổng quan kết quả mẫu phân tích 37

4.2.1 Phân tích chung các chỉ số nghiên cứu 37

4.2.2 Phân tích các chỉ số nguyên nhân của kinh tế ngầm 38

4.2.3 Phân tích các chỉ số là chỉ báo cua kinh tế ngầm 39

4.2.4 Phân tích các chỉ số đại diện nền kinh tế chính thức 41

4.3 Ước lượng quy mô kinh tế ngầm của các quốc gia ASEAN 42

4.4 Phân tích mối quan hệ giữa kinh tế ngầm và kinh tế chính thức 45

4.4.1 Kế quả nghiên cứu 45

4.4.2 Phân tích kết quả nghiên cứu 47

4.4.3 Ảnh hưởng của các biến nguyên nhân đến kinh tế ngầm 49

4.4.4 Ảnh hưởng của các biến chỉ báo đến nền kinh tế ngầm 50

CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH 52

5.1 Kết luận 52

5.2 Hàm ý chính sách 54

5.3 Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo 54

TÀI LIỆU THAM KHẢO 56

Trang 8

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1 Phân loại các hoạt động trong nền kinh tế không quan sát 11

Hình 2.2 Mô hình nghiên cứu về kinh tế ngầm của Dell’Anno và Schneider 20

Hình 2.3 Mô hình nghiên cứu của Ene và Ştefănescu (2011) 20

Hình 3.1 Sơ đồ quy trình nghiên cứu 23

Hình 3.2 Khung phân tích chung cho phương pháp MIMIC 25

Hình 3.3 Nền kinh tế ngầm và kinh tế chính thức: biến nguyên nhân và chỉ báo 29

Hình 4.1: Biên động của các chỉ số biến nguyên nhân từ năm 1996 đến 2013 38

Hình 4.2 Biên động của các chỉ báo từ năm 1996 đến 2013 40

Hình 4.3 Biên động của các chỉ số kinh tế chính thức từ năm 1996 đến 2013 41

Hình 4.4 Biến động kinh tế ngầm của ASEAN từ năm 1996 đến 2013 44

Hình 4.5 Quy mô kinh tế ngầm và GDP bình quân đầu người từ năm 1996 -2013 48

Trang 9

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1 Quan niệm của các quốc gia và tổ chức về kinh tế ngầm 8

Bảng 2.2 Phân loại hoạt động trong nền kinh tế ngầm 10

Bảng 2.3 Những kết quả chính từ các nghiên cứu trước 15

Bảng 2.4 Tổng hợp các biến trong mô hình nghiên cứu đề xuất 33

Bảng 2.5 Kỳ vọng quan hệ giữa các biến nguyên và chỉ báo với quy mô kinh tế ngầm 34

Bảng 4.1 Kết quả thống kê mô tả các biến 37

Bảng 4.2 Kết quả ước lượng mối quan hệ kinh tế chính thức và kinh tế ngầm 46

Bảng 4.3 Tổng hợp kết quả kỳ vọng và mức ý nghĩa thống kê 50

Trang 10

DANH MỤC VIẾT TẮT

OECD Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế

Trang 11

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

Chương này sẽ trình bày tổng quan chung về nghiên cứu, bao gồm: đặt vấn đề nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, phạm vi đối tương nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa của nghiên cứu và kết cấu của nghiên cứu

1.1 Đặt vấn đề nghiên cứu

Kinh tế phi chính thức, hay còn gọi là kinh tế ngầm, là một vấn đề mang tính toàn

cầu (Schneider và Enste, 2000) Sự hiện diện của kinh tế ngầm là quy luật tất yếu, tồn tại song song với nền kinh tế chính thức Ban đầu, nền kinh tế ngầm được xem là một thành phần bên ngoài nền kinh tế chính thức Sau đó, rất nhiều nghiên cứu đã được tiến hành đã cung cấp bằng chứng khoa học cho thấy sự ảnh hưởng tiêu cực và, trên một vài phương diện, tích cực đến nền kinh tế chính thức, cho nên nền kinh tế ngầm trở thành một phần của nền kinh tế Trình độ phát triển của quốc gia sẽ là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến quy mô nền kinh tế ngầm.Trên bình diện chung, những nước kém phát triển thường phải đối diện với một nền kinh tế ngầm có quy mô lớn hơn một cách tương đối

so với các quốc gia phát triển ở trình độ cao Các nghiên cứu cho rằng sự suy giảm của nền kinh tế chính thức xảy ra đồng thời với sự gia tăng của các hoạt động trong nền kinh

tế không chính thức (IBRE-FGV / ETCO Institute, 2008)

Sự tồn tại của nền kinh tế ngầm đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến nguồn thu ngân sách cho các quốc gia (thất thu ngân sách) Bên cạnh đó, sự tồn tại của nền kinh tế ngầm còn làm giảm độ tin cậy trong thống kê chính thức, ảnh hưởng đến độ tin cậy của bất kỳ ước lượng thống kê, làm phát sinh các quy định chính sách không hiệu quả, sự lựa chọn của chính sách công khó khăn hơn Vì vậy, các quốc gia trên thế giới đều mong muốn kiểm soát và giảm quy mô nền kinh tế ngầm, để tăng cường phát triển kinh tế chính thức Bajada and Schneider (2003) đã nhận xét rằng, hầu hết các quốc gia trên thế giới

nổ lực để hạn chế các hoạt động kinh tế ngầm thông qua các biện pháp khác nhau bao gồm hình phạt, truy tố và giáo dục

Thu thập số liệu thống kê về những người tham gia vào các hoạt động ngầm, các

Trang 12

quả và liên quan đến việc phân bổ hiệu quả các nguồn lực của một quốc gia và các quyết định chính sách công tối ưu Thực tế cho thấy việc thu thập thông tin của khu vực kinh

tế ngầm rất khó khăn, bởi vì tất cả các cá nhân tham gia vào các hoạt động này không muốn được khai báo

Có rất nhiều nghiên cứu về kinh tế ngầm từ ước lượng quy mô kinh tế ngầm đến phân tích tác động của nó, sử dụng rất nhiều phương pháp khác nhau đo lường một cách trực tiếp hoặc gián tiếp quy mô nền kinh tế ngầm, nhưng các nghiên cứu này phần lớn tập trung ở các nước và nhóm nước phát triển Ở các quốc gia đang phát triển, đặc biệt

là các quốc gia có nền kinh tế mới nổi và/ hoặc chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường như Việt Nam và các nước Đông Nam Á, nền kinh tế ngầm tồn tại song song và có qui mô rất lớn so với nền kinh tế chính thức Theo ước tính của Phan (2012), nền kinh tế ngầm của Trung Quốc và Việt Nam có thể chiếm 30% đến 45% GDP quy mô nền kinh tế chính thức (được đo lường bằng giá trị tổng sản phẩm quốc nội (GDP) Tuy nhiên, nghiên cứu về mối quan hệ hai chiều giữa nền kinh tế ngầm

và nền kinh tế chính thức tại các quốc gia Đông Nam Á, bao gồm Việt Nam chưa được thực hiện, đặc biệt là trong những năm gần đây

Xuất phát từ tầm quan trọng của vấn đề nghiên cứu và khoảng trống trong các

nghiên cứu hiện tại, trong nghiên cứu này, Mối quan hệ giữa nền kinh tế chính thức

và nền kinh tế ngầm ở các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) sẽ được thực hiện Đây là

đóng góp quan trọng của nghiên cứu này Một đóng góp không kém phần quan trọng khác trong nghiên cứu này là xác định quy mô nền kinh tế ngầm Chúng tôi nổ lực sử dụng phương pháp hoàn thiện nhất nhằm mục đích ước lượng quy mô kinh tế ngầm có thể phản ánh các “sự thật” mức độ hoạt động kinh tế ngầm của các nước thuộc khu vực Đông Nam Á trong giai đoạn 1996-2013 Để làm được điều này, chúng tôi sử dụng một phương pháp tiếp cận hiện đại được rất nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới sử dụng, được gọi là phương pháp tiếp cận MIMIC (Multiple Indicator – Multiple Cause)

Trang 13

1.2 Câu hỏi nghiên cứu

Trong nghiên cứu này, một số câu hỏi được đặt ra như sau:

 Quy mô nền kinh tế ngầm của các quốc gia thuộc Khu vực Đông Nam Á là bao

nhiêu?

 Các yếu tố nào là nguyên nhân ảnh hưởng và chỉ số nào phản ánh quy mô nền

kinh tế ngầm của các quốc gia thuộc Khu vực Đông Nam Á?

 Có sự tồn tại mối quan hệ nào giữa nền kinh tế chính thức và nền kinh tế ngầm

của các quốc gia thuộc khu vực Đông Nam Á không?

1.3 Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu này được tiến hành nhằm đạt được các mục tiêu ban đầu được đặt ra như sau:

 Ước lượng quy mô nền kinh tế ngầm của các nước thuộc khu vực Đông Nam Á

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu

 Các yếu tố nguyên nhân, các yếu tố chỉ số phản ánh quy mô nền kinh tế ngầm của các quốc gia thuộc khu vực Đông Nam Á

 Các mối quan hệ giữa nền kinh tế chính tức và nền kinh tế ngầm của các quốc gia thuộc khu vực Đông Nam Á

Trang 14

1.4.2 Phạm vi nghiên cứu

 Phạm vi đối tượng: Các biến nguyên nhân, các biến chỉ báo, Quy mô nền kinh

tế ngầm, các mối quan hệ giữa nền kinh tế chính thức và nền kinh tế ngầm của các quốc gia thuộc khu vực Đông Nam Á

 Phạm vi thời gian: Dựa trên các nguồn số liệu thu thập từ các nguồn đáng tin

cậy như Work Bank, ADB để có một bộ dữ liệu bảng cân bằng thì hầu hết các

quốc gia Đông Nam Á đều có số liệu từ năm 1996 đến năm 2013

 Phạm vi không gian: Nghiên cứu này được thực hiện trên mẫu dữ liệu bao gồm

toàn bộ các quốc gia trong khối ASEAN Tuy nhiên, chỉ có 8 quốc gia thuộc khu vực Đông Nam Á có đầy đủ số liệu để thực hiện nghiên cứu này, bao gồm: Việt Nam, Thái Lan, Malaysia, Philippines, Singapore, Lào, Campuchia, và Indonesia Myanmar, Brunei và Đông Timor không đủ dữ liệu nền không đưa

vào nghiên cứu này

1.5 Phương pháp nghiên cứu

 Trước hết, tác giả nghiên cứu các mô hình lý thuyết tổng quát trên thế giới nhằm xác định các yếu tố là chỉ báo đo lường kinh tế ngầm cũng như các yếu tố là nguyên nhân ảnh hưởng đến quy mô kinh tế ngầm, từ đó chọn ra mô hình phù hợp để đo lường quy mô kinh tế ngầm, mối quan hệ giữa kinh tế ngầm và kinh

tế chính thức Sau đó, thu thập dữ liệu từ các nguồn tin cậy như WB, ADB để kiểm chứng mô hình

 Với tập dữ liệu thu về, sau khi hoàn tất việc gạn lọc, kiểm tra, tổng hợp, mã hóa

và làm sạch, sẽ tiến hành xử lý và phân tích số liệu bằng phần mềm SPSS IBM 20.0, AMOS 21.0 và eviews 7.0 Trình tự thực hiện: thống kê mô tả, phân tích

mô hình cầu trúc tuyến tính (SEM) với phương pháp tiếp cận mô hình MIMIC

(Multiple Indicators and Multiple Causes model) để xác định quy mô nền kinh

tế ngầm và tìm mối quan hệ giữa kinh tế ngầm và kinh tế chính thức của các quốc gia Đông Nam Á

Trang 15

1.6 Ý nghĩa nghiên cứu

Nghiên cứu về kinh tế ngầm ở khu vực Châu á, đặc biệt là các nước thuộc khu vực Đông Nam Á, sử dụng phương pháp tiếp cận MIMIC, là một cách tiếp cận mới ở khu vực này Vì vậy, nghiên cứu này sẽ có ý nghĩa cả về mặt lý thuyết và thực tiễn:

 Bổ sung thêm một phương pháp tiếp cận mới để ước lượng quy mô nền kinh tế ngầm cho các quốc gia Đông Nam Á

 Kết quả ước bằng phương pháp MIMIC về quy mô nền kinh tế ngầm của các quốc gia thuộc khu vực Đông Nam Á góp phần củng cố thêm một bằng chứng về quy

mô nền kinh tế ngầm của các quốc gia Đông Nam Á cũng như các chỉ báo phản ánh và các nhân tố ảnh hưởng đến nền kinh tế này

 Kết quả ước lượng cùng với số liệu thực của quốc gia có thể giúp các quốc gia này

có cách nhìn chính xác hơn về quy mô nền kinh tế của họ

 Xác định và lượng hóa mối quan hệ giữa nền kinh tế chính thức và nền kinh tế ngầm của các quốc gia khu vực Đông Nam Á

 Cung cấp những bằng chứng khoa học định lượng tạo tiền đề cho các chính sách

và giải pháp kinh tế hướng đến việc kiểm soát và giảm thiểu quy mô và những tác động tiêu cực đến nền kinh tế chính thức ở các quốc gia Đông Nam Á

1.7 Kết cấu nghiên cứu dự kiến

Cấu trúc nghiên cứu gồm 5 chương, không tính phụ lục và tài liệu tham khảo:

Chương 1: Tổng quan về nghiên cứu

Chương 1 trình bày tổng quan chung về nội dung của nghiên cứu, bao gồm: đặt vấn đề nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, phạm vi đối tương nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa của nghiên cứu và kết cấu của nghiên cứu

Chương 2: Cơ sở lý thuyết

Chương 2 trình bày cơ sở lý thuyết liên quan đến các khái niệm, phân loại kinh tế ngầm, các nghiên cứu trước về ước lượng quy mô kinh tế ngầm và mối quan hệ giữa kinh tế chính thức với kinh tế ngầm Từ đó đưa ra mô hình nghiên cứu lý thuyết

Trang 16

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và dữ liệu

Chương 3 này, tác giả giới thiệu về thủ tục nghiên cứu và quy trình nghiên cứu được thực hiện trong quá trình nghiên cứu Qua đó sẽ chỉ ra cách mà tác giả trả lời và giải thích các hiện tượng và tuyên bố đã nêu trong chương 1, bao gồm: Thiết kế nghiên cứu, tổng thể của nghiên cứu, nguồn dữ liệu, các công cụ nghiên cứu cơ bản, các biến

xử lý được sử dụng trong nghiên cứu

Chương 4: Kêt quả nghiên cứu

Chương 4 trình bày kết quả thống kê mô tả các biến chỉ báo, các biến nguyên nhân, các biến đại diện quy mô nền kinh tế chính thức, ước lượng quy mô kinh tế ngầm của khu vực Đông Nam Á và ước lượng mối quan hệ hai chiều giữa nền kinh tế chính thức

và nền kinh tế ngầm của các quốc gia Đông Nam Á

Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách

Chương 5 trình bày tóm tắt kết quả nghiên cứu có được và thảo luận các kết quả nổi bậc, đồng thời nêu lên những điểm mới, những hạn chế nghiên cứu và đề nghị hướng nghiên cứu tiếp theo

Trang 17

CHƯƠNG 2

CƠ SỞ LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU

Chương này sẽ trình bày lý thuyết về kinh tế ngầm, bao gồm: những vấn đề cơ bản liên quan đến kinh tế ngầm như khái niệm, phân loại, nguyên nhân và chỉ báo của kinh

tế, các nghiên cứu về kinh tế ngầm, mối quan hệ giữa kinh tế ngầm với kinh tế chính thức

2.1 Những vấn đề cơ bản liên quan đến kinh tế ngầm

2.1.1 Khái niệm về kinh tế ngầm

Hiện nay, nền kinh tế ngầm được hiểu dưới nhiều ý nghĩa khác nhau tùy theo cách phân loại và khía cạnh phân tích của các nhà nghiên cứu, các tổ chức và các quốc qua Tuy nhiên, nhìn chung, các định nghĩa đều hướng đến tính không chính thức của hệ thống kinh tế này khi không được tính toán vào các số liệu thống kê của mỗi quốc gia Cho đến hiện tại, có rất nhiều nghiên cứu về kinh tế ngầm nhưng vẫn chưa có một định nghĩa chung được thống nhất cho khái niệm này Thực tế cho thấy, mỗi quốc gia

có những đặc điểm kinh tế xã hội khác nhau nên tên gọi, cách tiếp cận, phân loại, phương pháp đo lường và đánh giá khu vực kinh tế ngầm này cũng khác nhau Ngay cả tên gọi cũng cho thấy sự đa dạng và phong phú của nó: Kinh tế phi chính thức (Informal Economy hoặc unofficial Economy), Khu vực phi chính thức (Informal Sector), Kinh tế bóng đen (Shadow Economy), Kinh tế chìm (Underground Economy), Kinh tế không được giám sát (Non-observerd Economy, Unobserved Economy), khu vực phi kết cấu (Unstructural Sector), Kinh tế song song (Parallel Economy), kinh tế đen (Black Economy), kinh tế xám (Grey Economy), kinh tế bất hợp pháp (Illegal Economy), kinh

tế vô hình (invisible Economy), kinh tế giấu diếm (Concealed Economy), khu vực phi doanh nghiệp (unincorporated sector) Trong nghiên cứu này, các thuật ngữ này có thể được sử dụng đang xen với nhau Tuy nhiên, thuật ngữ chính thống nhất được sử dụng trong nghiên cứu này sẽ là kinh tế ngầm Nhưng dù được gọi bằng nhiều tên khác nhau nhưng tất cả thuật ngữ trên đều thể hiện một điểm chung là phản ánh các hoạt động kinh

tế ở một khu vực trái với khu vực kinh tế chính thức

Trang 18

Bảng 2.1: Quan niệm của các quốc gia và tổ chức về kinh tế ngầm

Kinh tế không được giám sát là các hoạt động lẽ ra phải được liệt

kê nhưng lại không liệt kê trong số liệu thống kê chính thức Kinh

tế ngầm là các hoạt động không khai báo cơ quan tài chính và kinh

tế bất hợp pháp là vi phạm pháp luật

Khu vực phi chính qui bao gồm các đơn vị không đăng ký và không được liệt kê chính thức cũng như không rơi vào phạm vi hoạt động của pháp luật và qui định của nhà nước

4 Tổ chức lao động

thế giới (ILO)

Khu vực phi chính quy là các đơn vị kinh tế có quy mô nhỏ, sản xuất và phân phối hàng hóa dịch vụ hợp pháp nhưng không khai báo, sản xuât hàng hóa và dịch vụ bất hợp pháp và thu nhập vô hình

là hoạt động sản xuất hàng hóa và dịch vụ hợp pháp nhưng không khai báo, sản xuất hàng hóa dịch vụ bất hợp pháp và thu nhập vô hình

6 Liên minh Châu âu

(EU)

Kinh tế ngầm là khu vực kinh tế trốn thoát khỏi mạng lưới thống

kê và không định lượng được

7 Ngân hàng thế giới

(WB)

Hoạt động phi chính thức là hoạt động mà giá trị gia tăng không được ghi nhận do các hãng và các cá nhân cố ý khai báo sai hoặc trốn tránh không khai báo

Nguồn: Lê Đăng Doanh và Nguyễn Minh Tú (1997)

Trang 19

Greenidge và ctg (2009) cho rằng, bất kỳ hoạt động kinh tế nào không được ghi nhận trong các số liệu thống kê của tài khoản thu nhập quốc gia và GDP thì được xem

là một thành phần của nền kinh tế ngầm Feige (1979, 1990) cho rằng kinh tế ngầm bao gồm các hoạt động không được báo cáo và không thể đo lường được trực tiếp được Ihrig và Moe (2004) định nghĩa kinh tế ngầm như là một ngành sản xuất hợp pháp, nhưng không phù hợp với quy định của chính phủ Ngoài ra, Frey và Pommerehne (1984), Loayza (1996), Johnson, Kaufmann và Shleifer (1997), Johnson, Kaufmann và Zoido-Lobaton (1998, 1999), Thomas (1999), Fleming (2000), Schneider và Enste (2000, 2002), Dell'Anno và Schneider (2003), Schneider (2005, 2006, 2007, 2010, 2012, 2013) và nhiều nghiên cứu khác sử dụng các định nghĩa tương tự

Trong nghiên cứu này, kinh tế ngầm được định nghĩa là khu vực kinh tế bao gồm toàn bộ thị trường sản xuất hàng hoá và dịch vụ hợp pháp nhưng được cố ý che dấu cơ quan công quyền vì một trong những lý do sau đây: (i) Để tránh chi trả thuế thu nhập, thuế giá trị gia tăng hoặc các loại thuế khác; (ii) Để tránh chi các khoản đóng góp an sinh xã hội; (iii) Để tránh việc phải đáp ứng một số tiêu chuẩn thị trường lao động hợp pháp, chẳng hạn như tiền lương tối thiểu, giờ làm việc tối đa, tiêu chuẩn an toàn; va (iv)

Để tránh việc tuân thủ các thủ tục hành chính nhất định, chẳng hạn như hoàn thành câu hỏi thống kê, hoặc các mẫu biểu hành chính khác

2.1.2 Phân loại kinh tế ngầm

Việc phân loại các hoạt động kinh tế ngầm cũng có sự khác nhau giữa các nhà nghiên cứu, Chẳng hạn như Feige (1979, 1990), Rolf và Roger (1997) cho rằng kinh tế

ngầm có thể chia làm 2 loại: thứ nhất là các hoạt động không vi phạm pháp luật; thứ hai

là các hoạt động vi phạm pháp luật

Trang 20

Bảng 2.2 Phân loại hoạt động trong nền kinh tế ngầm

Những

hoạt động

bất hợp

pháp

Giao dịch bằng tiền Giao dịch không bằng tiền

Mua bán hàng hóa đánh cắp; Sản xuất

và mua bán ma túy; Mại dâm; cờ bạc, buôn lậu, gian lận

Trao đổi các loại thuốc, hàng bị đánh cắp, hoặc hàng nhập lậu Trồng trọt hoặc sản xuất ma túy để sử dụng riêng, trộm cắp để sử dụng riêng

Những

hoạt động

hợp pháp

Trốn thuế Tránh thuế Trốn thuế Tránh thuế

Không báo cáo thu nhập của những việc làm riêng, thu nhập, lương và tài sản từ công việc không được báo cáo liên quan đến những hàng hóa và dịch

vụ hợp pháp

Giảm giá cho nhân viên, Phúc lợi

xã hội

Trao đổi trực tiếp hàng hóa

và dịch vụ hợp pháp

Tự làm tất cả công việc và được giúp đỡ của hàng xóm

Nguồn: Rolf và Roger (1997, p.5)

Harding và Jenkins (1989) xem xét nền kinh tế ngầm với 3 tiêu chuẩn phân loại: (i) chính sách – pháp luật; (ii) kinh tế và (iii) xã hội Hai nhà nghiên cứu cho rằng nền kinh tế ngầm xuất hiện là có lý do trên những khía cạnh khác nhau khi xem xét về chính sách – pháp luật, kinh tế hay xã hội Trong đó, yếu tố kinh tế là nhân tố thường được xem xét trong các nghiên cứu về nền kinh tế ngầm

Theo Anno (2003), đã lược khảo các nghiên cứu của Feige (1989, 1990), Loayza (1996), Tanzi (1999), Thomas (1999), Fleming et al (2000), Schneider và Enste (2000), Smith (1994), cho rằng, họ xác định một "nền kinh tế không được giám sát" (Non-Observed Economy), nó bao gồm tất cả các hoạt động sản phẩm có thể được phân loại thành ba lĩnh vực sau:

(1) Sản xuất ngầm: đại diện cho các lĩnh vực hoạt động sản xuất mà không được

quan sát trực tiếp

Trang 21

(2) Sản xuất phi chính thức: đề cập đến các đơn vị tổ chức sản xuất đặc trưng bởi:

một trình độ thấp của tổ chức; ít hoặc không có sự phân chia giữa công việc

và vốn; làm việc dựa trên các mối quan hệ công việc thường xuyên, quan hệ

họ hàng, hoặc các mối quan hệ cá nhân

(3) Sản xuất bất hợp pháp: là tất cả chúng đề hướng đến sản xuất những sản phẩm

và dịch vụ mà việc bán, phân phối hoặc sở hữu bị pháp luật cấm

Tương tự như các tác giả trên, OECD (2002) cũng phân loại kinh tế không quan sát được (non-observed economy) làm 3 dạng: (i) các hoạt động sản xuất ngầm vì lý do thống kê và kinh tế, (ii) các hoạt động kinh tế phi chính thức và (iii) các hoạt động vi phạm pháp luật

Hình 2.1 Phân loại các hoạt động trong nền kinh tế không quan sát

Nguồn: OECD (2002)

Nền kinh tế ngầm được hiểu dưới nhiều ý nghĩa khác nhau tùy theo cách phân loại

và khía cạnh phân tích của các nhà nghiên cứu, các tổ chức và các quốc qua, nhưng nhìn chung các định nghĩa đều hướng đến tính không chính thức của hệ thống kinh tế này khi không được tính toán vào các số liệu thống kê của mỗi quốc gia

Nền kinh tế không quan sát được

Hoạt động sản xuất ngầm

T3:

Không đăng ký

Lý do kinh tế

T4: Báo cáo dưới mức

T5:

Không đăng ký

Hoạt động sản xuất phi chính thức

T6: Không đăng ký

Hoạt động sản xuất

vi phạm pháp luật

T7: Không đăng ký

Trang 22

2.2 Nguyên nhân xuất hiện của kinh tế ngầm

Các quan điểm về kinh tế ngầm của các nhà phân tích cũng phản ánh quan điểm của họ về sự xuất hiện của kinh tế ngầm Nguyên nhân xuất hiện kinh tế ngầm thường được nhắc đến xuất phát từ sự sút kém của nền kinh tế chính thức, đẩy người dân đến việc tìm kiếm các hoạt động khác nhằm tăng thu nhập cho bản thân (Lubell, 1991; Schneider, 1998) Các nhà kinh tế cho rằng đây là lý do quan trọng hàng đầu trong việc xuất hiện nền kinh tế ngầm Khi nền kinh tế chính thức sụt giảm đặc biệt khi tốc độ tăng trưởng kinh tế giảm sút hay khủng hoảng kinh tế có ảnh hưởng dây chuyền đến toàn bộ mọi mặt của nền kinh tế - xã hội quốc dân, áp lực về kinh tế thúc đẩy người dân thực hiện các hành vi (hoạt động) kinh tế ngầm

Các nghiên cứu trước đây đều thừa nhận rằng, các nguyên nhân chủ yếu tạo ra sự tồn tại và phát triển của nền kinh tề ngầm gồm (1) vấn đề về chính sách, (2) Hệ thống pháp luật và thể chế, (3) Hệ thống phúc lợi xã hội, (4) Sự thay đổi thị trường lao động

 Vấn đề chính sách – đặc biệt là hệ thống thuế cũng được các nhà nghiên cứu

nhấn mạnh về vai trò của nó đối với việc tạo điều kiện cho sự tồn tại và phát triển các hoạt động kinh tế ngầm (YH Jung, A Snow, GA Trandel, 1994; Tanzi, 1999;

EL Feige, 2007; Schneider, 2003) Theo đó, một thành phần quan trọng trong nền kinh tế ngầm xuất phát từ các hành vi trốn thuế của các doanh nghiệp, các nhà kinh doanh Chủ đề về mối liên hệ giữa các hành vi trốn thuế và nền kinh tế ngầm, Norman V.Loayza (1996) đã chỉ ra mối liên hệ chặt chẽ giữa hệ thống chính sách, thuế và tác động đến sự mở rộng của nền kinh tế ngầm Tuy vậy, trong nghiên cứu của Loayza, ông phân tích dựa trên mối quan hệ về thống kê hơn là kết quả

từ mối tương quan nhân quả Schneider và Neck (1993) đi sâu vào nghiên cứu về mối tương quan giữa hệ thống thuế và sự mở rộng nền kinh tế ngầm tại Austria Kết quả của nghiên cứu này cho thấy hệ thống thuế đóng vai trò quan trọng trong

sự phát triển của nền kinh tế ngầm, các cá nhân hộ gia đình sẽ so sánh lợi ích khi thực hiện các hoạt động kinh tế phi chính thức và chính thức thông qua so sánh lợi ích khi trốn thuế và hậu quả trốn thuế Ngoài ra Gebhard Kirchgaessner (1983, 1984), Jan Klovland (1984) cũng có cùng kết quả khi phân tích ở các quốc gia

Trang 23

 Hệ thống thể chế và pháp luật: Theo Hirschman (1970), sự xuất hiện của nền

kinh tế ngầm là sự phản ứng của các cá nhân trước hệ thống thể chế và pháp luật của mỗi quốc gia Về nguyên tắc, các hệ thống thể chế và pháp luật là khuôn khổ định ra các hàng rào đối với mỗi cá nhân, tổ chức để tạo sự ổn định cho xã hội phát triển Điều này cũng hàm chứa ý nghĩa về hạn chế tự do cá nhân, hạn chế sự lựa chọn của các cá nhân tổ chức trong các hành vi hoạt động kinh tế - xã hội Mancur Olson (1982) trong nghiên cứu của mình đã gọi nguyên nhân thúc đẩy nền kinh tế phát triển từ thể chế là “institutional sclerosis” (thể chế xơ cứng).Trong các nghiên cứu của các nhà phân tích Johnson, Kaufmann và Andrei Shleifer (1997), Johnson, Kaufmann và Zoido-Lobatón (1998) đều cho thấy với một hệ thống thể chế phức tạp và có nhiều cấm đoán sẽ làm tăng sự thúc đẩy các hoạt động kinh tế ngầm của các cá nhân, công ty, tổ chức

 Hệ thống phúc lợi xã hội: Các nghiên cứu của Volker Riebel (1983, 1984);

Schneider và Enste (2000), cho rằng các nghiên cứu thực nghiện cho thấy với hệ thống chi phí dịch chuyển cho hệ thống phúc lợi xã hội đã thúc đẩy các cá nhân lựa chọn làm việc ở nền kinh tế ngầm hơn là làm việc trong môi trường kinh tế chính thức Điều này là phù hợp với các lý thuyết kinh tế học, khi mỗi cá nhân thực hiện suy nghĩ lựa chọn giữa chi phí và lợi ích giữa việc làm ở môi trường kinh tế chính thức với lợi ích cho cá nhân họ thấp hơn làm việc ở nền kinh tế ngầm

 Sự thay đổi của thị trường lao động: Sự thay đổi của thị trường lao động được

coi là một nguyên nhân quan trọng làm gia tăng các hoạt động kinh tế phi chính

thức Sự thay đổi này nằm ở 2 vấn đề Thứ nhất, độ tuổi lao động ngày nay ngày

càng được rút ngắn tương đối so với tuổi thọ và sức khỏe của con người Điều này dẫn đến việc nhiều người lao động đến tuổi “về hưu” nhưng vẫn còn sức khỏe

và mong muốn tiếp tục làm việc, điều này thúc đẩy họ tìm đến các vị trí làm việc

ở các môi trường phi chính thức Thứ hai, thời gian làm việc của người lao động

ngày càng được linh động và cách thức đánh giá kết quả công việc phụ thuộc, điều này khuyến khích người lao động có thể đảm nhiệm cùng lúc nhiều công việc cả chính thức lẫn phi chính thức Điều này đã được khẳng định trong nghiên

Trang 24

 Các nguyên nhân khác: Ngoài các nguyên nhân đã được nghiên cứu và khẳng

định bởi các nhà nghiên cứu, thực tế diễn biến kinh tế - xã hội thay đổi hàng ngày

đã xuất hiện các nhân tố khác thúc đẩy sự xuất hiện của nền kinh tế ngầm như công nghệ, sự phát triển của internet cữn góp phần làm thay đổi sự tương tác và kinh doanh trong giai đoạn hiện nay

2.4 Mối quan hệ giữa kinh tế ngầm và kinh tế chính thức

Mối quan hệ giữa quy mô kinh tế ngầm và nền kinh tế chính thức (được đo lường thông qua các giá trị GDP, GNI) được thực hiện khá nhiều cho các quốc gia phát triển Nhưng nghiên cứu tìm hiểu về mối quan hệ này ít được thực hiện cho các quốc gia đang phát triển, đặc biệt là cho các quốc gia ASEAN, nơi có nhiều nét tương đồng với nền kinh tế Việt Nam Kết quả nghiên cứu định lượng về mối quan hệ này ở các nghiên cứu định lượng khác nhau hoàn toàn không giống nhau Một số nghiên cứu kết luận rằng quy mô nền kinh tế ngầm có mối quan hệ cùng chiều với quy mô nền kinh tế chính thức Điều đó có nghĩa là, quy mô của nền kinh tế ngầm có khuynh hướng lớn lên khi có sự gia tăng về giá trị của nền kinh tế chính thức Một số nghiên cứu định lượng khác cho kết quả ngược lại – khi nền kinh tế chính thức càng phát triển, quy mô của nền kinh tế ngầm càng bị thu hẹp Hầu hết, các nghiên cứu này chỉ tập trung ước lượng mối quan

hệ một chiều Tuy nhiên, dù kết quả nghiên cứu có sự khác biệt, phương pháp MIMIC được sử dụng trong hầu hết các nghiên cứu định lượng tìm hiểu về mối quan hệ này Các kết quả nghiên cứu định lượng đã và đang được thực hiện bằng phương pháp MIMIC được tóm tắt trong Bảng 2.3 dưới đây

Trang 25

Bảng 2.3 Những kết quả chính từ các nghiên cứu trước

Mối quan

hệ dương

Adam and Ginsburgh (1985) Bỉ

Họ đã tìm thấy mối quan hệ dương giữa tăng trưởng của kinh tế ngầm và kinh tế chính thức

Tedds (1998), Tedds (2005), Giles and Tedds (2002)

Schneider (1999) Đức & Áo

Hơn 60% thu nhập của khu vực phi chính thức ngay lập tức chi tiêu trong nền kinh

tế chính và làm tăng đáng cho nền kinh

tế chính thức

Chatterjee, Chaudhuri, Schneider (2003)

18 Các quốc gia Châu á

Việc gia tăng quy mô nền kinh tế ngầm tác động tích cực đến tăng trưởng GDP

Schneider and Bajada (2003) Canada

Tồn tại một mối quan hệ dương giữa GDP và kinh tế ngầm

Schneider (2013) 39 quốc gia

Anh (1960–

84)

Kinh tế ngầm có một tác động dương đến chi tiêu của người tiêu dùng đối với các dịch vụ và hàng hóa không lâu bền, và một tác động tích cực mạnh mẽ hơn đến chi tiêu của người tiêu dùng đối với các dịch vụ và hàng hóa lâu bền

Trang 26

Tác giả Quốc gia Kết quả

Loyaza (1996) 14 Các quốc

gia Mỹ Latin

Việc tăng kích thước tương đối của nền kinh tế không chính thức tạo ra một sự giảm tăng trưởng kinh tế chính thức”1

Kaufmann, Kaliberda (1996)

Các quốc gia chuyển đổi

Nền kinh tế ngầm làm giảm nhẹ sự suy giảm trong GDP chính thức, đặc biệt là ở các nước đã từng chịu sụt giảm lớn Họ nhận thấy rằng cứ mỗi 10 phần trăm tích lũy suy giảm trong GDP chính thức, thị phần của nền kinh tế bất hợp pháp trong tổng thể tăng gần 4 %.2

Eilat, Zinnes (2000)

24 Các quốc gia chuyển đổi

“Một sự thay đổi trong GDP dấn đến một

sự thay đổi ngược lại trong quy mô nền kinh tế ngầm" và " giảm một đô la trong GDP dẫn đến tăng 31 cent quy mô nền kinh tế ngầm”

Schneider, Enste (2000)

76 Quốc gia

“Theo một số nghiên cứu, một nền kinh

tế ngầm đang tăng trưởng có một tác động tiêu cực đến tăng trưởng GDP chính thức”

Anno (2003) Italy “Mối quan hệ giữa nền kinh tế ngầm và

tốc độ tăng trưởng GDP (Y1 ) là tiêu cực”

Schneider, F., &

Klinglmair, R

(2004)

110 quốc gia đang phát triển

Nếu nền kinh tế ngầm tăng lên 1% thì tỷ

lệ tăng trưởng GDP “chính thức” hàng năm của một nước đang phát triển (của một nước công nghiệp hóa và/ hoặc chuyển đổi) giảm 0,6%

Dobre, I., &

Alexandru, A

(2009)

Tây Ban Nha Mô hình cho thấy một mối quan hệ

nghịch giữa tỷ lệ tăng trưởng GDP chính

Trang 27

Tác giả Quốc gia Kết quả

thức và sự tăng trưởng của nền kinh tế ngầm

Schneider (2013) 39 quốc gia

2.4 Các hướng nghiên cứu chính về kinh tế ngầm

Hầu hết các nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung vào đo lường, xem xét đặc điểm tổng quan (quy mô, nguyên nhân, góc nhìn, xu hướng, ảnh hưởng chính) nền kinh

tế ngầm, tác động của nền kinh tế ngầm đến nền kinh tế chính thức và xây dựng chính sách để giám sát các nguồn lực cũng như ảnh hưởng của nền kinh tế ngầm (Schneider

và Enste, 2000) Chủ đề nghiên cứu về nền kinh tế ngầm được coi trọng và ngày càng được các nhà nghiên cứu trên thế giới quan tâm khi những tác động của nó đối với nền kinh tế quốc gia cũng như xã hội Một số hướng nghiên cứu chính về kinh tế ngầm được

tóm tắt như sau: (i) Ước lượng quy mô nền kinh tế ngầm: Helberger, Knepel, Feige, Frey, Weck, Dell'Anno, Schneider (ii) Ảnh hưởng của nền kinh tế ngầm đến nền kinh tế

chính danh và các hoạt động trong nền kinh tế quốc dân: Schneider, Davis, Henrekson,

Torgler và (iii) Các đặc trưng và xu hướng phát triển của nền kinh tế ngầm: Giles,

Tedds, Breusch, Bajada, Schneider

Các nghiên cứu đã cho thấy có mối tương quan chặt chẽ giữa nền kinh tế ngầm và nền kinh tế chính thức, mỗi sự thay đổi trong nền kinh tế chính thức đều có tác động thúc đẩy hay hạn chế sự phát triển của nền kinh tế ngầm Bên cạnh đó, sự phát triển của nền kinh tế ngầm có mối liên hệ mật thiết với hành vi trốn thuế và tham nhũng tại các quốc gia, sự tăng lên về các hành vi này làm thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế ngầm tại quốc gia đó

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế chính thức, nền kinh tế ngầm chưa có dấu hiệu và cũng chưa có nhà nghiên cứu nào dự đoán về sự kết thúc của nền kinh tế ngầm, theo đó có một số xu hướng chính trong sự phát triển của nền kinh tế ngầm hiện nay:

Trang 28

 Cùng với sự thay đổi và tiếp tục phát triển của thị trường lao động, nền kinh tế ngầm sẽ có sự biến động liên tục, với khả năng phát triển về kinh tế-y tế-xã hội, người lao động sẽ tiếp tục có cơ hội làm việc và làm nhiều việc cùng lúc, điều này thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế ngầm tại các quốc gia

 Các quốc gia đang phát triển và những quốc gia có hệ thống thể chế “ xơ cứng”

sẽ là các quốc gia có nền kinh tế ngầm với quy mô lớn hơn nhiều ở các quốc gia phát triển

2.5 Mô hình nghiên cứu

2.5.1.Các mô hình nghiên cứu trước

Mô hình MIMIC đang là phương pháp tiếp cận thuận tiện và chính xác nhất so với các mô hình khác trên thực tế khi nghiên cứu về nền kinh tế ngầm Do đó, mô hình MIMIC được áp dụng trong nghiên cứu về nền kinh tế ngầm cho các quốc gia Đông Nam Á trong nghiên cứu này

Việc sử dụng MIMIC đã được áp dụng trong rất nhiều phân tích hiện nay với các

điều chỉnh về 2 hướng để có được các ước lượng chính xác nhất Thứ nhất, các nhà nghiên cứu thay đổi cách xử lý các biến Thứ hai, các nhà nghiên cứu thực hiện thay đổi

các biến tính toán Trong đó các biến được các nhà nghiên cứu sử dụng thường xuyên

và điều chỉnh trong các nghiên cứu là: GDP, lượng tiền (cung tiền M 1 , M 2 , tiền công chúng nắm giữ), thuế, thu nhập và lao động; bên cạnh đó tùy theo từng nghiên cứu mà

các nhà nghiên cứu có bổ sung thêm nhiều các biến khác nhau để phù hợp với từng nền kinh tế cũng như phát triển mô hình ước lượng

Nghiên cứu của Lucinday và Arvatez (2005), khi ước lượng về nền kinh tế ngầm của Brazil đã tập trung nhiều vào các khía cạnh của lực lượng lao động, đặc trưng nghề nghiệp, thu nhập của cư dân và các yếu tố về vĩ mô như độ mở của nền kinh tế, GDP thực của nền kinh tế chính thức khi ước lượng nền kinh tế ngầm của Brazil Nghiên cứu của Buehn và Schneider (2011) trên phạm vi toàn thế giới tính toán cho 162 quốc gia với các biến đã ước lượng nền kinh tế ngầm của các nước trên thế giới cũng như thiết

Trang 29

về luật pháp, quyền tự chủ của các địa phương Mô hình ước lượng cũng sử dụng 3 biến chỉ báo là GDP, lao động, tỷ giá hối đoái

Nghiên cứu của Anno, Antonio, Pardo (2007) dùng ước lượng nền kinh tế ngầm ở Pháp, Hi Lạp, Tây Ban Nha Ở mô hình này, các tác giả thực hiện các điều chỉnh tính toán các biến chỉ báo và biến nguyên nhân so với các nghiên cứu khác nhằm ước lượng phù hợp và chính xác hơn cho 3 quốc gia này Ba ông đã sử dụng các biến chỉ báo GDP thực, tỷ lệ lao động, tỷ lệ tiền M1/M3 và các biến nguyên nhân như thuế, phúc lợi, lực lượng lao động và đặc trưng việc làm Nghiên cứu của Giles và Tedds (2002) được thực hiện nghiên cứu với chuỗi dữ liệu thường niên của Canada chỉ với 2 biến chỉ báo là thu nhập và lượng tiền nắm giữ của công chúng, trong khi đó các biến nguyên nhân được

sử dụng là thu nhập, thuế, hình thức làm việc của các cá nhân Độ trễ của mô hình theo bậc trễ của chuỗi dữ liệu

Nghiên cứu của Bajada và Schneider (2005) được thực hiện nghiên cứu trường hợp Australia với chuỗi dữ liệu theo quý từ năm 1966 đến năm 2003 với biến chỉ báo là thu nhập và lượng tiền mặt nắm giữ của công chúng được điều chỉnh với dân số và mức giá, các biến nguyên nhân được Bajada và Schneider tập trung vào thu nhập và thuế được điều chỉnh theo dân số của Australia Độ trễ của mô hình ước lượng là bậc 1 Anno

và Schneider (2003) thực hiện nghiên cứu trường hợp Ý với dữ liệu chuỗi nửa năm từ năm 1960 đến năm 2000 với các biến chỉ báo tương tự nghiên cứu của Giles và Tedds (2002) cũng như Bajada và Schneider (2005) với thu nhập và lượng tiền nắm giữ của công chúng, biến nguyên nhân được sử dụng tập trung vào thuế, GDP của nền kinh tế cũng như lực lượng tự do kinh doanh Độ trễ của mô hình ước lượng bậc 1

Trang 30

Hình 2.2 Mô hình nghiên cứu về kinh tế ngầm của Dell’Anno và Schneider

Nguồn: Anno và Schneider (2003)

Nghiên cứu của Ene và Ştefănescu (2011) cho trường hợp Romania, để ước lượng nền kinh tế ngầm của Romania 2 nhà nghiên cứu đã ước lượng mô hình dựa trên các biến chỉ báo về GDP, tỷ lệ hoạt động kinh tế, tỷ lệ tiền M1/M2 cùng các biến nguyên nhân về thuế, tham nhũng, thất nghiệp và đầu tư

Hình 2.3 Mô hình nghiên cứu của Ene và Ştefănescu (2011)

Nguồn: Corina-Maria Ene và Andrei Ştefănescu (2011)

Gánh nặng thuế

Chi tiêu chính phủ/GDP

GDP thực

Tiền bên ngoài các ngân hàng

Kinh tế ngầm

Chí số GDP thực

M1/M2 Kinh tế ngầm

ɲ

Trang 31

2.5.2 Kết quả một số nghiên cứu về kinh tế ngầm

Nghiên cứu của Houston (1987) cho thấy, kinh tế ngầm có những mối ảnh hưởng

từ thuế, luật pháp và từ đó dẫn đến những ảnh hưởng phi chính thức lạm phát, sự biến động của tài chính và tiền tệ của quốc gia Markus C Adam và Victor Ginsburgh (1985), Loayza (1996) từ nghiên cứu của mình đã khẳng định mối quan hệ giữa sự tốc độ phát triển giữa nền kinh tế ngầm và tốc độ tăng GDP của nền kinh tế chính thức Theo đó, đã kết luận rằng với một số điều kiện giả định chắc chắn thì việc mở rộng chính sách tài khóa sẽ làm thúc đẩy sự tăng trưởng cả nền kinh tế chính thức và kinh tế ngầm

Trong khi đó, với nghiên cứu của mình, Schneider (1998) đã khẳng định 66% thu nhập từ nền kinh tế ngầm được chi tiêu vào nền kinh tế chính thức Bên cạnh đó, Dilip

K Bhattacharyya (1993, 1999) trong các nghiên cứu của mình đã cho thấy có bằng chứng mối liên hệ từ nền kinh tế ngầm thông qua thu nhập để chi tiêu tại nền kinh tế chính thức Lemieux, Fortin, Frechette (1994) trong nghiên cứu của mình đã xác nhận

sự ảnh hưởng của thuế dựa trên lao động và nền kinh tế ngầm, theo đó sự biến động của nền kinh tế ngầm có mối liên hệ chặt chẽ đến nguồn cung lao động do ảnh hưởng từ thuế

Schneider (2003) đã khẳng định trong nghiên cứu của ông về thông tin của nguồn cung lao động có mối liên quan và quyết định chặt chẽ đến nền kinh tế ngầm Ngoài ra, Schneider (2003) trong nghiên cứu về nền kinh tế ngầm các nước OECD cũng đã cho thấy bằng chứng về mối quan hệ giữa quy mô nền kinh tế ngầm và lực lượng lao động của mỗi quốc gia

Trang 32

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Chương này sẽ giới thiệu về các thủ tục và quy trình được thực hiện trong quá trình nghiên cứu Tác giả cũng trình bày sâu hơn về mô hình nghiên cứu, dữ liệu nghiên cứu, các công cụ nghiên cứu cơ bản và kiểm định sử dụng để kiểm chứng độ phù hợp chung của mô hình

3.1 Quy trình nghiên cứu

Nghiên cứu này được thực hiện tuần tự theo hai bước Bước 1 là nghiên cứu khám

phá sử dụng phương pháp định tính được tiến hành thông qua kỹ thuật tổng hợp các lý thuyết và phân tích các nghiên cứu trước về kinh tế ngầm, kết hợp với phân tích tình hình thực tiễn của các quốc gia thuộc khu vực Đông Nam Á, mô hình nghiên cứu lý

thuyết để xuất được xây dựng Ở Bước 2, phân tích dữ liệu nhằm kiểm chứng mô hình

lý thuyết đã xây dựng ở Bước 1

Trên cơ sở mô hình nghiên cứu lý thuyết đề xuất, tác giả tiến hành thu thập thông tin và dữ liệu từ các nguồn như WDI, ADB, Heritage; dữ liệu thu thập về được tổng hợp, làm sạch và xử lý trước khi phân tích Bằng phương pháp tiếp cận MIMIC, tác giả

sẽ tiến hành sử dụng phần mền AMOS với kỹ thuật phân tích SEM để kiểm chứng mô hình lý thuyết và ước lượng quy mô kinh tế ngầm Cuối cùng, tác giả tiến hành ước lượng mối quan hệ giữa nền kinh tế chính thức và nền kinh tế ngầm ở các quốc gia Đông Nam Á

Trang 33

Mục tiêu Lý thuyết Phân tích Kết quả Thảo luận

Hình 3.1 Sơ đồ quy trình nghiên cứu 3.2 Phương pháp tiếp cận và phân tích cho nghiên cứu

3.2.1.Phương pháp tiếp cận

Chủ đề nghiên cứu về quy mô nền kinh tế ngầm được nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới thực hiện bằng nhiều phương pháp khác nhau Theo đó, quy mô nền kinh tế ngầm thường được ước lượng bằng phương pháp: điều tra khảo sát, kiểm toán, bảng kế toán quốc gia, cầu tiền (tính toán dựa trên các dòng dịch chuyển hàng hóa hoặc sử dụng MIMIC) Kinh tế ngầm thì không thể quan sát được Vì vậy, nó không thể đo lường một cách trực tiếp Phương pháp tiếp cận MIMIC được sử dụng trong nghiên cứu này để đo lường quy mô nền kinh tế ngầm của các nước ASEAN Hiện tại, đây là phương pháp được sử dụng để ước lượng quy mô nền kinh tế ngầm theo hướng tiếp cận hiện đại được rất nhiều nhà nghiên cứu sử dụng và tiếp tục phát triển

Tổng hợp

lý thuyết nghiên cứu

Thu thập dữ liệu từ các nguồn

(Phân tích

Ước lượng quy

mô nền kinh tế ngầm của các quốc gia Đông Nam Á bằng

phương pháp MIMIC

Xác định mối quan hệ giữa nền kinh tế chính thức và nền kinh tế ngầm

Tổng hợp và

xử lý dữ liệu trước khi phân tích

Mục tiêu

nghiên

cứu

Lý thuyết về kinh tế ngầm

Các nghiên cứu trước về kinh tế ngầm

Xây dựng mô hình nghiên cứu lý thuyết

Phân tích, kiểm định mô hình

Trang 34

Phương pháp MIMIC được sử dụng rộng rãi để đo lường xu hướng của nền kinh

tế ngầm cho các quốc gia trên toàn thế giới Sức mạnh chính của phương pháp này là đưa vào nhiều yếu tố có thể góp phần vào sự hiện diện và tăng trưởng của nền kinh tế không chính thức theo thời gian, đặc biệt là cho các thị trường cho sản xuất, lao động và tiền tệ Một tính năng cơ bản của cách tiếp cận MIMIC là thiết lập và kiểm tra mối quan

hệ giữa một biến không quan sát được với một tập hợp các biến có thể quan sát được bằng cách sử dụng ma trận phương sai

Những nhà nghiên cứu đầu tiên xây dựng và phát triển mô hình MIMIC trong phân tích khoa học xã hội là Zellner (1970) và Goldberger (1972) với các mô hình chứa biến

ẩn Frey và Weck-Hannemann (1984) là 2 nhà nghiên cứu đầu tiên áp dụng mô hình MIMIC để thực hiện ước lượng quy mô nền kinh tế ngầm như là một “biến không quan sát được” (unobservable variable) thông qua dữ liệu của 17 quốc gia OECD Aigner, Schneider và Ghosh (1988) tiếp tục phát triển phương pháp MIMIC để ước lượng quy

mô nền kinh tế ngầm Thông qua việc điều chỉnh dữ liệu theo chuỗi thời gian bằng cách

sử dụng biến trễ trong mô hình, 3 nhà nghiên cứu đã áp dụng để phát triển phương pháp MIMIC khi thực hiện ước lượng quy mô nền kinh tế ngầm tại Hoa Kỳ Phương pháp MIMIC sử dụng theo hình thức này còn được gọi là phương pháp MIMIC động, hay DYMIMIC

Giles (1999) là nhà nghiên cứu đã có vai trò quan trọng trong việc phát triển phương pháp MIMIC bằng cách tiếp tục cải tiến phương pháp DYMIMIC Theo đó, ông thực hiện ước lượng mô hình MIMIC với sự điều chỉnh về chuỗi dữ liệu thời gian, yếu

tố tự tương quan, phân tích đồng liên kết (cointegration) khi thực hiện ước lượng nền kinh tế ngầm ở New Zealand Giles và Tedds (2002) đã cùng nhau phát triển MIMIC theo hướng này và công bố thông qua nghiên cứu về kinh tế ngầm ở Canada Phương pháp này được các nhà nghiên cứu khác sử dụng để nghiên cứu về nền kinh tế ngầm như Bajada và Schneider (2005) khi nghiên cứu về nền kinh tế ngầm Australia và các nước Thái Bình Dương hay nghiên cứu của Dell’Anno và Schneider (2003) tại Ý

MIMIC là một thành viên của họ mô hình LISREL “Linear Interdependent Structural Relationships” (xem Jöreskog và Sörbom, 1993) Sau đó, nhiều nhà nghiên

Trang 35

nghiên cứu của họ: Aigner, Schneider và Ghosh (1988), Helberger và Knepel (1988), Loayza (1996), Pozo (1996), Giles (1995, 1998, 1999a 1999b), Tedds (1998), Eilat và Zinnes (2000), Salisu (2000), Cassar (2001), Prokhorov (2001), Giles và Tedds (2002), Chatterjee, Chaudhuri và Schneider (2003), Ion và Adriana (2009), Schneider, Buehn, and Montenegro (2010), Ene & Stefanescu (2011), Sneither and Buehn (2013) và rất nhiều nhà nghiên cứu khác

Phương pháp tiếp cận trong nghiên cứu này thông qua mô hình MIMIC được dựa trên lý thuyết thống kê của các biến tiềm ẩn, trong đó xem xét một số nguyên nhân và một số chỉ số của nền kinh tế ngầm Về cơ bản, mô hình MIMIC được xây dựng trên các biến ẩn và biến quan sát, cụ thể:

Hình 3.2 Khung phân tích chung cho phương pháp MIMIC

Nguồn: Buehn & Schneider (2013, p.19)

Phương pháp MIMIC dựa trên mô hình cấu trúc SEM với 2 nhóm biến chính:

 Nhóm các biến quan sát (indicator): Đây là nhóm biến chỉ số của mô hình đo

lường các nhóm biến quan sát được

 Nhóm các biến ẩn (latent): Đây là nhóm biến ẩn của mô hình, các biến không

thể quan sát hay đo lường trực tiếp

Dựa trên nguyên tắc này, các nhà nghiên cứu phát triển phương pháp MIMIC áp dụng để đo lường quy mô nền kinh tế ngầm Theo đó, nền kinh tế ngầm là một biến không quan sát được theo chuỗi thời gian (biến ẩn) được đo lường theo các biến chỉ báo

Phát triển kinh tế ngầm

Ngày đăng: 26/08/2016, 23:02

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.2. Phân loại hoạt động trong nền kinh tế ngầm - MỐI QUAN HỆ  GIỮA NỀN KINH TẾ CHÍNH THỨC VÀ  NỀN KINH TẾ NGẦM: BẰNG CHỨNG  THỰC NGHIỆM TỪ CÁC QUỐC GIA ASEAN.
Bảng 2.2. Phân loại hoạt động trong nền kinh tế ngầm (Trang 20)
Hình 2.1. Phân loại các hoạt động trong nền kinh tế không quan sát - MỐI QUAN HỆ  GIỮA NỀN KINH TẾ CHÍNH THỨC VÀ  NỀN KINH TẾ NGẦM: BẰNG CHỨNG  THỰC NGHIỆM TỪ CÁC QUỐC GIA ASEAN.
Hình 2.1. Phân loại các hoạt động trong nền kinh tế không quan sát (Trang 21)
Hình 2.2. Mô hình nghiên cứu về kinh tế ngầm của Dell’Anno và Schneider - MỐI QUAN HỆ  GIỮA NỀN KINH TẾ CHÍNH THỨC VÀ  NỀN KINH TẾ NGẦM: BẰNG CHỨNG  THỰC NGHIỆM TỪ CÁC QUỐC GIA ASEAN.
Hình 2.2. Mô hình nghiên cứu về kinh tế ngầm của Dell’Anno và Schneider (Trang 30)
Hình 2.3. Mô hình nghiên cứu của Ene và Ştefănescu (2011) - MỐI QUAN HỆ  GIỮA NỀN KINH TẾ CHÍNH THỨC VÀ  NỀN KINH TẾ NGẦM: BẰNG CHỨNG  THỰC NGHIỆM TỪ CÁC QUỐC GIA ASEAN.
Hình 2.3. Mô hình nghiên cứu của Ene và Ştefănescu (2011) (Trang 30)
Hình 3.1. Sơ đồ quy trình nghiên cứu  3.2. Phương pháp tiếp cận và phân tích cho nghiên cứu - MỐI QUAN HỆ  GIỮA NỀN KINH TẾ CHÍNH THỨC VÀ  NỀN KINH TẾ NGẦM: BẰNG CHỨNG  THỰC NGHIỆM TỪ CÁC QUỐC GIA ASEAN.
Hình 3.1. Sơ đồ quy trình nghiên cứu 3.2. Phương pháp tiếp cận và phân tích cho nghiên cứu (Trang 33)
Hình 3.2. Khung phân tích chung cho phương pháp MIMIC - MỐI QUAN HỆ  GIỮA NỀN KINH TẾ CHÍNH THỨC VÀ  NỀN KINH TẾ NGẦM: BẰNG CHỨNG  THỰC NGHIỆM TỪ CÁC QUỐC GIA ASEAN.
Hình 3.2. Khung phân tích chung cho phương pháp MIMIC (Trang 35)
Hình 3.3. Nền kinh tế ngầm và kinh tế chính thức: biến nguyên nhân và chỉ báo  Các biến nguyên nhân - MỐI QUAN HỆ  GIỮA NỀN KINH TẾ CHÍNH THỨC VÀ  NỀN KINH TẾ NGẦM: BẰNG CHỨNG  THỰC NGHIỆM TỪ CÁC QUỐC GIA ASEAN.
Hình 3.3. Nền kinh tế ngầm và kinh tế chính thức: biến nguyên nhân và chỉ báo Các biến nguyên nhân (Trang 39)
Bảng 2.5. Kỳ vọng mối quan hệ giữa các biến nguyên và các biến chỉ báo với quy - MỐI QUAN HỆ  GIỮA NỀN KINH TẾ CHÍNH THỨC VÀ  NỀN KINH TẾ NGẦM: BẰNG CHỨNG  THỰC NGHIỆM TỪ CÁC QUỐC GIA ASEAN.
Bảng 2.5. Kỳ vọng mối quan hệ giữa các biến nguyên và các biến chỉ báo với quy (Trang 44)
Bảng 4.1. Kết quả thống kê mô tả các biến - MỐI QUAN HỆ  GIỮA NỀN KINH TẾ CHÍNH THỨC VÀ  NỀN KINH TẾ NGẦM: BẰNG CHỨNG  THỰC NGHIỆM TỪ CÁC QUỐC GIA ASEAN.
Bảng 4.1. Kết quả thống kê mô tả các biến (Trang 47)
Hình 4.1: Biến động của các chỉ số nguyên nhân từ năm 1996 đến 2013 - MỐI QUAN HỆ  GIỮA NỀN KINH TẾ CHÍNH THỨC VÀ  NỀN KINH TẾ NGẦM: BẰNG CHỨNG  THỰC NGHIỆM TỪ CÁC QUỐC GIA ASEAN.
Hình 4.1 Biến động của các chỉ số nguyên nhân từ năm 1996 đến 2013 (Trang 48)
Hình 4.2. Biến động của các chỉ báo từ năm 1996 đến 2013 - MỐI QUAN HỆ  GIỮA NỀN KINH TẾ CHÍNH THỨC VÀ  NỀN KINH TẾ NGẦM: BẰNG CHỨNG  THỰC NGHIỆM TỪ CÁC QUỐC GIA ASEAN.
Hình 4.2. Biến động của các chỉ báo từ năm 1996 đến 2013 (Trang 50)
Hình 4.3. Biến động của chỉ số kinh tế chính thức từ năm 1996 đến 2013 - MỐI QUAN HỆ  GIỮA NỀN KINH TẾ CHÍNH THỨC VÀ  NỀN KINH TẾ NGẦM: BẰNG CHỨNG  THỰC NGHIỆM TỪ CÁC QUỐC GIA ASEAN.
Hình 4.3. Biến động của chỉ số kinh tế chính thức từ năm 1996 đến 2013 (Trang 51)
Hình 4.4. Biến động kinh tế ngầm của ASEAN từ năm 1996 đến 2013 - MỐI QUAN HỆ  GIỮA NỀN KINH TẾ CHÍNH THỨC VÀ  NỀN KINH TẾ NGẦM: BẰNG CHỨNG  THỰC NGHIỆM TỪ CÁC QUỐC GIA ASEAN.
Hình 4.4. Biến động kinh tế ngầm của ASEAN từ năm 1996 đến 2013 (Trang 54)
Bảng 4.2. Kết quả ước lượng mối quan hệ kinh tế chính thức và kinh tế ngầm - MỐI QUAN HỆ  GIỮA NỀN KINH TẾ CHÍNH THỨC VÀ  NỀN KINH TẾ NGẦM: BẰNG CHỨNG  THỰC NGHIỆM TỪ CÁC QUỐC GIA ASEAN.
Bảng 4.2. Kết quả ước lượng mối quan hệ kinh tế chính thức và kinh tế ngầm (Trang 56)
Hình 4.5. Quy mô kinh tế ngầm và GDP bình quân đầu người từ năm 1996 -2013 - MỐI QUAN HỆ  GIỮA NỀN KINH TẾ CHÍNH THỨC VÀ  NỀN KINH TẾ NGẦM: BẰNG CHỨNG  THỰC NGHIỆM TỪ CÁC QUỐC GIA ASEAN.
Hình 4.5. Quy mô kinh tế ngầm và GDP bình quân đầu người từ năm 1996 -2013 (Trang 58)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w